1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi pháp tự sự trong truyện cổ Tày Nùng

94 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 598,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu hướng nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số ngày càng phát triển, mong muốn góp phần làm phong phú kho tài liệu nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số, chún

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TỐ NGÂN

THI PHÁP TỰ SỰ TRONG TRUYỆN CỔ TÀY - NÙNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận Văn học

Hà Nội-2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TỐ NGÂN

THI PHÁP TỰ SỰ TRONG TRUYỆN CỔ TÀY - NÙNG

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Mã số: 60220120

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM THÀNH HƯNG

Hà Nội-2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Tài liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu sau này, có điều gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày 22 tháng 06 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tố Ngân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến

Ban Lãnh đạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội cùng

các thầy cô giảo đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS TS Phạm

Thành Hưng, những định hướng của thầy có tính quyết định tới thành công

của luận văn

Đề tài này, ngoài việc tôi hoàn thành trên cơ sở nỗ lực nghiên cứu của bản thân còn có sự kế thừa, tổng hợp tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước Nhưng do tính chất phức tạp của đề tài, trình độ bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự giúp đỡ và góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 2014

Nguyễn Thị Tố Ngân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Mục đích của luận văn 12

5 Phương pháp tiếp cận 12

6 Cấu trúc của luận văn 12

NỘI DUNG 14

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THI PHÁP TỰ SỰ VÀ VĂN HÓA TÀY - NÙNG 14

1.1 Một số khái niệm 14

1.1.1 Khái niệm Thi pháp 14

1.1.2 Tự sự và khái niệm trần thuật 17

1.1.3 Các khái niệm liên quan đến truyện cổ Tày - Nùng 19

1.2 Một vài nét về văn hóa, văn học dân gian Tày - Nùng 23

1.2.1 Văn hóa và văn học dân gian Tày 23

1.2.2 Văn hóa và văn học dân gian người Nùng 25

TIỂU KẾT 27

Chương 2 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN CỔ TÀY - NÙNG 28

2.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật chính diện 28

2.1.1 Kiểu nhân vật người đội lốt 29

2.1.1.1 Các dạng lốt tiêu biểu 32

2.1.1.2 Đặc điểm nhân vật đội lốt 36

2.1.1.3 Sự trút lốt của nhân vật 40

2.1.2 Kiểu nhân vật mồ côi 44

2.1.2.1 Sự xuất hiện của nhân vật mồ côi 44

2.1.2.2 Đạo đức, phẩm chất và tài năng của nhân vật mồ côi 45

2.1.2.3 Cái kết cho nhân vật mồ côi 48

2.1.3 Nhân vật người phụ nữ 48

2.1.3.1 Sự xuất hiện và dung mạo của nhân vật nữ 49

2.13.2 Phẩm chất và tài năng 50

2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật phản diện 53

2.2.1 Nhân vật người anh 54

2.2.2 Nhân vật đại diện cho giai cấp thống trị 57

TIỂU KẾT 60

Chương 3 KỸ THUẬT KỂ TRONG TRUYỆN CỔ TÀY – NÙNG 62

3.1 Công thức truyện kể 62

3.1.1 Công thức mở đầu 62

3.1.2 Công thức kết thúc 69

3.1.3 Công thức trần thuật 73

3.1.3.1 Công thức miêu tả nhân vật 73

3.1.3.2 Công thức xung đột 75

Trang 6

3.2 Giọng điệu 80

3.2.1 Giọng điệu đồng cảm, thương xót 80

3.2.2 Giọng điệu ca ngợi, tự hào 83

3.2.3 Giọng điệu chế giễu, khinh thường 85

TIỂU KẾT 89

KẾT LUẬN 90

MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu những sáng tác văn học dân gian đặc biệt văn học dân gian dân tộc thiểu số còn rất mờ nhạt Song, đến thế kỷ XX, đặc biệt sau năm 1975, văn hóa dân tộc thiểu số trong đó có văn học dân gian

đã được chú ý sưu tầm và nghiên cứu Nhiều công trình có giá trị được xuất

bản như: Truyện thơ Tày-Nùng (1964) của Nông Quốc Chấn; Truyện thơ Tày (1994-1995) của Triều Ân; Truyện thơ Tày - Nguồn gốc, quá trình phát triển

và thi pháp thể loại (2004) của Vũ Anh Tuấn; Đẻ đất đẻ nước - sử thi Mường (1988) của Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân; Sử thi thần thoại M’ Nông (1996) của Đỗ Hồng Kỳ; Sử thi Ê đê (1991) của Phan Đăng Nhật; Vùng sử thi Tây Nguyên (1999) của Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian và

nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả Đặng Thanh Lê, Đinh Gia Khánh, Đặng Văn Lung, Đỗ Bình Trị Những chuyển biến rõ ràng đó đã góp phần lưu giữ và mang tác phẩm văn học dân gian các dân tộc thiểu số ra cộng đồng Tuy nhiên, đa phần các công trình trên chỉ dừng lại ở việc sưu tầm, giới thiệu Việc nghiên cứu những phạm trù cấu thành nên thế giới nghệ thuật của văn học dân gian các dân tộc thiểu số vẫn chưa thật sự được chú trọng so với văn học người Việt Trong xu hướng nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số ngày càng phát triển, mong muốn góp phần làm phong phú kho tài liệu nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số, chúng tôi lựa chọn đề tài:

Thi pháp tự sự trong truyện cổ Tày - Nùng

Là cư dân bản địa sinh tụ trên mảnh đất phía Bắc Tổ quốc, hai tộc người Tày - Nùng đã có những đóng góp lớn trong việc hình thành văn hóa Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm, văn học dân gian Tày - Nùng đã đóng góp vào

Trang 8

kho tàng văn học dân gian Việt Nam nguồn tài nguyên vô cùng quý giá bao gồm hệ thống truyện cổ, truyện thơ, vè, câu đố, ca dao, hát sli, lượn Nguồn tài nguyên đó vừa mang những nét riêng biệt của tính cách Tày - Nùng vừa có những nét giao thoa với các dân tộc cộng cư trên vùng lãnh thổ phía Bắc Tổ quốc Như vậy nghiên cứu văn học dân gian Tày - Nùng không chỉ là khám phá phần nào những giá trị quý báu của kho tàng văn học dân gian ấy mà cũng

là một cách để hiểu về văn hóa Tày - Nùng trong 54 nền văn hóa các dân tộc Việt Nam hơn

Với mong muốn ứng dụng phương pháp tiếp cận thi pháp học và tự sự học - vốn từ trước đến nay chỉ quen ứng dụng cho văn học hiện đại - vào nghiên cứu văn học thiểu số, chúng tôi hi vọng công trình nghiên cứu của mình sẽ có những đóng góp nho nhỏ trong tìm hiểu văn học dân gian Tày - Nùng trong đó có truyện kể dân gian

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ giữa Thế kỷ XX, công việc nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học dân gian theo phương pháp tiếp cận Thi pháp học là xu hướng chung trên phạm vi toàn thế giới Nghiên cứu thi pháp văn học dân gian đã được chú trọng ở nước ngoài từ rất sớm và đã đặt nền móng cho phát triển thi pháp văn

học hiện đại sau này Đó là những cuốn sách quý báu như cuốn Thi pháp và

nguồn gốc tráng sĩ ca (1924) của A.P Xca-phtư-mốp; Hình thái học của truyện cổ tích (1928), Những căn rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ (1946), Văn học dân gian và thực tại (1976) của V Prốp

Ở Việt Nam, lịch sử nghiên cứu thi pháp văn học dân gian sau năm

1975 đến nay đã có những thành tựu đáng kể Khởi đầu là những công trình

nghiên cứu như: Qua việc nghiên cứu các danh từ riêng trong một số truyện

cổ tích (1962) của Đặng Thanh Lê; Nhận xét về đặc điểm của câu mở đầu

Trang 9

trong thơ ca dân gian (1966) của Đinh Gia Khánh; Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình (1968) của Đặng Văn Lung đến các công trình nghiên

cứu có chất lượng sau này như: Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ

tích qua truyện Tấm Cám (1968) của Đinh Gia Khánh; Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam (1971) của nhiều tác giả; Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học (1987) của Chu Xuân Diên; Thi pháp ca dao (1992, tái bản 2004) của Nguyễn Xuân Kính; Truyện Nôm, bản chất và thể loại (1993) của Kiều Thu Hoạch; Cổ tích thần kỳ người Việt - đặc điểm cấu tạo cốt truyện (1994) của Tăng Kim Ngân; Truyện ngụ ngôn Việt Nam và thế giới (thể loại và triển vọng) (1993) của Phạm Minh Hạnh; Những thế giới nghệ thuật ca dao (1998) của Phạm Thu Yến; Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian Việt Nam (1999) của Đỗ Bình Trị; Thi pháp văn học dân gian (2000) của Lê Trường Phát; Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif (2001) của Nguyễn Tấn Đắc v.v

Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết xuất sắc trong bộ Lịch sử văn học

Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, 1980) và được xuất bản thành các chuyên

khảo như: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước Cách mạng tháng

Tám 1945) của Phan Đăng Nhật (1981); Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam của Võ Quang Nhơn (1983); Nghiên cứu sử thi Việt Nam

(2001) của Phan Đăng Nhật v.v Và một số tham luận tại Đại hội lần II của

Đại học Sư phạm Hà Nội về Tự sự học như Phương pháp tự sự bằng khuôn

hình sử thi của Phan Đăng Nhật; Một số phạm trù Tự sự học qua khảo sát thế giới nghệ thuật sử thi Raglai của Vũ Anh Tuấn, Truyền thuyết với "tục hèm" trong một số lễ hội dân gian đồng bằng Bắc Bộ của Phạm Thu Yến, Tính chức năng của nhân vật trong thần thoại Việt Nam của Phạm Đặng Xuân Hương

Theo trên, chúng tôi nhận thấy rằng, nguồn tài nguyên văn học dân gian khổng

Trang 10

lồ đặc biệt là văn học dân gian dân tộc thiểu số vẫn còn là một mảnh đất vô cùng màu mỡ đang đợi được cày xới, vun trồng

Viết về truyện cổ Tày - Nùng, chúng tôi tìm thấy trong tổng số 360 danh mục tài liệu tham khảo với từ khóa "Tày - Nùng" của Thư viện Quốc gia

Hà Nội có một số công trình nổi bật như sau :

+ Trước hết phải nói đến những công trình nghiên cứu quý báu của

Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Anh Tuấn như: Thử tìm hiểu sắc thái dân tộc qua một bản

truyện cổ dân gian Tày dạng Tấm Cám, Sưu tập Dân tộc học, Viện Dân tộc

học, Ủy ban Khoa học Xã hội, 1983; Một số biểu tượng chủ đạo trong truyện

cổ miền núi, Tạp chí văn học dân gian, Viện Văn học dân gian, Số 2, 1984; Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số motip truyện kể dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam, Luận án Phó Tiến sĩ, Hà Nội, 1991; Truyện thơ Tày - Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội, 1992

+ Bên cạnh đó còn có nhiều công trình giá trị khác như : Truyện dân

gian Tày - Nùng Cao Bằng, Nxb Thanh Niên, Hà Nội của Nguyễn Thị Thiên

Tứ, (2011); Văn hóa Tày - Nùng, Nxb Văn hóa của Lã Văn Pô, (1984); Ngữ

pháp tiếng Tày - Nùng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội của Hoàng Văn Ma

(Cb) (1971); Khảo sát những đặc điểm ngữ âm Nùng trên tư liệu Nùng Cháo của Mông Ký Slay, Luận án Phó tiến sĩ ngành Ngôn ngữ; Các cách xưng hô

trong tiếng Nùng của Phạm Ngọc Thưởng , Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, (1999)

Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm được một số luận văn, khóa luận tại các trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, Đại học Thái Nguyên, Đại học Vinh có nghiên cứu về văn học dân gian Tày - Nùng

Những công trình nghiên cứu trên có thể đánh giá là những công trình nghiên cứu dày công, nhiều giá trị Đáng chú ý nhất là hai công trình nghiên

Trang 11

cứu của Giáo sư Vũ Anh Tuấn: Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số motip

truyện kể dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam (1991) và Truyện thơ Tày - Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại (1992) Hai công trình

trên đã phần nào nghiên cứu một cách sâu sắc về cấu trúc, ý nghĩa motip, thể loại dưới sự soi chiếu của lý thuyết thi pháp văn học dân gian của Prốp Trong

cuốn luận án Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số motip truyện kể dân gian

Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam (1991), Giáo sư Vũ Anh Tuấn đã đưa ra và

phân tích sâu hai nhóm mẫu kể lớn trong văn học dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Đó là nhóm mẫu kể về hình tượng người khổng lồ miền núi với ba dạng cấu trúc cơ bản Đó là nhóm mẫu kể về hình tượng người khổng lồ đội lốt theo bốn dạng thức mà Prốp đã định sẵn Ngoài hai nhóm mẫu kể này ra, luận án cũng đã đề cập đến 4 mẫu kể phổ biến trong truyện cổ Tày ở vùng Đông Bắc nước ta Luận án đã rất thành công trong việc phân tích chi tiết những nhóm mẫu kể một cách sinh động, logic và là nguồn tài liệu bổ ích cho luận văn của chúng tôi

Trên cơ sở khai thác, kế thừa những tinh hoa trong những công trình nghiên cứu về văn học dân gian nói chung và thi pháp văn học dân gian nói riêng, trong công trình này, chúng tôi cố gắng tập trung nghiên cứu thi pháp tự

sự trong truyện cổ Tày - Nùng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là truyện cổ Tày - Nùng được in trong 2 tác phẩm:

- Truyện cổ Tày của tác giả Thu Hương, Nxb Văn hóa Thông tin, 2006

- Truyện cổ Nùng của tác giả Thu Hương, Nxb Văn hóa Thông tin,

2006

Trang 12

Bên cạnh đó, để có sự đối chiếu, so sánh, chúng tôi cũng người viết mở rộng phạm vi tìm hiểu sang:

- Truyện cổ Việt Nam

- Những vấn đề liên quan đến văn học, văn hóa Tày - Nùng

4 Mục đích của luận văn

Về mặt lý thuyết nghiên cứu văn học, chúng tôi hướng tới mục tiêu là vận dụng phương pháp tiếp cận Thi pháp học, cụ thể là thi pháp văn học dân gian để tiến hành khảo sát truyện cổ Tày – Nùng, một đối tượng đặc thù với ngôn ngữ và văn hóa khác biệt

Thông qua những kết quả nghiên cứu đó, chúng tôi tự nâng cao hiểu biết của mình về văn hóa Tày - Nùng nói riêng và văn hóa một số dân tộc thiểu số Tây Bắc nói chung

5 Phương pháp tiếp cận

Phương pháp nghiên cứu chính trong công trình này là phương pháp Thi pháp học (bao gồm các lĩnh vực như ngôn ngữ, giọng điệu, nhân vật, motip, không gian, thời gian, biểu tượng ) Và trong công trình nghiên cứu, chúng tôi cũng dùng đến các phương pháp chuyên ngành như:

+ Phương pháp so sánh; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê trong nghiên cứu văn học

+ Phương pháp ứng dụng lý thuyết Tự sự học

và các phương pháp liên ngành như: Phương pháp nghiên cứu nhân học trong nghiên cứu văn hóa, Phương pháp Xã hội học

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được thể hiện trong

ba chương:

Chương 1 Khái lược Thi pháp tự sự và văn hóa Tày - Nùng

Trang 13

Chương 2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện cổ Tày - Nùng Chương 3 Kỹ thuật kể trong truyện cổ Tày - Nùng

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THI PHÁP TỰ SỰ VÀ VĂN HÓA TÀY - NÙNG

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm Thi pháp

* Lịch sử Thi pháp học ở Việt Nam

Thi pháp học ở Trung Quốc, phương Tây, Liên Xô cũ có ảnh hưởng rõ rệt, mạnh mẽ đến Thi pháp học Việt Nam

Thi pháp đã có từ rất sớm ở Trung Quốc cổ đại với tác phẩm Văn tâm

điêu long của Lưu Hiệp Cho đến thời cận đại, sự nhận thức về hình thức nghệ

thuật, những hiểu biết về thi pháp rất phong phú và sâu sắc Lưu Hiệp đã dành

nhiều trang trong Văn tâm điêu long để bàn về kỹ thuật viết văn gồm các vấn

đề như: Hư cấu, tưởng tượng, kết cấu và việc sử dụng ngôn ngữ Ông là người coi trọng sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học "Chỉ có văn đẹp mà bay cao mới là con chim phượng hoàng cất tiếng trên văn đàn"[13, tr.22] Tiếp nối Lưu Hiệp nghiên cứu về nghệ thuật viết văn, thơ

có Chung Vinh với Thi phẩm (thế kỷ VI), Tiêu Thống với Văn tuyển (thế kỷ

VI), lời tựa, thư gửi của Bạch Cư Dị (772-846), Âu Dương Tu (1007-1072)

với Lục Nhất thi thoại, Lương Khải Siêu với Ẩm Băng Thất thi thoại, Thanh Viên Mai (1716-1798) với Tùy Viên thi thoại Đó là những công trình nền

móng cho nghiên cứu thi pháp sau này tại Trung Quốc và cũng là những công trình có ảnh hưởng đến các nghiên cứu về nghệ thuật thơ văn của Việt Nam bởi: "Trước khi tiếp xúc với văn hóa và khoa học phương Tây, Việt Nam đã

có hàng nghìn năm tiếp xúc và giao lưu với văn hóa Trung Quốc"[13, tr.27]

Các trước tác của Lê Quý Đôn (Nghệ văn chí), Phan Huy Chú (Văn tịch chí, bài tựa Quế đường thi tập của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí),

Trang 15

Phan Kế Bính (Việt Hán gián khảo), Phan Khôi (Chương Dân thi thoại) trong

đó có phần bàn về văn nghệ đều cho thấy sự ảnh hưởng của thi pháp học Trung Quốc đến nước ta Ảnh hưởng quan trọng nhất là coi trọng chức năng giáo dục tư tưởng, phản ánh được hiện thực và không quá đề cao sự hoa mĩ, đẽo gọt ngôn từ

Ở giai đoạn sau, thi pháp học tại Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ phương Tây Sự xâm lược của thực dân Pháp mang đến sự giao thoa văn hóa,

văn học Pháp - Việt trong đó có nghiên cứu thi pháp học Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân; Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan; Việt Nam

văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm; Văn học khái luận của Đặng Thai

Mai là những công trình phê bình, nghiên cứu, lí luận văn học giàu giá trị được xuất bản đầu những năm 40 của thế kỷ trước

Nửa cuối thế kỷ XX cho đến nay, nghiên cứu thi pháp văn học chịu ảnh hưởng sâu sắc của thi pháp học Nga (Liên Xô cũ) Những công trình của hàng loạt các tên tuổi lớn đặc biệt là V.prốp, và M.M Ba-khơ-tin đã đánh dấu những bước tiến nền tảng của thi pháp học hiện đại trong đó có thi pháp học cấu trúc và thi pháp học lịch sử Nhiều công trình nghiên cứu, bài giảng như

Giảng văn Chinh phụ ngâm của Đặng Thai Mai; Thơ ca Việt Nam - Hình thức

và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức; "Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm của Đặng Thanh Lê; Qua việc nghiên cứu danh từ riêng trong một

số truyện cổ tích, Nhận xét về đặc điểm mở đầu trong thơ ca dân gian của

Đinh Gia Khánh là những công trình giàu giá trị và ghi nhận sự nỗ lực to lớn của tác giả trong hướng nghiên cứu thi pháp học

Khi miền Bắc được giải phóng, mối quan hệ gần gũi giữa Liên Xô và Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu thi pháp học phát triển Nhiều nhà nghiên cứu được đi học tập ở Liên Xô như Đinh Gia Khánh, Trần

Trang 16

Đình Sử, Phạm Vĩnh Cư, Lê Chí Quế, Nguyễn Xuân Kính, Trần Đăng Xuyền, Phạm Thu Yến đã trở thành những chuyên gia về thi pháp học ở nước ta Nhiều công trình về folklore Nga được dịch và giới thiệu vào Việt Nam như:

Thi pháp folklore là gì? (của Lê Chí Quế dịch, 1986); Nghiên cứu cấu trúc và nghiên cứu lịch sử về truyện cổ tích thần kỳ (Chu Xuân Diên dịch năm 1989); Tiếng cưới nghi lễ trong folklore (Chu Xuân Diên dịch năm 1989) Điều đó

đã làm thi pháp văn học dân gian ở Việt Nam có cơ hội được hình thành và phát triển mạnh mẽ, mở rộng nội hàm từ thi pháp văn học viết sang thi pháp văn học dân gian

* Khái niệm Thi pháp học

Theo Từ điển Thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi, thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và

hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mỹ, chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật

Xét các chỉnh thể văn học mang thi pháp có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp tác giả, thi pháp một trào lưu, thi pháp văn học thời đại, thi pháp văn học dân tộc

Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách, có thể nói tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp của phong cách, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ

Xét về cách tiếp cận, thi pháp học có ba phạm vi nghiên cứu: thi pháp học đại cương, thi pháp học chuyên biệt và thi pháp học lịch sử Trong đó, thi pháp học đại cương được chia thành ba bộ phận, tương ứng với ba phương

Trang 17

diện của văn bản: ngữ âm, từ vựng và hình tượng Thi pháp học chuyên biệt miêu tả tất cả các phương diện của sáng tác văn học trong mối quan hệ tương quan giữa chúng hay chính là kết cấu tác phẩm Thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự tiến hóa của các biện pháp nghệ thuật bằng phương pháp so sánh lịch

sử

* Khái niệm Thi pháp văn học dân gian

Khái niệm thi pháp văn học dân gian tại Việt Nam được sử dụng từ những năm 80 của thế kỷ trước, muộn hơn rất nhiều so với khái niệm thi pháp

học Nó xuất hiện lần đầu tiên trong bài báo Một số vấn đề lí thuyết chung về

mối quan hệ văn học dân gian - văn học viết của Lê Kinh Khiên và trở thành

đề tài chính của báo cáo Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian của

Chu Xuân Diên (tháng 7 - 1980) [13, tr.56]

Theo Chu Xuân Diên, "thi pháp văn học dân gian là toàn bộ các đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện,

về cách cấu tạo của đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người " [13, tr.57]

Trong luận văn này, chúng tôi ứng dụng thi pháp văn học dân gian để nghiên cứu truyện cổ Tày Nùng trên các khía cạnh như nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật kể truyện bao gồm việc nghiên cứu các yếu tố như cốt truyện, nhân vật, motip, biểu tượng, giọng điệu nhằm phản ánh đúng những đặc điểm dân tộc của văn học dân gian Tày - Nùng

1.1.2 Tự sự và khái niệm trần thuật

* Lịch sử hình thành và phát triển

Tự sự đã tồn tại hàng chục thế kỷ từ khi con người biết phản ánh thông tin bằng giao tiếp Song chỉ trong khoảng hơn nửa thế kỷ trở lại đây, khái

Trang 18

niệm đầu tiên về tự sự mới xuất hiện và tự sự học được coi là một đối tượng nghiên cứu độc lập

Chủ nghĩa cấu trúc (tiền thân của nó là trường phái hình thức) Nga đã làm cho "lí thuyết tự sự trở thành một học vấn có hệ thống chặt chẽ, kiến thức

về tự sự đã không ngừng được khám phá từ xưa đến nay" Các học giả Nga Sklốpxki (V.Shklovski),V Prốp (V Propp), B Tômasevxki (B Tomashevski)

là những người tiêu biểu nghiên cứu truyện kể theo cấu trúc Họ tập trung nghiên cứu cấu trúc của truyện, đối tượng của trần thuật, trong đó chú ý xây dựng ngữ pháp của tự sự, chức năng của sự kiện, kết cấu, lôgic phát triển của chúng

Đến nửa cuối thế kỷ XX, chủ nghĩa cấu trúc Pháp với những tên tuổi như Roland Bathes, Claude Bremond đã giải phóng tự sự, xem nó như một hiện tượng riêng biệt Và đến năm 1969, Tezvetan Todorov, một trong những

đại biểu lớn của Cấu trúc luận Pháp khai sinh danh xưng Tự sự học khi xuất bản công trình Ngữ pháp Chuyện mười ngày Song song cùng với khuynh

hướng nghiên cứu truyện kể theo cấu trúc như trên còn có hai khuynh hướng nữa diễn ra trong giới nghiên cứu Đó là khuynh hướng nghiên cứu sự triển khai của diễn ngôn trần thuật (lời kể, cách kể, giọng kể, người kể, tụ điểm, tần xuất ) mà G Genette, F Stanzel (Áo), S Lanser và James Phelan là tiêu biểu Tiếp đến là khuynh hướng chủ trương nghiên cứu kết hợp cả hai mặt diễn ngôn và cấu trúc truyện kể với các tên tuổi tiêu biểu như tiêu biểu là Prince, S Chatman và Mieke Bal

Vào thập niên 90 của thế kỷ trước, tự sự học đã tìm thấy cho mình một trung tâm phát triển mới - Mỹ Sự ra đời những tạp chí như tạp chí Tự sự,

1993 và các công trình mới về tự sự học của Mỹ đã đánh dấu thời "phục hưng" và bước chuyển mình của tự sự: Từ giai đoạn kinh điển của chủ nghĩa

Trang 19

cấu trúc để bước sang giai đoạn hậu kinh điển Tự sự học hậu kinh điển có hai hướng nghiên cứu chính: Một là nghiên cứu đặc trưng chung của tác phẩm tự

sự, bất kể sự khác nhau về phương tiện và thể loại (văn học, truyện tranh, điện ảnh, truyền hình, báo chí…); Hướng thứ hai là từ phân tích cấu trúc tự sự trừu tượng chuyển sang phân tích cấu trúc tự sự của tác phẩm cụ thể Nhờ đó, tự sự học ngày càng được ứng dụng nghiên cứu, mở rộng

Tuy nhiên, tại nước ta, mãi đến năm 2001, Hội thảo tự sự học đầu tiên

mới được tổ chức tại Đại học Sư phạm Hà Nội Công trình Tự sự học - một số

vấn đề lí luận và lịch sử (Nxb ĐHSP, 2003) ra đời ngay sau đó đã góp phần

đưa tự sự học trở thành chuyên ngành nghiên cứu văn học Nhiều các công trình nghiên cứu về tự sự, bản dịch từ tiếng nước ngoài được công bố, nhiều luận án, luận văn khoa văn học ứng dụng lý thuyết tự sự học để nghiên cứu tác phẩm văn học trong đó có văn học dân gian chứng tỏ tự sự học là chuyên ngành riêng biệt đang được quan tâm

* Khái niệm trần thuật - phương diện cơ bản của phương thức tự sự

Theo từ điển Thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: Trần thuật là "phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định Trần thuật gắn liền với toàn bộ công việc bố cục, kết cấu tác phẩm trần thuật là cả một

hệ thống tổ chức phức tạp nhằm đưa hành động, lời nói nhân vật vào đúng vị trí của nó để người đọc có thể lĩnh hội theo đúng ý nghĩa tác giả" Trong trần thuật có cái nhìn, điểm nhìn, giọng điệu, bố cục, "

1.1.3 Các khái niệm liên quan đến truyện cổ Tày - Nùng

* Khái niệm truyện cổ tích

Trang 20

“Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời cổ đại, gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, hoàn thành của gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội nó hướng vào những vấn đề

cơ bản, những hiện tượng có tính chất phổ biến trong đời sống nhân dân đặc biệt là xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia đình xã hội Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi là

“tưởng tượng và hư cấu cổ tích”), kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc thù

khác để phản ánh đời sống và ước mơ của nhân dân đáp ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mĩ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kì, những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp (ở nước ta chủ yếu là xã hội phong kiến)” [23, tr.42]

Là thể loại ra đời vào thời kỳ công xã nguyên thủy tan rã, hình thành gia đình phụ quyền và giai cấp trong xã hội, nên truyện cổ tích hướng vào đối tượng phản ánh chính là những vấn đề xã hội có liên quan đến con người trong xã hội có giai cấp Đó là mối quan hệ mâu thuẫn giữa con người và con người mang tính chất riêng tư phổ biến trong xã hội đó

Ngoài ra truyện cổ tích còn phản ánh cả những ước mơ và khát vọng của nhân dân lao động về một xã hội công bằng, dân chủ, một xã hội chỉ có sự yêu thương giữa con người với con người, không có sự thù hận, đố kị hay ganh ghét Trong xã hội đó con người ta sống bình đẳng với nhau trong sự đầy

đủ về vật chất, hạnh phúc về tinh thần Đồng thời truyện cổ tích cũng phản ánh cả truyền thống đạo lý của dân tộc, triết lý nhân sinh theo quan điểm của nhân dân lao động Sống lạc quan yêu đời, thương yêu đùm bọc lẫn nhau chính là cốt lõi của triết lý nhân sinh và đạo lý làm người của người Việt được tác giả dân gian phản ánh đầy đủ trong các câu chuyện cổ tích Truyện cổ tích không phản ánh đời sống xã hội bằng trí tưởng tượng mang tính chất hoang

Trang 21

đường huyền thoại như thần thoại, cũng không lý tưởng hóa hiện thực xã hội,

mà sử dụng lối hư cấu cổ tích riêng Phản ánh hiện thực xã hội một cách độc đáo, tạo nên một thế giới cổ tích vừa hoang đường kỳ ảo, vừa gần với thực tại, trong đó có sự biến hóa kỳ diệu của con người như chết đi sống lại nhiều lần hoặc tái sinh trong kiếp cỏ cây, hoa lá, kiếp con vật đồ vật, rồi trút lốt thành người… hình thành nên những mô típ nghệ thuật độc đáo, mô típ người mang lốt vật, mô típ hóa thân từ người sang vật… hoặc kiểu truyện đặc sắc như kiểu nhân vật xấu xí mà có tài, kiểu truyện người mang lốt vật

* Khái niệm “kiểu truyện”, “kiểu nhân vật”

“Kiểu truyện là tập hợp những truyện kể có mô típ cùng loại hình Trong một kiểu truyện có nhiều mô típ nhưng không nhất thiết mỗi truyện trong một kiểu tuyện đó phải có đầy đủ cả mô típ đó nói chung” Có thể thấy

có tương đối nhiều kiểu truyện khác nhau như: kiểu truyện người mồ côi; kiểu truyện con riêng; kiểu truyện dũng sĩ; kiểu truyện người mang lốt

“Kiểu nhân vật là thuật ngữ dùng để gọi những nhân vật đồng dạng Những nhân vật này có những nét tương đồng căn bản về tính cách, hành động

và số phận, thường xuất hiện trong những câu truyện cổ tích thần kỳ có cốt truyện đại thể giống nhau” Trong mỗi tiểu loại cổ tích có những kiểu nhân vật đặc trưng riêng

Trong truyện cổ tích thần kỳ, xuất hiện một số kiểu nhân vật điển hình

sau: Kiểu nhân vật người con riêng; kiểu nhân vật người em; kiểu nhân vật

người mồ côi; kiểu nhân vật người đi ở; kiểu nhân vật người “dũng sĩ”, kiểu nhân vật người có tài lạ, kiểu nhân vật người mang lốt vật Về tính cách họ đều mang trong mình những phẩm chất đạo đức tiêu biểu cho quan niệm về con người của nhân dân lao động (hiền lành, tốt bụng, trung thực, tài năng…)

Trang 22

Về số phận họ đều trải qua những diễn biến khá giống nhau và họ trở thành đại diện chung cho một nhóm, lớp người nào đó trong xã hội

Trong truyện cổ tích thế sự cũng có những kiểu nhân vật riêng biểu hiện

một cách nhìn khác về cuộc đời của tác giả dân gian Kiểu nhân vật “đức

hạnh”, kiểu nhân vật xấu xa, kiểu nhân vật mưu trí, kiểu nhân vật khờ khạo, ngốc nghếch… các kiểu nhân vật trong truyện cổ tích thế sự thể hiện một cách nhìn hiện thực về con người và thực tại xã hội của tác giả dân gian

* Cốt truyện, sự kiện, biến cố, tình tiết

- Cốt truyện là hệ thống các tình tiết, sự kiện, biến cố phản ánh những diễn biến của cuộc sống nhất là những xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các nhân vật, tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan

hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng tác phẩm.[6,tr174]

- Sự kiện là chất liệu cơ bản, đơn vị cơ bản tạo thành cốt truyện Đó là những việc có tác động và ảnh hưởng lớn đến số phận và tính cách của nhân vật

- Biến cố là những sự kiện lớn tạo thành những bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời nhân vật

- Tình tiết là những yếu tố cụ thể tạo thành sự kiện

Một cốt truyện hay là cốt truyện phối hợp được các tình tiết, sự kiện, biến cố một cách hợp lý nhằm khẳng định rõ được sự phát triển của tính cách nhân vật, phản ánh rõ được chủ đề, tư tưởng của tác phẩm

* Khái niệm motip

Motip hay còn được gọi là mẫu đề (phiên âm tiếng Trung Quốc), khuôn, dạng hoặc kiểu nhằm chỉ những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật nhất là trong nghệ thuật dân gian

Trang 23

Trong sáng tác văn học dân gian, motip chính là kiểu truyện, kiểu nhân vật mà chúng tôi đã trình bày ở trên Thường thấy có những motip kiểu: Người đội lốt vật; người anh hùng đánh chằn tinh; cô gái xấu xí trở nên xinh đẹp và được làm hoàng hậu; motip trả thù; motip nhân vật dũng sĩ giết ác thú cứu người đẹp; motip người đi ở thông minh Motip phản ánh sự gần gũi trong quan niện nhân sinh quan, thế giới quan của mỗi tộc người khác nhau; phản ánh rõ nét hiện thực thời đại họ sống và mơ ước của họ

* Khái niệm "cái thần kỳ"

Theo Từ điển tiếng Việt, thần kỳ là “tài tình một cách kỳ lạ tới mức

không thể tưởng tượng nổi” Có thể hiểu, thần kỳ là lối nói mơ hồ huyễn hoặc,

đó là những câu chuyện không có thực có nguồn gốc từ nhận thức hạn chế về thế giới của con người xa xưa, vừa bao chứa nội dung thần linh vừa bao chứa nội dung sinh hoạt Yếu tố thần kì trong thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích thần kì là yếu tố bắt buộc phải có, nó có vai trò quy định đặc trưng chức năng, thi pháp thể loại, quyết định sự tồn tại của tác phẩm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích thần kì Đối với thể loại văn học dân gian khác nó là yếu

tố không bắt buộc phải có

Cái thần kỳ trong văn học dân gian là thế giới hoang đường của trí tưởng tượng thuần tuý hay nói chính xác hơn, sự liên hệ với thực tại không nhằm cắt nghĩa cho tính hiện thực của những sự kiện siêu nhiên Chính V Prốp (V.Propp) trong các công trình nghiên cứu về truyện cổ tích thần kì cũng

đã khẳng định rằng truyện cổ tích là sự nói dối hoàn toàn từ đầu đến cuối nhằm thỏa mãn mục đích kể và nghe kể của con người

1.2 Một vài nét về văn hóa, văn học dân gian Tày - Nùng

1.2.1 Văn hóa và văn học dân gian Tày

* Một số đặc điểm văn hóa tộc người

Trang 24

Dân tộc Tày còn có tên gọi khác là Thổ và bao gồm cả các nhóm: Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí Phần đông người Tày cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh

và một số vùng thuộc Bắc Giang v.v

Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, khoai và rau quả mùa nào thức đó Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ Nhà ở có nhà sàn, nhà đất và một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong buồng Người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm, áo phụ nữ dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải, cài 5 khuy Gia đình người Tày thường quí con trai hơn và có qui định rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ tôn giáo hàng đầu của người Tày Nơi thở tổ tiên chiếm vị trí trung tâm, tôn nghiêm nhất trong nhà Chiếc giường trước bàn thờ để không, khách lạ không được ngồi, nằm lên đó Ngoài

ra, có những điều kiêng kị như không đặt chân lên khúc củi đang cháy trong bếp lửa hay đặt chân lên thành bếp Những người đi đám ma về chưa tắm rửa sạch sẽ không được nhìn vào gia súc, gia cầm Người mới sinh con không được đến chỗ thờ tổ tiên

* Ngôn ngữ và văn học dân gian

Ngôn ngữ của người Tày rất giàu và đẹp, điều đó đã khiến cho lời ăn tiếng nói của người Tày trở nên hết sức phong phú, uyển chuyển Tiếng Tày

đã trở thành phương tiện lưu truyền một kho tàng văn học dân gian phong phú bao gồm: truyện cổ tích, thần thoại và vốn thi ca cổ truyền gồm: dân ca trữ tình, thơ ca đám cưới, hát ru, văn cúng bái, văn than Nội dung chủ yếu của

Trang 25

những câu chuyện đó nhằm giải thích vũ trụ, nguồn gốc loài người, nguồn gốc các dân tộc, nêu lên lòng chính nghĩa, ghét gian tà, tinh thần đấu tranh chống lực lượng siêu nhiên thần kỳ, chống cường quyền ác bá, đấu tranh để giữ trọn vẹn mối tình chung thuỷ lứa đôi, bạn bè, đấu tranh chống ngoại xâm, truyền thống đoàn kết dân tộc…Văn học dân gian Tày cũng chịu ảnh hưởng nhất định của Tam giáo được thể hiện trong cách ứng xử và sinh hoạt xã hội Ta có thể tìm thấy vô vàn dẫn chứng nói lên điều đó Những lời thơ, câu văn hàm súc, triết lý và vô cùng ý nghĩa ấy, lúc đầu được lưu truyền từ người này sang người khác bằng phương thức truyền miệng, về sau được ghi chép bằng chữ Nôm Tày và chữ Tày theo phiên âm La-tinh

Nghiên cứu văn học dân gian Tày không thể bỏ qua nghiên cứu văn hóa Tày bởi nó chính là cánh cửa đầu tiên giúp mở ra một thế giới bí ẩn, phức tạp

và thơ mộng trong truyện kể dân gian Tày

1.2.2 Văn hóa và văn học dân gian người Nùng

* Vài nét về văn hóa dân tộc Nùng

Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái của hệ ngôn ngữ Thái - Kadai, sống tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc bộ (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang,Tuyên Quang, Hà Giang), dân tộc Nùng có nhiều phân hệ với các tên gọi như Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín

Văn hóa Nùng là văn hóa cư dân lúa nước Từ lâu, người Nùng đã biết dựa vào các triền dốc làm ruộng bậc thang để cấy lúa kết hợp với trồng trọt hoa màu, cây lương thực và chăn nuôi Ngoài sản xuất nông nghiệp, người Nùng còn làm thêm nhiều nghề thủ công, chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Người Nùng thường ở nhà sàn và nhà nửa sàn nửa đất, trong đó nhà sàn là kiểu nhà truyền thống của họ Người Nùng quan niệm vạn vật hữu

Trang 26

linh và thờ tổ tiên là chính Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm ngôi nhà Không sặc sỡ như một số dân tộc, trang phục của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí Người Nùng đặc biệt coi trọng việc thực hiện các nghi lễ hôn nhân Mặc dù được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở môn đăng hộ đối và tín ngưỡng

* Văn học dân gian Nùng

Tiếng Nùng và Tày có chung một nguồn gốc nhưng có sự khác biệt Thậm chí ngôn ngữ giữa các nhóm Nùng cũng không giống nhau Giai đoạn cận đại (từ thế kỷ XVII), người Nùng dùng chữ Nôm gọi là chữ Nôm Nùng để ghi chép thơ ca và truyện kể dân gian

Đồng bào Nùng có một kho tàng văn học dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc Tiếng Sli, Then là làn những điệu dân ca làm nên nét độc đáo, riêng biệt của dân tộc Nùng Then không thể thiếu trong đời sống tinh thần và tâm linh của người Nùng, nó đã trở thành một trong số tín ngưỡng đặc thù của cộng đồng tộc người này Truyện kể dân gian cũng được người Nùng ưa thích và truyền miệng qua nhiều đời nay

Trang 27

TIỂU KẾT Chương một chúng tôi tập trung giới thiệu sơ lược một số khái niệm cơ bản về Thi pháp học, Tự sự học và một số những khái niệm có liên quan đến văn học dân gian như kiểu truyện, kiểu nhân vật, cốt truyện, sự kiện, tình tiết Đồng thời chúng tôi cũng dành vài dòng trình bày khái lược về văn hóa Tày - Nùng Chúng tôi hi vọng, những kiến thức đó sẽ góp phần nghiên cứu truyện

cổ Tày - Nùng được sâu hơn

Về vấn đề Thi pháp học, chúng tôi trình bày sơ lược tiến trình lịch sử nghiên cứu Thi pháp học tại Việt Nam, những khái niệm cơ bản Qua đó, chúng tôi chỉ ra rằng: Nghiên cứu thi pháp truyện cổ Tày Nùng là nghiên cứu toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm được biểu đạt qua ngôn ngữ nhằm làm toát lên giá trị nội dung của nó Đó là các yếu tố như: ngôn ngữ, nhân vật, biểu tượng, motip, kết cấu, hình tượng

Về vấn đề Tự sự học, chúng tôi trình bày vài nét về lịch sử hình thành ngành tự sự học, khái niệm về trần thuật Ứng dụng nghiên cứu tự sự trong tác phẩm truyện cổ tích Tày Nùng, chúng tôi tập trung giới thiệu các yếu tố hình thành nên mối quan hệ giữa người kể và người tiếp nhận như: chủ đề, tư tưởng, điểm nhìn, ngôi kể, giọng điệu

Một chỉnh thể truyện cổ tích Tày - Nùng là sự gắn kết mật thiết các yếu

tố tự sự như kiểu nhân vật, kiểu cốt truyện, giọng điệu, điểm nhìn, không gian diễn xướng và cả văn hóa tộc người Trong hai chương trọng tâm tiếp theo của luận văn, chúng tôi cố gắng khảo sát những yếu tố thi pháp của Nghệ thuật xây dựng nhân vật và Kỹ thuật kể trong truyện dân gian Tày – Nùng

Trang 28

Chương 2 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN CỔ TÀY - NÙNG

2.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật chính diện

Nhân vật chính diện là kiểu nhân vật mang vẻ đẹp về nhân cách, phẩm chất được nhân dân xây dựng, đề cao như một tấm gương tiêu biểu của cộng đồng Trong truyện cổ tích, nhân vật chính diện là thể hiện rõ nhất khát vọng,

mơ ước của nhân dân lao động Và do đó nó mang những đặc điểm giai cấp rõ rệt Nhân vật người đội lốt, nhân vật mồ côi, nhân vật dũng sĩ, nhân vật thần

kỳ, nhân vật thông minh là những kiểu nhân vật chính diện thường thấy trong truyện cổ tích của bất cứ dân tộc nào Những kiểu nhân vật đó phân làm hai kiểu:

+ Nhân vật trợ giúp hay còn gọi là nhân vật chức năng thường thấy trong truyện cổ là các ông tiên, ông bụt, cô tiên, con gái Long Vương Dân gian gọi đó là những nhân vật thần Nhân vật thần kỳ hầu như không có đời sống nội tâm, không có đặc điểm cố định từ đầu đến cuối tác phẩm Nó tồn tại trong tác phẩm chỉ nhằm một số chức năng nhất định nào đó mà thôi Cụ thể đây là chức năng ban bố phép thuật, tạo ra biến cố bất ngờ nhằm kết thúc xung đột của cốt truyện Trong truyện cổ Tày - Nùng, ở các truyện thần kỳ luôn

xuất hiện những nhân vật chức năng dạng này như trong truyện Cóc con Lệnh

Trừ, Nho sĩ và cóc thần, chuyện chàng Quan Triều

+ Nhân vật điển hình: Đó là kiểu nhân vật tập trung những phẩm chất, đặc điểm, tính cách điển hình cho một lớp người hay một cộng đồng lớn trong

xã hội Nhân vật này phản ánh rõ nét đặc trưng tâm lý tộc người, khát vọng tộc người và khi đạt đến mức độ điển hình cao, nó còn có khả năng dự báo, điều chỉnh xu hướng phát triển của xã hội tộc người đó trong tương lai Đó là các kiểu nhân vật như người đội lốt, nhân vật mồ côi, nhân vật phụ nữ chung

Trang 29

thủy, nhân vật anh hùng, dũng sĩ, người mưu trí, người thông minh, quan lại hiền lương

2.1.1 Kiểu nhân vật người đội lốt

Kiểu truyện người mang lốt là một kiểu truyện đặc trưng trong kho tàng truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam nói chung và trong truyện cổ dân tộc Tày - Nùng nói riêng Bên cạnh những kiểu truyện tiêu biểu như người dũng

sĩ, người mồ côi, người em, người con riêng, những chàng trai có sức khỏe phi thường… thì kiểu truyện người mang lốt, chiếm một số không nhỏ và nó còn góp phần tạo nên vẻ độc đáo trong toàn bộ kho tàng văn học dân gian Tày -

Nùng Trong hai cuốn Truyện cổ Tày và Truyện cổ Nùng của cùng tác giả Thu

Hương, chúng tôi thống kê có 11/24 truyện thuộc kiểu truyện người mang lốt

Kiểu nhân vật này xuất hiện trong tác phẩm không phải dưới hình dạng một người bình thường mà ẩn thân dưới hình thức “lốt” của một con vật hay lốt của một vật kì dị nào đó (có thể là một cục thịt, một con cóc, người có hình dạng vô cùng xấu xí) Nhân vật chỉ mang hình dạng người (thường có dung mạo khôi ngô hoặc xinh đẹp) sau khi đã vượt qua những thử thách khó khăn trong cuộc đời Nhờ sự xuất hiện kì dị, sự biến đổi kỳ diệu từ lốt sang hình dạng con người bình thường của nhân vật mà truyện dân gian đã thể hiện sâu sắc triết lý nhân sinh và kiểu tư duy nghệ thuật đặc trưng của mỗi tộc người

Đối tượng mang lốt trong văn học dân gian chủ yếu là những người nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội có giai cấp Qua khảo sát, trong truyện cổ Tày - Nùng chúng tôi nhận thấy, trong đối tượng mang lốt nếu là phàm trần thì đều là những người nghèo khó, người đi ở, người mồ côi Ví dụ như chàng trai

mồ côi, nghèo khổ trong Chàng mồ côi và cô út (Tày), chàng mồ côi, rách rưới trong Công chúa và chàng dê rừng (Nùng) hay nhân vật lốt vật kì dị đi hỏi vợ như nhân vật chàng cóc Lệnh Trừ trong trong truyện Cóc con Lệnh Trừ

Trang 30

(Tày) do mang lốt một con cóc nên bị nhà vua và các cô con gái (trừ cô út) khinh ghét, xem thường

Đặc biệt, bên cạnh người mang lốt là người phàm trần nghèo khó, có số phận bất hạnh, trong truyện cổ Tày - Nùng, người mang lốt còn lại chủ yếu là

nhân vật thần tiên Ví như nhân vật con gái Long Vương trong truyện Tài Xì

Phoòng Tài Xì Phoòng là chàng mồ côi phải đi làm thuê từ nhỏ Một lần,

chàng đã cứu cá chép khỏi cái chết nên bị lão chủ nhà đánh đuổi ra ngoài Chàng được cá thần là con gái Long Vương cứu Họ nên vợ chồng rồi xin cha

Phù Lủ Tẩu để lên trần và trở nên vô cùng giàu có Hoặc như truyện Chàng

gánh củi Thàng Cao Chúa: Chàng mồ côi gánh củi tên là Thàng Cao Chúa đã

cứu một con rắn hoa mai - con gái Long Vương Rắn hóa thành cô gái đẹp và cùng chàng nên duyên chồng vợ Họ sống giàu có và hạnh phúc Sở dĩ nhân vật mang lốt là thần tiên có hai lí do: Một là qua sự gặp gỡ, giúp đỡ của nhân vật thần tiên, tác giả dân gian đề cao vẻ đẹp đạo đức, tâm hồn của nhân vật chính diện; Hai là tác giả dân gian Tày - Nùng đề cao yếu tố "thực" trong xây dựng nhân vật chính diện, tìm cách hợp lý hóa câu chuyện để phù hợp với thực tại cuộc sống, ca ngợi cách sống "ở hiền gặp lành"

Do nhân vật mang lốt chủ yếu là thần tiên, mang lốt để thử người trần

và tìm cách thay đổi số phận người trần nên giới tính chủ yếu của nhân vật mang lốt trong truyện cổ Tày Nùng là giới tính nữ Khảo sát kiểu nhân vật người mang lốt vật ở phương diện giới tính chúng tôi thấy rằng: Nếu giới tính nhân vật mang lốt là nam giới thì chủ yếu là chàng mồ côi, chàng đi ở và mang lốt với mục đích cuối cùng là lấy được người vợ xinh đẹp, nhân hậu Người vợ đó thường là những người con út, em út trong gia đình, có nhan sắc

và có tấm lòng nhân ái hơn người, hoặc là những cô gái con nhà quyền thế có trái tim nhân hậu Nếu như dáng vẻ bên ngoài của nhân vật mang lốt làm cho

Trang 31

mọi người sợ hãi và khinh ghét thì lại luôn khơi lên trong lòng những người con gái nết na ấy sự thông cảm sâu sắc Tình cảm đó cao đẹp hơn tình yêu nam nữ - đó chính là lòng nhân đạo cao cả, là tình người Ví như trong truyện

Chàng mồ côi và cô út (Tày): Mặc dù chàng trai không có tai, không có tóc,

hình dạng vô cùng xấu xí khiến các cô chị ghê sợ nhưng lại khiến cô út thương

cảm và yêu chàng Hoặc trong truyện Công chúa và chàng dê rừng (Nùng):

Có anh chàng Dàng mồ côi cả cha lẫn mẹ, anh phải làm lụng nên trở nên xấu

xí Nhờ lòng tốt gánh giúp củi mà anh được một tiên ông sửa mặt cho trở nên

vô cùng đẹp đẽ Nhưng vì da anh vẫn đen nên anh phải chui vào bộ lông của một con dê ẩn nấp trong hang gần cung vua Công chúa hàng ngày đi chăn dê được anh giúp đỡ đã mến con dê

Và khác với các nhân vật nam, các nhân vật nữ giới khi mang lốt đều là tiên và chỉ mang lốt các loài vật Khi trút lốt con vật, nàng tiên không chỉ giúp những chàng trai nghèo, mồ côi trở nên sung túc, giàu có mà qua đó trở thành nhân vật điển hình đại diện cho người phụ nữ trong xã hội xưa với những

phẩm chất đáng quý Như nhân vật nàng Kháy trong truyện Nàng Kháy (Tày)

đã mang lốt một quả trứng lạ được chàng Hoa Long nhặt đem về nhà, sau một thời gian lén trút lốt thành cô gái xinh đẹp, làm việc nhà giúp Hoa Long Rồi sau đó, bỏ lốt, kết hôn với Hoa Long sống cuộc hạnh phúc, đầm ấm Hay như

truyện Chàng gánh củi Thàng Cao Chúa cũng vậy Con gái Long Vương đã từ

bỏ lốt rắn để nên duyên với người đàn ông lam lũ, mồ côi là chàng Thàng Cao Chúa Đức hi sinh, thủy chung, hiền dịu, khôn ngoan là những phẩm chất đẹp của những nhân vật chính diện nữ này Chúng tôi sẽ còn bàn đến những phẩm chất đẹp đó trong phần sau của luận văn

Vậy tại sao người dân không chỉ Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới lại sáng tạo nên hình tượng nhân vật đội lốt? Phải chăng đó là sản phẩm phản

Trang 32

ánh khả năng quan sát tự nhiên, khả năng tư duy lồng ghép hiện tượng đó với triết lý nhân sinh của con người? Rắn lột xác, bướm chui ra từ kén, con ốc, con cua, con cá hết sức gần gũi với đời sống thường ngày đã trở thành nguồn sáng tạo giúp người dân xây dựng nên những nhân vật chính diện đội lốt ở trên? Và để hợp lý hóa truyện, khiến nó trở nên gần gũi, người kể đã

"bịa" nguồn gốc của các nhân vật này:

+ Nguồn gốc từ một quá trình sinh nở đặc biệt: Truyện Cóc con Lệnh

Trừ, Chàng Cụt là những truyện mà các nhân vật ngay từ khi sinh ra đã ở

trong lốt vật Chàng Lệnh Trừ mang lốt một con cóc Chàng Cụt mang lốt một con thằn lằn Điều đáng nói ở đây là họ đều là con của những gia đình hiếm hoi, ao ước có một mụn con Vì cơ duyên thần kỳ như cầu cúng thần linh hay thụ thai với thần mà có chửa rồi sinh con ra Nguồn gốc của những nhân vật đội lốt này đều có mang dòng dõi của thần tiên và chính vậy, quá trình lớn lên của họ từ khi sinh ra đến lúc trút lốt đều hết sức thần kỳ

+ Xuất hiện tình cờ, ban đầu không rõ nguồn gốc: Đó là truyện Quang

Cún, Vợ chồng tân trạng, Chuyện chàng mồ côi, Chàng gánh củi Thàng Cao Chúa Những nhân vật chính trong truyện đã gặp nhân vật đội lốt một cách

rất tình cờ như khi đi rừng thì gặp, khi đang làm việc thì gặp Hoặc cũng có nhân vật ẩn mình sau lốt vật được nhân vật chính cứu sống Ví dụ con gái

Long Vương trong truyện Chuyện chàng mồ côi trong lốt con bướm xinh đẹp

đã tình cờ được chàng mồ côi cứu sống hay con gái Long Vương với lốt cá

anh vũ trong Quang Cún(Nùng) đã được chàng Quang Cún cứu Dường như

tác giả dân gian cố bày ra một sự xuất hiện tình cờ nhưng lại ngỡ như "duyên

tiền định" nhằm khiến cho niềm tin vào triết lý ở hiền gặp lành càng được

khẳng định hơn

2.1.1.1 Các dạng lốt tiêu biểu

Trang 33

* Dạng mang lốt con vật

Đây là dạng lốt phổ biến nhất nếu như không nói đến là hầu hết trong kiểu nhân vật người mang lốt vật của truyện cổ Tày - Nùng Các nhân vật ngay từ khi xuất hiện trong tác phẩm đã có lốt Như đã nói ở trên, họ là con của những bà mẹ già hiếm con và thường xuất hiện ngay sau câu: "Ngày xưa

có hai vợ chồng hiếm muộn mãi mà không sinh được con" Hoặc nó cũng có thể xuất hiện sau đó trong một tình huống mang tính biến cố như nhân vật chính (chàng trai nghèo khổ, chàng trai mồ côi, cô gái xinh đẹp ) gặp nhân vật mang lốt tại một không gian thấm đẫm tình người và chất thần kỳ Sau đó, nhân vật mang lốt biến hóa, trút lốt để trả ơn, nên duyên vợ chồng với nhân vật chính Theo khảo sát, trong 11 truyện cổ tích thần kỳ người đội lốt, chúng tôi nhận thấy, các nhân vật đội lốt chủ yếu xuất hiện ở dạng thứ hai: dạng gặp

gỡ với nhân vật chính tại không gian thần kỳ, không gian gay cấn, xung đột nhưng cũng thấm đẫm tính nhân văn Những nhân vật đội lốt này đã giúp đỡ nhân vật chính thực hiện mơ ước của quần chúng ngay sau đó

Họ có thể mang lốt những con vật hoang dã như cô vợ trong truyện

người vợ của chàng trai Thàng Cao Chúa trong Chàng gánh củi Thàng Cao

Chúa (Nùng); Hoàng tử trong Hoàng tử Nai vàng, cô gái trong Nàng tiên khỉ,

chàng trai trong Chàng rể rùa (Tày) Ví như trong truyện Chàng gánh củi

Thàng Cao Chúa: Thàng Cao Chúa đã cứu một con rắn hoa mai - con gái

Long Vương Rắn hóa thành cô gái đẹp và cùng chàng nên duyên chồng vợ Những nhân vật này đa phần không có tên gọi chính thức, chủ yếu mang tên lốt các con vật như chàng rùa, chàng nai vàng, nàng tiên khỉ, con gái Long Vương hoặc những tên chung chung, phiếm chỉ như: người vợ, cô gái, cô ấy Dạng lốt này cho thấy sự gắn bó, gần gũi của đồng bào Tày - Nùng với

Trang 34

rừng núi Đồng thời nó cũng cho thấy thế giới tâm linh của người Tày - Nùng: thần tượng núi thiêng, rừng thiêng và các con vật thuộc về núi rừng

Bên cạnh những con vật hoang dã, thì lại có những nhân vật mang lốt các con vật quen thuộc, gần gũi với đời sống sinh hoạt của nhân dân lao động

Đó là nhân vật mang lốt con dê trong truyện: Công chúa và "chàng" dê rừng (Nùng); Nhân vật mang lốt con cóc như chàng cóc trong Cóc con Lệnh Trừ (Tày); nhân vật mang lốt cá chép như vợ của Tài Xì Phoòng trong Tài Xì

Phoòng (Tày); nhân vật cô tiên tên Dụ mang lốt bướm trong Chuyện chàng

mồ côi (Nùng) Hầu hết nhân vật mang lốt vật xấu xí, gần gũi với đời sống

người lao động trong các truyện cổ tích thần kỳ trên đều lấy được cô gái xinh đẹp hoặc chàng trai tốt bụng đã có công cứu mình

Tuy nhiên, không phải lúc nào, trong truyện cổ, các lốt đều là những con vật có thật, gần gũi Một truyện được tìm thấy trong hệ thống truyện được

chúng tôi khảo sát có nhân vật mang lốt thuồng luồng - truyện Chàng Cụt

Câu truyện kể về một người đàn bà góa bụa, một lần xuống suối uống nước:

"Bất chợt bà vấp phải quả trứng màu trắng bạc Thấy lạ, bà liền cầm về để ở

xó nhà Đêm nằm, bà mang quả trứng cặp vào nách, lúc để cạnh gối đầu Một thời gian sau, trứng nở ra một con thuồng luồng nhỏ bé, cổ vằn đỏ sặc sỡ Thuồng luồng con cứ trườn quanh và bò theo bước chân người đàn bà goá bụa Bà đi đến đâu thuồng luồng theo đến đó Thuồng luồng con theo bà lên nương, thuồng luồng quanh quẩn bên cạnh Một hôm do sơ ý, bà cuốc ngay một nhát trúng đuôi thuồng luồng Bị đứt đuôi, thuồng luồng con khóc và nói:

"Con là người trên trời rơi xuống/ Nhờ mẹ ấp mà con được nở sinh/ Con không có tay có chân/ Nhưng con làm được việc tốt đấy nhé" Nghe xong lời thuồng luồng nói, bà thương thuồng luồng con, tuy là loài rồng rắn nhưng được nở ra từ hơi ấm của bà Đời goá bụa, bà coi thuồng luồng như con Bà

Trang 35

liền bế thuồng luồng trên tay và ngửa mặt lên phía mặt trời đằng Đông, xin đặt tên con là "ý Cọt" (chàng Cụt) Thuồng luồng hay con rồng trong quan niệm người Kinh là lốt con vật chỉ có trong trí tưởng tượng của nhân dân Trong truyện cổ Tày, biểu tượng thuồng luồng vừa thể hiện đươc ước vọng to lớn vừa thể hiện được sự sùng bái của con người với tự nhiên

Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà số nhân vật mang lốt các con vật chiếm số lượng nhiều như thế Dường như các dân tộc khi sáng tạo nên những câu chuyện cổ tích về kiểu nhân vật người mang lốt vật đã muốn biểu đạt mối quan hệ hòa hợp giữa con người với tự nhiên Ước mơ về sự hòa hợp này không những mang lại sự dạng, phong phú cho thế giới lốt vật xuất hiện trong kiểu truyện người mang lốt, mà còn tạo nên một sự hấp dẫn, lôi cuốn kì lạ tới người đọc

* Dạng lốt người dị hình, dị dạng

Cùng nằm trong kiểu nhân vật người mang lốt vật nhưng nhân vật kiểu này có lốt là người dị hình, dị dạng xấu xí không giống con người bình thường Song truyện có lốt dị hình, dị dạng trong kho truyện cổ Tày - Nùng tương đối ít Có thể khi sáng tạo ra kiểu nhân vật mang lốt dưới vẻ ngoài dị hình, dị dạng như thế này, tác giả dân gian muốn khắc họa hình ảnh một tầng lớp người, một kiểu người khá phổ biến trong xã hội là những con người bất hạnh xấu xí, tật nguyền với một mong muốn cho cuộc đời số phận của họ qua mô-típ trút lốt, như một phần thưởng xứng đáng bù đắp cho những thiệt thòi, bất hạnh mà họ đã phải gánh chịu Đồng thời, họ cũng mong muốn người đời

có cái nhìn bình đẳng hơn đối với những số phận không may trong xã hội

Trong truyện cổ Tày có câu chuyện kể về chàng mồ côi xấu xí là Chàng

mồ côi và cô út tương tự như truyện Sọ Dừa Chàng vì hoàn cảnh bị rơi xuống

hang, sống trong hang thời gian dài nên "mặt mũi gớm ghiếc, đầu không còn

Trang 36

sợi tóc, da dẻ sần sùi, hai vành tai sứt lở, áo quần rách nát" Bộ dạng của chàng khiến con gái của cụ già - người cứu chàng - sợ hãi và khinh ghét Duy chỉ có cô út thương cảm cho chàng Nhờ được thần giúp đỡ, với hòn đá thần, chàng đã trút bỏ vẻ ngoài xấu xí để trở thành chàng trai tuấn tú, cưới cô út và sống hạnh phúc Có thể thấy truyện cổ mang lốt không chỉ phản ánh thế giới quan của người Tày mà còn thẫm đẫm chất nhân văn, nhân đạo sâu sắc

2.1.1.2 Đặc điểm nhân vật đội lốt

* Đặc điểm ngoại hình

Lốt các con vật hay lốt dị hình, dị dạng đều có vẻ ngoài xấu xí, bất thường Nhưng lại chứa đựng bên trong những phẩm chất đẹp Cái đẹp bên trong đã lấn át cái xấu bên ngoài khiến người có trái tim nhân hậu lập tức cảm mến Ngược lại, những kẻ độc ác, thiển cận lại được dịp bộc lộ sự khinh miệt Như vậy, nhờ cái lốt, nhân vật đã bóc trần được bản chất của nhân vật phản diện đồng thời phát hiện, ngợi ca được những con người tốt Đây phải chăng

là cách "thử lòng" người của tác giả dân gian nhằm phân định kẻ ác người ngay?

Không những thế, dấu đằng sau lốt bất thường, nhân vật thường có những tài năng đặc biệt, trí tuệ hơn người dễ thu hút và bị làm hại bởi những thế lực xấu Trong giai đoạn còn non nớt, cái lốt lúc này được coi là tấm áo hộ thân cần thiết nhất, để nhân vật ẩn dấu dáng vẻ thật của mình, đợi thời cơ trút lốt và lớn đẹp lạ thường khiến những kẻ ghen ghét phải tức tối tột độ Điều đó chính là đích đến, là kết quả của trí tưởng tượng bay bổng của dân gian khi xây dựng nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích

* Đặc điểm về phẩm chất đạo đức, tài năng, trí tuệ

Như đã nói đến ở trên, mặc lốt cho nhân vật chính là một cách thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của dân gian Nói cách khác, nhân vật mang lốt

Trang 37

chính là hiện thân của những giấc mơ, ước vọng của cộng đồng Do vậy, các nhân vật mang lốt vật đều ít nhiều có được những đặc điểm về phẩm chất đạo đức, tài năng, trí tuệ để vượt qua tất cả những khó khăn thử thách, những trở ngại trong cuộc đời nhằm thực hiện thành công ước mơ mà nhân dân gửi gắm Qua khảo sát, hầu hết phẩm chất đạo đức, tài năng, trí tuệ của nhân vật mang lốt chỉ được bộc lộ khi có sự xuất hiện của một lực lượng gây họa hay thách

đố

Một trong những đặc điểm chung dễ nhận thấy nhất ở kiểu nhân vật người mang lốt vật là họ đều có những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, đáng trân trọng Nếu là nam hóa thân thì thường có đức tính: chân thực, chăm chỉ, hiền

lành, hiếu thuận Chàng Cụt thuồng luồng trong truyện Chàng Cụt là người

hiếu thảo Khi mẹ già yếu, muốn chàng trở về với biển, chàng một mặt vẫn nghe lời, mặt khác vẫn về bắc cầu để mẹ sang sông đi chợ Mẹ mất, ngày giỗ

mẹ, chàng thương mẹ luôn về quanh mộ mẹ, đắp đá, làm cỏ làm cho vùng Lục Yên - Yên Bái ngày Tết Ngâu mưa rất to Cuối cùng, không nỡ rời xa người mẹ đã mất, chàng đã về mang mộ mẹ ra biển chăm sóc, để lại một cái

hố lớn đến bây giờ nước vẫn đùn lên trong vắt Hoặc như nhân vật chàng Mồ

Côi trong Chàng mồ côi và cô út là người chăm chỉ, thật thà: "cần cù, và có

lòng tốt, các bậc già cả, các cô con gái và các em bé đều quý mến" Bởi đức tính thật thà, chất phác, họ thường bị lợi dụng và hãm hại Chàng Mồ Côi đã

bị phú ông hại đến mức thân hình trở nên vô cùng xấu xí Tuy hình dáng xấu

đi nhưng chàng vẫn là một người tốt, vẫn giúp đỡ người già cả và đã được đền đáp

Nếu là nữ hóa thân, họ là những người phụ nữ có xuất thân danh giá - con Long Vương, tiên nữ Họ hóa thân xuống trần và được nhân vật nam chính cứu mạng rồi trút lốt và nên duyên vợ chồng Qua nhiều biến cố, họ

Trang 38

luôn thể hiện là những người phụ nữ son sắt, thủy chung trong tình yêu, tình

vợ chồng Họ cũng là người tài trí khi đối phó với những tên phú ông, trưởng bản gian ác, dâm ô Đó là những phẩm chất đạo đức vô cùng đáng quý, mà tác dân gian luôn luôn muốn ban tặng cho những nhân vật mang lốt này đồng thời

nó cũng thể hiện ước vọng biến đổi của quần chúng, quan niệm của xã hội Tày

về người phụ nữ Chúng tôi sẽ còn bàn đến điều này trong phần sau khi nói về nhân vật nữ trong truyện cổ Tày - Nùng

Bên cạnh phẩm chất đạo đức, chúng ta không thể không nói đến tài năng Hầu hết các nhân vật mang lốt trong kiểu truyện người mang lốt đều có những tài năng nhất định và tài năng này chỉ được bộc lộ khi có thử thách, khó khăn

Những thử thách đó, có thể do chúa đất, phú ông, những con người giàu

có và có thế lực trong xã hội hay chính hoàn cảnh sống sinh ra Nhân vật có thể bộc lộ tài năng khi làm công việc nhà, việc nương rẫy trồng trọt, chăn

nuôi Tiêu biểu như nhân vật chàng mồ côi trong truyện Chàng mồ côi và cô

út chăn được đàn trâu lớn, làm việc phát nương, trồng ngô rất tốt… Nhân vật

đội lốt cũng có thể bộc lộ tài năng trong đánh trận Chàng Lệnh Trừ trong

truyện Lệnh Trừ (Tày) đột lốt cóc nhưng là người có sức mạnh và tài năng phi

thường Chàng chỉ "vỗ vỗ vào lưng ngựa sắt rồi nhảy phắt lên lưng Con ngựa lao đao, rồi ngã khuỵu gục hắn xuống " Vua bèn sai quan cận thần cho đúc một con ngựa khác nặng đúng cân dạng như chàng yêu cầu Đó là "một con ngựa sắt nặng một vạn cân có lẻ, được gần năm trăm quân sĩ lặc lè khiêng lại đặt giữa sân rồng" "Chàng dắt ngựa dạo quanh trước sân rồng một vòng Chàng vỗ vỗ vào lưng ngựa Con ngựa ngẩng đầu, vẫy đuôi, hí vang trời." Lệnh Trừ đã cưỡi ngựa, phun lửa liên tiếp vào quân giặc tiêu diệt được hết chúng: "Con ngựa sắt vừa phi nhanh, vừa phun lửa ra đằng mũi, phụt khói ra

Trang 39

đằng mũi Màn khói toả khắp trận của giặc làm cho quân giặc phải tối tăm mặt mũi Màn lửa lan tiếp theo sau màn khói thiêu ra tro tất cả quân binh, lừa ngựa, cờ quạt, võng lọng, giáo mác, kiếm cung, doanh cơ của giặc Chỉ một loáng, toàn bộ quân giặc không còn chút dấu tích."

Các nhân vật đội lốt còn được thử thách thông qua các cuộc thi để bộc

sự thông minh và tài phán đoán Chủ yếu đó là những cuộc thách đố của phú ông nhằm kén rể cho con gái mình hoặc những thử thách mà những lão pản hay chính người chồng gây ra cho nhân vật nữ đội lốt Đôi khi, là những cuộc thách đố do chính nhân vật đội lốt yêu cầu để chinh phục lòng người nhằm lấy

được vợ đẹp, hiền thục Nhân vật Lệnh Trừ trong truyện Cóc con Lệnh Trừ

(Tày) đã thắng cuộc nhà vua nhờ tài phán đoán và sự giúp đỡ của thần tiên:

"Theo lời dặn của ông tiên hôm qua, Lệnh Trừ đi suốt một lượt qua khắp cả một trăm hai mươi chiếc kiệu hoa Trên chiếc kiệu nào cũng có ong đàn bay lượn Duy chỉ có cái kiệu thứ ba mươi hai là có nhiều ong đàn bay lượn hơn cả.", chàng đã chọn kiệu đó và cưới được công chúa

Hoặc như nhân vật con gái Long Vương trong truyện Tài Xì Phoòng

Tài Xì Phoòng là chàng mồ côi phải đi làm thuê từ nhỏ Một lần, chàng đã cứu

cá chép thần khỏi cái chết nên bị lão chủ nhà đánh đuổi ra ngoài Chàng được

cá thần là con gái Long Vương cứu Họ nên vợ chồng Nghe lời vợ, chàng đã xin Long Vương báu vật Phù lủ tẩu để lên trần và trở nên vô cùng giàu có Tên chủ cũ Núng Cún thấy vợ chàng xinh đẹp, nhà chàng giàu có giở thói tham lanm Hắn mời chàng uống rượu và vu cho tội sàm sỡ vợ hắn, đòi lôi chàng đi kiện nếu chàng không đổi vợ và gia tài cho hắn Nghe lời công chúa, chàng đã đổi được gia tài lão chủ và 3 vợ đẹp Sau khi đổi, công chúa biến mất Lão chủ tham lam bị lũ cuốn trôi

Trang 40

Có nhân vật chỉ cần vượt qua một thử thách, cũng có nhân vật phải vượt

qua nhiều thử thách Như nhân vật chàng cóc trong Cóc con Lệnh Trừ đã phải

vượt qua ba thử thách để có thể đạt đến ngôi vua và sống hạnh phúc với công chúa ba Những thử thách đó gồm: Thử thách đánh giặc, thử thách phán đoán

và cuối cùng là thử thách trút lốt Càng qua nhiều thử thách, nhân vật chàng cóc Lệnh Trừ càng chứng tỏ được tài năng của mình

Song hầu hết các nhân vật nữ thần tiên hóa thân vào lốt các con vật chỉ vượt qua một thử thách Đó là vượt qua được bọn cường hào, ác bá tham lam Tuy nhiên trong kiểu truyện này, nhân vật nữ sau khi vượt qua thử thách thường biến mất, để lại cho người chồng gia sản và cuộc sống hạnh phúc Cũng có những nhân vật nữ vượt qua thử thách do chính người chồng tạo ra

để giữ gìn hạnh phúc với người phàm trần, những câu chuyện kiểu này thường kết thúc theo lối: nhân vật nữ đội lốt trở lại lốt ban đầu và người chồng lại nghèo khó như xưa

Qua thử thách, tài năng, phẩm chất đạo đức của nhân vật đội lốt cũng như nhân vật chính trong tác phẩm văn học dân gian được bộc lộ, thể hiện ước

mơ bình đẳng, đổi đời của quần chúng lao động và hơn hết là ước mơ được sống hạnh phúc, yên ấm bởi như chúng ta thấy dù phải trải qua một hoặc nhiều thử thách thì nhân vật mang lốt vật đều luôn mong muốn đi đến cái đích cuối cùng là hạnh phúc

2.1.1.3 Sự trút lốt của nhân vật

Hầu hết các nhân vật trong kiểu truyện người mang lốt đều trút lốt vật

để mang hình dạng con người, nhưng thời điểm trút lốt của mỗi nhân vật mang lốt vật diễn ra không giống nhau Có nhân vật trút lốt trước khi kết hôn,

có nhân vật lại trút lốt sau khi kết hôn song số lượng nhân vật trút lốt trước khi kết hôn chiếm tỉ lệ gần như tuyệt đối Có thể thấy: Hôn nhân là một trong

Ngày đăng: 29/06/2016, 22:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w