1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới

161 706 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN TRƯỜNG CẢNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN TRƯỜNG CẢNH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN TRƯỜNG CẢNH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI

Chuyên ngành : Hồ Chí Minh học

Mã số : 62 31 27 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Nguyễn Thế Thắng

2 PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội, được sự giúp đỡ của Nhà trường, các Phòng và Khoa Chính trị học, nay tôi đã hoàn thành chương trình học tập và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Đại học Quốc gia

Tôi xin chân thành cảm ơn tới quý Thầy, Cô trong Ban giám hiệu, Phòng quản lý Đào tạo sau đai học, Khoa Chính trị học trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học

Với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học: PGS TS Nguyễn Thế Thắng, PGS TS Nguyễn Linh Khiếu, GS TS Phùng Hữu Phú, PGS Lê Mậu Hãn, PGS TS Lại Quốc Khánh, PGS TS Phạm Ngọc Anh,

TS Lưu Minh Văn, GS TS Mạch Quang Thắng, PGS TS Nguyễn Văn Cư, GS TS Nguyễn Văn Huyên, GS TS Nguyễn Hữu Khiển, PGS TS Phạm Văn Đức, PGS

TS Bùi Đình Phong, PGS TS Trần Ngọc Liêu, PGS TS Trần Minh Trưởng và một

số nhà khoa học khác đã trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến chuyên môn để tôi tiếp thu, chỉnh sửa và hoàn thiện luận án tiến sĩ

Tôi cũng vô cùng biết ơn sự động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện của gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện bản luận án tiến sĩ

Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận án là trung thực, đúng quy định Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

TÁC GIẢ

Nguyễn Trường Cảnh

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu lý luận chung về chủ nghĩa xã hội 8

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 11

1.1.3 Một số công trình nghiên cứu về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam 15

1.2 HẠN CHẾ CỦA TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HẠN CHẾ ĐÓ SẼ ĐƯỢC LUẬN ÁN NGHIÊN CỨU 20

Chương 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ

NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 22

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 22

2.1.1 Những giá trị tư tưởng, văn hóa truyền thống của dân tộc 22

2.1.2 Những giá trị tư tưởng, văn hóa phương Đông 24

2.1.3 Những giá trị tư tưởng, văn hóa phương Tây 29

2.1.4 Những giá trị của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội 31

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 43

2.2.1 Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa 43

2.2.2 Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc 47

Chương 3: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 51

3.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 51

3.1.1 Khái niệm chủ nghĩa xã hội 51

3.1.2 Khái niệm bản chất chủ nghĩa xã hội 55

3.1.3 Khái niệm đặc trưng chủ nghĩa xã hội 56

Trang 6

3.2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 583.2.1 Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là chế độ xã hội dân chủ, do nhân dân

là chủ và nhân dân làm chủ 583.2.2 Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh

mẽ 643.2.3 Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là xã hội dân giàu nước mạnh, nền kinh tế phát triển cao với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất 693.2.4 Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một xã hội phát triển cao về văn hóa và đạo đức 763.2.5 Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một xã hội công bằng 823.2.6 Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là do nhân dân xây dựng nên và dưới

sự lãnh đạo của Đảng 853.2.7 Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hướng tới bình đẳng, đoàn kết các dân tộc 893.2.8 Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới 92

Chương 4: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VỀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ ĐỔI

MỚI DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 98

4.1 NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI 984.1.1 Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động 984.1.2 Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể), với chế độ quản lý kế hoạch hóa, tập trung hóa của Nhà nước 994.1.3 Phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng 1014.1.4 Cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng và văn hóa, nhằm xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa 102

4.1.5 Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực hiện

chủ nghĩa quốc tế vô sản 104

Trang 7

4.2 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM XÁC LẬP, HOÀN THIỆN LÝ LUẬN VỀ

NHỮNG ĐẶC TRƢNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 106

4.2.1 Những nhân tố tác động đến quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội 106

4.2.2 Những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua gần 30 năm đổi mới 113

4.2.3 Khái quát một số thành tựu và hạn chế nhận thức lý luận của Đảng về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới 141

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 150

CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Hồ Chí Minh đã nêu lên những quan điểm cơ bản về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Về chính trị là chế độ do nhân dân làm chủ, một nhà nước của dân, do dân và vì dân Nền kinh tế Việt Nam đang xây dựng là nền kinh tế phát triển cao gắn với sự phát triển của sức sản xuất, của khoa học kỹ thuật, với các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế phù hợp Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là giữ gìn cốt cách dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo môi trường sống bình đẳng, dân chủ, cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân

Thực tiễn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thấy việc nhận thức, vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam gặp không ít khó khăn và thách thức Trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô

và Đông Âu, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội ra sức tấn công vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hòng làm cho Việt Nam phải xa rời con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào,

phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước đi

thích hợp” [25, tr.180]

Để thực hiện quyết tâm đó của Đảng trong sự nghiệp đổi mới, việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội, về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là đòi hỏi khách quan của lịch sử, nhằm giải quyết tốt các vấn đề đang đặt ra cho Đảng và dân tộc ta trong thời

Trang 9

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay; vừa là vũ khí tấn công quan trọng trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận, để góp phần khẳng định tính đúng đắn và khoa học của con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn

Chính vì tầm quan trọng của vấn đề nên trong những năm vừa qua đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam đã được công bố Trong đó, những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội chiếm một số lượng đáng kể Xuất phát từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã từng bước làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành và những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này có nhiều cấp độ, chiều sâu lý luận mà để khám phá cần tiếp tục có sự tham gia của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau cùng nghiên cứu

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về những

đặc trưng chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, nhằm góp phần làm sáng rõ tính đúng đắn của con đường Chủ tịch

Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn, đồng thời góp một phần nhỏ bé vào việc đi sâu, mở rộng nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền để đưa tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng trở thành hiện thực cuộc sống trên đất nước ta

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở đó làm sáng tỏ quá trình phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xác lập và hoàn thiện đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội

Trang 10

- Luận chứng những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Làm rõ quá trình phát triển lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội sau gần 30 năm đổi mới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống những quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trong việc xác lập, hoàn thiện lý luận về đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới (từ năm

1986 đến nay)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ của luận án, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: hệ thống, lôgíc và lịch sử; phân tích và tổng hợp; so sánh; quy nạp và diễn dịch, v.v

5 Đóng góp mới của luận án

- Phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội

- Làm rõ khái niệm chủ nghĩa xã hội và khái niệm đặc trưng chủ nghĩa xã hội

Từ đó phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trang 11

- Khái quát một số đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước thời kỳ đổi mới và phân tích quá trình phát triển lý luận của Đảng về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới dưới sánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

- Khái quát một số thành tựu và hạn chế nhận thức lý luận của Đảng về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa khoa học

- Góp phần luận chứng những quan điểm của Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội có giá trị thật sự to lớn trong hệ thống quan điểm của Người khi vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta

- Góp phần hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Góp phần làm rõ sự vận dụng sáng tạo và phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc xác lập và hoàn thiện đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cho các cấp, các ngành, các nhà quản lý và những người hoạt động thực tiễn căn cứ lý luận để giải quyết một số vấn đề lý luận đặt ra trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

- Những kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy môn học tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng trong cả nước

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả liên

quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 8 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1.1 Một số công trình nghiên cứu lý luận chung về chủ nghĩa xã hội

- Các tác giả nước ngoài viết về chủ nghĩa xã hội như: Trương Lôi Khắc, Tự

Lập Bình, Lịch sử, hiện trạng và tương lai của chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Chu Thượng Văn, Chu Cẩm Úy, Trần Tích Hỷ, Chủ nghĩa

xã hội là gì? Xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào? (Bản chất của chủ nghĩa xã hội và con đường phát triển), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Học viện

Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Những tranh luận mới của các học

giả Nga về chủ nghĩa xã hội (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2013; v.v Các tác giả trong nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Trịnh

Quốc Tuấn, Phạm Ngọc Quang, Chủ nghĩa xã hội là gì? Tìm hiểu quan điểm của

các nhà kinh điển, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991; Hoàng Chí Bảo, Chủ nghĩa xã hội hiện thực: Khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1993; Trần Xuân Trường: Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Một

số vấn đề lý luận cấp bách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Nhị Lê, Một số suy nghĩ về chủ nghĩa xã hội - Từ lý luận đến thực tiễn, Nxb Lao động, Hà Nội,

2002; Lê Hữu Tầng, Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn - Những bài học kinh

nghiệm chủ yếu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Nguyễn An Ninh, Về triển vọng của chủ nghĩa xã hội trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2006; Nguyễn An Ninh, Về mô hình “chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ XXI”

của khu vực Mỹ latinh hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012; Hoàng Chí

Bảo, Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội

khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012; Hoàng Chí Bảo, Chủ nghĩa xã hội hiện thực và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội 2012; Trần Thành, Chủ nghĩa xã hội Việt Nam hiện nay, những quan điểm lý

luận cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013; v.v

Trang 13

Các công trình trên đã đề cập đến những quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đánh giá chủ nghĩa xã hội hiện thực trong những thập niên vừa qua, thành tựu, khủng hoảng, sụp đổ, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm Trên cơ sở nghiên cứu tính tất yếu và

sứ mệnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội, kiến giải những vấn đề cơ bản về bình diện lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam, từ đó góp phần đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai lệch nhằm phủ nhận chủ nghĩa xã hội; đồng thời qua đấu tranh về lý luận và tư tưởng, các tác giả đã chỉ ra những thách thức và đưa ra những cái nhìn mang tính dự báo về triển vọng của chủ nghĩa xã hội trong tiến trình lịch sử phát triển tất yếu của thời đại ngày nay Các tác giả cũng đưa ra một số bài học, kinh nghiệm và cũng gợi mở nhiều vấn đề cần nghiên cứu, tổng kết nhằm làm sáng tỏ những nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Cuốn sách: Những quan điểm cơ bản của C Mác - Ph Ăngghen - V.I Lênin

về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ, của GS PTS Nguyễn Trọng Chuẩn, PTS

Phạm Văn Đức, PTS Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1997; và cuốn sách: Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên

chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, của GS TS Nguyễn Duy Quý (chủ biên), Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Các tác giả đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội qua phác thảo của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin như: Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí - lực lượng sản xuất tiên tiến nhất vào thế kỷ XVIII - XIX; Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; Chủ nghĩa xã hội điều tiết một cách có kế hoạch nền sản xuất xã hội và nền sản xuất hàng hóa về cơ bản sẽ trở nên thừa; Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới; Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động; Chủ nghĩa xã hội khi đã xây dựng xong, chủ nghĩa cộng sản đã được thực hiện thì xã hội sẽ không còn giai cấp; Chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện; Chủ nghĩa xã hội thực hiện sự bình đẳng xã hội; Chủ nghĩa xã hội thực sự là sự nghiệp của bản thân quần chúng, là kết quả của

Trang 14

quá trình sáng tạo của quần chúng; Nhà nước trong chủ nghĩa xã hội là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước kiểu mới, thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động làm chủ xã hội

Đồng thời qua đó các tác giả cho rằng, do những điều kiện lịch sử quy định cho nên bản thân C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin không tránh khỏi những thiếu sót khi đưa ra một số nhận định về chủ nghĩa tư bản, hoặc một số dự đoán về chủ nghĩa xã hội Vào thời điểm lịch sử mà các ông đưa ra dự đoán về những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội thì những đặc trưng ấy đúng là những cái cao hơn và tốt đẹp hơn so với chủ nghĩa tư bản Nhưng đến thời đại ngày nay, chủ nghĩa tư bản đã phát triển sang một giai đoạn mới Do đó, khi xác định chủ nghĩa xã hội là gì, một mặt chúng ta phải dựa vào các đặc điểm cụ thể, tuy là khó có thể liệt kê được đầy đủ các đặc điểm ấy; mặt khác, cần xác định chủ nghĩa xã hội là xã hội phát triển cao hơn và tốt đẹp hơn hẳn so với chủ nghĩa tư bản Rõ ràng, việc xác định như vậy có nghĩa chủ nghĩa xã hội là mục tiêu không chỉ của các nước đang phát triển mà còn của tất

cả các nước trên thế giới Điều đó cho phép ta mạnh dạn tiếp thu tất cả những gì tiến

bộ của các nước khác, đồng thời chấp nhận những cái chưa là chủ nghĩa xã hội như những “khâu trung gian” trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

- Ngoài ra các giáo trình môn chủ nghĩa xã hội khoa học dùng giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng đã đề cập đến các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa như: Nền sản xuất công nghiệp hiện đại; Xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu; Cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới; Phân phối theo lao động - nguyên tắc phân phối cơ bản nhất; Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc; Giải phóng con người thoát khỏi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản con người phát triển toàn diện Như vậy, các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chủ nghĩa

xã hội đã đề cập được nhiều khía cạnh và góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa

Trang 15

xã hội Các công trình đó đã cung cấp nhiều gợi ý quan trọng, là những tài liệu quý,

là cơ sở để tác giả kế thừa, tiếp tục đi sâu nghiên cứu: Một số quan điểm của chủ

nghĩa Mác- Lênin về những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa

xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Xét về các công trình nghiên cứu, thành tựu nổi bật nhất trong những năm cuối thập kỷ XX là chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước mã số KX-02

về “Tư tưởng Hồ Chí Minh” do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ, làm chủ nhiệm chương trình Đây là một công trình bề thế, nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, gồm 13 đề tài cấp nhà nước, mỗi đề tài nghiên cứu một khía cạnh trong hệ thống tư tưởng của Người Chương trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh” cho chúng ta một bức tranh tổng thể về quan điểm, lý luận chính trị toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta Kết quả nghiên cứu của chương trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh” được khái quát lại ở những nét lớn như: Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam với sợi chỉ

đỏ xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời nêu lên ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay và đối với thời đại; Nêu bật sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin của Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, về cách mạng xã hội chủ nghĩa, bao gồm các vấn đề bản chất, mục tiêu, động lực và cách làm trong thời kỳ quá độ, về Đảng cầm quyền, về đạo đức cách mạng, về xây dựng con người mới, về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế

- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài nhánh “Hồ Chí Minh - Nhà mác

xít sáng tạo của Đảng và cách mạng Việt Nam”, nằm trong chương trình khoa học

cấp bộ trọng điểm 2005-2007 “Sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-

Lênin của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam” do GS,TS Mạch Quang

Thắng chủ nhiệm đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài được khái quát ở những nét chính như: Khẳng định vị trí thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin đối với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh; Khẳng định vai trò của Hồ Chí

Trang 16

Minh trong việc truyền bá, phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, định hướng tư tưởng lý luận cho sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc; Nêu bật những cống hiến lý luận của Hồ Chí Minh vào kho tàng kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin, làm căn cứ để khẳng định Hồ Chí Minh thật sự là một nhà mácxít sáng tạo của Đảng và cách mạng Việt Nam; Rút ra một số bài học từ việc Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin để Đảng tự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới, nhằm làm sáng

tỏ và giải quyết các vấn đề thực tiễn bức xúc đang đặt ra

- Thành tựu nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh của các tác giả Việt Nam từ sau Đại hội VII (1991) đến nay đã gặt hái được nhiều kết quả rực rỡ Trong đó, một

số tác giả đã đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội như:

Đặng Xuân Kỳ: Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1990; Phan Ngọc Liên, Nghiêm Văn Thái: Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong

thời đại ngày nay, Nxb Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Võ Nguyên Giáp:

Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1997; Nguyễn Đình Lộc: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do

dân và vì dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Lê Mậu Hãn, Bùi Đình

Phong, Mạch Quang Thắng: Tư tưởng Hồ Chí Minh rọi sáng con đường độc lập tự

do của dân tộc Việt Nam, Nxb Nghệ An, 2000; Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,

Nxb Lao động, Hà Nội, 2000; Vũ Viết Mỹ, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ

nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2002; Bùi Đình Phong: Giải phóng dân tộc và đổi mới dưới ánh sáng

tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Song Thành: Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; Lại Quốc Khánh, Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Mạch Quang Thắng, Vận dụng và phát triển sáng tạo tư

tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 2010;

v.v Bằng cách tiếp cận khác nhau và sử dụng những phương pháp nghiên cứu không giống nhau, các nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ và phong phú thêm giá trị và

Trang 17

ý nghĩa to lớn về các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau ở một số luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:

Một là, con đường giải phóng dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản và

xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để tiến lên chủ nghĩa xã hội là những vòng khâu phát triển biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phản ánh những giai đoạn tất yếu trên con đường cách mạng đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam

Hai là, tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ

nghĩa xã hội Trong điều kiện dân tộc bị thực dân cấu kết với thế lực phong kiến thống trị, thì độc lập dân tộc phải là mục tiêu trực tiếp, trước hết là cơ sở tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội Và thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa là bước tiếp theo tất yếu của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội khi đã giành được độc lập dân tộc, chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới tạo ra được các yếu

tố làm cơ sở củng cố, giữ vững độc lập dân tộc

Ba là, mọi tư tưởng, mọi sáng tạo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội đều

xuất phát từ nhân dân và vì nhân dân; Chế độ xã hội chủ nghĩa là do quần chúng nhân dân tự xây dựng nên dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; là sự nghiệp vĩ đại của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và cuối cùng nó lại quay trở lại phục vụ cho chính nhân dân

Bốn là, Hồ Chí Minh là người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-

Lênin Một trong những luận điểm đó là gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Năm là, di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt nhất là từ

những vấn đề toàn cầu do người nêu ra, đặc biệt là vấn đề giải phóng con người Và chính Hồ Chí Minh truyền tín hiệu, thông điệp đó cho mọi thời đại Cả cuộc đời Hồ Chí Minh phấn đấu thực hiện chưa được, nhưng Hồ Chí Minh tin sẽ có những thế

hệ tiếp nối làm cho kỳ được

Trang 18

- Ngoài ra các giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh dùng giảng dạy trong các học viện, trường đại học và cao đẳng, do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn, của

Bộ giáo dục và đào tạo, của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, của Đại học Quốc gia Hà Nội đã đề cập đến các luận điểm của Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như: Chủ nghĩa xã hội đó là một chế độ chính trị do nhân dân làm chủ; là một chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học kỹ thuật; là chế độ không còn người bóc lột người; là một

xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức; là của quần chúng nhân dân và do quần chúng nhân dân tự xây dựng lấy; là chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động

- Một số luận án tiến sĩ như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và

con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Vũ Viết Mỹ; Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Lại Quốc Khánh; Tư tưởng

Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Trần Thị Phúc

An, v.v Những luận án này đã làm rõ được một số nội dung cơ bản của tư tưởng

Hồ Chí Minh về xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để tiến lên chủ nghĩa xã hội; về giải phóng dân tộc, tiến tới giải phóng xã hội, giải phóng con người; về đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng thế giới; về con đường cách mạng không ngừng - cách mạng hai giai đoạn, biểu hiện sự kết hợp hữu cơ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng; về con đường

Hồ Chí Minh - con đường phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, phù hợp với đặc điểm của Việt Nam Các tác giả cũng đã chứng minh tư tưởng, lý luận của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội không phải là những quan niệm rời rạc, lẻ tẻ, mà là hệ thống nhất quán, được phản ánh ở 3 điểm sau:

Thứ nhất, trên cơ sở tiếp thu những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ

Chí Minh cho rằng: chủ nghĩa xã hội trước hết là ước mơ, lý tưởng, là cái hiện tại

và tương lai; là chế độ phát triển cao hơn, tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn so với chế độ

tư bản chủ nghĩa

Trang 19

Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm

cụ thể về chủ nghĩa xã hội, không hoàn toàn trùng với các quan niệm cụ thể của các nhà kinh điển về chủ nghĩa xã hội, nhưng đầy sức thuyết phục

Thứ ba, từ những quan niệm và quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã

hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó đặc biệt là những nhân tố đóng vai trò động lực của chủ nghĩa xã hội, chúng ta tìm được nhiều luận điểm của Người nói về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên phản ánh được nhiều khía cạnh và góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Các công trình đó đã cung cấp nhiều gợi ý quan trọng, là những tài liệu quý, là cơ sở để tác giả kế thừa, tiếp tục đi sâu

nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt

01 Cuốn sách: Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và về con đường lên chủ

nghĩa xã hội ở nước ta là sự chắt lọc từ kết quả nghiên cứu của Chương trình

KX-01, do GS.TS Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm, đã luận giải cơ sở khoa học về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; qua đó xác định mô hình lý luận về chủ nghĩa xã hội cũng như con đường thực hiện

mô hình ấy trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020 Kết quả nghiên cứu chương trình được khái quát ở những nét lớn như: Khẳng định lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng cho lý luận đúng đắn về sự đổi mới và chỉ tiếp tục phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta mới có thể xác định được một mô hình phù hợp với đặc điểm Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội Công việc đó đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế Việt

Trang 20

Nam, phải hiểu biết những đặc điểm của thời đại và kinh nghiệm của các nước; Kiến nghị giải quyết hợp lý các mối quan hệ cơ bản, có tác động lớn đến toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Mục đích nhằm nhận thức đúng đắn và trên cơ sở đó đề ra bước đi, giải pháp thích đáng nhằm khai thác và phát huy mọi nhân tố tích cực, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Thực hiện Chỉ thị số 24-CT/TW ngày 12/5/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX về tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức Chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm “Tổng kết quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay” Tập thể các nhà khoa học trong và ngoài Học viện đã tham gia nghiên cứu đề tài quan trọng này Mục tiêu là trên cơ sở những tổng kết lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới, làm rõ sự hình thành và những phát triển mới

về tư duy lý luận của Đảng ta, đặc biệt là những nhận thức mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Để đạt được mục tiêu đó, các tác giả đã làm rõ được các vấn đề như: Phân tích bối cảnh xã hội, tình hình trong nước và quốc tế tác động tới quyết sách chiến lược “đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của Đảng; Hệ thống hóa, nghiên cứu quá trình đổi mới, hình thành nhận thức mới và hoàn thiện tư duy của Đảng, thể hiện tập trung trong các Văn kiện của Đảng, trong những năm đổi mới vừa qua; Phân tích và đánh giá những thành tựu nổi bật trong đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ những nhận thức tổng quát về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đến những nhận thức lý luận mới trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Đảng; Làm rõ giá trị và ý nghĩa của những thành tựu đó từ góc nhìn tư duy lý luận; Phân tích những hạn chế, những vấn

đề đặt ra, nguyên nhân và bài học về đổi mới tư duy lý luận, v.v Cùng với việc biên soạn báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu của Chương trình Ban chủ nhiệm chương trình tổ chức chọn một số chuyên đề, biên tập lại từng chuyên đề và in

thành bộ sách tham khảo: Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng

1986-2005, 2 tập do PGS.TS Tô Huy Rứa, GS.TS Hoàng Chí Bảo, PGS.TS Trần Khắc

Trang 21

Việt, PGS.TS Lê Ngọc Tòng (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2005

- Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: Qua tổng kết lý luận - thực tiễn

20 năm đổi mới, chúng ta càng thấy rõ giá trị định hướng và chỉ đạo to lớn của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng thấy rõ thêm những vấn đề mới đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển Cương lĩnh, làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong quá trình đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã quyết định triển khai tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cuốn

sách: Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991-2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 -

là kết quả nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, có nội dung phong phú, liên quan đến các vấn đề cơ bản về quan điểm, đường lối, chiến lược của cách mạng nước ta Đây là công trình tổng kết có giá trị lý luận - thực tiễn quý báu, thể hiện bước tiến

về tư duy lý luận của Đảng ta

- Để giúp các nhà nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về quá trình hình thành, phát triển tư duy lý luận và nhận thức chính trị của Đảng ta qua việc xây dựng, ban hành

và chỉ đạo thực hiện các Cương lĩnh của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia –

Sự thật (xuất bản lần thứ hai có bổ sung, điều chỉnh) cuốn sách “Cương lĩnh chính

trị - Ngọn cơ tư tưởng lý luận chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của chúng ta” của GS,

TS Nguyễn Phú Trọng Nội dung của cuốn sách đề cập một cách khái quát, có hệ thống những quan điểm lý luận chính trị cơ bản của Đảng ta thể hiện trong các bản Cương lĩnh chính trị của Đảng từ năm 1930 đến nay; sự phát triển nhận thức của Đảng qua các giai đoạn cách mạng; những vấn đề lớn được Đại hội XI của Đảng tổng kết, bổ sung, phát triển, tiếp tục hoàn thiện thêm một bước quan điểm, đường lối của Đảng trên con đường xây dựng và phát triển đất nước

- Cuốn sách: Một số khía cạnh nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng

chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của PGS TS Nguyễn Quốc Phẩm, PGS TS Đỗ Thị

Thạch (đồng chủ biên), Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2010 Các tác giả đã

Trang 22

đưa ra một cái nhìn khái quát về bước phát triển, sự đổi mới trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam Nội dung của cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề cơ bản như: Cơ sở lý luận

và thực tiễn của những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Những nhận thức mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa

xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực đời sống xã hội; Một số đánh giá về thực hiện Nghị quyết Đại hội X và những nội dung cần bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 Đồng thời qua đó tập thể tác giả khẳng định, qua mỗi bước phát triển của cách mạng, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng rõ và đúng đắn hơn, phù hợp với điều kiện khách quan

và chủ quan của xã hội và con người Việt Nam So với thời kỳ trước đổi mới, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã có những bước phát triển vượt bậc

- Cuốn sách: Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình

đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta của GS.TS Nguyễn Phú Trọng (chủ

biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Nội dung cuốn sách đã đề cập nhiều vấn đề phong phú cả về lý luận và thực tiễn, có giá trị tham khảo trong việc làm rõ một số mối quan hệ cơ bản cần nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình đổi mới,

đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồng thời qua đó tập thể tác giả đã gợi mở những nội dung cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tổng kết, cụ thể hóa tiếp về các mối quan hệ đó

- Cuốn sách: Văn kiện Đại hội XI của Đảng, một số vấn đề lý luận và thực tiễn

của GS TS Nguyễn Xuân Thắng, PGS TS Vũ Văn Phúc, PGS TS Phạm Văn Đức, PGS TS Nguyễn Linh Khiếu (đồng chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013

Ở phần thứ nhất, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt

Nam có các bài viết của GS TS Lê Hữu Nghĩa: Đặc trưng của xã hội xã hội chủ

nghĩa trong Cương lĩnh - mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân trong thời kỳ quá độ; GS TS Nguyễn Văn Huyên: Đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XI của Đảng; TS Nguyễn Đình Hòa: Về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội qua cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh năm 2011 của

Trang 23

Đảng Cộng sản Việt Nam Qua các bài viết này các tác giả khẳng định một số nội

dung cơ bản sau:

Một là, các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng

trong Cương lĩnh năm 2011 là thành quả của 25 năm đổi mới Trước hết là thành quả của đổi mới nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện hiện nay Đó cũng là thành quả của sự kết hợp hài hòa giữa “cái phổ biến” và “cái đặc thù”, “cái chung” và “cái riêng” để tạo nên một mô hình: chủ nghĩa xã hội Việt Nam

Hai là, với tinh thần và tư duy biện chứng về phát triển xã hội, Đảng ta quan

niệm, tiến lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình vận động, chuyển hóa liên tục, không ngừng phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa cũng luôn luôn vận động, chuyển hóa và phát triển Điều đó đặt ra cho Đảng ta trọng trách là phải không ngừng đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để vừa tiếp tục khám phá ra những vấn đề, những nội dung, những đặc trưng mới, vừa sáng suốt lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân

ta xây dựng xã hội đạt tới các phẩm chất và các giá trị, vươn tới các đặc trưng mới của xã hội xã hội chủ nghĩa trong tương lai

Ba là, việc xác định đúng và trúng những đặc trưng, bản chất cốt lõi của chủ

nghĩa xã hội - một xã hội hoàn toàn mới và chưa từng có tiền lệ trong lịch sử phát triển xã hội của dân tộc ta, như cách nói của Lênin, chỉ có thể dựa trên cơ sở thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội của hàng triệu người khi họ bắt tay vào hành động Chỉ có như vậy, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mới đóng vai trò chỉ đạo, dẫn dắt hoạt động của con người trong quá trình xây dựng

và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó cũng chính là ý nghĩa của nguyên tắc mang tính phương pháp luận mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra: lý luận phải gắn liền với thực tiễn

- Cuốn sách: Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về chủ nghĩa xã

hội ở Việt Nam (1986 - 2011) của GS.TS Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2012 Trên cơ sở phân tích triết học về những đặc điểm của đổi mới, về

Trang 24

triết lý giải phóng, sáng tạo và phát triển, tác giả đã phân tích, luận giải quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa

xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Điều đó thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng, trên cơ sở nắm vững những đặc điểm, xu thế phát triển của thời đại và thế giới đương đại Nội dung của cuốn sách đã đề cập đến những nội dung cơ bản như: Tác động của tình hình thế giới và trong nước tới công cuộc đổi mới; Đổi mới ở Việt Nam - thời cơ, thách thức và những đặc điểm chủ yếu; Vai trò của lý luận và tư duy lý luận đối với công cuộc đổi mới; Tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới; Tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2011) Đồng thời qua đó tác giả cũng đã gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ góc độ triết lý phát triển và hiện đại hóa

xã hội

Như vậy, các công trình trên đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của đổi mới tư duy lý luận đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam Thuyết minh, luận chứng, trình bày những kết quả đạt được trong đổi mới về nhận thức, quan điểm, về

tư duy lý luận trong tổ chức, chỉ đạo thực tiễn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Đưa ra những quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển và hoàn thiện lý luận trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, cũng gợi mở nhiều vấn đề lý luận cần tiếp tục đầu tư, nghiên cứu Các công trình đó là những tài liệu quý, là cơ sở để

tác giả kế thừa, tiếp tục đi sâu nghiên cứu: Đảng cộng sản Việt Nam xác lập và

hoàn thiện lý luận về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

1.2 HẠN CHẾ CỦA TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HẠN CHẾ ĐÓ SẼ ĐƢỢC LUẬN ÁN NGHIÊN CỨU

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu về các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nghiên cứu sinh khẳng định đó là những công trình nghiên cứu vô cùng

có giá trị mà nghiên cứu sinh tham khảo và kế thừa để thực hiện luận án Song

Trang 25

nghiên cứu sinh thấy có hai vấn đề còn hạn chế của các công trình đi trước sẽ được luận án bổ sung và hoàn thiện:

Thứ nhất, qua đánh giá khái quát kết quả đạt được của một số công trình

nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam, cũng đã có một số công trình khái quát về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh dưới góc độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã

hội, con người, v.v Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu có tính hệ thống cơ

sở hình thành và những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ hai, qua đánh giá khái quát kết quả đạt được của một số công trình nghiên

cứu về đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam như: nghiên cứu quá trình phát triển nhận thức tổng quát của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đến những nhận thức lý luận mới về đặc trưng chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, con người, dân tộc, đối ngoại, v.v của Đảng Nhưng chưa có công trình cụ thể nào đi sâu

nghiên cứu có tính hệ thống một số đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước

thời kỳ đổi mới, cũng như các nhân tố tác động và quá trình phát triển lý luận của Đảng về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới dưới sánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ đó, nghiên cứu sinh định hướng nghiên cứu và xác định những nội dung trọng tâm cần nghiên cứu:

- Một là, phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí

Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Hai là, phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam

- Ba là, khái quát một số đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước thời kỳ

đổi mới và phân tích quá trình phát triển lý luận của Đảng về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới dưới sánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 26

Chương 2

CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Những giá trị tư tưởng, văn hóa truyền thống của dân tộc

Truyền thống văn hóa Việt Nam là một hệ giá trị có tính bền vững, được hình thành, chắt lọc trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước, đặc biệt trong sự nghiệp giữ nước, nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc, chống mọi áp bức đồng hóa văn hóa, để bảo tồn và phát triển nền văn hiến Việt Nam Trong các giá trị truyền thống của dân

tộc Việt Nam chủ nghĩa yêu nước là một trong những giá trị hàng đầu, đóng vai trò

trung tâm, làm nền tảng cho mọi hoạt động tinh thần của nhân dân và trở thành điểm tựa cho sự trường tồn của dân tộc Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có những

nét đặc sắc như: Tinh thần độc lập tự chủ, anh dũng bất khuất trong đấu tranh, coi

trọng vai trò của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; tình yêu quê hương xứ sở, sự gắn bó và cấu kết cộng đồng bằng tình cảm ruột thịt đồng bào;

sự khẳng định độc lập chủ quyền và ý chí không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh bảo vệ nòi giống và văn hóa dân tộc; v.v Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là

động lực tinh thần vô giá trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và bảo vệ độc lập dân tộc Hồ Chí Minh đã thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam,

đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào Nhận xét

về truyền thống yêu nước Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất

cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [63, tr 38] Tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh chứa đựng khát vọng về tự do, công bằng và bình đẳng xã hội của nhân dân, yêu đất nước mình nhưng không vị kỷ, hẹp hòi dân tộc mà tôn trọng, khoan dung và quý trọng tình hoà hiếu với các dân tộc khác

Trang 27

Cùng với chủ nghĩa yêu nước là tinh thần đoàn kết Đoàn kết tạo nên lực

lượng vật chất để phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Từ thực tế lịch sử dựng nước

và giữ nước của dân tộc Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [60, tr 256] Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh hiểu rất rõ, một trong những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là chúng luôn tìm cách chia rẽ khối đoàn kết thống nhất của dân tộc bằng những thủ đoạn xảo quyệt thâm hiểm như “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt”, hòng làm suy giảm ý chí, sức chiến đấu và lực lượng đấu tranh của nhân dân ta Vì vậy, Người chỉ rõ: “Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập” [59, tr 595], “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó cho chúng ta” [65, tr 145] Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh thể hiện ở tính cộng đồng dân tộc, tinh thần nhân ái, lòng khoan dung cao cả và độ lượng với sự quý trọng từng nhân cách, được thể hiện một cách cụ thể, sinh động và có sức thuyết phục cao Xuất phát từ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Người chủ trương đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết lâu dài, thật sự với mọi người yêu nước, tán thành độc lập, tự do, thống nhất, mưu cầu hạnh phúc, ấm no, không phân biệt tầng lớp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc, không phân biệt trước đây họ đã theo phe phái nào Đoàn kết theo Hồ Chí Minh không phải là vấn đề sách lược trước mắt mà là vấn đề chiến lược lâu dài,

nó không phải là một biện pháp đơn thuần để tập hợp lực lượng trong đấu tranh cách mạng mà được nâng lên thành vấn đề có tính chất đường lối, nó không phải là thủ đoạn để tranh thủ quần chúng mà là tâm huyết và thắng lợi của cách mạng

Trong các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta còn có chủ nghĩa nhân

đạo Chủ nghĩa nhân đạo biểu hiện ra ở lối sống trọng tình, trọng nghĩa, trong quan

hệ giữa con người với con người Tình nghĩa ấy đã được Hồ Chí Minh nâng lên “trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà” [71, tr 668] Chữ “nghĩa” trong phong tục đạo đức văn hóa Việt Nam với ý nghĩa là điều phải,

Trang 28

lẽ phải, ngay thẳng, sống có nghĩa tình, thủy chung và đã trở thành nguồn sức mạnh, là tiêu chí để mọi người phân định điều lợi - điều hại, thiện - ác, bạn - thù

Như vậy, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc như: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa nhân đạo là cơ sở góp phần hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

2.1.2 Những giá trị tư tưởng, văn hóa phương Đông

Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi chỉ trình bày một số giá trị tư tưởng văn hóa của Nho giáo, Phật giáo và Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trước hết là về Nho giáo Nội dung tư tưởng lớn nhất của Nho giáo mà Hồ

Chí Minh đã tiếp thu và từ đó ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Người về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đó là quan niệm về xã hội lý tưởng Theo quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng với những đặc trưng cơ bản và tổng quát đó

là một xã hội ổn định, thái bình, đại đồng, mọi người sống hòa mục, thân ái, bình

đẳng được thiết lập và duy trì Đề cập đến một xã hội như vậy, trong chương Quý thị, sách Luận ngữ, Khổng Tử đã nói: “Khâu nay từng nghe rằng những bậc vua chư

hầu hoặc quan đại phu chẳng lo chuyện tài sản ít ỏi mà chỉ lo chia không đều, chẳng

lo dân nghèo mà chỉ lo dân không được yên ổn Của chia đều thì dân không nghèo, dân hòa hợp thì của không ít, dân yên ổn thì nước không nghiêng đổ” [29, tr 593]

Từ trong Tứ thư, Ngũ kinh cũng như qua câu nói của nhiều nhà Nho có thể khẳng

định, xã hội lý tưởng trong quan niệm của Nho giáo chính là xã hội đại đồng Theo

tác giả cuốn sách Tư tưởng đại đồng trong cổ học Trung Hoa thì tư tưởng về xã hội

đại đồng là của Khổng Tử, được truyền cho Tử Du và đến Mạnh Tử thì tư tưởng ấy được ông luận giải và làm sáng tỏ thêm

Trong một số bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, Người nhiều lần nhắc đến quan niệm của Khổng giáo về “thế giới đại đồng”, theo Hồ Chí Minh: “Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng

xử Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại đồng”” [57, tr 461]

Trang 29

Trong bài Phong trào cộng sản quốc tế - Đông Dương (5/1921), Hồ Chí Minh đã

trình bày khá chi tiết quan niệm của Khổng giáo về thế giới đại đồng:

Khổng tử vĩ đại (551 trước CN) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ không đều Bình đẳng

Không ít lần Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “thế giới đại đồng” để chỉ

mục tiêu, lý tưởng của những người cộng sản Ngay trong tác phẩm Đường Cách

mệnh khi giới thiệu về Cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã viết: “Đảng

cộng sản cầm quyền, tổ chức ra chính phủ công, nông, binh phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng” [58, tr 303-304]

Trong quan niệm về xã hội lý tưởng - xã hội đại đồng, theo quan niệm của nho giáo xã hội đó mọi người phải thương yêu lẫn nhau, mỗi người và mọi người phải lấy thiên hạ làm của chung, phải coi thiên hạ là chung, tức là người thân của người cũng như người thân của mình, con cái của người cũng như con cái của mình, không phân biệt mình với người, người với mình Cũng có nghĩa là, phải coi thiên

hạ như là một gia đình lớn vậy Nhưng để làm được điều cơ bản và trọng yếu này, như sách Luận ngữ đã chép: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, có nghĩa là “Điều gì

Trang 30

mình không muốn (người khác làm cho mình), chớ đem áp dụng cho người” [29, tr 579] và “Phù nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” có nghĩa là

“Người nhân là người muốn gây dựng điều gì cho mình cũng gây dựng cho người điều đó, muốn mình thông đạt ra sao cũng khiến người thông đạt như vậy” [29, tr 341] Trong học thuyết của Khổng giáo mô hình xã hội đại đồng là sự hiện thực hóa chữ “nhân” về phương diện tổ chức xã hội, xã hội ấy chỉ có thể có được dựa trên sự

nỗ lực của những con người hiện thực, không phải con người bất kỳ mà là những con người là hiện thân của đạo “nhân” Bởi vậy, cải tạo con người là khởi đầu của cải tạo xã hội và muốn cải tạo xã hội thì phải bắt đầu từ cải tạo con người Hồ Chí Minh nhiều lần sử dụng quan niệm về mối quan hệ giữa “tu thân” và “bình thiên hạ” của Khổng giáo Đặc biệt trong thời kỳ xây dựng xã hội mới ở Việt Nam, quan niệm về “tự cải tạo” để “cải tạo xã hội” đã trở thành một luận điểm rất cơ bản của

Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong Bài nói chuyện ở

lớp chỉnh Đảng Trung ương khóa 3 (4/1953), Hồ Chí Minh đã nói:

Khổng tử nói: “Mình phải chính tâm tu thân” nghĩa là việc gì cũng phải làm kiểu mẫu; có thế mới “trị quốc bình thiên hạ” được Trị quốc bình thiên hạ đây tức là ta kháng chiến đánh Pháp, kiến quốc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ hòa bình thế giới Muốn cải tạo xã hội thì lòng mình phải cải tạo Nếu lòng mình không cải tạo thì đừng nói đến cải tạo

xã hội Lòng mình còn tham ô, lãng phí, muốn cải tạo xã hội làm sao được [64, tr 113]

Gắn liền với quan niệm “tu, tề, trị, bình” là quan niệm coi trọng giáo dục, coi trọng đạo đức, coi trọng “dĩ nhân vi giáo”, v.v Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ

ra những hạn chế lớn của Nho giáo như phân chia đẳng cấp, coi thường phụ nữ, khinh lao động chân tay, v.v Hồ Chí Minh căn bản không dùng học thuyết Khổng

tử để cải tạo xã hội, song theo Người: “Tuy Khổng tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” [62, tr 356] Người cho rằng để kế thừa những cái hay trong

tư tưởng các bậc tiền bối cần theo phương pháp Lênin Người nói: ““Chỉ có những

Trang 31

người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại” Lênin dạy chúng ta như vậy” [62, tr 357]

Thứ hai là về Phật giáo Để đáp lại lòng mong mỏi của mọi chúng sinh, Đức

Phật đã sáng lập một tôn giáo tha thiết với mục đích cứu đời khỏi khổ đau kiếp người Giáo lý Phật giáo không nương vào xuất thân cao thấp để định giá con người

mà nương vào phẩm hạnh đạo đức, vào phần trí tuệ có nông - sâu, đức hạnh có hậu

- bạc để định giá thứ vị con người Đức Phật không phân biệt kẻ nghèo, giàu, sang, hèn mà luôn luôn dạy con người phải có tâm bình đẳng, cầu mong cho tất cả chúng sinh được sống an vui, hạnh phúc, làm nhiều việc mang lại phúc báu trên cuộc đời, sống cuộc sống thực sự có ý nghĩa

Giáo lý Phật giáo đề cao con người, quan niệm con người không phải là sản phẩm của một đấng siêu nhiên nào, trong bản tính mỗi người ai cũng có “phật tính”,

có đủ khả năng hoàn thiện mình và khi đã biết rèn luyện tính thiện cho mình thì mọi người ai cũng xứng đáng được tôn trọng, bình đẳng như nhau như “nước của muôn sông khi đổ ra biển sẽ cùng một vị mặn” Phật giáo khuyên con người phải có lòng

từ - bi - hỉ - xả, xem đó là tứ vô lượng tâm, hay tứ đẳng, tứ phẩm hạnh, tứ thiền Tu tập lòng từ để biết đem đến cho mọi người niềm vui; tu tập lòng bi để biết giúp đỡ,

an ủi sẻ chia với mọi người nỗi khổ; tu tập lòng hỉ nhằm gạt bỏ tính đố kị, ganh ghét

để vui với cái vui của mọi người và tu tập lòng xả để gạt bỏ tính ích kỉ, cố chấp Thực hành những điều đó nhằm đạt được một đời sống đạo đức có tình thương và trách nhiệm với đồng loại Lòng thương mà giáo lý Phật giáo nói đến là lòng thương không vụ lợi, không phân biệt thân - sơ, quý - tiện Mỗi người phải làm sao cho tất cả mọi người đều được sống yên lành, hạnh phúc, phải bảo vệ sự sống của nhau, tha thứ những lỗi lầm của nhau và đem đến niềm vui cho nhau Nếu không làm được như thế thì cũng cố tránh không gây đau khổ cho người khác Phật giáo nói đến lòng vị tha với quan niệm hận thù không thể chấm dứt bằng hận thù, hận thù chỉ có thể chấm dứt bằng hành động khoan dung tha thứ, vì “lấy oán báo oán, oán mãi không thôi” nhưng “lấy ân báo oán, oán liền tiêu diệt” (kinh Pháp Cú), chỉ

có hành động ban vui, cứu khổ, hòa nhã với mọi người và tha thứ mọi lỗi lầm của người khác mới đem lại hạnh phúc thật sự

Trang 32

Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao những giá trị nhân văn Phật giáo Theo Người, Phật ra đời cũng chính là để “Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha”, những giá trị đạo đức nhân văn Phật giáo có sự tương đồng với lí tưởng nhân văn của sự nghiệp cách mạng, đó là đều phấn đấu vì hạnh phúc con người Hấp thụ đạo lý thương nước, thương nhà, thương người, thương mình của dân tộc, Hồ Chí Minh sớm có một tình cảm tương thân, tương ái, độ lượng bao dung, rất gần gũi với giáo

lý của đạo Phật về từ bi, cứu khổ, cứu nạn, trừ ác, khuyến thiện, v.v Người đã gạt

bỏ những mặt tiêu cực, thụ động của Phật giáo và tiếp thu những tư tưởng hợp lý như: tư tưởng vị tha vì người khác, lòng nhân đạo bao la, khát khao giải thoát con người ra khỏi khổ đau, mưu cầu hạnh phúc, đề cao chân lý và quyền bình đẳng cho con người

Thứ ba là Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, bao gồm: chủ nghĩa dân

tộc, chủ nghĩa dân quyền và chủ nghĩa dân sinh Nội dung của Chủ nghĩa Tam dân

được trình bày qua 16 bài giảng của Tôn Trung Sơn từ tháng Giêng đến tháng 8 năm 1924 Ông đặt câu hỏi: “Chủ nghĩa Tam dân là gì? Định nghĩa theo cách đơn giản nhất thì Chủ nghĩa Tam dân là chủ nghĩa cứu nước” [81 ,tr 49] Khi nói về

chủ nghĩa dân tộc Ông cho rằng người Trung Quốc chỉ có chủ nghĩa gia tộc, tông

tộc, không có chủ nghĩa dân tộc Sức đoàn kết của người Trung Quốc chỉ mới đạt tới tông tộc chứ chưa đạt tới dân tộc Ở Trung Quốc theo ông: “chủ nghĩa dân tộc

chính là chủ nghĩa quốc tộc” [81, tr 51] Khi bàn về chủ nghĩa dân quyền theo ông:

dân quyền “đó là sức mạnh chính trị của nhân dân” [81, tr 162] Để thực hiện dân quyền, phải thực hiện các quyền của dân và của chính phủ Ông cho rằng dân có bốn quyền: quyền tuyển cử, quyền bãi miễn, quyền sáng chế và quyền phúc quyết Chính phủ có năm quyền: quyền hành chính, quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền khảo thí và quyền giám sát Theo ông: “Dùng bốn chính quyền của nhân dân để quản lý năm trị quyền của chính phủ, như vậy mới xem là một cơ quan chính trị dân quyền hoàn hảo” [81, tr 308] Chín quyền này cân bằng với nhau thì dân quyền mới

thực hiện được Khi nói về chủ nghĩa dân sinh, ông cho rằng đó là “đời sống của

nhân dân, sinh tồn của xã hội, sinh kế của quốc dân, sinh mệnh của quần chúng”

Trang 33

[81, tr 313] Ông quan niệm chủ nghĩa dân sinh là chủ nghĩa xã hội, còn gọi là chủ nghĩa cộng sản, tức là chủ nghĩa đại đồng

Trong tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển một số nội dung

Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn Người chủ trương xây dựng một nước Việt

Nam Dân chủ Cộng hoà phải là một nước “độc lập, tự do, hạnh phúc” Mong ước lớn nhất của Hồ Chí Minh là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc

Như vậy, hạt nhân Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn in đậm dấu ấn trong tư tưởng của Người Nhưng Người không sao chép, không phỏng theo Chủ nghĩa Tam

dân mà thận trọng lọc ra, bảo tồn và phát triển hạt nhân dân chủ cách mạng của Tôn

Trung Sơn nhào nặn với thực tiễn Việt Nam, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác- Lênin, hình thành tư tưởng của Người mang bản chất dân tộc, phản ánh quy luật phát triển của lịch sử

Như vậy, nhìn một cách tổng thể những giá trị tư tưởng Nho giáo, Phật giáo và Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn về xã hội lý tưởng đã được Hồ Chí Minh coi trọng, tiếp thu (có cải tạo) và những tư tưởng ấy đã đóng vai trò quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

2.1.3 Những giá trị tư tưởng, văn hóa phương Tây

Khi học ở Huế, những tư tưởng tiến bộ của Đại cách mạng Pháp (1789) về “tự

do, bình đẳng, bác ái” đã ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh, là một trong những yếu tố tác động đến hướng đi tìm đường cứu nước của Người Khi đến Pháp, Hồ Chí Minh

đã nhận ra rằng nền Cộng hoà Pháp chủ yếu được xây dựng trên quan điểm giá trị

về con người, về quyền tự do, bình đẳng của cá nhân theo Tuyên ngôn nhân quyền

và dân quyền (1791) của Pháp; Còn Hồ Chí Minh xuất phát từ vị trí người dân

thuộc địa phương Đông, vốn đề cao tinh thần cộng đồng, luôn đặt quốc gia, dân tộc lên trên cá nhân Với Hồ Chí Minh, “tự do” trước hết vẫn là tự do của toàn dân

tộc chứ chưa phải là tự do cá nhân; “bình đẳng” cũng được Hồ Chí Minh nâng lên

thành quyền bình đẳng giữa các dân tộc Vì vậy, trong thư kêu gọi những người Pháp hãy cộng tác bình đẳng, thân thiện với Việt Nam để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc, Hồ Chí Minh đã chủ động bổ sung vào khẩu hiệu ấy là:

Trang 34

“Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức: Tự do, Bình Đẳng, Bác ái, Độc lập”[60, tr 511] Thêm từ “Độc lập” theo Hồ Chí Minh là để ràng buộc họ, Người cho rằng: “nước Pháp muốn độc lập và suốt bốn năm trời đã phấn đấu và hy sinh nhiều để cố giữ lấy độc lập, không có lý gì lại muốn nước Việt Nam không được độc lập” [60, tr 463] Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn tiếp thu có chọn lọc giá trị

của bản Tuyên ngôn độc lập (1776) của Mỹ, đó là tư tưởng nhân quyền với nội

dung: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không

ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do

và quyền mưu cầu hạnh phú” [60, tr 1] Trong bản Tuyên ngôn độc lập của Nước

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã suy rộng ra thành quyền sống, quyền

độc lập, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc

Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh quyết định sống và hoạt động ở thủ đô nước Pháp cũng đồng thời là trung tâm văn hóa - nghệ thuật của châu Âu Sống ở giữa nơi hợp lưu của các dòng văn hóa thế giới, Hồ Chí Minh có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là các giá trị văn hóa dân chủ và tiến bộ của nước Pháp Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng của các nhà khai sáng: Vônte (Voltaire), Rútxô (Roussu), Môngtetxkiơ (Moutesguieu), v.v Ngoài

ra, Hồ Chí Minh đã kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh và những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột, Người là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả Sau này, Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy

Như vậy, Hồ Chí Minh tiếp thu các giá trị văn hoá phương Tây, lựa chọn những nhân tố tiến bộ, hợp lý, cải biến cho phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc - tức là tiếp thu trên cơ sở phê phán, tiếp nhận gắn liền với đổi mới, theo các tiêu chí: dân tộc, dân chủ và nhân văn Từ đó góp phần hình thành lên tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trang 35

2.1.4 Những giá trị của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin về những đặc trƣng chủ nghĩa xã hội

2.1.4.1 Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ từng bước chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu

C Mác và Ph Ăngnghen quan niệm rằng, mọi cuộc cách mạng xã hội nhằm lật đổ chế độ cũ và thiết lập chế độ mới bao giờ cũng phải “đưa vấn đề chế độ sở hữu lên hàng đầu, coi đó là vấn đề cơ bản của phong trào, không kể là nó đã có thể phát triển đến trình độ nào” [53, tr 646] Các ông giải thích rằng, thủ tiêu chế độ tư hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội Kết luận mà các ông đưa lại là: những người cộng sản hoàn toàn đúng khi đề ra việc thủ tiêu chế độ tư hữu thành yêu cầu chủ yếu của mình; rằng những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất là: xóa bỏ chế độ

tư hữu

Tuy nhiên, C Mác và Ph Ăngghen còn nói rõ thêm: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản” [53, tr 615]; “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” [53, tr 618] Rõ ràng đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản (bao hàm trong nó chủ nghĩa xã hội) không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa Theo C Mác và Ph Ăngghen, xóa bỏ tư hữu là xóa bỏ tư hữu tư bản vì nó là nguồn gốc đẻ ra mọi áp bức bóc lột và bất bình đẳng Đấy là vấn đề nguyên tắc rút ra từ thực tiễn Tuy nhiên, các

ông cũng không có tư tưởng cực đoan trong vấn đề này, trong Những nguyên lý chủ

nghĩa cộng sản đã nêu lên tư tưởng, việc xóa bỏ chế độ tư hữu phải là một quá trình

lâu dài, từng bước từ thấp đến cao dưới nhiều hình thức nếu không muốn đảo lộn sản xuất

Kế thừa những tư tưởng đó của C Mác và Ph Ăngghen, V.I Lênin cho rằng, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu xã hội còn đan xen nhiều giai cấp,

Trang 36

tầng lớp xã hội; cơ sở kinh tế quá độ còn nhiều thành phần vận hành theo cơ chế sản xuất hàng hóa, quan hệ thị trường vẫn tồn tại những quan hệ kinh tế cụ thể như thuê mướn lao động, cá nhân người này vẫn có thể bóc lột những cá nhân khác Đó chỉ là những quan hệ bóc lột cụ thể chứ không phải xem xét trên cả một chế độ xã hội, giai cấp này bóc lột giai cấp, tầng lớp khác Chính V.I Lênin và Đảng Bônsêvích

sau một thời gian áp dụng Chính sách cộng sản thời chiến (trưng thu lương thực

do yêu cầu phục vụ chiến tranh và bảo vệ Tổ quốc) đã bãi bỏ chính sách này khi nước Nga bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội

2.1.4.2 Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất công nghiệp hiện đại

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi chế độ xã hội đều có một cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật của nó Đó là sự phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất bao gồm một tổng hợp những sự biến đổi và phát triển của công cụ và kỹ thuật sản xuất, của phân công lao động xã hội (chuyên môn hóa, xã hội hóa) và năng lực thực tiễn của con người trong quá trình lao động sản xuất Theo đó cơ sở vật chất của một chế độ

xã hội được tạo lập từ sự phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ cùng với sự phát triển con người của xã hội do những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử xác định Nếu công cụ thủ công là đặc trưng cho cơ sở vật chất - kỹ thuật của các xã hội tiền tư bản chủ nghĩa thì nền đại công nghiệp cơ khí là cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản Cuộc cách mạng kỹ thuật mà giai cấp tư sản thực hiện ở thế kỷ XVIII đã chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ thủ công lên trình độ cơ khí, đánh dấu một bước nhảy vọt lớn của sản xuất xã hội, tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản Xã hội chủ nghĩa và hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa sinh thành với tính cách là sự phủ định biện chứng đối với chủ nghĩa tư bản Như vậy, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội phải là nền đại công nghiệp cơ khí phát triển và hoàn thiện trên một trình độ cao hơn

Trang 37

Cũng như C Mác và Ph Ăngghen, ngay sau Cách mạng tháng Mười thành công, dù nước Nga mới phát triển trung bình và còn là nhà tù của các dân tộc, nhưng ý thức rất rõ vai trò cơ sở vật chất - kỹ thuật đối với sự phát triển xã hội, V.I Lênin đã sớm chỉ ra chức năng nền tảng của nền đại công nghiệp cơ khí đối với chủ nghĩa xã hội Ông đánh giá rất cao những thành tựu của chủ nghĩa tư bản trong lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt những thành tựu công nghiệp của Đức và Mỹ Trong đó, ông đặc biệt chú ý đến vai trò điện lực đối với công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới Ông coi điện lực là cơ sở kỹ thuật mới cho công cuộc xây dựng kinh tế và phát triển văn hóa Chính vì vậy, V.I Lênin đã đưa ra một luận điểm nổi tiếng: “Chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xôviết cộng với điện khí hóa toàn quốc” [42, tr 195]

2.1.4.3 Thực hiện sản xuất có kế hoạch, xã hội hóa sản xuất để tăng năng suất lao động

Trong Dự thảo Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Nga, tháng 2 năm 1919, V.I

Lênin cho rằng, nhà nước phải kiên quyết thay thế việc buôn bán bằng chế độ phân phối sản phẩm một cách có kế hoạch và có tổ chức trên quy mô toàn quốc, thực hiện những biện pháp triệt để nhằm chuẩn bị cho việc thủ tiêu tiền tệ Quan điểm này của V.I Lênin về tính phi hàng hóa của nền kinh tế, về vai trò ngày càng giảm

đi của tiền tệ trong chủ nghĩa xã hội một phần như V.I Lênin nói: “Cho đến nay, chúng ta vẫn phải sống trong những điều kiện chiến tranh ác liệt và gay go chưa từng thấy, đến nỗi cả trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta không còn cách nào khác ngoài cách hành động theo lối quân sự” [43, tr 76]

Sau khi tự phê phán một cách nghiêm khắc những sai lầm mắc phải trong quá trình cải tạo nền kinh tế trong thời kỳ cộng sản thời chiến, V.I Lênin đã kiên quyết chuyển sang chính sách kinh tế mới (NEP) Chính sách kinh tế mới là chương trình cải cách kinh tế diễn ra tại Liên Xô cũ từ năm 1921 đến năm 1929 Tháng 3 năm 1921, Đại hội X Đảng cộng sản Bônsêvích Nga, do V.I Lênin lãnh đạo đã chuyển từ chủ nghĩa cộng sản thời chiến sang chính sách kinh tế mới NEP bao gồm nhiều nội dung liên

Trang 38

quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và biểu hiện tập trung nhất trên các vấn

đề cơ bản sau:

Một là, thay thế chế độ trưng thu lương thực thừa bằng thuế lương thực với tư

cách là khâu đầu tiên, là “liệu pháp cấp tốc, cương quyết nhất, cấp thiết nhất” để phát

triển lực lượng sản xuất nông nghiệp Thực hiện chế độ thuế, tự do buôn bán, trao đổi hàng hóa và sử dụng quan hệ hàng - tiền trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là chủ yếu phát triển kinh tế, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh tế giữa công nghiệp với nền nông nghiệp hàng hóa, giữa thành thị với nông thôn và sự liên minh giai cấp về kinh tế giữa công nhân với nông dân

Hai là, phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước là mắt xích “trung gian” quan trọng

để xây dựng chủ nghĩa xã hội V.I Lênin cho rằng: một chủ nghĩa tư bản phục hồi và phát triển thì chính sách hợp lý, đúng đắn nhất là “không tìm cách ngăn cấm hay chặn

đứng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà tìm cách hướng nó vào con đường chủ

nghĩa tư bản nhà nước” [43, tr 267-268] Đương nhiên, chủ nghĩa tư bản nhà nước

đúng với nghĩa của nó không phải là giải pháp trực tiếp đưa nền sản xuất nông nghiệp sang nền nếp xã hội chủ nghĩa Song theo V.I Lênin, ở giai đoạn phát triển này của nền kinh tế nước Nga, chủ nghĩa tư bản có thể là chủ nghĩa tư bản đặc biệt, bởi nó tồn tại và chịu sự quản lý, điều tiết của chính quyền Xôviết

Ba là, phải học tập và sử dụng những giá trị của chủ nghĩa tư bản V.I Lênin cho

rằng, nước Cộng hòa Xôviết phải tiếp thu cho bằng được tất cả những gì quý giá nhất của chủ nghĩa tư bản: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt đẹp của nước ngoài: Chính quyền xô viết + trật tự ở nước Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc.etc + + = Σ = chủ nghĩa xã hội” [40, tr 684]

Bốn là, củng cố chính quyền xô viết, tăng cường vai trò quản lý, kết hợp chặt chẽ

các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế là biện pháp tốt nhất trong xúc tiến chủ nghĩa xã hội V.I Lênin cho rằng: “thực hiện ở khắp mọi nơi và hết sức nghiêm ngặt sự kiểm kê và kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm, tăng năng suất lao động,

Trang 39

thật sự xã hội hóa sản xuất” [40, tr 208] của nhà nước đối với đời sống kinh tế - xã hội, trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông về chính trị Tóm lại, với nội dung toàn diện như vậy, đặt trong bối cảnh nước Nga vào thời điểm năm 1921, NEP thực sự là một quyết sách chiến lược cơ bản mang tính cách mạng, song về sách lược lại là một chính sách mềm dẻo, năng động và đầy tính sáng tạo Tư duy về kinh tế hàng hóa, về giá trị, về thị trường và cạnh tranh nhằm tạo ra và khai thác các động lực bên trong (các nội lực) của chủ nghĩa xã hội làm cho chủ nghĩa

xã hội thực sự sống động trong đời sống thực tiễn, nhất là thực tiễn sản xuất - kinh

tế là nét chủ đạo của NEP và nó còn có giá trị và ý nghĩa cho tới ngày nay

2.1.4.4 Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động, kỷ luật lao động mới

và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động

Sau khi người lao động được thoát khỏi áp bức giai cấp và nô dịch dân tộc, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin rất coi trọng công việc tổ chức lao động và

kỷ luật lao động mới trong sự nghiệp kiến thiết chế độ mới xã hội chủ nghĩa, chống lại tàn dư của tình trạng lao động bị tha hóa trong xã hội cũ và xây dựng thái độ lao động mới phù hợp với địa vị làm chủ của người lao động Các ông cho rằng, chỉ có

tổ chức hết sức chặt chẽ và kỷ luật lao động nghiêm ngặt mới dẫn chúng ta tới chủ nghĩa xã hội

Trong vấn đề này, V.I Lênin đã nhấn mạnh cần phải tiếp thu những kinh nghiệm hay trong lao động và quản lý sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản Chẳng hạn, phương pháp Taylo ở Mỹ nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả vì lợi ích của xã hội Như vậy, để có được cách thức tổ chức quản lý mới, cần phải nghiên cứu và tiếp thu những tiến bộ mới nhất của chủ nghĩa tư bản V.I Lênin khẳng định, điều bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội chính là ở chỗ, giai cấp vô sản đưa ra và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa

tư bản Nếu kỷ luật của chế độ nô lệ và phong kiến là kỷ luật roi vọt, kỷ luật của chủ nghĩa tư bản là kỷ luật đói, thì kỷ luật của chủ nghĩa xã hội là kỷ luật tự giác Theo V.I Lênin kỷ luật tự giác và tự nguyện trong lao động của đông đảo quần chúng là

Trang 40

nguồn sức mạnh, là điều kiện bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội Nó là sản phẩm tất yếu của việc thủ tiêu chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, của việc điều hành nền sản xuất xã hội theo một kế hoạch chung và thống nhất lợi ích chung của toàn xã hội

Khi bàn về phân phối, C Mác vạch rõ: trong xã hội xã hội chủ nghĩa, mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội Phân phối theo lao động không có nghĩa là được hưởng hết ngay bấy nhiêu kết quả của lao động Trái lại, tổng sản phẩm do lao động xã hội tạo ra phải được đem phân phối cho cả tiêu dùng cá nhân, cho cả tích lũy tái sản xuất mở rộng và cả tiêu dùng công cộng của xã hội Những phần không phân phối trực tiếp cho tiêu dùng cá nhân của người lao động thì vẫn thuộc về họ, vẫn nhằm bảo đảm lợi ích cơ bản, lâu dài, chung cho mọi thành viên trong xã hội

Nguyên tắc phân phối theo lao động buộc mọi người có sức lao động phải lao động Nguyên tắc này thể hiện sự công bằng dưới chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, sự phân phối công bằng đó chẳng những chưa loại trừ được, mà vẫn còn chứa trong nó

sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội Mặc dù vậy, đây vẫn là cách phân phối thích hợp nhất Sở dĩ như vậy là vì, trong chủ nghĩa xã hội của cải làm ra chưa đạt tới mức thật dồi dào, lao động còn là nghĩa vụ, chứ chưa trở thành nhu cầu bậc nhất của đời sống như dưới chủ nghĩa cộng sản

2.1.4.5 Xã hội xã hội chủ nghĩa là chế độ giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội

Khi đề cập tới đặc trưng tiêu biểu nhất của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

là giải phóng con người, trong các tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và về

sau trong một loạt tác phẩm khác, C Mác và Ph Ăngghen viết: “Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mọi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của

Ngày đăng: 29/06/2016, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (1993), Chủ nghĩa xã hội hiện thực: Khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội hiện thực: Khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
2. Hoàng Chí Bảo (2012), Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
3. Hoàng Chí Bảo (2012), Chủ nghĩa xã hội hiện thực và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội hiện thực và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
4. Hoàng Chí Bảo (2012), Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1986 - 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1986 - 2011)
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
5. Nguyễn Đức Bình (2003), Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
6. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên) (1997), Những quan điểm cơ bản của C. Mác - Ph. Ăngghen - V.I. Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm cơ bản của C. Mác - Ph. Ăngghen - V.I. Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
7. Phạm Hồng Chương (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w