Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt – Nguyễn Thị Thanh Hương, luận án tiến sĩ ngữ văn, năm 2003; Trật tự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG CHINH NGỌC
PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN DO TRẺ EM VIẾT TRONG CHUYÊN MỤC “CƯỜI VUI” CỦA BÁO NHI ĐỒNG GIAI ĐOẠN 1998 - 2008
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG CHINH NGỌC
PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN DO TRẺ EM VIẾT TRONG CHUYÊN MỤC “CƯỜI VUI” CỦA BÁO NHI ĐỒNG GIAI ĐOẠN 1998 - 2008
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh
Hà Nội-2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện
Các số liệu, kết quả đƣợc trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố ở công trình khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Đặng Chinh Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng của mình, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh – người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình triển khai, thực hiện và hoàn thành luận văn Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn tới quý thầy cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn, cùng các quý thầy cô đã và đang giảng dạy, công tác tại Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy cô đã trang bị, cung cấp những kiến thức quý báu trong suốt thời gian em học tập tại Khoa, cũng như chỉ bảo nhiệt tình và đóng góp ý kiến giúp em hoàn thành luận văn này
Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, khích lệ và tạo điều kiện giúp
đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Một lần nữa, em xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Đặng Chinh Ngọc
Trang 61
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4
3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Kết cấu 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1.Khái niệm diễn ngôn 6
1.2 Khái niệm “phân tích diễn ngôn” 10
1.3 Đặc thù của diễn ngôn truyện kể 13
1.3.1 Sơ lược về truyện kể 13
1.3.2 Các yếu tố cần xem xét trong diễn ngôn truyện kể 13
1.4 Đặc thù của chuyên mục Cười Vui trên Báo Nhi Đồng 16
1.4.1 Một vài nét về Báo Nhi Đồng 16
1.4.2 Đặc thù của chuyên mục Cười Vui 16
1.5 Mô hình giao tiếp của diễn ngôn 17
1.6 Mô hình giao tiếp của diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục “Cười Vui” của Báo Nhi Đồng giai đoạn 1998 - 2008 20
1.7 Khái niệm mạch lạc 25
1.8 Khái niệm liên kết 26
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC TỔNG THỂ CỦA DIỄN NGÔN DO TRẺ EM VIẾT TRONG CHUYÊN MỤC “CƯỜI VUI”……… 28
2.1 Cấu trúc tổng thể của các kiểu loại văn bản 28
2.2 Cấu trúc tổng thể của các diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục Cười Vui của báo Nhi Đồng giai đoạn 1998 – 2008 29
2 2.1 Phân tích đặc điểm của tiêu đề 33
2.2.1.1 Các đặc điểm về nội dung của các tiêu đề 33
2.2.1.2 Kết cấu cú pháp của tiêu đề 37
2.2.2 Đặc điểm cấu trúc phần mở đầu 41
2.2.2.1 Một số đặc điểm về nội dung của phần mở đầu 41
2.2.2.2 Một số đặc điểm về mặt hình thức của phần mở đầu 43
Trang 72
2.2.3 Đặc điểm cấu trúc phần triển khai 46
2.2.3.1 Mô hình của phần triển khai 46
2.2.3.2 Đặc điểm của các loại tình huống trong phần triển khai 51 2.2.4 Đặc điểm cấu trúc phần kết 54
2.3 Tiểu kết 57
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DIỄN NGÔN DO TRẺ EM VIẾT TRONG CHUYÊN MỤC CƯỜI VUI CỦA BÁO NHI ĐỒNG 60
3 1 Mạch lạc thời gian và không gian trong diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục Cười Vui của Báo Nhi Đồng 60
3.1.1 Sự thể hiện của mạch lạc thời gian và không gian 60
3.1.1.1 Sự thể hiện của mạch lạc thời gian 60
3.1.1.2 Sự thể hiện của mạch lạc không gian 71
3.1.2 Mối quan hệ giữa thời gian và không gian 75
3.2 Liên kết trong diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục Cười Vui của Báo Nhi Đồng 76
3.2.1 Phép nối 77
3.2.2 Phép thế đồng nghĩa 81
3.3 Tiểu kết 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 92
Trang 8áp dụng đường hướng của phân tích diễn ngôn vào các tư liệu cụ thể để phân
tích, nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt – Nguyễn Thị Thanh Hương, luận án tiến sĩ ngữ văn, năm 2003; Trật tự câu trong vai trò liên kết và tạo mạch lạc cho văn bản – Nguyễn Thị Hồng Thúy, luận văn thạc
sĩ ngôn ngữ học, năm 2004;Mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân và quan hệ thời gian trong một số truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan – Hạp Thu Hà, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học, năm 2006; Bước đầu khảo sát một số đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa của diễn ngôn “Lời kêu gọi” của Hồ Chí Minh – Phạm Thị Nhàn, khóa luận tốt nghiệp đại học, năm 2009; Ngôn ngữ truyền thông xã hội qua phân tích diễn ngôn các ca từ trong bài hát kháng chiến –
Lê Thị Phượng, luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học, năm 2012; Khảo sát đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của diễn ngôn có mục đích kêu gọi (Lời kêu gọi) - Vũ
Thị Oanh, luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học, năm 2012…
Những công trình nghiên cứu đó đạt được những thành công nhất định, góp phần làm sáng rõ lí thuyết, lí luận phân tích diễn ngôn, cũng như một số đặc điểm nổi bật về cấu trúc, ngữ nghĩa, mạch lạc, liên kết… của một số thể loại diễn ngôn Về cơ bản, sự khác biệt đầu tiên của các công trình này là thể loại diễn ngôn được chọn để phân tích Đó có thể là những diễn ngôn thuộc phong cách nghị luận, phong cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật… với những đặc trưng riêng về người viết và đối tượng tiếp nhận Tuy nhiên, việc phân tích những diễn ngôn do trẻ em viết vẫn còn là một đề tài hoàn toàn mới, chưa được công trình nào trước đây chọn làm đối tượng nghiên cứu Đó
Trang 92 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật về cấu trúc
và đặc điểm ngôn ngữ trong các diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục
“Cười Vui” của báo Nhi Đồng giai đoạn 1998 – 2008 Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đã lựa chọn và tiến hành khảo sát 100 văn bản diễn ngôn trong
chuyên mục Cười Vui trên báo Nhi Đồng từ tháng 4/1998 (khi chuyên mục Cười Vui lần đầu tiên ra đời) đến tháng 12/2008
Căn cứ vào mục đích này, chúng tôi xác định nhiệm vụ của luận văn cần thực hiện là: Phân tích đặc điểm của các diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục “Cười Vui”, từ đó, tìm ra khuôn cấu trúc tổng thể của các diễn ngôn do trẻ em viết, thông qua việc khảo sát cụ thể cấu trúc của từng thành phần tạo nên khuôn cấu trúc tổng thể và đặc điểm sử dụng ngôn ngữ tiêu biểu
từ góc độ tiếp cận của phân tích diễn ngôn
3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Lí thuyết về phân tích diễn ngôn rất đồ sộ, vì vậy, trong luận văn chúng tôi không có tham vọng bao quát hết các mặt của mọi vấn đề Chúng tôi chỉ đi sâu vào những khía cạnh làm nổi bật cấu trúc tổng thể và đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong các diễn ngôn do trẻ em viết Trong nhiệm vụ làm nổi bật cấu trúc tổng thể của diễn ngôn, chúng tôi tập trung phân tích các thành phần cấu tạo nên diễn ngôn Trong nhiệm vụ phân tích những đặc điểm về mặt sử dụng ngôn ngữ, chúng tôi chỉ tập trung phân tích mạch lạc và liên kết để tìm ra những biểu hiện của mạch lạc và liên kết được thể hiện rõ nét nhất, đặc thù nhất trong các diễn ngôn Thông qua việc phân tích những biểu hiện này,
Trang 105
chúng tôi nhận thấy những đặc điểm nổi bật nhất là mạch lạc thời gian, mạch lạc không gian, phép nối, phép thế, nên trong Luận văn sẽ chỉ tập trung phân tích vào những đặc điểm này
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
- Phương pháp miêu tả và phân tích: Căn cứ vào nguồn tư liệu thu thập được, luận văn đi theo hướng miêu tả cấu trúc – ngữ nghĩa chung của các diễn ngôn được lựa chọn khảo sát Từ đó, đi vào miêu tả chi tiết các đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của từng thành phần, đặc điểm sử dụng ngôn ngữ, một số đặc điểm nổi bật về mạch lạc, liên kết của diễn ngôn do trẻ em viết
- Phương pháp thống kê: Luận văn sẽ thống kê để đưa ra bộ số liệu khách quan về tần suất sử dụng các khuôn cấu trúc, các loại và các dạng thể hiện
5 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lí luận
Chương 2 : Đặc điểm cấu trúc của diễn ngôn do trẻ em viết trong
chuyên mục “Cười Vui” của Báo Nhi Đồng
Chương 3 : Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục “Cười Vui” của Báo Nhi Đồng
Trang 116
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.Khái niệm diễn ngôn
Hiện nay, có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm diễn ngôn
Người đầu tiên đề xướng khái niệm diễn ngôn là Z.Harris (1952) – một nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái miêu tả luận Mĩ Trong công trình
“Discourse Analysis” (Phân tích diễn ngôn), ông đã đưa ra tên gọi “diễn ngôn” với cách hiểu là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu Đồng thời, đưa ra
hai kết luận nổi bật về phân tích diễn ngôn là: “tiếp tục ngôn ngữ học miêu tả vượt ra ngoài các giới hạn của câu đơn một thời” và “làm cho ngôn ngữ và văn hóa liên thông với nhau”.: Đánh giá về công trình này, nhà nghiên cứu Cook cho rằng công lao của Harris rất lớn, và những kết luận của ông trong công trình “Phân tích diễn ngôn” cực kỳ đáng chú ý
Năm 1970, Barthes cũng đưa ra một định nghĩa về “diễn ngôn” Theo
ông, diễn ngôn là “một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm đến nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ” [dẫn theo 1, tr.151] Trong định nghĩa này, bên cạnh việc nhắc đến cấu tạo, nội dung, mục đích của diễn ngôn, Barthes cũng nhấn mạnh về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa thể hiện trong diễn ngôn
Định nghĩa về “diễn ngôn” còn được các tác giả đề cập thông qua thế đối sánh với thuật ngữ “văn bản” Trên thực tế, để phân định rạch ròi hai khái niệm này không hề đơn giản Có khi chúng được các nhà nghiên cứu coi là hai khái niệm có cấu trúc xác định tách biệt hoàn toàn, thuộc hai quá trình; có khi khái niệm này là sự biểu hiện cụ thể, là bộ phận của khái niệm kia; cũng
có khi chúng được dùng thay thế cho nhau như hai khái niệm đồng nghĩa
Trang 12“văn bản” và “diễn ngôn” : “Giai đoạn đầu, tên gọi văn bản được dùng để
chỉ chung những sự kiện nói bằng chữ viết và sự kiện nói miệng có mạch lạc
và liên kết Giai đoạn thứ hai có xu hướng dùng văn bản để chỉ sự kiện nói bằng chữ viết (lời chữ), còn diễn ngôn chỉ sự kiện nói miệng (lời âm) (Cùng với xu hướng này là cố gắng phân biệt ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói) Giai đoạn hiện nay, diễn ngôn được dùng như văn bản ở giai đoạn đầu, tức là dùng
để chỉ chung cả sự kiện nói miệng lẫn sự kiện nói bằng chữ viết.” [1, tr.212]
Trong khuynh hướng tách biệt 2 thuật ngữ “diễn ngôn” và “văn bản” có thể kể đến hai tác giả Brown và Jule trong cuốn “Discoure Analysis” (phân
tích diễn ngôn) Hai tác giả quan niệm rằng “văn bản như là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” hay “văn bản là
sự biểu hiện của diễn ngôn” và phân biệt “văn bản” – là “sản phẩm” (text –
as - process) còn “diễn ngôn” – là – “quá trình” (discourse - process) [17, tr.22]
Sau đó, David Nunan cũng có khuynh hướng phân biệt rạch ròi hai khái
niệm này Ông quan niệm thuật ngữ “văn bản” được dùng để chỉ bất kì cái gì
ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp; sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (một cuộc thoại, một bài thuyết giáo) hoặc ngôn ngữ viết
(một bài thơ, một mẩu chuyện) Còn về thuật ngữ “diễn ngôn”, ông cho rằng
nó được dùng để giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh [dẫn theo 4, tr.18]
Trong xu hướng không tách biệt hoàn toàn hai khái niệm, tác giả
Crystal (1992) cho rằng: “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện
một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết, hoặc một diễn ngôn bằng kí hiệu, được nhận dạng vì những mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn
Trang 138
ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc
thoại, một tờ áp phích” “Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc
biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, lời tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” [dẫn theo 1, tr.200] Như vậy, ở đây mặc dù tác giả không đồng nhất hai khái niệm trên song dường như cũng không có sự phân định rành mạch ranh giới giữa chúng Những ví dụ về văn bản là một cuộc thoại, một tờ áp phích, còn ví dụ về diễn ngôn là bài thuyết giáo, lời tranh luận, truyện vui, truyện kể, khiến cho nhận định về ranh giới của “văn bản” và “diễn ngôn” của Crystal trở nên mơ hồ, không định rõ
Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này và tất nhiên cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Tiêu biểu như các nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Phê, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hòa
Đỗ Hữu Châu quan niệm mỗi diễn ngôn có thể do một hoặc một số
hành vi ngôn ngữ tạo ra Diễn ngôn có nội dung thông tin và nội dung liên cá nhân, hai nội dung này thống nhất với nhau thể hiện các chức năng khác nhau của giao tiếp trong diễn ngôn Một diễn ngôn gồm nhiều phát ngôn, các phát ngôn này gắn bó với nhau, lệ thuộc nhau ở mức độ nhất định về nội dung và hình thức
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Giáo trình ngôn ngữ học”
xuất bản năm 2008 quan niệm rằng: “Diễn ngôn là bất cứ một ngôn phẩm nói
hoặc viết nào Mỗi diễn ngôn có thể được một người nói hoặc người viết riêng biệt tạo ra, cũng có thể được hai hoặc hơn hai người tham gia hội thoại hoặc trao đổi viết với nhau tạo ra Thuật ngữ “diễn ngôn” được các nhà khoa học
sử dụng không hoàn toàn giống nhau, nhưng giữa chúng vẫn có một điểm chung, đó là đều chỉ các ngôn phẩm, viết hoặc nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, có chức năng giao tiếp xác định Thuật ngữ “văn bản” thường được dùng với nghĩa như diễn ngôn, nghĩa là được dùng để chỉ tất cả
Trang 149
những đơn vị ngôn ngữ, bất kể nói hay viết, có mạch lạc và liên kết với chức năng giao tiếp xác định Một số nhà khoa học nói về diễn ngôn nói và diễn ngôn viết, số khác lại nói về văn bản nói và văn bản viết Hai thuật ngữ này coi như đồng nghĩa, có thể thay thế cho nhau" [21, tr.433] Như vậy, Nguyễn Thiện Giáp đồng nhất văn bản và diễn ngôn
Một trong số các tác giả khác ở Việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề này là Nguyễn Hoà Quan điểm của ông được khái quát lại trong
công trình “Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và phương pháp”
Trong đó, ông tỏ ra nhấn mạnh sự phân biệt hai khái niệm “diễn ngôn” và
“văn bản” Theo ông, văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá
trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp
xã hội cụ thể, trong khi đó diễn ngôn như là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể Mặc dù đã đưa ra sự phân biệt đó cũng chỉ mang tính tương đối so với thực tế Vì theo cách hiểu đó, ở văn bản sẽ xuất hiện một vài đặc trưng của diễn ngôn và ngược lại, ở diễn ngôn nhiều khi cũng tồn tại các thuộc tính của văn bản Nguyễn Hoà cho rằng đây không phải hai thực thể độc lập, hoàn toàn tách biệt nhau mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp cụ thể Nói cách khác, tuỳ theo quan điểm của người nghiên cứu mà ngôn ngữ sẽ được coi là “văn bản” khi xem xét dưới góc độ hình thức và được coi là “diễn ngôn” khi xem xét dưới góc độ hành chức [22, tr.32-33]
Tổng kết lại, có thể thấy Đỗ Hữu Châu dùng diễn ngôn để chỉ ngôn ngữ đang hoạt động, ngôn ngữ trong sử dụng, ngôn ngữ trong ngữ cảnh Nguyễn Thiệp Giáp và Nguyễn Hòa, Diệp Quang Ban đều đồng nhất khái niệm diễn ngôn và văn bản, hoặc coi chúng không phải là hai thực thể tách biệt Tuy mỗi tác giả có một quan điểm và cách kiến giải khác nhau, nhưng khó có thể nói quan điểm nào đúng hay sai hoàn toàn Mỗi quan điểm lại có một điểm mạnh riêng trong phân tích diễn ngôn Đúng như tác giả Schiffrin (1994) đã nhận
Trang 15Tham khảo và tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu, trong Luận văn này, chúng tôi cũng đưa ra một quan điểm có tính chất làm việc cho rằng: Diễn ngôn và văn bản là hai khái niệm đồng nhất với nhau, có thể dùng thay thế cho nhau Đây là một định nghĩa mang tính chất làm việc chứ không phải theo để phủ nhận các quan điểm khác, vì ngay trong bản thân mỗi tác giả trong các luận điểm của mình cũng đều có sự dung hoà tương đối với các quan điểm khác
1.2 Khái niệm “phân tích diễn ngôn”
Từ những quan niệm “diễn ngôn” khác nhau nên mỗi tác giả lại có một cách hiểu về “phân tích diễn ngôn” khác nhau
Người đầu tiên khởi xướng tên gọi “Phân tích diễn ngôn” - Harris vẫn coi PTDN giống như phân tích câu trong văn bản, sử dụng các phương pháp cũng như các công cụ lí thuyết của nghiên cứu câu vào việc nghiên cứu diễn ngôn Tuy nhiên, với việc đề ra khái niệm này, Harris đã góp phần quan trọng giúp ngôn ngữ học văn bản còn non trẻ xác định được nền móng phát triển của mình là hướng vào nghiên cứu chức năng của ngôn ngữ, “làm cho văn hóa và ngôn ngữ liên thông với nhau”
Khác với Harris, Mitchell (1957) chú ý PTDN thiên về phía các chức năng xã hội và sử dụng các mẫu diễn ngôn tự nhiên trong xã hội Cách nghiên cứu này đã chú ý đến các yếu tố của ngôn ngữ học xã hội, của dân tộc học giao tiếp Vì thế nhiều người cũng coi Mitchell là người đặt nền móng cho PTDN
Với việc xác định “diễn ngôn như là một tiến trình”, Brown và Yule trong công trình của mình đã khẳng định rằng nhà phân tích diễn ngôn cần
Trang 1611
quan tâm đến chức năng hay mục đích của một mẩu dữ liệu ngôn ngữ và cách thức dữ liệu được người phát cũng như người nhận xử lí Các tác giả khảo sát quá trình con người sử dụng ngôn ngữ giao tiếp như thế nào, mà cụ thể là người phát đã tạo ra các thông điệp ngôn ngữ như thế nào cho người nhận và người nhận đã xử lí thông điệp ngôn ngữ như thế nào để hiểu được chúng (sử dụng phương pháp ngôn ngữ học để phân tích diễn ngôn) Tóm lại, nhà phân tích diễn ngôn xử lí dữ liệu của mình như là dữ kiện (văn bản) của một quá trình động, trong đó ngôn ngữ được sử dụng như một công cụ giao tiếp trong ngữ cảnh mà qua đó người viết/ người nói thể hiện nghĩa và đạt được ý định (diễn ngôn) Từ dữ kiện này, nhà phân tích tìm cách mô tả các quy tắc trong ngôn ngữ được mọi người sử dụng để giao tiếp ý nghĩa và ý định
Một tác giả khác – David Nunan với việc xác định hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” như đã trình bày ở trên, cũng đồng thời xác nhận phân tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (ngôn ngữ hành chính) Biện luận sâu thêm, tác giả cho rằng, cũng giống như các nhà ngữ âm học, ngữ pháp học, nhà phân tích diễn ngôn cũng quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những cái khuôn mẫu trong ngôn ngữ Tuy nhiên, không chỉ có vậy, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn cả là đạt đến mục đích cuối cùng của công việc phân tích : vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn
Tác giả Đỗ Hữu Châu, một người nghiên cứu khá nhiều về dụng học, thì cho rằng: phân tích diễn ngôn là phân tích cả các yếu tố hình thức của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn Các yếu tố kèm lời, phi lời, theo tác giả, cũng được xem là các yếu tố thuộc hình thức của phát ngôn Về nội dung, tác giả cho rằng diễn ngôn bao gồm nội dung thông tin và nội dung miêu tả Hai thành tố nội dung này có thể hiện diện tường minh qua các yếu tố ngôn
Trang 1712
ngữ hình thức của diễn ngôn, hoặc tồn tại khiếm diện trong đích giao tiếp của đối phương Như vậy, phân tích diễn ngôn một cách đầy đủ, toàn diện cần xét đến cả hai mặt hình thức và nội dung của diễn ngôn
Nguyễn Thiện Giáp cũng đưa ra quan điểm của mình về phân tích diễn ngôn Với ông, "phân tích diễn ngôn là một cách tiếp cận việc nghiên cứu diễn ngôn dựa trên những khái niệm và thuật ngữ của ngữ pháp truyền thống Phân tích diễn ngôn có nhiệm vụ phân tích bằng một bộ phức hợp khái niệm
và thuật ngữ ngữ pháp quen thuộc với bất cứ nhà nghiên cứu ngữ pháp nào và
cố gắng nhận ra xem những khái niệm đó cần thiết trong sự cấu trúc diễn ngôn như thế nào Phân tích diễn ngôn cố gắng mở rộng sự phân tích cấu trúc câu đến đơn vị lớn hơn câu, nó thường bắt đầu bằng sự cố gắng nhận diện những đơn vị tối thiểu của ngôn ngữ, sau đó, tìm kiếm những quy luật chi phối những đơn vị tối thiểu đó cùng nhau kết hợp thành chuỗi để tạo nên diễn
Trong cuốn “Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản”, Diệp Quang Ban đưa ra nhận xét: “Trên đại thể, cho đến nay các nhà nghiên cứu nhận ra hai giai đoạn trong quá trình nghiên cứu diễn ngôn Ở giai đoạn đầu, người ta thường dùng thuật ngữ „văn bản‟ và hiểu văn bản cũng như câu, chỉ có điều là lớn hơn câu, nên sử dụng cách tiếp cận và các công cụ lí thuyết của việc nghiên cứu câu theo quan điểm cấu trúc hình thức vào việc nghiên cứu văn bản; cũng do vậy mà nó được gọi là giai đoạn của „các ngữ pháp văn bản‟ („Text Grammars‟) Ở giai đoạn thứ hai, văn bản được hiểu là đơn vị của
Trang 1813
nghĩa, không phải của ngữ pháp, nên tên gọi „diễn ngôn‟ được chuộng hơn, nó cũng được nghiên cứu bằng cách tiếp cận riêng; từ đó cái tên „phân tích diễn ngôn‟ được chọn làm ứng cử viên thay cho „ngữ pháp văn bản‟” [1, tr.148]
1.3 Đặc thù của diễn ngôn truyện kể
1.3.1 Sơ lược về truyện kể
Để có cái nhìn sơ lược về truyện kể, chúng tôi xin được dẫn ra một số quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban về loại hình diễn ngôn này [1, tr.479 - 483]:
Truyện kể là loại văn bản thường được nhắc đến đầu tiên khi bàn về các loại văn bản Hiểu như một văn bản, truyện kể được coi là một sản phẩm,
và người ta tìm đặc trưng của sản phẩm ấy để hình thành các định nghĩa
Điểm chung nhất trong việc xác định truyện kể gồm các yếu tố: đề tài, thời gian, các câu (vị từ ) chuyển đổi, và lợi ích của con người (hay tính chất luân lí).”
Các bước của một truyện kể (hay một chuỗi câu thuộc loại truyện kể) gồm có:
- Tình huống ban đầu với chức năng định hướng
- Phần các sự kiện gồm các hành động và các hành động phản hồi, với chức năng tạo sự định giá (qua đó mà bình giá về luân lí)
- Tình huống kết thúc
- Từ phần các sự kiện, một cách hiển ngôn hoặc hàm ẩn rút ra nhận định về luân lí
Tóm lại, hiểu một cách chung hơn, với tư cách là một văn bản, truyện
kể là chuỗi các sự kiện nối tiếp trong thời gian (được tích hợp trong một hành động tổng thể gồm có phần bắt đầu, phần giữa và phần kết thúc), có đề tài, được diễn đạt bằng các câu (các vị từ) chuyển đổi, và qua đó mà rút ra nhận định về luân lí
1.3.2 Các yếu tố cần xem xét trong diễn ngôn truyện kể
Một số yếu tố không thể bỏ qua khi phân tích diễn ngôn truyện kể là:
Trang 1914
- Chuỗi các sự kiện
- Một chủ đề (ít ra là phải có một chủ thể là người hành động (có thể là người hoặc không phải người))
- Các câu (vị từ) chuyển đổi
- Một quá trình hợp nhất các sự kiện thành một hành động tổng thể
- Quan hệ nhân quả giữa các sự kiện
- Sự đánh giá kết thúc (hiển ngôn hoặc hàm ẩn)
a Chuỗi các sự kiện
Chuỗi các sự kiện là sự nối tiếp nhau của nhiều sự kiện, và chính sự nối tiếp của các sự kiện cho thấy hay đòi hỏi tính thời gian trong truyện Mỗi sự kiện đều chiếm một khoảng thời gian nhất định, thời gian trải ra có điểm bắt đầu và điểm kết thúc; các sự kiện trong một truyện kể có thể xảy ra nối tiếp hoặc đồng thời Cho nên không có sự kiện thì không có truyện kể
b Một đề tài
Một sự kiện không thể không có đề tài, đề tài ít ra là một chủ thể làm thực thể hành động Chủ thể đó là người, động vật hay không phải là người, động vật đều được cả
Nếu không có chủ thể hành động thì không thể có yếu tố thời gian, vì thời gian gắn với hành động; và nếu không có chủ thể thì không thể có các vị
từ (các câu) chuyển đổi để nêu những đặc trưng khác nhau của chủ thể
c Các câu (các vị từ) chuyển đổi
Để trình bày những sự kiện diễn ra đặc trưng cho chủ thể trong những thời điểm từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc thì phải dùng các vị từ (các vị từ trong một trình tự nào đó, hoặc chúng làm thành các câu) Cách giản đơn nhất
là dùng các vị từ chỉ sự tồn tại, chỉ sự sở hữu hay chỉ việc làm để xác định chủ thể của trạng thái nào đó tại thời điểm đầu và thời điểm cuối của chuỗi sự kiện Phức tạp hơn là trường hợp đảo các sự kiện: sự kiện xấu hơn đến sự kiện tốt hơn hay sự kiện tốt hơn đến sự kiện xấu hơn
d Một quá trình hợp nhất các sự kiện thành một hành động thống nhất
Trang 2015
Một câu chuyện gồm có nhiều sự kiện, các sự kiện này không xuất hiện một cách ngẫu nhiên, lộn xộn Cho nên kể chuyện là quá trình hợp nhất (tích hợp) các sự kiện lại thành một hành động thống nhất để tạo ra một tổng thể Nói cách khác, các sự kiện của một truyện kể, dù cho của một hay của nhiều nhân vật, đều phải được trình bày khớp vào nhau như một bộ máy vận hành một cách suôn sẻ từ đầu đến cuối
e Quan hệ nguyên nhân giữa các sự kiện
Sự phân tích các truyện kể cho thấy rằng, trong truyện kể có nhiều sự kiện và cái này là nguyên nhân của cái kia, kể cả trường hợp hệ quả của cái trước là nguyên nhân của cái tiếp theo, và cứ như thế tạo thành mạng quan hệ nguyên nhân Mạng quan hệ nguyên nhân giúp nhận ra những sự kiện làm thành bộ phận chủ yếu của truyện, những sự kiện không tham gia vào mạng quan hệ đó là những “ngõ cụt”
Tuy nhiên, truyện kể phải cùng một lúc vừa nêu rõ và phối hợp những cái mà truyện muốn vẽ lại, lại vừa phải thay thế các trật tự nguyên nhân thành một chuỗi nối tiếp (trước - sau) trong thời gian, không làm lộ rõ quan hệ nguyên nhân ra bên ngoài Cách chuyển quan hệ nguyên nhân thành chuỗi nối tiếp trong thời gian được hình dung như sau : trong truyện kể cái gì đi sau thì được đọc theo kiểu là hệ quả của (cái đã nói trước) Nói giản dị, khi cần chỉ ra hai sự kiện có quan hệ nhân – quả đối với nhau, truyện kể chỉ cần nêu sự kiện
là nguyên nhân trước và sự kiện là hệ quả sau mà không cần phải đánh dấu
chúng theo kiểu vì… cho nên…, và cũng không cần thiết thay đổi trật tự thành
hệ quả - nguyên nhân với những quan hệ từ đánh dấu kiểu B là vì A
f Sự đánh giá kết thúc (hiển ngôn hoặc hàm ẩn)
Yếu tố này của truyện kể là một trong những yếu tố chìa khóa giúp nhận ra nét riêng của truyện kể Truyện kể không bao giờ là những câu chuyện “tự nó” và “vì nó”, mà bao giờ cũng vì một nguyên tắc luân lí nào đó Việc khảo sát truyện ngụ ngôn, truyện cười dân gian, truyện kể các kiểu xác nhận điều vừa nêu Sự đánh giá kết thúc của chúng bao giờ cũng là một “bài
Trang 2116
học luân lí”, dù bài học này có được trình bày hiển ngôn trong truyện hay mặc nhiên người ta có thể suy ra được theo kiểu hàm ẩn, và chính “bài học luân lí”
đó là cái nguyên cớ cho truyện kể ra đời và tồn tại
1.4 Đặc thù của chuyên mục Cười Vui trên Báo Nhi Đồng
1.4.1 Một vài nét về Báo Nhi Đồng
Báo Nhi Đồng là cơ quan của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Trung Thu năm 1983, báo Nhi Đồng khi ấy là phụ san của báo Thiếu niên Tiền phong, chính thức ra mắt Kể từ đó, cái tên Nhi Đồng đã trở thành người bạn đồng hành của nhiều thế hệ bạn đọc nhỏ tuổi trên cả nước 32 năm qua, từ một tờ báo in 2 màu ra 3 kỳ một tháng, báo Nhi Đồng đã liên tục phát triển vượt bậc để ngày hôm nay đều đặn hàng tuần gửi đến tay bạn đọc hơn 300.000 bản của 9 ấn phẩm thú vị, đẹp mắt và hiện đại Độc giả của báo Nhi Đồng được mở rộng từ lứa tuổi mầm non, đến tiểu học và trung học cơ sở
1.4.2 Đặc thù của chuyên mục Cười Vui
Đúng ngày Cá tháng Tư 1/4/1998, chuyên mục Cười Vui - chuyên trang báo Cười đầu tiên dành cho lứa tuổi học trò Việt Nam chính thức trình làng Đây là một ấn phẩm ra đời nhằm đáp ứng được nhu cầu vui chơi, giải trí, thư giãn cho bạn đọc nhỏ tuổi cả nước sau những giờ học trên lớp Ngay trong năm đầu tiên, chuyên mục Cười Vui đã trở thành những người bạn vô cùng dễ thương, hóm hỉnh đồng hành cùng bạn đọc Đa số bài viết của tờ báo này là do các em gửi về, phản ánh cuộc sống vui tươi và hồn nhiên của chính tuổi thơ
Đặc biệt, từ khi chuyên mục Cười Vui phát động cuộc thi “Không thể nhịn cười” với mục đích khuyến khích các độc giả nhí kể lại những câu chuyện cười mà các em đã từng là “nhân vật chính” hoặc được chứng kiến, chuyên mục đã nhận được vô vàn các bài viết thú vị của các em thiếu nhi Các bài viết này cũng chính là đối tượng khảo sát để chúng tôi nghiên cứu trong Luận văn này
Trang 2217
Sau đây, chúng tôi xin trích đăng lại nội dung phát động cuộc thi
“Không thể nhịn cười” được đăng lại lần thứ 2 trên Nhi Đồng Cười Vui số 46,
ra ngày 12/11/1999:
“Hàng ngày xung quanh chúng ta có rất nhiều truyện không thể nhịn cười Ở lớp, ở nhà, trong khu tập thể, làng xóm hay trên đường đến trường v.v…chỗ nào cũng có thể là nơi diễn ra các tình huống buồn cười, những câu nói ngộ nghĩnh, bất ngờ
Những tình huống ấy có thể xảy ra với chính bạn, với bạn bè hoặc anh chị em của bạn Cũng có thể đó là những tình huống xảy ra giữa người lớn với nhau hoặc giữa trẻ con với người lớn mà bạn quan sát, chứng kiến được
Những câu nói ngộ nghĩnh ư? Chỉ cần để ý một chút thôi, bạn sẽ thấy ngay Em bé nào cũng là một “tác giả” đáng yêu, “đáng nể”
Còn nữa, bạn hãy lục lọi kí ức của mình Đảm bảo, từ bé đến bây giờ
có “ối” chuyện buồn cười đã xảy ra với chính bạn Những kỉ niệm về sự ngây thơ “tồ tẹt” của bạn hẳn là nhiều lắm chứ Những gì bạn tự nhớ được và những gì bạn thường nghe ông bà, bố mẹ kể lại?
Nào, hãy mau mau ghi lại, nhớ lai, kể lại tất cả những chuyện không thể nhịn cười ấy và gửi về BÁO NHI ĐỒNG CƯỜI VUI, 12 HỒ XUÂN HƯƠNG, HÀ NỘI.”
Qua nội dung định hướng của cuộc thi “Không thể nhịn cười”, có thể thấy các diễn ngôn do trẻ em viết trong cuộc thi vừa là một văn bản nằm trên một ấn phẩm báo chí, vừa là một câu chuyện kể mang đậm dấu ấn cá nhân của từng tác giả Như vậy, các diễn ngôn này sẽ vừa chịu tác động chi phối bởi đặc thù của chuyên mục và tờ báo, vừa chịu tác động chi phối bởi cấu trúc của một diễn ngôn truyện kể
1.5 Mô hình giao tiếp của diễn ngôn
Giao tiếp (communication) là hiện tượng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó
Trang 2318
Sự giao tiếp lặp đi lặp lại và có vẻ như là rất giản đơn, thế nhưng về phương diện nghiên cứu, trên thực tế tồn tại những cách nhìn quá trình giao tiếp khác nhau do mục đích của người nghiên cứu Những cách hình dung quá trình giao tiếp khác nhau như vậy có thể khái quát thành những mô hình giao tiếp Số lượng các mô hình giao tiếp tăng dần theo thời gian cùng sự phát triển của lĩnh vực nghiên cứu về giao tiếp và về thông tin Tuy nhiên người ta có thể phân loại ra 2 loại mô hình giao tiếp chính là: Mô hình giao tiếp coi trọng
sự tạo lập văn bản và mô hình giao tiếp coi trọng sự trao đổi
Mô hình giao tiếp coi trọng sự tạo lập văn bản tập trung chú ý vào việc xây dựng văn bản thế nào cho có hiệu quả giao tiếp cao nhất Xét theo năng lực của cá nhân tạo lập văn bản có thể ghi nhận hai phạm vi: phạm vi dùng chung (được gọi là mô hình dùng chung) và phạm vi xây dựng phong cách cá nhân (được gọi là mô hình tự điều chỉnh)
Mô hình giao tiếp coi trọng sự trao đổi có dạng giao tiếp thường gặp là
sự trao đổi lời Trong sự trao đổi lời đó, cái quan trọng là hiệu quả của sực trao đổi giữa những người tham gia giao tiếp, còn tính thẩm mĩ của thông điệp
và phẩm chất của phong cách cá nhân không phải là yếu tố thứ nhất Trong nhóm mô hình giao tiếp coi trọng sự trao đổi, tác giả Diệp Quang Ban phân chia thành các nhóm mô hình nhỏ hơn là: mô hình đường dẫn, mô hình vòng khép (hay mô hình đối thoại), mô hình phản hồi (hay mô hình tương tác.) [1, tr.33]
Trong mô hình dùng chung, nhà ngữ văn R Jakobson đã đề cập tới 6 yếu tố cần thiết tham gia vào mô hình là: ngữ cảnh, người phát, thông điệp, người nhận, tiếp xúc, mã (ngôn ngữ) Mỗi yếu tố gắn với một chức năng xác định Yếu tố người phát gắn với chức năng cảm xúc, yếu tố ngữ cảnh gắn với chức năng quy chiếu, yếu tố thông điệp gắn với chức năng thi hoạc, yếu tố tiếp xúc gắn với chức năng đưa đẩy, yếu tố mã gắn với chức năng siêu ngôn ngữ và yếu tố người nhận gắn với chức năng tác động
Trang 2419
Mô hình tự điều chỉnh là mô hình mà trong đó những người phát và những người nhận trong khi giao tiếp không nhằm truyền đi và tạo lập một thông điệp Đây là kiểu mô hình duy ngã, lấy cái tôi của người tạo lập văn bản làm trung tâm Giao tiếp chỉ giản đơn là để tích hợp các yếu tố lấy từ tình huống giao tiếp (ngữ cảnh giao tiếp), và những yếu tố này có thể đóng góp vào cái được gọi là việc tự điều chỉnh và việc tự sáng tạo của những người tham gia giao tiếp Và do việc tự điều chỉnh và tự sáng tạo đó mà mô hình này cũng có tên là mô hình tự tạo chất thơ
Mô hình đường dẫn là mô hình mà trong đó ngôn ngữ được coi như là công cụ làm nhiệm vụ của một thứ đường dẫn, hay công cụ để chuyển một thông điệp ngôn ngữ từ nguồn (người phát) đến nơi nhận (người nhận) Còn
mô hình vòng khép là mô hình có tính đến vai trò tích cực của người nhận Nếu như mô hình đường dẫn chỉ mới chú ý đến cái ý nghĩa chủ định của người nói, thì mô hình vòng khép coi giao tiếp là một quá trình kiến tạo diễn
ra trong thời gian, giao tiếp là một quá trình sáng tạo năng động Thông điệp được kiến tạo nên qua suốt hoạt động chung của những người tham gia giao tiếp, chứ không phải của riêng người phát
Khác với mô hình đường dẫn và mô hình vòng khép, mô hình phản hồi vứt bỏ khái niệm chủ định, một khái niệm vốn rất được coi trọng trong hai mô hình trước Theo mô hình phản hồi, giao tiếp được hiểu là bao gồm tất cả các quá trình mà nhờ đó con người ảnh hưởng lẫn nhau Sự tương tác của con người với nhau được miêu tả là sự cần thiết của giao tiếp Cơ sở để giao tiếp được thực hiện là nguyên tắc cùng chung và nguyên tắc qua lại
Dựa vào những đặc điểm của các loại mô hình giao tiếp, chúng tôi thấy các diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục Cười Vui thuộc nhóm mô hình giao tiếp dùng chung trong nhóm mô hình giao tiếp coi trọng sự tạo lập văn bản Những yếu tố tham gia vào mô hình giao tiếp này của diễn ngôn do trẻ
em viết trong chuyên mục “Cười Vui” của báo Nhi Đồng sẽ được phân tích cụ thể trong tiểu mục tiếp theo
Trang 25Xét về mặt giao tiếp, các diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục
“Cười Vui” của báo Nhi Đồng thuộc nhóm mô hình giao tiếp dùng chung Mô hình này được thể hiện như sau:
Chúng tôi xin được đi vào phân tích những nhân tố cụ thể này :
- Người viết : Là trẻ em
+) Độ tuổi: Các diễn ngôn xuất hiện trong chuyên mục Cười Vui đều là sản phẩm của trẻ em, trong độ tuổi Tiểu học (từ 7 đến 12 tuổi, chiếm 92%), đôi khi có những bài viết là của các bạn đã học cấp 2 (chủ yếu là học lớp 6, chiếm 5%) nhưng vẫn yêu thích báo Nhi Đồng và gửi bài viết về cho chuyên mục Lứa tuổi này đã tác động đến tâm lí, cũng như vốn ngôn ngữ của người viết Ở
độ tuổi này, vốn từ vựng của người viết chưa phức tạp, khả năng diễn đạt hạn chế Ngôn ngữ luôn biểu hiện trực tiếp tư duy Đa phần, cách viết của các em rất hồn nhiên, trong trẻo, và có cả phần nghịch ngợm như chính tâm lí lứa tuổi của mình vậy
Trang 2621
+) Nơi sinh sống/ Quê quán: Nơi sinh sống của người viết rất phong phú và đa dạng, từ nông thôn cho đến thành thị Qua phân tích số liệu, chúng tôi thấy trừ một vài trường hợp các tác giả của các bài viết không đề rõ địa chỉ
cụ thể của mình trong bài viết, có tới 33/100 người viết xuất thân tại khu vực
Hà Nội (chiếm 33% ) Còn lại, các em đều sống ở khu vực thành thị hoặc nông thôn của các tỉnh, thành phố khác như Hải Phòng, Nghệ An, Nam Định, Thái Bình, Hà Tây (cũ), Hải Dương, Thái Nguyên, Bình Định (chiếm 64%)… Chính không gian sống đã tác động một phần đến chủ đề, ngữ cảnh, bối cảnh xảy ra câu chuyện, cùng một số đặc điểm từ vựng được sử dụng
- Người đọc : Cũng là trẻ em
+) Người đọc là một yếu tố rất quan trọng, là đích tác động của các diễn ngôn Khi viết, người viết phải viết sao cho người đọc hiểu được, đồng cảm với thông điệp mình đưa ra và bật ra tiếng cười
Người đọc ở đây là độc giả của chuyên mục Cười Vui, báo Nhi Đồng
Do báo Nhi Đồng là tờ báo dành riêng cho trẻ em, được phát hành chủ yếu trong hệ thống trường tiểu học, nên độc giả của chuyên mục là những bạn nhỏ trong độ tuổi Tiểu học (từ 6 đến 11 tuổi), cùng trang lứa với người viết Báo Nhi Đồng được phát hành khắp cả nước, nên độc giả của chuyên mục “Cười Vui” rất phong phú, sinh sống đa dạng từ nông thôn đến thành thị
Trong quá trình tạo lập thông điệp, người viết là trẻ em phải tính đến đối tượng người nhận, do đó, phải tìm cách tạo ra một thông điệp có hiệu quả,
Trang 27là 507 từ với 28 câu [phụ lục 90]
Về nội dung của thông điệp, các diễn ngôn đều kể một câu chuyện gây cười, để người đọc khi đọc xong phải “không thể nhịn cười” Để tạo ra hiệu ứng tiếng cười, các diễn ngôn đều tạo ra các tình huống gây cười bằng nhiều biện pháp
Các yếu tố thuộc về hình thức và nội dung của thông điệp sẽ được phân tích cụ thể hơn trong phần cấu trúc tổng thể của diễn ngôn và những đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ trong các diễn ngôn
- Mã :
Là ngôn ngữ được dùng, cụ thể đây là ngôn ngữ tiếng Việt Vì tất cả các diễn ngôn đều sử dụng tiếng Việt, nên người việt và người đọc đều có thể hiểu được Bên cạnh đó, mã trong một số diễn ngôn còn được sử dụng cho chức năng siêu ngôn ngữ
Ngôn ngữ do trẻ em viết có vốn từ vựng còn hạn chế Vì thế, trong các diễn ngôn không xuất hiện các từ ngữ thuộc nhóm Khoa học kĩ thuật, chính trị, các từ ngữ phức tạp, trừu tượng Vốn từ chủ yếu thuộc nhóm phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ, với những đặc trưng cơ bản là tính cá thể, tính cụ thể và tính cảm xúc
Tính cá thể được thể hiện ở chỗ trong các diễn ngôn viết, trẻ em bao giờ cũng thể hiện những thói quen riêng ngôn ngữ của mình khi trao đổi, trò chuyện trong môi trường gia đình, trường học, bạn bè Những thói quen riêng
đó có thể được thể hiện ra trong cách nói chuyện với thầy cô, bạn bè, hoặc diễn biến tâm lí, hành động của nhân vật diễn ngôn Tính cụ thể cũng được thể hiện rõ trong những lối diễn đạt trực tiếp, rõ ràng, không có tiền giả định
Trang 2823
hay hàm ý Tính cảm xúc được thể hiện ở trong mỗi diễn ngôn, trẻ em thường luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, tình cảm của mình đối với đối tượng được nói đến Những cách diễn đạt đầy màu sắc tình cảm đã nảy sinh trực tiếp từ những tình huống cụ thể trong thực tế đời sống của các em
- Tiếp xúc :
+) Là đường kênh vật lí – cụ thể ở đây là kênh thị giác để người viết tiếp cận diễn ngôn của người đọc, và mối quan hệ giữa người viết và người đọc
Về mối quan hệ giữa người viết và người đọc: Đây là loại giao tiếp có tính cá nhân, kể lại những câu chuyện cùng tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ của các nhân vật hoặc của người viết Trên thực tế, giao tiếp báo chí là giao tiếp một chiều Người viết và người nhận đều không có mặt tại một thời điểm hoặc một ngữ cảnh cụ thể Vì thế, người viết phải đóng hai vai: vừa là người viết, vừa là người đọc Với kinh nghiệm và tri thức nền của mình, người viết phải đưa vào một lượng thông tin trong văn bản, đồng thời phải tưởng tượng
ra đối tượng tiếp nhận văn bản và tính đến những yếu tố thuộc đối tượng tiếp nhận văn bản như trình độ văn hóa, phong tục tập quán, tâm lí, tri thức nền,
… Điều đó có tác động không nhỏ đến việc tác giả lựa chọn nội dung thông tin, các thể hiện ý tưởng sao cho hợp lí và dễ được người đọc chấp nhận nhất
Trong quá trình tiếp xúc này có thể xảy ra nhiễu Đó có thể là nhiễu
cơ học - những lí do về cơ sở vật chất để truyền tin, thiết bị truyền tin hoặc
có thể là do nội dung thông điệp có sự bất đồng về mã ngôn ngữ giữa người viết và người đọc Trong mô hình giao tiếp của các diễn ngôn do trẻ
em viết trong chuyên mục Cười Vui, hiện tượng nhiễu có thể xảy ra do nội dung thông điệp có sự mới lạ giữa người truyền tin và người nhận tin, hoặc khi ấn phẩm báo bị rách, nhòe, trong khi sử dụng Tuy nhiên, người viết sẽ phải làm thế nào để phần nhiễu xảy ra do sự bất đồng về mã ngôn ngữ bị hạn chế ở mức thấp nhất, tạo điều kiện để người đọc hiểu được trọn vẹn nội dung và dụng ý của người viết thông qua diễn ngôn
Trang 2924
Sau quá trình tiếp xúc, diễn ngôn sẽ tạo ra một hiệu quả nào đó Hiệu quả của thông điệp được đánh giá bằng mức độ tác động của diễn ngôn đến người đọc, thông qua việc làm người đọc thay đổi nhận thức và hành vi ở mức độ nào Trong mô hình giao tiếp của các diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục Cười Vui, hiệu quả được đánh giá bằng thái độ, cảm xúc của độc giả sau khi đọc diễn ngôn Đó có thể là cảm giác vui vẻ, đồng cảm, phấn khích, hào hứng, thể hiện bằng tiếng cười sảng khoái hoặc có thể là thờ ơ, bỏ qua, không quan tâm
Sau quá trình tiếp xúc, người đọc còn có thể phản hồi lại bằng nhiều hình thức Phản hồi có thể là tích cực hoặc tiêu cực đối với thông điệp được truyền tải Các độc giả có thể phản hồi bằng thư tay gửi tới người viết, hoặc phản hồi bằng cách mang câu chuyện đó kể lại cho các bạn trong lớp, người thân, hoặc một người nào khác nghe
+) Ngữ cảnh ngoài văn bản là hoàn cảnh mà văn bản xuất hiện Trong trường hợp này, các diễn ngôn do trẻ em viết xuất hiện trong chuyên mục
“Cười Vui” của báo Nhi Đồng là nhằm hưởng ứng cuộc thi viết những câu chuyện “không thể nhịn cười” Như vậy, ngữ cảnh này cho phép các em viết một cách tự nhiên, hồn nhiên, không bị chi phối bởi những yếu tố quy định như lịch sự, nghiêm túc, hoặc bị đánh giá hay phê phán Điều này giúp các em được tự do kể lại những câu chuyện của mình theo cách của các em
Trang 3025
1.7 Khái niệm mạch lạc
Trong giới ngôn ngữ và văn học đã có rất nhiều người nghiên cứu về mạch lạc, do xuất phát từ những phương diện khác nhau nên có nhiều định nghĩa Và mỗi định nghĩa lại có cách hiểu về mạch lạc riêng
M.A.K Halliday và Hasan cho rằng: “Mạch lạc được coi như phần còn lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh của tình huống (context of situation) với những dấu nghĩa tiềm ần (registers) Mạch lạc được coi là phần
bổ sung cần thiết cho liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản (texture).” [28, tr.18-19]
D.Togeby nhấn mạnh hơn về tầm quan trọng của văn bản: “Mạch lạc (cohenrence), hiểu một cách chung nhất, là đặc tính của sự tích hợp văn bản, tức là cái đặc tính bảo đảm cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết” [dẫn theo 5, tr.71]
David Nunan nêu quan điểm: “Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có “mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan với nhau.” [29, tr.165]
Trong giới Việt Ngữ học, cũng có một số tác giả nghiên cứu về mạch lạc Người đầu tiên khởi xướng là Trần Ngọc Thêm trong công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” Ngoài ra còn có Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thị Việt Thanh, Nguyễn Thị Thìn cũng đã dành nhiều sự quan tâm đến vấn đề này
Theo Đỗ Hữu Châu, “một văn bản, một diễn ngôn là một lập luận đơn hay phức bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là một sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc (coherence) về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức (cohesion) của văn bản, của diễn ngôn” [7, tr.174]
Theo Diệp Quang Ban, “mạch lạc (cohenrence) là một khái niệm có ngoại diên bao quát rất rộng, nó bao gồm tất cả các kiểu cấu trúc có bản chất khác nhau, liên quan đến mặt nghĩa và mặt sử dụng văn bản.” [1, tr.293] Cũng theo Diệp Quang Ban biểu hiện của mạch lạc rất phong phú: Mạch lạc
Trang 31Từ các quan điểm trên, chúng ta thấy rằng mặc dù khái niệm mạch lạc văn bản chưa được hiểu thống nhất giữa các tác giả, song họ đều coi mạch lạc
là điều kiện và đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản đích thực Mạch lạc chính là yếu tố quyết định xem một chuỗi câu, chuỗi phát ngôn có trở thành một văn bản hay không Nó được coi là những điều kiện mang tính đặc trưng hàng đầu của một văn bản, không có mạch lạc thì không có văn bản đích thực
1.8 Khái niệm liên kết
Theo tác giả Diệp Quang Ban, liên kết, xét về tổng thể, là một bộ (tập hợp) các hệ thống ngữ pháp – từ vựng phát triển một cách chuyên biệt thành một nguồn lực có thể vượt qua các biên giới của câu, giúp cho các câu trở thành một chỉnh thể Còn xét cụ thể, liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu (hai mệnh đề) theo cách giải thích nghĩa cho nhau Nói rõ hơn, liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên kết được với nhau [1, tr.347]
Với quan niệm đó, Diệp Quang Ban đã phân chia các phép liên kết trong tiếng Việt thành 4 nhóm chính: Phép nối; phép quy chiếu; phép tỉnh lược và phép thế; phép liên kết từ vựng Trong phép liên kết từ vựng, ông tiếp tục phân chia thành 3 phép nhỏ: lặp từ ngữ; dùng từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa, và từ ngữ trái nghĩa; phối hợp từ ngữ
Trước đó, tác giả Nguyễn Ngọc Thêm trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” cũng đưa ra cách phân loại về các phép liên kết trong tiếng Việt thành 3 nhóm chính: các phương thức liên kết chung cho cả ba loại
Trang 3227
phát ngôn (tự nghĩa, hợp nghĩa, ngữ trực thuộc); phương thức liên kết hợp nghĩa và liên kết trực thuộc Trong nhóm phương thức liên kết chung cho cả 3 loại phát ngôn có phương thức lặp, phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng, phép tuyến tính Trong các phương thức liên kết hợp nghĩa có phép thế đại từ, phép tỉnh lược yếu, phép nối lỏng Trong các phương thức liên kết trực thuộc có phép tỉnh lược mạnh, phép nối chặt Như vậy, dù cách gọi tên và phân loại của các tác giả có khác nhau, nhưng vẫn có một số sự đồng nhất nhất định
Trang 3328
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÖC TỔNG THỂ CỦA DIỄN NGÔN
DO TRẺ EM VIẾT TRONG CHUYÊN MỤC “CƯỜI VUI”
CỦA BÁO NHI ĐỒNG
2.1 Cấu trúc tổng thể của các kiểu loại văn bản
Cấu trúc hay kết cấu của văn bản (còn gọi là bố cục, khuôn hình của văn bản) là kết quả của việc sắp xếp, tổ chức các bộ phận ngôn từ có nghĩa của văn bản theo một hình thức nhất định (một cấu trúc nhất định)
Nhìn chung, có thể phân loại khuôn hình của văn bản thành 2 nhóm: Nhóm văn bản có khuôn hình cứng nhắc và nhóm văn bản có khuôn hình mềm dẻo Trong nhóm có khuôn hình mềm dẻo có thể phân chia tiếp thành 2 nhóm là: Nhóm có khuôn hình chung phổ biến và nhóm có khuôn hình tự do
Có thể lấy ví dụ về nhóm văn bản có khuôn hình cứng nhắc như văn bản hành chính và một số văn bản trong lĩnh vực khoa học – công nghệ: quyết định, điều luật, nghị định, báo cáo
Các văn bản có khuôn hình mềm dẻo chung phổ biến thường là các văn bản khoa học (như bài báo, luận án khoa học), một số văn bản báo chí như bình luận, phóng sự…, các văn bản là bài tập làm văn, làm luận trong nhà chương Và khuôn hình chung thông dụng nhất cho chúng là khuôn hình có các thành phần: đầu đề (nếu có), phần mở, phần thân và phần kết
Các văn bản có khuôn hình mềm dẻo tự do: các tác phẩm văn học nghệ thuật như truyện kể văn học, thơ, kịch,
Lí thuyết chung về văn bản đã sử dụng định hình về kết cấu như một trong những tiêu chí khu biệt văn bản với chuỗi câu ngẫu nhiên không tạo thành văn bản Vì trong khi văn bản có một kết cấu nhất định thì chuỗi câu ngẫu nhiên không được định hình về mặt kết cấu
Trang 3429
2.2 Cấu trúc tổng thể của các diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục Cười Vui của báo Nhi Đồng giai đoạn 1998 – 2008
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy cấu trúc tổng thể của các diễn ngôn
do trẻ em viết trong chuyên mục “Cười Vui” của báo Nhi Đồng thuộc nhóm văn bản có khuôn hình mềm dẻo chung phổ biến với hai kiểu cấu trúc chính là cấu trúc khung và cấu trúc biến thể Kết quả phân loại như sau:
Bảng 2.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ xuất hiện của cấu trúc khung và cấu trúc biến thể
- Cấu trúc khung là cấu trúc mà trong đó văn bản có đầy đủ 5 thành phần: phần tiêu đề, phần mở, phần triển khai và phần kết, phần ghi tên và địa chỉ của tác giả (gọi tắt là phần tên - địa chỉ) Trong 100 diễn ngôn được khảo sát, có tới 84 diễn ngôn (chiếm 84%) thuộc nhóm có cấu trúc khung Cấu trúc khung được mô hình hóa như sau:
Trang 3530
Bảng 2.4 Cấu trúc khung của diễn ngôn được khảo sát
- Cấu trúc biến thể là cấu trúc mà trong đó văn bản không có đầy đủ 5 thành phần như cấu trúc khung Qua khảo sát tư liệu, chúng tôi thấy 16 diễn ngôn còn lại có cấu trúc biến thể đều thiếu phần mở đầu Mô hình của cấu trúc biến thể được thể hiện như sau:
Bảng 2.5 Cấu trúc biến thể của diễn ngôn được khảo sát
Tuy nhiên, trong luận văn chúng tôi không bàn đến phần tên – địa chỉ trong phần cấu trúc tổng thể vì chúng đã được bàn ở khía cạnh người viết trong mô hình giao tiếp Vì thế, chúng tôi sẽ không tính đến phần tên – địa chỉ trong các mô hình thể hiện cấu trúc khung và cấu trúc các biến thể của các diễn ngôn ở các phần tiếp theo
- Có thể hình dung cấu trúc khung và cấu trúc biến thể của diễn ngôn
do trẻ em viết trong chuyên mục Cười Vui của báo Nhi Đồng qua các ví dụ cụ thể sau sau đây:
Trang 36em bé nên không sao cười nổi Em bé đi rồi, tớ và Hà liền chạy một mạch về nhà, ôm nhau cười rũ rượi, cười mãi không thôi
ĐẶNG MINH PHÖC (26 Hân Cầm, Hà Nội)
Trong ví dụ trên, ranh giới giữa các phần trong cấu trúc diễn ngôn được phân chia như sau:
Phần tiêu đề: Sợ chó… máy
Phần mở đầu: Hồi bé, tớ rất thích chạy
Phần triển khai: Từ [Một hôm, tớ rủ bạn Hà ra đường để cùng chạy thi ] cho đến [ Lúc ấy tớ buồn cười quá nhưng vì ngượng với em bé nên không sao cười nổi.]
Phần kết: Em bé đi rồi, tớ và Hà liền chạy một mạch về nhà, ôm nhau cười rũ rượi, cười mãi không thôi
+) Cấu trúc biến thể:
MỘT LẦN LÊN BẢNG, NĐC số 8, ra ngày 25/02/2000 Tôi đang bí mật chén món táo chấm muối ớt cất trong ngăn bàn thì bị
cô giáo gọi lên bảng chữa bài tập Nếu để túi táo lại, thế nào cái Huệ cũng bốc trộm cho mà xem! Nghĩ vậy nên tôi mở phéc-mơ-tuya áo phao, thả túi táo vào trong người rồi yên tâm lên bảng làm bài
Khi tôi đang với tay viết nốt đáp số thì bỗng… lộp bộp, lộp bộp… Những quả táo thi nhau rơi ra từ bụng tôi Cô giáo và cả lớp cười đến chảy nước mắt Còn tôi thì chết đứng mất vài giây Xấu hổ thật!
Trang 3732
VŨ THỊ HỒNG VÂN (107/1 phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên)
Trong ví dụ trên, ranh giới giữa các phần trong cấu trúc diễn ngôn được phân chia như sau:
Phần tiêu đề: Một lần lên bảng
Phần triển khai: Từ [Tôi đang bí mật chén món táo chấm muối ớt cất trong ngăn bàn thì bị cô giáo gọi lên bảng chữa bài tập…] cho đến […Những quả táo thi nhau rơi ra từ bụng tôi.]
Phần kết: Cô giáo và cả lớp cười đến chảy nước mắt Còn tôi thì chết đứng mất vài giây Xấu hổ thật!
- Như vậy, giữa cấu trúc khung và cấu trúc biến thể chỉ có sự khác nhau duy nhất là sự có mặt hay vắng mặt của phần mở đầu Sự vắng mặt của phần
mở đầu trong cấu trúc biến thể do một trong những nguyên nhân sau đây:
+) Do phần mở đầu của diễn ngôn do trẻ em viết thường nêu ra các yếu
tố thuộc về ngữ cảnh như thời gian, địa điểm, nhân vật, hoàn cảnh, đặc điểm hoặc cảm xúc của nhân vật… một cách ngắn gọn nhất để bắt đầu câu chuyện Nhưng trong một số trường hợp, việc đưa thêm thông tin về ngữ cảnh này không cần thiết, nên người viết đã kể trực tiếp luôn vào câu chuyện, sự việc, hành động mà không cần tạo lập phần mở đầu Không có phần mở đầu, người đọc vẫn có thể nắm bắt được trọn vẹn nội dung của câu chuyện
+) Một số thông tin về mặt ngữ cảnh sẽ được trình bày rải rác trong phần triển khai, lồng ghép trong diễn biến của câu chuyện, nên người viết không dành riêng phần mở bài để đưa ra những thông tin này
Để làm rõ hơn nhận định này, chúng tôi sẽ đi vào phân tích từng phần trong cấu trúc tổng thể của các diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục
“Cười Vui” của báo Nhi Đồng
Trang 3833
2 2.1 Phân tích đặc điểm của tiêu đề
2.2.1.1 Các đặc điểm về nội dung của các tiêu đề
- Phần tiêu đề trong các văn bản còn được gọi là đầu đề Tiêu đề là sự sáng tạo của người viết, và việc đặt tiêu đề lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mục đích, chủ đề, nội dung mà bài viết muốn truyền tải, hình thức và thể loại của bài viết, phong cách, bút pháp và sở trường ngôn ngữ của tác giả, hình thức trình bày bài viết Đặt đầu đề cho một văn bản ngày nay đã trở thành một “nghệ thuật” phức tạp mà yếu tố chi phối là mục đích sử dụng văn bản
Tác giả Diệp Quang Ban đã đưa ra một số cách phân loại tiêu đề trong cuốn “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản” [1, tr.445] Trong đó, ông có đưa ra 1 hướng phân loại tiêu đề theo tiêu chí: Đặt tiêu đề theo lối phản ánh trực tiếp và đặt tiêu đề theo lối phản ánh gián tiếp nội dung phần còn lại của văn bản Cách đặt tiêu đề theo lối phản ánh trực tiếp giúp người đọc dễ nhận
ra nội dung của văn bản, cách đặt tiêu đề theo lối gián tiếp đòi hỏi phải đọc văn bản mới nhận ra được nội dung của đầu đề văn bản
Khảo sát các tiêu đề của các diễn ngôn do trẻ em viết theo tiêu chí này, chúng tôi có bảng kết quả thống kê như sau:
một lần lên bảng,…
Ví dụ: Hạt sạn lớn chưa từng thấy, kẹo sỏi, ma ăn thịt, trông
gà hóa cuốc, con sâu trắng, cái đuôi,
Bảng 2.6 Tỷ lệ xuất hiện của các loại tiêu đề
Trang 3934
Bảng 2.7 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ xuất hiện giữa tiêu đề trực tiếp và tiêu đề gián tiếp
- Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy loại tiêu đề phản ánh trực tiếp chiếm ưu thế với 66/100 (chiếm 66%) tiêu đề Còn loại tiêu đề phản ánh gián tiếp chiếm tỉ lệ ít hơn, với 34 /100 tiêu đề (chiếm 34%) Tỉ lệ xuất hiện giữa hai loại tiêu đề có sự chênh lệch rõ nét bởi vì người viết là trẻ em, nên thường có xu hướng nói trực tiếp ra những điều mình muốn nói, giúp người đọc hiểu được nội dung của câu chuyện một cách rõ ràng nhất Thông qua tiêu đề, người đọc đã nắm bắt được phần nào nội dung, ý nghĩa, tinh thần của câu chuyện cười Nhưng bên cạnh đó, người viết – trẻ em vẫn thể hiện dấu ấn
cá nhân của mình trong tiêu đề phản ánh gián tiếp Khác với những tiêu đề trực tiếp, tiêu đề gián tiếp chỉ nêu ra một phần thông tin kiểu mập mờ, “nửa kín, nửa hở” về nội dung của câu chuyện Những thông tin này có thể xuất hiện trong bài viết, nhưng lại không đủ để người đọc nắm được yếu tố gây cười trong câu chuyện, hoặc hình dung ra diễn biến, tinh thần chung của câu chuyện Những tiêu đề phản ánh gián tiếp này khiến người đọc phải tò mò, thắc mắc về nội dung của câu chuyện, bắt buộc họ phải đọc tiếp câu chuyện
để giải đáp cho những thắc mắc ban đầu của mình
- Tiêu đề phản ánh trực tiếp thường chỉ ra nội dung khái quát nhất, chung nhất thuộc về nguyên nhân, hành động, đối tượng, sự vật, sự việc xuất hiện trong các diễn ngôn
+) Chỉ ra nguyên nhân xảy ra câu chuyện: chỉ vì răng thưa, lại chuyện nhầm, chỉ tại Mi-mi, chỉ tại có bài đăng báo, chỉ vì quá run, tưởng nhầm…
Trang 4035
+) Chỉ ra đối tượng, sự vật, sự việc xuất hiện trong câu chuyện: chuyện
em tôi, đôi dép mới, cái máy báo trộm, tiệc ớt, lời mời,…
+) Chỉ ra hành động là tiền đề cho câu chuyện bắt đầu: một lần dọa ma, tập đèo, đòi đi mổ, tắt bếp, một lần lên bảng, “trồng cây chuối” thứ thiệt, sinh đôi, tôi làm thí nghiệm,…
- Tiêu đề phản ánh gián tiếp thường sử dụng lối diễn đạt ẩn dụ, hoán
dụ, nói quá, nói lái… để miêu tả về nội dung hoặc đối tượng xuất hiện câu chuyện, hoặc đưa ra một phát ngôn của nhân vật sẽ xuất hiện trong phần sau của câu chuyện
+) Tiêu đề sử dụng thành ngữ, phép ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, nói lái, cách kết hợp từ lạ để miêu tả về nội dung hoặc đối tượng xuất hiện trong câu
chuyện: Trông gà hóa cuốc (sử dụng thành ngữ), quả cau khổng lồ (nói quá), cái đuôi (hoán dụ), kẹo răng (kết hợp từ lạ), đôi dép “khủng long” (kết hợp từ lạ) , “khéo quá” là (“Khéo quá” là nói lái là “kéo khóa”) … Đây là những
tiêu đề rất giàu hình ảnh, nhưng lại có tác dụng “ém thông tin”, làm người đọc phải tò mò về nội dung câu chuyện
+) Tiêu đề là phát ngôn của nhân vật trong câu chuyện: Bạn Nam xin ra ngoài ạ; Ôi! Hoàn Châu cách cách; Con chỉ ăn cơm thôi; Mộ của bố đâu hả bố?; Thằng nào đấy? Rởm rồi, mẹ ơi! Việc đưa phát ngôn của nhân vật
ngay trong phần tiêu đề có tác dụng lôi cuốn sự chú ý của người đọc Bởi vì người đọc đã chuẩn bị trước tâm lí đọc một câu chuyện buồn cười, vì thế khi đọc lời thoại của nhân vật, ngay lập tức người đọc sẽ thắc mắc: Tại sao một phát ngôn như thế lại gây buồn cười, phát ngôn này xuất hiện trong hoàn cảnh nào?… Và thắc mắc này sẽ khiến người đọc chú ý đến các phần tiếp theo của câu chuyện
- Một hiện tượng vô cùng thú vị xuất hiện trong phần tiêu đề của các diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục Cười Vui của báo Nhi Đồng là việc tạo ra các từ ngữ, các câu lạ, và dường như có vẻ “bất bình thường” Sau đây là thống kê về sự xuất hiện của các cú pháp lạ trong các tiêu đề