1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ của ca từ trong diễn xướng dân gian

100 482 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 805,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ bao đời nay, trong các loại hình diễn xướng dân gian, hát văn là vốn quý dân gian người Việt từ khởi thủy, ngày càng được đánh giá như một loại hình văn hóa – sinh hoạt tâm linh đặc s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ MAI THU

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CA TỪ TRONG DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN

(Trường hợp diễn xướng hát chầu văn)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 02 40

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hồng Hạnh

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Thị Hồng Hạnh Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác, bảo đảm tính khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Tác giả luận văn

Phạm Thị Mai Thu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo khoa Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân trong gia đình đã hết lòng động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Hồng Hạnh, người đã trực tiếp tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô, bạn bè để tôi

có cơ hội trở lại vấn đề này một cách tốt nhất

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ của luận văn 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Bố cục của luận văn 5

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1.Những vấn đề lý thuyết liên quan đến ca từ 6

1.1.1.Khái niệm từ 6

1.1.2 Đặc điểm của ca từ trong âm nhạc 15

1.1.3 Đặc điểm văn hóa phản ánh trong ca từ 20

1.2 Một số vấn đề về nghệ thuật hát chầu văn 23

1.2.1 Khái luận về chầu văn Vị trí của văn chầu trong nghệ thuật chầu văn 23

1.2.2 Lịch sử phát triển chầu văn ở nước ta 25

1.2.3 Tình hình nghiên cứu chầu văn ở nước ta 26

1.3 Tiểu kết 27

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA CỦA CA TỪ TRONG DIỄN XƯỚNG CHẦU VĂN 28

2.1 Đặc điểm cấu tạo của ca từ trong các bài hát chầu văn 28

2.1.1 Từ đơn 29

2.1.2 Từ ghép 29

2.1.3 Từ láy 31

2.1.4 Ngữ cố định 35

2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của ca từ trong chầu văn 39

Trang 6

2.2.1 Nghĩa từ vựng 39

2.2.2 Nghĩa biểu trưng 51

2.3 Tính lịch sử của ca từ trong bài hát chầu văn 62

2.3.1 Lớp từ thuần Việt và lớp từ Hán Việt 62

2.3.2 Từ ngữ lịch sử 64

2.4 Tiểu kết 64

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA CỦA CA TỪ TRONG DIỄN XƯỚNG CHẦU VĂN 66

3.1 Cách tri nhận về thế giới 66

3.1.1 Sự tri nhận về cõi Trời 66

3.1.2 Sự tri nhận về thế giới thực tại 67

3.2 Đặc điểm văn hóa tâm linh qua diễn xướng dân gian chầu văn 69

3.2.1.Niềm tín mộ thành kính của người dâng cúng 69

3.2.2 Sự uy linh hiển hách của thần linh 71

3.2.3 Những vị thần bảo hộ con người trong hát chầu văn 74

3.2.4 Ước mơ giải trừ và cứu rỗi 84

3.3 Tiểu kết 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Ngôn ngữ cũng là phương tiện lưu giữ các kết quả của tư duy và hình thành tư duy Trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, mỗi lớp người, mỗi loại hình văn bản ngôn ngữ được sử dụng (đặc biệt là về mặt từ vựng) không giống nhau Nghiên cứu ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ tác phẩm là những việc không xa lạ trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học Công việc này đem đến cho chúng ta nhiều tri thức hữu ích về nhiều mặt: ngôn ngữ, văn chương, lịch

sử và một phần nào đó cả xã hội

Ở Việt Nam, nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm cũng không phải là hướng nghiên cứu mới mẻ Các nghiên cứu về ngôn ngữ tác phẩm của các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh đã được tiến hành Tuy nhiên, ngôn ngữ các tác phẩm dân gian hiện vẫn còn là một con đường ít người khai phá Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn hướng đi này

Từ bao đời nay, trong các loại hình diễn xướng dân gian, hát văn là vốn quý dân gian người Việt từ khởi thủy, ngày càng được đánh giá như một loại hình văn hóa – sinh hoạt tâm linh đặc sắc, có ảnh hưởng sâu đậm tới diện mạo của văn hóa và văn học dân tộc có sức sống tiềm ẩn và khả năng thích nghi tuyệt vời để không chỉ hội nhập với tinh thần hiện đại mà còn góp phần giữ gìn vẻ đẹp và không gian văn hóa truyền thống, khơi gợi và định hình các mảng sắc màu văn hóa Để góp phần hiểu rõ hơn về loại hình diễn xướng dân

gian đặc sắc này, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ ca từ trong diễn xướng dân gian (trường hợp diễn xướng hát chầu văn” để tiến hành

nghiên cứu Trước hết, lý do lựa chọn đề tài này xuất phát từ chính lòng trân trọng một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống thuần Việt độc đáo, nhưng đang bị pha tạp, cần được bảo vệ giữ gìn Bên cạnh đó là mong muốn

Trang 8

khám phá được vẻ đẹp của các bài văn chầu, nhất là khi nó được phối hợp cùng âm nhạc, vũ đạo trang phục và các nghi lễ thiêng Chầu văn là mảng đặc sắc riêng biệt nhưng rất đặc trưng cái tinh túy của phong vị dân gian, lưu giữ mạch sống của tâm hồn dân tộc, tiềm tàng sức mạnh tinh thần to lớn và bền

bỉ, là bản chất nội sinh của cội nguồn văn hóa cộng đồng, lại có khả năng thích nghi và vươn tới tầm thời đại Người Việt vốn coi trọng tự nhiên Niềm tin thiêng liêng mình là một phần của tự nhiên và quá khứ, tổ tiên và thần thánh luôn đi bên cạnh thực tại đời sống như một vô thức cố định hình thành nền tảng tâm linh và tinh thần dân tộc

Trước nay, các nhà nghiên cứu đã khảo sát về nguồn gốc và lịch sử phát triển của chầu văn nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ hoặc đặc điểm từ vựng của ca từ trong chầu văn Luận văn này, xem như bước đầu nghiên cứu một số vấn đề về đặc điểm ngôn ngữ trong ca từ bài hát Chầu văn

2 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện ở những mặt sau:

Thứ nhất, về mặt lý luận: nghiên cứu sự phong phú và đặc sắc của ca từ các bản Văn Chầu và góp phần tìm hiểu đặc điểm từ vựng, ngữ nghĩa, cách sử dụng từ ngữ trong một loại hình diễn xướng dân gian hát chầu văn nói riêng, đồng thời đóng góp vào việc tìm hiểu ca từ trong diễn xướng dân gianViệt Nam nói chung

Về mặt thực tiễn, đề tài giúp những người yêu thích nghệ thuật hát chầu

có cái nhìn cụ thể hơn, sâu sắc hơn vẻ đẹp lấp lánh của những áng văn chầu Bên cạnh đó, luận văn còn cung cấp cho những tác giả chầu văn có vồn tri thức trong xây dựng ca từ; cũng là góp phần gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt trong loại hình truyền thống này

Trang 9

Thứ ba, tính cấp thiết của đề tài được đặt ra từ chính thực tế tồn tại của chầu văn trong đời sống đương đại Tháng 1 – 2013, “Nghi lễ Chầu văn của người Việt ở Nam Định” được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.Tỉnh Nam Định cũng được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chọn làm đại diện cho các địa phương lập hồ sơ “Nghi lễ Chầu văn của người Việt” trình UNESCO công nhận trong thời gian tới Điều ấy không chỉ là niềm vui của những người con Mẫu khi người Mẹ tinh thần của họ tìm được sự tôn vinh xứng đáng, mà còn trực tiếp khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn mà loại hình này mang lại cho sự phong phú và độc đáo có một không hai của diện mạo văn hóa tâm linh dân tộc, khơi động khát vọng vừa quay lại cội nguồn vừa tìm con đường thích ứng với thế giới hiện đại để trường tồn bất diệt Những đóng góp của đề tài sẽ làm rõ hơn giá trị của chầu văn, đóng góp vào việc khẳng định ý nghĩa của hát chầu văn đối với văn hóa Việt Nam nói riêng

và văn hóa thế giới nói chung

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tương nghiên cứu của luận văn này là toàn bộ vốn từ vựng trong 30 bài hát Chầu văn

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là khảo sát từ vựng trong 30 bài hát Chầu văn được chúng tôi thu thập từ những bản văn có giá trị do các nhà nghiên cứu dân gian sưu tầm, chỉnh lí hoặc do các nghệ nhân, cung văn còn lưu giữ và diễn xướng Các văn bản trên tách biệt hoàn toàn với các bản văn

và âm nhạc được sử dụng trong các nghi lễ Hầu đồng ở Miền Trung và Miền Nam - vốn là hiện tượng giao thoa cộng hưởng văn hóa, tín ngưỡng: các truyện thơ và các tiểu thuyết về các thánh như “ Liễu Hạnh công chúa diễn âm” của Nguyễn Công Trứ, “Tiên phả dịch lục” dài 776 câu của Kiều Oánh Mậu, “Vân cát thần nữ cổ lục” 732 câu của tác giả khuyết danh hay các bản giáng bút đề thơ của các Thánh Mẫu khuyên răn, dạy bảo người đời

Trang 10

4 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ trong ca từ diễn xướng dân gian (trường hợp diễn xướng chầu văn)”, luận văn hướng vào những mục đích

nghiên cứu sau:

+ Khảo sát để có những thông tin định lượng về vốn từ trong 30 bài hát chầu văn

+ Khảo sát đặc điểm từ vựng trong 30 bài hát chầu văn Qua đó, có thể góp phần nghiên cứu từ vựng tiếng Việt trong loại hình diễn xướng dân gian chầu văn

+ Thông qua việc tìm hiểu đặc điểm của ca từ trong các bài hát chầu văn,

đề tài hướng đến việc chỉ ra các đặc điểm, văn hóa, tư duy của người Việt được phản ánh thông qua các ca từ được sử dụng

5 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

+Khảo sát và lập được danh sách toàn bộ từ ngữ được sử dụng trong 30 bài hát chầu văn

+Phân tích định lượng các kết quả khảo sát được để rút ra những nhận xét

về những nội dung như:

*Nghiên cứu định lượng về mặt cấu tạo của từ trong bài hát chầu văn

*Miêu tả, phân tích về đặc điểm ngữ nghĩa ca từ bài hát chầu văn

Từ những kết quả miêu tả phân tích đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa của ca

từ trong các bài hát chầu văn, luận văn sẽ đưa ra những nhận xét về đặc điểm

văn hóa – tư của của người Việt phản ánh trong ca từ các bài hát chầu văn

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này bên cạnh thao tác: thống kê định lượng ngữ liệu nghiên cứu, phương pháp chính được luận văn sử dụng là: Phương pháp miêu

Trang 11

tả và phương pháp phân tích văn hóa Cụ thể là, luận văn sử sử dụng phương pháp này nhằm miêu tả các đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của ca từ, từ đó có thể phân tích các đặc điểm văn hóa, tư duy được phản ánh thông qua ca từ

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương

-Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

-Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của ca từ trong diễn xướng chầu văn -Chương 3:Đặc điểm văn hóa của ca từ trong diễn xướng chầu văn

Trang 12

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.Những vấn đề lý thuyết liên quan đến ca từ

1.1.1.Khái niệm từ

Lịch sử nghiên cứu từ tiếng Việt là một quá trình liên tục, phản ánh cố gắng của nhiều thế hệ nhà nghiên cứu trong và ngoài nước và các nghiên cứu đều thống nhất rằng: từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, là đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản

Xét ở nhiều khía cạnh, từ là đơn vị cơ bản, là đơn vị trung tâm trong toàn bộ hệ thống các đơn vị của ngôn ngữ, song việc xác định quan niệm về

từ, phân giới từ, phân loại từ không phải lúc nào cũng thuận lợi

Vấn đề quan niệm về từ của tiếng Việt, nhìn chung có hai khuynh hướng:

*Coi từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng)

Các tác giả có quan điểm coi từ tiếng Việt trùng âm tiết có thể kể đến là M.B.Emenneau, G.Aubarey, Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim Nguyễn Thiện Giáp cũng coi mỗi tiếng là một từ Còn những đơn vị từ vựng do tiếng kết hợp với tiếng mà thành được tác giả gọi chung là ngữ, gồm ngữ định danh, ngữ láy âm, thành ngữ và quán ngữ

“Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền [17,tr.22]

*Coi từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết Đây là quan niệm của nhiều tác giả, ví dụ như:

- Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: “Từ là âm có nghĩa, dùng trong

ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được” [8, tr.18]

Ví dụ: bàn, ghế, gia đình, thợ thuyền

Trang 13

- Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định,

bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về

số, về giống ) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [5, tr.29]

Cùng quan niệm như Đỗ Hữu Châu, là quan niệm của các tác giả như: Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Đái Xuân Ninh, Hồ Lê

Những điều trình bày trên đây, phần nào đó đã nói lên được tính phức tạp của tình hình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt

Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhất: Chức năng cơ bản của từ là chức năng định danh nhưng trong dãy ngữ đoạn từ còn mang cả chức năng phân biệt nghĩa, làm bộc lộ ý nghĩa này hay ý nghĩa khác của những từ nhiều nghĩa

Từ vốn có hai loại năng lực: 1 Năng lực gọi tên, biểu thị các sự vật, hiện tượng trong phạm vi định danh; 2 Năng lực tham gia vào các mối liên

hệ từ vựng trong ngữ đoạn [39, tr 1]

Về nghĩa của từ, ở Việt Nam, các nhà Việt ngữ học cũng có rất nhiều kiến giải khác nhau về nghĩa của từ tùy theo mục đích và phương pháp luận

của việc nghiên cứu Chẳng hạn tác giải Nguyễn Văn Tu chỉ ra rằng: “nghĩa

của từ vựng được quy định bằng những yếu tố tác động lần nhau như: (1) thuộc tính đối tượng (2) khái niệm về đối tượng (3) hệ thống ngôn ngữ giúp cho việc diễn đạt” [37, tr 24]

Còn trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt”, (1985) Nguyễn Thiện Giáp đã tổng hợp khá kĩ các quan niệm về nghĩa Tác giả thấy “nổi lên hai

khuynh hướng: (1) cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm, sự phản ánh ) (2) cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của

Trang 14

từ đối với đối tượng hoặc quan hệ của từ với khái niệm)” Tác giả nhận thấy

rằng, “nghĩa của từ là một đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn

giản hơn” như sau: nghĩa sở chỉ, nghĩa kết cấu, nghĩa sở dụng, nghĩa sở biểu

Trong công trình “Từ ngữ tiếng Việt trên đường hiểu biết và khám

phá”, Hoàng Văn Hành có đề cập đến cách tiếp cận hệ thống từ vựng ở góc

độ ngữ nghĩa học Tác giả chấp nhận theo cách hiểu nghĩa của từ là “phản

ánh của hiện thực khách quan vào ý thức và áp dụng phương pháp phân tích thành tố để xác định cấu trúc nghĩa từ vựng của từ ” (dẫn theo Lê Quang

Thiêm) [40, tr.30]

Đỗ Hữu Châu trong tác phẩm “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” thừa

nhận “nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức

lập thành một thể thống nhất gọi là từ” ([ dẫn theo 40, tr 85])

Còn Lê Quang Thiêm cho rằng: “ Nghĩa của một thực thể tinh thần

trừu tượng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng cụ thể đa dạng khác, đặc biệt là trong văn bản, diễn ngôn Nghĩa của ngôn ngữ thể hiện trong mọi hình thức tồn tại của tín hiệu nên ngữ nghĩa học và nghĩa của tín hiệu phải được xem xét ở loại đơn vị có thuộc tính tín hiệu đặc biệt là ở dạng cụ thể trừu tượng của các hình thức thể hiện tín hiệu Nghĩa là một thực thể tinh thần do con người và bởi con người cấu tạo, sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện, công cụ nên quan điểm chức năng phải được xem là nòng cốt trung tâm của kiến giải nghĩa Nghĩa là nội dung xác định hình thành nhờ chức năng song không là chức năng riêng rẽ trong hoạt động mà là một loại chức năng thể hiện qua văn cảnh Trong phạm vi nghĩa từ vựng là các loại chức năng từ vựng ngữ pháp Trong phạm

vi ngữ pháp, ngữ dụng cũng là khái quát loại chức năng ngữ pháp và ngữ dụng Nội dung của ngữ nghĩa học bao gồm: ngữ nghĩa học từ vựng, ngữ

Trang 15

Như vậy có thể thấy các quan niệm về nghĩa của Việt Nam rất đa dạng

và phong phú Mỗi tác giả có cách nhìn nhận khác nhau về nghĩa của từ tùy theo mục đích và phương pháp nghiên cứu riêng của mình Có thể nói quan điểm của tác giả Lê Quang Thiêm tuy mới nhưng rất thú vị và hấp dẫn Nó cho phép đi sâu hơn vào giải quyết nghĩa của từ và hạn chế những nhược điểm của các cách phân chia khác

*Phương thức chuyển nghĩa của từ

Nghĩa của từ phản ánh những đặc trưng chung, khái quát của sự vật, hiện tượng do con người nhận thức được trong đời sống thực tiễn tự nhiên và

xã hội Khi đi vào hoạt động ngôn ngữ, nghĩa của từ được cụ thể hóa, hiện thực hóa và được xác định Lúc đó các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ giảm tính chất trừu tượng và khái quát đến mức tối thiểu để đạt tới tính xác định, tính cụ thể ở mức tối đa Cũng trong hoạt động ngôn ngữ, đồng thời với sự giảm thiểu tính khái quát thì từ lại có thể gia tăng những sắc thái mới, nội dung mới do chính sự vật mà nó biểu thị đem lại Trong giao tiếp, nhiều khi nghĩa ngữ cảnh, nghĩa lâm thời, nghĩa được hiểu ngầm, hiểu lại nhờ các biện pháp tu từ, mới chính là cái quan trọng hàng đầu; nhất là trong khi xây dựng, tiếp nhận và phân tích các diễn từ, các văn bản nghệ thuật

Vì thế khi xây dựng, phát triển nghĩa chuyển (nghĩa ngữ cảnh, nghĩa lâm thời, nghĩa được hiểu ngầm, hiểu lại ) theo các phương thức chuyển nghĩa, từ sẽ mở rộng hoặc chuyên biệt những năng lực hoạt động, năng lực biểu hiện của mình Năng lực sử dụng ngôn ngữ của con người, của các tác giả văn bản cũng thể hiện rất rõ ở việc sử dụng từ ngữ, sáng tạo nghĩa của từ ngữ như vậy

Có hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến, đó là phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ

Trang 16

1.1.1.1.Phương thức cấu tạo từ

-Từ đơn:

Là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập Ví dụ: nhà, xe, tập xanh, đỏ, tím

+Xét về mặt lịch sử: hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời Một

số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga

+Xét về mặt ý nghĩa: từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội, các số đếm

+Xét về mặt số lượng: tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy nhưng là những từ cơ bản nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt

Ví dụ: quốc gia, nhà cửa, học hành

+ Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy: các thành

tố đồng nghĩa nhau, các thành tố gần nghĩa nhau, hoặc các thành tố trái nghĩa nhau

+ Xét về mặt nội dung, nói chung từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát)

Trang 17

+ Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành

tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập

+ Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa

*Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố

cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu

từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp

Ví dụ: nhà máy, đường sắt, tàu hỏa

Loại này có những đặc điểm sau:

+ Xét về mặt ý nghĩa: nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật mang ý nghĩa cụ thể

+ Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó

-Từ láy

Từ láy là những từ phức do phương thức láy tác động vào một số từ tố

cơ sở Là những từ có các thành tố tương quan nhau hay giống nhau về mặt ngữ âm Thành tố thứ nhất có quan hệ với thành tố thứ hai về mặt ngữ âm

+ Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng Loại đầu tiên là phổ biến nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt Từ láy trong tiếng Việt gồm có: láy hoàn toàn, láy bộ phận

+Chức năng: Từ láy tạo nên ý nghĩa đột biến và sắc thái hóa ý nghĩa

của hìn vị cơ sở Mỗi từ láy là một “nốt nhạc” về âm thanh, một “bức tranh”

Trang 18

về hình ảnh Từ láy là một loại từ có ý nghĩa qua trọng trong văn học, nhất là thể loại thơ ca, mà những bài hát chầu văn thuộc thể loại này

-Ngữ cố định:

+ Khái niệm: Ngữ cố định là các cụm từ đã cố định hóa nên nó có tính

chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc và cũng có tính xã hội như từ

+Chức năng: Có giá trị ngữ nghĩa như từ, tạo nên tính cố định về hình thức và ngữ nghĩa trong văn bản Ngữ cố định thường được phân chia thành thành ngữ, tục ngữ và quán ngữ

1.1.1.2 Phân loại từ xét về nguồn gốc

Trong những bài hát chầu văn, chúng tôi nhận thấy có sự xuất hiện của hai lớp từ chủ yếu là từ thuần Việt và từ Hán Việt Trong đó, có những từ có thể gọi là những từ ngữ lịch sử Chúng tôi xin trình bày cơ sở lý luận của các lớp từ vựng này

* Từ thuần Việt

Ngôn ngữ dân tộc không bất biến mà luôn vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn Trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, bao giờ cũng xảy ra hiện tượng giữ lại từ cũ, cấu tạo từ mới, vay mượn những từ ngữ từ tiếng nước ngoài Qua nhiều thời kỳ, việc xác định từ vay mượn và từ thuần không phải

là việc làm đơn giản Do đó có thể quan niệm về từ thuần Việt như sau:

Từ thuần Việt là những từ gốc tiếng Việt, biểu thị các sự vật, hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất và tồn tại từ rất lâu đời Từ thuần Việt cũng được tạo nên từ những điểm tương đồng với các dân tộc ở Nam Á Quá trình tiếp xúc và tác động lâu dài với các ngôn ngữ Nam Á và Tày – Thái đã để lại dấu ấn là một lớp từ vựng cơ bản và lầu đời nhất trong tiếng Việt

Vai trò của từ thuần Việt: Trong văn bản tiếng Việt, từ thuần Việt đóng

vai trò cốt lõi và chi phối các lớp từ khác

Trang 19

Từ Hán cổ là những từ gốc Hán được nhu nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn một Vì đi vào tiếng Việt đã lâu, đã được đồng hóa rất mạnh, nên những từ này hiện nay nói chung không còn cái vẻ xa lạ đối với người Việt

nữa Ví dụ: chè, ngà, chém, chìm, buồng, buồm, mùi, mùa

Từ Hán –Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn hai, sau đời Đường cho đến nay và người Việt vẫn lưu giữ cách phát âm đời Đường hệ thống ngữ âm của mình gọi là cách đọc Hán Việt Có thể nói cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ Hán của người Việt Nam Cách đọc đó

được duy trì (với những biến đổi ít nhiều) cho đến tận ngày nay.Ví dụ: nam,

nữ, mã, trọng, khinh

Tên gọi “từ Hán Việt” còn bao gồm cả những vốn từ không phải là gốc Hán, mà do người Hán mượn một số ngôn ngữ khác, rồi người Việt vay mượn lại và đọc theo âm Hán Việt như các từ Hán Việt khác Ví dụ, có những từ

vốn xuất thân theo nguồn gốc Nhật Bản như: phục tùng, phục vụ, điều chế,

đại bản doanh, kinh tế Có những từ lại vốn xuất thân từ nguồn gốc Phạn

(Sanskrit) như Phật, Nát Bàn, Di Lặc, Thích ca mầu ni Đối với những từ

này, chúng ta không thể dùng nghĩa gốc của các từ Hán để giải thích nghĩa của chúng

Bên cạnh đó, cũng là những từ gốc Hán nhưng có một nhóm được nhu nhập vào tiếng Việt thông qua con đường khầu ngữ của những người nói

Trang 20

phương ngữ tiếng Hán Nhóm này chiếm một tỉ lệ rất nhỏ và nói chung không

đem lại cho tiếng Việt ảnh hưởng nào đáng kể Ví dụ: quẩy, xì dầu, mì chính,

vằn thắn, xá xíu, sủi cảo, lậu, tào phớ, chí ma phù

Một số từ Hán –Việt được đưa vào sử dụng trong tiếng Việt, có nhiều trường hợp phải cải biến nghĩa cho phù hợp với tiếng Việt Có những từ Hán -Việt được chuyển từ nghĩa rộng sang hẹp, từ trừu tượng, khái quát sang cụ thể, hay mang thêm một nét biểu cảm nào đó

Đặc biệt, có một lượng lớn từ Hán –Việt sau khi du nhập vào tiếng Việt, chúng chịu sự tác động của quy luật biến đổi ngữ âm trong tiếng Việt

Do vậy, chúng đã biến đổi diện mạo ban đầu của mình, hoặc cũng có thể dạng ngữ âm Hán Việt của từ vẫn tồn tại trong tiếng Việt Như vậy, có hàng loạt từ được Việt hóa tới hai lần, dẫn tới kết quả tồn tại song song: một cách đọc được gọi là cách đọc Hán Việt, một cách đọc được gọi là Hán Việt Việt hóa Cách đọc thứ hai làm mờ hẳn nguồn gốc của chúng đi, đưa chúng vào sâu hơn

trong tiếng Việt Ví dụ: kiếm – gươm; kính – gương; các – gác, can – gan;

cận -gần; kí – ghi; họa – vạ

Như vậy, chúng ta thấy rằng vốn từ vựng Hán – Việt có vai trò quan trọng trong từ vựng tiếng Việt Sự biến đổi về nghĩa của các từ tiếp nhận tiếng Hán rất đa dạng và phức tạp đòi hỏi chúng ta phải có vốn kiến thức nhất định

để xử lý, đánh giá vốn từ vựng gốc Hán một cách chính xác và khoa học

* Từ lịch sử

Các bản văn chầu sáng tác cổ xưa thường là viết bằng chữ Hán-Nôm và trong các sáng tác ấy có sự xuất hiện của các từ ngữ lịch sử, là các từ chuyên dùng trong thời kỳ ấy, hiện nay không thấy sử dụng đến Chúng là các mục từ lịch sử Các mục từ này luôn phản ánh một giai đoạn lịch sử nhất định đặc thù cho xã hội giai đoạn ấy

Trang 21

Ví dụ: hoàng thiên, quan tử, đại vương, quận cậu, hoàng vua, đại thần,

đế vương, sắc phong, đổng binh, phong ân, tinh xí, võ hài, kim ngân, sớ điệp, sắc chỉ, chiếu chỉ, xe loan, hồng lâu

Khi giai đoạn lịch sử đó qua đi thì những từ ngữ này lập tức không còn được sử dụng nữa vì không phù hợp Nói cách khác từ lịch sử là những từ bị đẩy ra ngoài phạm vi từ vựng chung, tích cực bởi các nguyên nhân lịch sử và

xã hội Khi đối tượng mà từ biểu thị gọi tên bị gạt ra ngoài đời sống xã hội thì

tên gọi của nó cũng mất dần vị trí vốn có của nó trước đây Như vậy “Từ ngữ

lịch sử là những từ ngữ trở nên lỗi thời vì đối tượng biểu thị của chúng đã bị mất Trong quá trình phát triển của lịch sử, nhiều sự vật, hiện tượng bị mất

đi, các tên gọi của những sự vật, hiện tượng này tự nhiên ít hoặc không được dùng nữa” [18, tr.277]

Từ ngữ lịch sử không có từ đồng nghĩa trong tiếng Việt hiện đại Bình thường chúng ít khi được sử dụng nhưng khi cần diễn đạt những khái niệm có tính chất lịch sử, người ta phải dùng đến chúng Các tác phẩm văn học sử, sử học viết về thời kỳ cận đại, từ ngữ lịch sử chiếm một tỉ lệ khá cao

1.1.2 Đặc điểm của ca từ trong âm nhạc

1.1.2.1 Khái niệm “ca từ”

Trong âm nhạc, ca từ (lời của bài hát) giữ một vai trò quan trọng Ca từ

bổ sung tính cụ thể cho hình tượng âm nhạc, hay nói cách khác, nó làm nhiệm

vụ như là người hướng dẫn, mở đường, “phiên dịch”, dẫn giải cho người thưởng thức bằng thứ ngôn ngữ phổ biến mà con người đã được học tập, rèn luyện, nâng cao từ khi lọt lòng mẹ

Ca từ mở cửa cho hình tượng âm nhạc đi vào lòng người thưởng thức

Là vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp qua trọng nhất của con người Có thể

ví ca từ như đôi cánh nâng hình tượng âm nhạc bay ca hơn, xa hơn Trên thực

tế, có nhiều tác phẩm âm nhạc, phần âm thanh và phần ca từ tương sinh như

Trang 22

xác với hồn, làm nên sức sống của tác phẩm Nhưng cũng có nhiều tác phẩm, khi bóc tách phần ca từ ra khỏi nền nhạc thì nó vẫn thấm đẫm chất thơ và đi vào lòng công chúng bởi tính trữ tình và những ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà người sáng tác gửi gắm trong tác phẩm của mình Thậm chí những triết lý trong ca từ còn được thưởng thức như những câu châm ngôn sống bất hủ hoặc như những bài thơ

Với những vai trò và chức năng kể trên, ca từ là một phần không thể thiếu trong âm nhạc Trong luận văn này, khái niệm ca từ được chúng tôi sử

dụng theo cách hiểu của theo Dương Viết Á: “Trong loại hình nghệ thuật âm

nhạc, ngoài phần âm thanh đóng vai trò chính, còn phải dùng đến ngôn ngữ, nói đúng hơn đó là phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc (lời ca trong ca khúc, hợp xướng; kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch; tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chương nhạc ) Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung trong một khái niệm: Ca từ” [1,

tr.13]

Như vậy, với khái niệm trên, ca từ bao gồm toàn bộ phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, bắt đầu từ cái nhỏ nhất: tên gọi của tác phẩm, tiêu đề , cho đến cái lớn nhất: kịch bản của nhạc cảnh, nhạc kịch và dừng lại ở thể thơ được phổ nhạc

1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong ca từ

Ngôn ngữ là chất liệu tạo nên ca từ Giá trị của ca từ phụ thuộc vào trình độ sử dụng ngôn ngữ của người sáng tác Trong nền âm nhạc Việt Nam, những nhạc sĩ có tên tuổi cũng đồng thời là những người tạo ra những ca từ

có giá trị mẫu mực như: Văn Cao, Huy Du, Đỗ Nhuận Họ là những người góp phần quan trọng trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Ngôn ngữ trong bài hát (ca từ) mang những đặc trưng của ngôn ngữ văn học, nhất là ngôn ngữ thơ Nhưng thơ chủ yếu là để ngâm, trong khi đó ca

Trang 23

từ chủ yếu là để hát và nghe theo giai điệu và tiết tấu nhất định Do sự khác nhau đó, ngôn ngữ trong bài hát có những điểm khác so với ngôn ngữ trong thơ ca Chẳng hạn, trong thơ ca không nhà thơ nào lại viết liền một đoạn gồm toàn từ ngữ tượng thanh, vì bài thơ viết ra để đọc (hoặc để nghe qua người khác đọc) Nhưng với lời ca, vì để hát lên và để nghe theo giai điệu và tiết tấu của âm nhạc, một đoạn lời ca chỉ gồm những từ ngữ tượng thanh bỗng nhiên lại có hồn, có sức sống Sở dĩ có sự khác biệt này là do công cụ, phương tiện diễn tả chủ yếu của âm nhạc là âm thanh với giai điệu, tiết tấu, hòa thanh Với những phương tiện đó, âm nhạc có một khả năng vô cùng to lớn trong việc tái hiện cuộc sống thông qua thế giới âm thanh Chính nhờ đặc trưng này, âm nhạc cho phép sử dụng những mô phỏng âm thanh trong cuộc sống xã hội và tự nhiên để phản ánh hiện thực

Ngôn ngữ Việt Nam là ngôn ngữ nhiều thanh điệu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu Do vậy, không thể lấy nguyên một bài thơ để phổ

nhạc như ở phương Tây được “Thanh điệu của ngôn ngữ Việt Nam, chính sự

giàu có về nhạc điệu của ngôn ngữ Việt Nam, đã trở thành một khó khăn, thậm chí là trở ngại cho việc phổ thơ thành bài hát.” [1, tr.18] Ngôn ngữ nào

cũng bắt buộc phải có lời ca để tổ chức âm thanh theo một kiểu nào đó mà người nghe hiểu được Tiếng phương Tây đa tiết và không có thanh điệu cho nên không đòi hỏi các âm tiết phải khu biệt nhau Còn trong tiếng Việt, mỗi

âm tiết đều có thanh điệu và phải hát sao cho người nghe hiểu không phải nghĩa của câu mà nghĩa của từng âm tiết Do đó, ở các ngôn ngữ đơn tiết như

trường hợp tiếng Việt: “lời nhạc không căng, nghe lơi, lên xuống trong từng

để bù vào khoảng trống:

Người trần phàm phút gặp a tiên là người tiên

Nọ thay cái ông Hoàng Bảy thật là duyên í a duyên tình cờ

Trang 24

Trên cung Tiên ai hẹn - Giờ - bao giờ vì Hoàng đi chấm lính

Tình cờ gặp được người Tiên Sáng u - sáng u - lưu phàm - ớ Tiên gặp được Tiên tình cờ ớ Tiên gặp được Tiên tình cờ

(Văn Hoàng Bảy)

Cõi tiên cảnh vật xa vời i i i

Có bà chúa Thác vốn người Sơn trang

Từng vượt suối băng ngàn mở lối

Giúp dân lành sớm tối lên công

Bao năm đục núi khai dòng i i i

Đem dòng nước ngọt mát lành dân sinh

Tuổi đôi tám xuân xanh vừa độ

Tài lược thao văn võ kiếm cung

So bề: Ngôn, Hạnh, Công, Dung i i i

(Văn Chúa Thác Bờ) Tiếng Việt với đặc điểm là giàu có về nguyên âm, phụ âm và thanh điệu Độ dài của các âm tiết trong tiếng Việt thường ngắn và bao giờ cũng tách rời nhau Đặc điểm này đã tạo ra cho tiếng Việt ưu thế về tính nhạc hơn hẳn các thứ tiếng có số lượng nguyên âm, phụ âm ít và không có thanh điệu

Trong các sáng tác chầu văn, từ ngữ và âm nhạc là hai thành phần cơ bản nhất; hai thành phần này luôn có quan hệ gắn bó với nhau để tạo thành một sản phẩm âm thanh trọn vẹn, cả về mặt nội dung và hình thức Đó là sự tương đồng về mặt âm thanh của từ và âm thanh của nhạc Nói khác đi, ca từ Chầu văn được hình thành từ từ ngữ và âm nhạc, chúng có chung một âm thanh

Bên cạnh âm thanh thì nhạc tính cũng như một nét duyên thầm làm nên

vẻ đẹp của các ca khúc Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể loại nào khác, ngôn ngữ trong ca khúc với tính cách là một thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về

Trang 25

cách hòa âm, giàu từ láy âm, tượng hình, chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc Tính nhạc trong ca khúc là một hình thức làm cho bài ca dễ được cảm nhận bởi người nghe Câu chữ trong các bài hát, hay trong ngôn ngữ, giúp con người tái tạo hình ảnh mà nó miêu tả, song âm thanh và vần điệu của các từ lại gây cảm xúc về âm nhạc Sự kết nối khéo léo giữa hai tính chất này của ngôn ngữ thúc đẩy sự tìm tòi các từ có âm thanh hay, xác thực với tình cảm người viết muốn truyền, đồng thời tìm tòi những từ mới Tính nhạc còn thể

hiện trong việc sử dụng các từ diễn tả âm thanh như “rì rầm”, “róc rách”,

“lao xao”, “vi vu”, “ríu rít”,”rầu rĩ”

Nước suối chảy rì rầm, róc rách

Cá lượn mình luồn lách dưới khe

(Văn Hoàng Đôi)

“Đền thờ Chầu Bé thấp cao mấy tầng

Có ngàn có hoa nghiêng mình rủ lá

Bầy chim oanh ríu rít quì tâu

Con chim oanh ríu rít bên lầu

Kìa bầy chim oanh ríu rít bên lầu

Phượng hoàng tung cánh về chầu động tiên

Vượn trên non ru con rầu rĩ

Suối gẩy đàn vang vọng bên tai”

( Văn Chầu Bé) Tuy không đồng nhất với ngôn ngữ văn học, nhưng ca từ trước hết cũng là ngôn ngữ và cũng sử dụng chủ yếu phương thức trữ tình để phản ánh cuộc sống nên bên cạnh quy luật âm nhạc, nó còn chịu sự tác động của quy

luật ngôn ngữ và quy luật thơ ca “Nhạc phẩm là một hình thức nghệ thuật

dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức logic nhất định tạo nên hình

Trang 26

ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người nghe” [1, tr48 ] Ngôn

ngữ được dùng trong các bài hát chầu văn có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cô đọng Xét về mặt lời, ca từ trong các bài hát Chầu văn đã đạt được những thành công nhất định, thể hiện đúng tâm hồn, bản sắc văn hóa dân tộc Lời ca trong bài chầu thường rất đẹp, câu chữ mượt mà tình cảm như bài thơ

và bám sát giai điệu ca khúc

Với những ca từ chọn lọc, ngắn gọn, các bài hát chầu văn giống như là cuộc hôn phối kì diệu giữa âm thanh, ý nghĩa và hình ảnh Chữ và nghĩa trong ngôn ngữ ca khúc hòa quyện với nhau như hình với bóng, như xác với hồn nên việc tách rời chúng ra khỏi nhau sẽ làm tổn hại đến bình diện ngôn ngữ và thẩm mĩ của câu thơ

Tóm lại, ngôn ngữ trong tác phẩm là ngôn ngữ nghệ thuật được chọn lọc, tinh luyện, giàu hình ảnh, nhạc điệu, được tổ chức một cách đặc thù nhằm phản ánh cô đọng đời sống và biểu thị tinh tế mọi cung bậc tâm trạng, xúc cảm của con người Nếu coi âm nhạc là một sản phẩm trí tuệ của nhân loại thì

ca từ là một bộ phận không thể thiếu của sản phẩm đó Khi soạn ca từ, ngoài những tình cảm xuất phát từ trái tim, người nhạc sĩ còn cần có sự đầu tư của trí tuệ để lựa chọn ngôn ngữ một cách tinh tế, làm nên những khúc ca có giá trị Có thể nói một trong những giá trị của ca khúc là ở phần ca từ của tác phẩm

1.1.3 Đặc điểm văn hóa phản ánh trong ca từ

Có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa, song nhìn chung, các quan niệm về văn hóa đều thống nhất coi văn hóa là những tài sản vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, mang theo những đặc điểm đại diện cho một dân tộc, làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác

Văn hóa và ngôn ngữ có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn

Trang 27

ngữ Saussure cho rằng: “ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của văn hóa dân tộc,

nhờ ngôn ngữ và văn tự văn hóa được lưu truyền, và trong tương lai nền văn hóa cũng nhờ vào ngôn ngữ để phát triển” [16, tr.345] Sự biến đổi và phát

triển của ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với những biến đổi và phát triển văn hóa Chính vì thế xét trên tổng thể, ngôn ngữ là bộ phận hữu cơ không thể

tách rời văn hóa, nói như Humboldt “ngôn ngữ là thành tố quan trọng nhất

của văn hóa, văn hóa là linh hồn của ngôn ngữ” [41, tr.124]

Đối với ngôn ngữ văn chương hay lời ca trong các bài hát diễn xướng dân gian, mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ càng rõ nét Các giá trị kết tinh trong nó và khả năng tác động của nó tới môi trường văn hóa càng to lớn Khi ngôn ngữ hóa thân vào văn học nghệ thuật, vào những lời ca tiếng hát dân gian, nó vượt qua chức năng định danh thông thường để tái hiện lên hình ảnh của cuộc sống Những biểu hiện đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua diễn xướng dân gian chầu văn như sau:

Chầu văn – một tín hiệu văn hóa Ngay từ tên gọi, chầu văn đã là một tín hiệu biểu thị văn hóa Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định

nghĩa chầu văn là “lối hát cổ truyền, có làn điệu phong phú, dùng để ca tụng

thánh thần trong khi cúng bài, lên đồng” [38, tr.242] Như vậy, ngay từ tên

gọi, chầu văn đã là một chứng tích của văn hoá: đây là một thông điệp ngôn

từ dân gian, phản ánh cuộc sống con người một cách tự nhiên nhất, hồn nhiên nhất Qua các định nghĩa về Chầu văn, ta càng thấy rõ điều đó

Cấu trúc chầu văn - một biểu hiện mô típ văn hoá thuần Việt Ngay trong hình thức truyền đạt, chầu văn là lời ăn tiếng nói của người lao động, mang tính chất thuần Việt, đậm đà bản sắc dân tộc Chầu văn là một thể thơ: điều dễ nhận thấy là chầu văn mang những đặc điểm cơ bản của thơ ca Đó là yếu tố vần, và yếu tố nhịp có mặt trong tất cả các bài ca Văn vần là loại văn

có quy tắc nhất định, phân biệt tiếng bằng tiếng trắc và có vần, có đối nhau

Trang 28

như thơ, phú, và từ khúc Qui tắc của văn vần là chú trọng bằng, trắc, vần, đối

và niêm Trong các thể loại hát chầu văn, các thể văn vần phổ biến là thể lục bát và song thất lục bát

Thể lục bát:

Lòng thành đốt một nén nhang Triều Trần thượng đẳng thánh vương thưở này

Xem trong quốc sử mới hay Chép biên thành tích tích khi nay tỏ tường

(Văn Trần hiển thánh)

Thể song thất lục bát:

“ Chốn cung tiên mây lồng ánh nguyệt

Cảnh bầu trời gió quyện hương bay

Cửu trùng tọa chín tầng mây

Thiên Tiên Đệ Nhất ngự rày trung cung

Gió đông phong hây hây xạ nức

Bộ tiên nàng chầu chực hôm mai

Dập dìu nơi chốn trang đài

Chính cung Mẫu ngự trong ngoài sửa sang”

(Văn Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên) Nội dung cơ bản nhất của Chầu văn là thể hiện tình cảm, sự ngưỡng vọng của nhân dân đối với công đức của các vị Thánh và Mẫu Bên cạnh đó, Chầu văn còn ca ngợi những anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, chiến tích của những vị chầu xông pha chiến trận còn ghi nhớ trong các bản chầu Văn trần triều, Bát nàn tướng quân, Lê Mại đại vương, vô danh như quan lớn Tuần Tranh ông Hoàng Bẩy anh dũng kiên cường trong chiến đầu chống ngoại xâm, răn đe những kẻ côn đồ, phản loạn, bức hại người dân, hết lòng thương dân, báo quốc tất cả góp phần phản ánh đề tài tình yêu đất nước, quê hương

Trang 29

và trách nhiệm bảo vệ dân tộc của người Việt Xen vào các mảng đề tài trung tâm chủ đạo là công đức của các vị Thánh và Mẫu, các “đề tài nhỏ” mang tính dân gian cao như sự giao thoa các tôn giáo và văn hóa bản địa, tình yêu, gia đình, lao động, buôn bán, cá ứng xử xã hội được thể hiện sinh động phản ánh tập quán phong tục của con người Việt Nam

Chầu văn là một nghệ thuật tổng hợp với ca từ chau truốt mà sự tồn tại mạnh mẽ của nó đã vượt qua những thử thách đào thải khắt khe của thời gian

để đi vào trong lòng xã hội hiện đại trở thành một loại hình đôc đáo hiếm có trong kho tàng văn hóa cổ truyền bằng chính cái rộn rã, mơ màng đầy mê luyến

Vậy đó, ngôn ngữ - ca từ chính là một bộ phận của văn hoá, văn hoá được truyền tải, lưu trữ và bảo tồn thông qua ngôn ngữ, - một mối tương quan chặt chẽ, không thể tách rời Và trong cái dòng chảy lấp lánh xuyên suốt theo chiều dài lịch sử ấy của văn hoá Việt, tiếng Việt – linh hồn của nòi giống Hồng Bàng chẳng bao giờ ngưng toả sáng

1.2 Một số vấn đề về nghệ thuật hát chầu văn

1.2.1 Khái luận về chầu văn Vị trí của văn chầu trong nghệ thuật chầu văn

Chầu có nghĩa là bầy tôi vào hầu vua, ngoài ra vào hầu kẻ tôn quý, xưa cũng gọi là chầu Chữ văn được hiểu là văn tự, bài văn, lời văn, văn chương, nghĩa rộng hơn của từ này là nghi lễ, văn vẻ, màu mè bởi lẽ “văn” được xem như “cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc hóa mà có vẻ đẹp rõ rệt gọi là văn, như văn minh, văn hóa”

Chầu văn còn gọi là Hát văn, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền đặc sắc, sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh gắn với nhiều nghi lễ lễ nhạc cùng với các lời văn chau truốt nghiêm trang mang ý nghĩa chầu Thánh Chầu văn ra đời từ đồng bằng Bắc bộ, chủ yếu gồm hát và diễn xướng phục

vụ các buổi lên đồng còn gọi là hầu bóng của tín ngưỡng Tứ phủ và tín

Trang 30

ngưỡng thờ Đức Thánh Trần Nhạc sĩ Thao Giang, phó giám đốc trung tâm

nghệ thuật âm nhạc Việt Nam trong bài nghiên cứu “Nghệ thuật hát chầu

văn” phần vài nét về lịch sử Nghệ thuật hát chầu đã khá dặt dè về định nghĩa

Hát văn: “Hát Chầu văn là loại hình nghệ thuật dân gian gắn liền với tín

ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ, có nguồn gốc từ Nam Định và Hà Nội” Ban đầu Hát văn chỉ lưu hành giới hạn cùng các nghi

lễ thờ cúng ở đền, miếu, phủ chùa tại miền Bắc, sau cùng với sự phát triển và nhu cầu giao lưu văn hóa mà lan tỏa mạnh mẽ ra khắp đất nước và theo chân người Viêt ra cả nước ngoài nhằm thỏa mãn nhu cầu của sinh hoạt tâm linh Chầu văn có nhiều hình thức biểu diễn bao gồm là: hát thờ, hát thi, hát hầu và

hát văn nơi cửa đền Nếu như Hát thờ được sử dụng chủ yếu vào các ngày lễ

tết, ngày tiệc thánh mừng thánh sinh hoặc hát trước khi vào các giá văn lên

đồng thì hình thức Hát hầu lại chuyên dùng cho việc ca ngợi ba giá tam tòa

Thánh Mẫu, đức Vua cha, đức thánh Trần Hưng Đạo và các quan, chầu bà, các cô các cậu Hát văn thờ có lẽ vì mục đích phục vụ sinh hoạt tín ngưỡng nên được khẳng định là ra đời sớm hơn so với các thể loại hát Văn khác Khởi đầu của nó chính là những bản Văn sự tích của những ngôi Đền thờ tứ phủ được lưu truyền qua nhiều thế hệ bởi nhân dân quanh vùng Âm nhạc giúp sự thông quan với thần linh cầu tài lộc, còn các bản văn giúp người dân ghi nhớ

về lịch sử ngôi đền cùng những sự tích, chiến công, oai đức của những anh hùng dân tộc đã hiển Thánh

Trong nghệ thuật hát chầu văn, văn chầu là phần lời của các bài hát cung thỉnh các thánh Tam phủ, Tứ phủ Các bản Văn chầu có cấu trúc của một tác phẩm văn học dân gian hoàn chỉnh, viết bằng chữ Hán-Nôm hay chữ quốc ngữ với số lượng rất lớn do các cung văn lưu truyền trong dân gian hoặc sáng tác sau này bởi các nghệ nhân tài năng như Phạm Văn Khiêm, Đoàn Đức Giang, Lương Ngọc Tùng Những bài hát văn có thể khá ổn định trong giai

Trang 31

điệu nhưng phong phú về lời văn bởi tính chất dân gian và truyền khẩu Bên cạnh đó các bản Văn chầu cho mỗi giá văn cũng lại kể về những sự tích, lai lịch, ca ngợi với nhiều đức Mẫu, chầu bà, các đức Thánh, ông hoàng, cậu quận, thánh cô khác nhau nên cách ví von, xưng tụng cũng luôn phải biến đổi cho phù hợp với nguồn gốc, chiến tích, địa vị, tính cách, sở thích của mỗi vị Bởi sự gắn bó chặt chẽ không thể tách rời hay thay thế với nghi lễ lên đồng nên Chầu văn nói chung và Văn chầu nói riêng đã luôn tồn tại với tư cách của một hình thức diễn xướng dân gian đặc biệt, hướng về các nhu cầu tâm linh kính ngưỡng các đấng siêu nhiên đang che chở cho con người, đáp ứng khát vọng của con người về cuộc sống bình an, sung túc, may mắn

1.2.2 Lịch sử phát triển chầu văn ở nước ta

Đã có nhiều nhà nghiên cứu suy đoán rằng Chầu văn có xuất xứ sớm là khoảng thế kỷ X, sau khi xuất hiện ghi chép của Lê Quý Đôn trong “Kiến văn

tiểu lục”: “Thời Trần (1225-1400) có lối hát trước mặt đế vương, gọi là Hát

chầu” Như vậy sớm là thế kỷ X, muộn nhất là thế kỷ XVI, Chầu văn đã

chứng minh sự hiện hữu của nó trong đời sống văn hóa và nghệ thuật dân tộc Thời kỳ thịnh vượng nhất của chầu văn được cho là cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX với bằng chứng về nhiều cuộc thi hát để chọn người hát cung văn xuất sắc Từ năm 1954, Chầu văn dần dần mai một, hầu đồng là tội mê tín dị đoan; thậm chí các đền phủ bị tịch thu các dụng cụ hành lễ, các hoạt động Hát văn phải được thực hiện ngấm ngầm, lén lút Sự tồn tại của chầu văn khi đó bị coi

là hủ tục mê tín, sản phẩm trụy lạc của xã hội cũ Quả thật trong suốt một thời gian dài hàng thế kỷ, tận đến đầu những năm 1990, hát văn mới lại có chút cơ hội nảy nở trở lại Các trung tâm Chầu văn hiện nay có thể kể đến là Phủ Giày – Nam Định, Phủ Tây Hồ - Hà Nội, Đền Trần – Nam Định, đền Bắc Lệ - Lạng Sơn, đền Sòng - Thanh Hóa, điện Hòn Chén – Huế Ngoài ra, chầu văn được dùng tế lễ trong các điện thờ gia đình, các đền miếu thờ các vị anh

Trang 32

hùng, thành hoàng ở khắp mọi làng quê Việt Nam Sau này, theo chân các đồng bảo di cư, Chầu văn lan tỏa ảnh hưởng của nó vào miền Trung, miền Nam và đi theo các Việt kiều đi ra nước ngoài, kết hợp với nhiều tín ngưỡng khác làm nên những bản sắc văn hóa mới

1.2.3 Tình hình nghiên cứu chầu văn ở nước ta

Các học giả có mối quan tâm sâu sắc và giành nhiều thời gian tâm sức đến sự tồn tại, phát triển và giá trị đích thực của chầu văn và tục lên đồng, thờ Mẫu, có thể kể đến: Trần Tần Chiêu, Bùi Đình Thảo, Ngô Đức Thịnh, Trần Văn Khê, Đinh Gia Khánh, Trần Lâm Biền, Hồ Đức Thọ Đều là các học giả

có tên tuổi và tâm huyết với việc giữ gìn và phát triển chầu văn với hàng loạt các phát biểu, các bài nghiên cứu phê bình

Nhìn chung các bài viết và công trình về đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu, liệt kê các bản văn được đánh giá là cổ điển và có giá trị được lưu truyền trong dân gian hoặc được các cung văn sáng tác, đặt lời mới Chưa

có công trình đáng kể nào đi sâu phân tích bài bản về thi pháp cũng như đặc điểm ngôn ngữ của ca từ bài hát chầu văn

Tôi xin sơ lược về một số bài viết nghiên cứu về chầu văn từ góc độ văn học và văn hóa dân gian, có thể kể tới các tác giả và các khảo cứu sau:

Trần Tân Chiêu, Sách dạy chầu văn Trần chiểu hiển thánh

Nhạc sĩ Thao Giang, Nghệ thuật hát văn

Thanh Hà, Âm nhạc hát văn, 1995

Phan Đăng Nhật, Hát văn, giá trị văn chương

Vũ Ngọc Khánh, Hiện tượng giáng bút ở Việt Nam

Bùi Đình Thảo, Hát chầu văn

Đặng Văn Lung, Mẫu Liều đời và đạo

Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam

Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu, 100 bài hát văn

Trang 33

Ngô Đức Thịnh, Lên đồng, hành trình của thần linh và thân phận

Hồ Đức Thọ, Huyền tích Thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hóa lễ

hội Phủ Dầy

1.3 Tiểu kết

Về mặt lý luận ngôn ngữ, dù nghiên cứu ở bình diện nào thì từ cũng là đơn vị cơ bản của từ vựng, là đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản

Từ trong tiếng Việt, về mặt cấu tạo có các loại từ đơn, từ ghép, từ láy và ngữ cố định Sự chuyển biến ý nghĩa của từ xảy ra do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, bên trong và bên ngoài khác nhau Tuy nhiên nguyên nhân quan trọng hơn cả là nhu cầu giao tiếp của con người Những nhu cầu về mặt trí tuệ và những nhu cầu về mặt tu từ buộc ngôn ngữ phải luôn thay đổi và sáng tạo để biểu thị những sự vật, hiện tượng cùng những nhận thức mới, để thay thế cách diễn đạt, những tên gọi cũ đã mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa

Về mặt lý luận văn hóa, Đạo thờ Mẫu vốn tích hợp trong nó mọi ẩn ức sâu xa và những thành tố gốc gác của tâm thức Việt Với đặc trưng tiêu biểu của nó là tục lên đồng hát chầu, tín ngưỡng này đã đem lại cho kho tàng văn hóa dân gian người Việt thể Hát văn độc đáo để diễn xướng nơi các bàn thờ

Tứ phủ Lịch sử nghiên cứu đã luôn đề cao chầu văn như là một “bảo tàng

sống” của nghệ thuật cổ truyền Đẹp như một bông hoa nghìn tuổi vẫn nhuận

sắc nồng hương, Chầu văn hiện diện giữa đời sống của chúng ta như một thông điệp không dễ hiểu của thời gian và thượng đế, gửi gắm sức sống bất diệt của những giá trị tư tưởng và nghệ thuật chân chính vị nhân sinh

Trang 34

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA CỦA CA TỪ TRONG

DIỄN XƯỚNG CHẦU VĂN

2.1 Đặc điểm cấu tạo của ca từ trong các bài hát chầu văn

Nói đến đặc điểm ngôn ngữ của ca từ nói chung, chúng ta có thể miêu

tả từ nhiều phương diện: phương thức cấu tạo từ, phân loại từ loại, các đặc điểm ngữ âm chi phối phương thức hiệp vần Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng, các bài văn chầu có nguồn gốc từ các bài thơ dân gian, thường được viết theo thể thơ truyền thống là lục bát và song thất lục bát Về quy luật hiệp vần trong các bài hát chầu văn không có điểm gì sáng tạo đột biến so với các thể thơ truyền thống Nhưng chầu văn là một loại hình diễn xướng mà nhịp điệu

và bộ gõ có vai trò đặc biệt quan trọng Chúng tạo nên một không khí hưng phấn, kết hợp với yếu tố tâm linh góp phần tạo nên một trạng thái tinh thần đặc biệt khiến người ta có thể thực hiện những việc mà ở trạng thái bình thường khó có thể làm nổi Bởi vậy, trong các bài chầu văn, chúng tôi chú trọng đến đặc điểm cấu tạo từ vì sự ngắt nhịp, tiết tấu có liên quan đến

phương thức cấu tạo từ

Trong qua trình khảo sát về phương thức cấu tạo từ trong các bài hát chầu văn, chúng tôi nhận thấy rằng: những từ đơn xuất hiện nhiều nhất và là vốn từ cơ bản của ngôn ngữ mà các tác giả ưa sử dụng Điều này cũng cho thấy tình hình chung của ngôn ngữ dân tộc và trong đó từ đơn là vốn từ cơ bản của từ vựng tiếng Việt Đồng thời, với một thể loại âm nhạc đòi hỏi tiết tấu rõ ràng, từ đơn đóng vai trò rất quan trọng

Sau đây là bảng số liệu về từ đơn và từ ghép mà chúng tôi đã thống kê qua các bước khảo sát trên các văn bản chầu văn

Trang 35

2.1.1 Từ đơn

Qua bảng số liệu ở trên đã cho chúng ta đi đến kết luận là: những từ đơn là vốn từ cơ bản mà các tác giả chầu văn sử dụng Việc sử dụng từ đơn với số lượng nhiều và tần số lớn đã phản ánh tình hình chung của ngôn ngữ dân tộc và trong đó từ đơn vốn là từ cơ bản trong từ vựng tiếng Việt Bảng số liệu cũng cho chúng ta thấy, trong các bài hát chầu văn, từ đơn có tỷ lệ cao (chiếm 68,2% )

Một số từ đơn được sử dụng với tần suất cao như: yêu, thương, giận,

ghen, ghét,cô, bà, ông, cười, nhìn, ăn, uống, cây, đầu,mặt, cổ, tay

Bên cạnh đó, các từ đơn xuất hiện với tần suất cao khác là:

+Các từ đơn chỉ danh xưng như: Thánh, Phật, Ngài, Mẫu, Trời, Hoàng,

Thiên

+Các từ đơn là động từ chỉ hoạt động nói năng như: nguyền, cầu, niệm,

khấn, tung, tâu, chúc, thỉnh, phò, độ

+Các từ đơn dùng để biểu đạt các địa điểm sinh hoạt,về cuộc sống các

đấng thánh thần: miếu, phủ, đền, lầu, gác, tía

Như vậy, từ đơn xuất hiện đều trong khắp các bài hát chầu văn Ngoài những đặc điểm về nghĩa, vai trò của từ đơn rất quan trọng đối với ca từ chầu văn, không chỉ với tư cách là một từ có khả năng hoạt động độc lập, mà còn

có chức năng làm chuẩn cho các loại nhịp ở các thể điệu Sự quan trọng của

nó gần như bao hàm một chức năng tổng hợp của một đơn vị ca từ, vừa thực hiện chức năng môt đơn vị của ngôn ngữ, lại vừa hiện thực hóa một đơn vị ca

từ trong cấu trúc các thể điệu của âm nhạc chầu văn

2.1.2 Từ ghép

Trong khi đó số lượng các từ ghép có số lượng ít hơn các từ đơn (chiếm 32,4%)

- Từ ghép đẳng lập

Trang 36

Trong các bài hát chầu văn, từ ghép đẳng lập xuất hiện với tỉ lệ khá cao Chúng tôi đã thống kê và nhận thấy từ ghép trong các bài hát chầu văn có thể được phân loại sau:

+ Từ ghép gộp nghĩa: Phương thức cấu tạo của từ ghép mang nghĩa tổng hợp là các từ có nghĩa riêng để tạo thành một nghĩa chung Chúng tôi tìm

thấy một số từ ghép mang nghĩa tổng hợp như: thuận hòa, dân quan, lan quế,

trần thế, trúc mai

+ Từ ghép lặp nghĩa: hay còn gọi là ghép trùng ý nghĩa là nghĩa của các

từ tố đều trùng ứng với nhau và trùng ứng với nghĩa của cả từ ghép Thực chất, ghép lặp nghĩa là một kiểu từ ghép đơn nghĩa nhưng được cấu tạo theo cách dùng các yếu tố trùng lặp về nghĩa Từ ghép lặp nghĩa trong các bài hát

chầu văn cũng chiếm một số lượng khá lớn: oán thù, đày đọa, ứng hiện, từ bi,

uy nghi, thành thị, thịnh vượng, linh hồn

+ Từ ghép đơn nghĩa: là những từ ghép mà các từ tố trong đó có nghĩa khác nhau nhưng chỉ có nghĩa của một từ tố phản nghĩa của toàn từ ghép, nghĩa của yếu tố còn lại chỉ hỗ trợ cho nghĩa của yếu tố kia nhằm tạo ra nghĩa ngữ pháp tổng hợp chung cho từ Nếu không có yếu tố còn lại thì nghĩa của yếu tố kia vẫn đại diện cho nghĩa của từ ghép Trong các bài hát chầu văn,

chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy có những từ ghép loại này: oan khiên, an

khương, sắc phong, du ngoạn

+ Từ ghép chuyển nghĩa: là những từ ghép dựa trên tầng nghĩa ban đầu

để tạo ra tầng nghĩa thứ hai, gọi là tầng nghĩa thứ cấp hay nghĩa chuyển Ví

dụ: lâu đài (nghĩa nguyên cấp là nhà với kiến trúc và cảnh quan đẹp), trong câu “Có phen dạo cảnh lâu đài/ Dương đình phất phới chư tiên đứng hầu”

nghĩa chuyển tương đương cảnh giàu sang, đẹp đẽ ở chốn Bồng lai tiên cảnh

Từ ngàn thu (nghĩa nguyên cấp là thời gian dài, một ngàn thu) nghĩa chuyển

tương đương với “chết” trong câu “Dưới suối vàng an giấc ngàn thu”

Trang 37

Ví dụ từ: “bia đá” và “biển vàng” trong câu “ Dài lâu ghi tạc can

trường/ Buồn hơn bia đá biển vàng biết bao”

(Văn Cô Đôi Cam Đường) +Trong từ ghép Hán-Việt, vị trí yếu tố chính đứng sau yếu tố phụ

Ví dụ như “ngọc điện”,“tiên cung”, trong các câu:

Ra vào ngọc điện, tiên cung

Danh thơm ngoài cõi tiếng đồn trong cung

(Văn Cô Cả)

Điều này chứng tỏ việc sử dụng từ Hán-Việt trong các bài hát chầu văn

vẫn còn nhiều từ giữ nguyên kết cấu vốn có của từ gốc Hán

2.1.3 Từ láy

Trong số các từ đa tiết của tiếng Việt nói chung, của vốn từ trong các bản văn chầu nói riêng, các từ láy là một bộ phận rất đáng được quan tâm phân tích

Về mặt số lượng, chúng tôi thấy trong các bản văn chầu, số liệu định lượng của các từ láy như sau:

Từ láy là lớp từ có khả năng to lớn trong việc biểu đạt hình tượng, màu sắc lại vừa có khả năng tạo ra tính nhạc do bản chất của từ láy là từ được hình thành dựa trên cơ sở của sự hoà phối ngữ âm Tỉ lệ từ láy trong chầu văn

Trang 38

chiếm 10,5% là tỉ lệ không thấp Có lẽ các tác giả sử dụng từ láy nhiều là để diễn tả hết tâm tình, tình cảm chan chứa trong tim, đồng thời tạo tính nhạc cho lời ca

Chúng tôi đã thống kê những phương thức láy được sử dụng trong các văn bản chầu văn như sau:

-Láy hoàn toàn: đùng đùng, hây hây, đẵng đãng, thay thảy, chăm chăm,

làu làu, đâu đâu, thương thương, thôi thôi, ù ù, muôn muôn, ai ai, ngày ngày,

là là, cong cong, mườn mượt

Cho tươi tốt bằng hoa

Cho tài khéo khéo ai mà dám đang

Có phen biến gái thành trai

Ai thắm thắm ít, ai phai phai nhiều

(Chầu quế văn)

Nét cong cong uốn lượn đường hoa

Xinh xinh để liễu thẫn thờ i i i

Người xinh thì cảnh thác Bờ cũng xinh

(Chúa Thác Bờ)

-Láy phụ âm đầu: náo nức, lấp lánh, tiềm tàng, rõ ràng, thảnh thơi,

phất phơi

-Láy vần: lưa thưa, lao xao

Xét trên bình diện hình thái biểu trưng hóa ngữ âm của từ, chúng ta cũng bắt gặp trong những bài ca chầu văn những từ láy biểu trưng hóa ngữ âm

đơn giản, đó là những từ láy tượng thanh, từ “tiếng vang” như: đùng đùng, ù

ù So với những từ láy tượng thanh, từ láy tượng hình chiếm tỉ lệ lớn hơn,

như: phất phơi, lưa thưa, lấp lánh, hồng hào, hây hây, lồ lộ, rỡ ràng, chói

chói, dập dìu, mơ màng, lẩn quẩn

Thật ưa ngắm đôi tay vòng bạc

Trang 39

Thẳng đường ngôi mườn mượt tóc mây

Da ngà vẻ ngọc hây hây

Môi trầu cắn chỉ vẻ đầy khuôn trăng

Má hây hây sực nức hương bay

Áo lam ngắn vạt rộng tay

Long lanh đáy nước tóc mây hoa cài

Như vây, chúng ta nhận thấy rằng, về mặt cấu tạo từ, những từ láy trong các bài hát chầu văn có đủ các cơ chế láy của từ tiếng Việt Việc xuất hiện của những từ láy, về mặt ngữ âm, tạo nên sự nhịp nhàng cho lời ca

Lô xô đá mọc ngổn ngang mấy tầng

Nước suối chảy rì rầm, róc rách

Cá lượn mình luồn lách dưới khe

Đền Cô cây mọc xum xuê

(Cô Sáu Sơn Trang) Chỉ trong bốn câu hát mà văn chầu đã phác họa lên bức tranh thiên nhiên đầy hình ảnh và âm thanh Bức tranh cảnh trí thiên nhiên trở lên chân thực, sống động hơn như vậy rõ ràng là do những từ láy tham gia biểu thị Văn chương nghệ thuật phản ánh, miêu tả cũng bắt đầu miêu tả từng sự vật, hiện tượng Từ láy là từ biểu thị những đặc điểm cụ thể khác nhau của sự vật, hiện tượng Xét về mặt ý nghĩa, từ láy như là kết quả tất yếu của sự miêu tả của văn học nghệ thuật

Các từ láy không chỉ đem đến cho câu hát tính chân thực, sống động khi phác họa những cảnh trí non sông đất nước, mà nó con thể hiện tính nhạc cho lời ca Tính nhạc của lời ca được thể hiện trong việc sử dụng các từ diễn

tả âm thanh như “rì rầm”, “róc rách”, “lao xao”, “vi vu”, “ríu rít”,”rầu

rĩ”

Trang 40

Đền thờ Chầu Bé thấp cao mấy tầng

Có ngàn có hoa nghiêng mình rủ lá

Bầy chim oanh ríu rít quì tâu

Con chim oanh ríu rít bên lầu

Kìa bầy chim oanh ríu rít bên lầu

Phượng hoàng tung cánh về chầu động tiên

Vượn trên non ru con rầu rĩ

Suối gẩy đàn văng vẳng êm tai

( Văn Chầu Bé)

Rõ ràng các từ láy không chỉ góp phần thêu hoa dệt gấm trên bức họa thiên nhiên đầy cảnh sắc và âm thanh mà còn là trợ thủ đắc lực giúp văn chầu phác họa lên hình tượng những thánh thần – nhân vật trung tâm trong những áng văn chầu Những nhân vật thần linh vốn là không hiện hữu, nay có một vóc dáng thật sống động, tâm hồn và trí tuệ phi thường

“Khăn lam áo lục phất phơ

Cổ đeo kiềng vòng tay mang xuyến bạc

Chầu lục ngẩn ngơ lên ngàn

Nét đoan trang ai người dám đọ

Chầu anh linh đã có tiếng vang

Thung dung cợt khách qua đàng”

(Chầu lục cung lương) Những hình ảnh đẹp đẽ này góp phần làm tăng thêm niềm tin của con người vào thế giới siêu nhiên, họ thấy thần thánh cũng có tâm hồn, biết yêu

thương dân, sống nghĩa hiệp, giúp đỡ người yếu, trừng trị kẻ ác

Có một điều đáng lưu ý là: thông thường theo ngữ pháp tiếng Việt, từ láy đứng sau động từ hoặc danh từ mà nó chỉ định Ví dụ như:

Lau lách xào xạc, gió hiu hiu thổi

Ngày đăng: 29/06/2016, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Viết Á (2000), Ca từ trong âm nhạc Việt Nam, Viện Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca từ trong âm nhạc Việt Nam
Tác giả: Dương Viết Á
Năm: 2000
2. Đào Duy Anh (2001), Từ điển Hán - Việt, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
3. Trần Văn Cơ (2007), Ghi chép và suy nghĩ, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ghi chép và suy nghĩ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2007
4. Trần Văn Cơ (2009), Khảo luận ẩn dụ tri nhận, Nxb Lao động và xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận ẩn dụ tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Lao động và xã hội
Năm: 2009
5. Đỗ Hữu Châu (1997), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 1997
6. Đỗ Hữu Châu (2007), Giáo trình từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
8. Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê
Năm: 1963
9. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dụ
Năm: 2006
10. Trần Lâm Biền, Sơ lược về bước đi của Đạo mẫu trong lịch sử Việt Nam, Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược về bước đi của Đạo mẫu trong lịch sử Việt Nam
11. Trần Lâm Biền (1990), Xung quanh tín ngƣỡng dân dã - Mẫu Liễu và điện thờ, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung quanh tín ngƣỡng dân dã - Mẫu Liễu và điện thờ
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1990
12. Phan Kế Bính, (1974)Việt Nam phong tục, NXB Phong trào Văn hoá, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Nhà XB: NXB Phong trào Văn hoá
13. Chu Xuân Diên (1981), Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian, Tạp chí Văn học, Hà Nội, tr.19-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1981
14. Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
15. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2000
17. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình Ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
18. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
19. Trần Thị Hồng Hạnh (2011) Nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng, Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường ĐH KHXHNV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng
20. Nguyễn Bích Hạnh (2011), Ẩn dụ tri nhận “Con người là cây cỏ” trong ca từ Trịnh Công Sơn, Tạp chí từ điển học và bách khoa thư, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận “Con người là cây cỏ” trong ca từ Trịnh Công Sơn
Tác giả: Nguyễn Bích Hạnh
Năm: 2011
21. Phan Thế Hưng (2007), Ẩn dụ ý niệm, Tạp chí Ngôn ngữ, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm
Tác giả: Phan Thế Hưng
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w