tố nguy cơ trên sản phụ đẻ non tháng tại khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai năm 2014” với các mục tiêu sau:Mục tiêu nghiên cứu: 1.. Mô tả một số yếu tố nguy cơ của mẹ ảnh hưởng đến đẻ non t
Trang 1ĐỖ THỊ HỒNG HẠNH
T×M HIÓU MéT Sè YÕU Tè NGUY C¥
TR£N S¶N PHô §Î NON T¹I KHOA PHô S¶N
BÖNH VIÖN B¹CH MAI N¡M 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2012 – 2016
Người hướng dẫn khoa học:
TS LƯU TUYẾT MINH
HÀ NỘI – 2016
Trang 2Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, bạn bè và gia đình.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được gửi lời cảm ơn tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại Học Y Hà Nội, phòng Quản lý đào tạo Đại Học, phòng Quản lý Nghiên cứu Khoa học
Ban Giám đốc và Phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Bạch Mai
Chủ nhiệm khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai, Điều dưỡng trưởng khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai
Khoa Điều dưỡng – hộ sinh cùng các thầy cô trong bộ môn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Đặc biệt, với tất cả sự kính trọng tôi xin chân thành bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Lưu Tuyết Minh, người đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn cho tôi
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn đến bố mẹ tôi – những người dù không trực tiếp bên tôi nhưng luôn động viên tôi, những người bạn đã giúp đỡ, chia sẻ khó khăn với tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Đỗ Thị Hồng Hạnh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội.
- Phòng Quản lý Đào tạo Đại học, phòng Công tác học sinh – sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội.
- Khoa Điều dưỡng – hộ sinh Trường Đại học Y Hà Nội.
- Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp năm 2015 – 2016.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp tiến hành dưới sự hướng dẫn của TS Lưu Tuyết Minh Các số liệu kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học, khóa luận hay tài liệu tham khảo nào
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Đỗ Thị Hồng Hạnh
Trang 5OR : Odd ratio (tỷ suất chênh)
WHO : World Health Organization (tổ chức y tế thế giới)
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Dọa đẻ non và đẻ non là một vấn đề lớn của sản khoa và luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt ở nước ta cũng như trên thế giới Trẻ sơ sinh non tháng có nguy cơ mắc bệnh và tử vong cao hơn nhiều so với trẻ sơ sinh đủ tháng [1].Theo thống kê, tỷ lệ đẻ non tại Pháp là 6,3% và tại Mỹ là 12,5% Tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ năm 1998 đến năm 2000 tỷ lệ ĐN là 20%
Tỷ lệ tử vong của trẻ đẻ non rất cao, theo Silva thì tỷ lệ tử vong chu sinh của
đẻ non ở Canada và Mỹ là 75% Tại Việt Nam, năm 2002 có khoảng 180 nghìn sơ sinh non tháng trên tổng số gần 1,6 triệu sơ sinh chào đời, 1/5 số các trẻ sơ sinh non tháng này tử vong [2]
Hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển kinh tế, tỷ
lệ đẻ non có giảm xuống Với mỗi trẻ sơ sinh non tháng, để có thể nuôi sống được phải tốn rất nhiều tiền của và công sức Không những vậy, những trẻ non tháng còn có nguy cơ cao để lại di chứng, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội [3]
Giảm thiểu tỉ lệ đẻ non hiện đang là một thách thức và phải thực hiện thành một quá trình Vì vậy làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, đảm bảo cho những đứa trẻ không bị đẻ ra trước thời hạn là một mắt xích quan trọng Để thực hiện được điều này, chúng ta cần phải phát hiện và xử trí sớm những phụ nữ có nguy cơ đẻ non cao Đã có nghiên cứu về vấn đề này tại một
số bệnh viện như Bệnh viện Phụ sản Trung Ương, Phụ sản Hà Nội, Phụ sản Hải phòng , tuy nhiên khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai chưa có nghiên cứu
cụ thể Đứng trước tình hình đó tôi đã thực hiện đề tài “Tìm hiểu một số yếu
Trang 8tố nguy cơ trên sản phụ đẻ non tháng tại khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai năm 2014” với các mục tiêu sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Tìm hiểu tình hình đẻ non tại khoa Phụ sản BVBM năm 2014.
2 Mô tả một số yếu tố nguy cơ của mẹ ảnh hưởng đến đẻ non tháng tại khoa Phụ sản BVBM năm 2014.
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Ngày nay nhờ sự phát triển của nền y học hiện đại, khả năng chăm sóc
và nuôi dưỡng những trẻ non tháng được cải thiện, khái niệm về đẻ non đã thay đổi nhiều Theo tài liệu hướng dẫn chuẩn đoán và điều trị các bệnh phụ khoa do Bộ y tế ban hành năm 2015: đẻ non là cuộc chuyển dạ diễn ra từ tuần thứ 22 đến tuần 37 của thai kì tính theo kinh cuối cùng [6]
là 12% trong khi các nước có thu nhập cao hơn mức trung bình là 9%
Trang 10Cũng tại nghiên cứu của Godenberg R.L và cộng sự, trong số trẻ sơ sinh non tháng có 5% trẻ nhỏ hơn 28 tuần, 15% từ 28 – 31 tuần, 20% từ 32 –
33 tuần và 60 – 70% từ 34 – 36 tuần [7]
Tại Pháp: tỉ lệ ĐN năm 1972 là 8,2% và năm 1981 giảm xuống còn 5,6% do làm tốt công tác dự phòng [8]
Theo Blencowe H và cộng sự (2010) cho thấy 3 nước có số lượng trẻ
đẻ non cao nhất thế giới: Ấn Độ (35191000 trẻ), Trung Quốc (1172300 trẻ) và Nigeria (773600 trẻ) [9]
Tại Việt Nam, chưa có thống kê trên toàn quốc, nhưng theo những nghiên cứu đơn lẻ, tỷ lệ ĐN khoảng 8 – 10% [6] Theo nghiên cứu gần đây tại BVPSTW của Nguyễn Tiến Lâm [10], tỷ lệ đẻ non so với tổng số đẻ năm
2009 là 10,9%, tỉ lệ ĐN tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2013 là 3,6% trong đó cao nhất ở tuổi thai 34 – 36 tuần chiếm 53,7% [11]
Khoa Phụ sản BVBM chưa tìm được thống kê
1.3 CƠ CHẾ BỆNH SINH CHUYỂN DẠ ĐẺ NON.
Cơ chế bệnh sinh của chuyển dạ đẻ non rất phức tạp, cho tới nay chưa
có một cơ chế nào giải thích một cách tường tận Có nhiều giả thuyết được đưa ra, trong đó một số giả thuyết hay được nhắc đến là:
Thuyết cơ học
Trong lâm sàng chúng ta thấy các trường hợp đa ối, đặc biệt là đa ối cấp, đa thai và phá thai to bằng phương pháp đặt túi nước là các thí dụ cho sự căng dãn quá mức gây chuyển dạ đẻ [12]
Thuyết estrogen và progesteron
Trong quá trình thai nghén, estrogen và progesteron tăng dần theo tuổi thai với một tỷ lệ nhất định Progesteron giảm đột ngột trước khi chuyển dạ vài ngày làm thay đổi tỷ lệ giữa estrogen và progesteron và điều này được coi
Trang 11như là nguyên nhân làm cho thức tỉnh của tử cung tăng lên, cơ tử cung dễ đáp ứng với các kích thích gây co và phát sinh chuyển dạ [12]
Thuyết prostaglandin(PG)
Prostagandin được tổng hợp ngay tại màng tế bào, đó là những acid béo không bão hòa và là dẫn xuất của acid protanoic [13] Người ta có thể gây chuyển dạ bằng cách tiêm Prostagandin dù có thai ở bất kỳ tuổi nào [12]
Thuyết thần kinh
Tử cung là một cơ quan chịu sự chi phối của hệ thần kinh thực vật, hệ thần kinh tự động, cơ tử cung giống như cơ tim và nó có thể tự hoạt động điều khiển cơn co của nó
Chuyển dạ đẻ non có thể phát sinh các phản xạ thần kinh sau những kích thích trực tiếp hoặc gián tiếp đặc biệt là stress hoặc tâm lý [14]
Thuyết nhiễm khuẩn
Các sản phẩm của sự nhiễm khuẩn có thể kích thích các tế bào sản xuất các prostaglandin từ các phospholipid A2 (các chất này có trong lyzoxom, màng prostaglandin) và gây chuyển dạ
Các phản ứng viêm tại chỗ sẽ sinh ra các enzym như protease, mucinase, collagenase,… các enzym này tác động lên mô liên kết làm suy yếu chúng, từ đó gây rỉ ối, vỡ ối, xóa mở cổ tử cung và gây chuyển dạ [14]
Vai trò oxytocin
Oxytocin là một hormon do vùng dưới đồi bài tiết, được các sợi thần kinh dẫn xuống tích tũy ở thùy sau tuyến yên và có tác dụng co cơ tử cung [15] Người ta đã xác định được có sự tăng tiết oxytocin ở người mẹ trong chuyển dạ đẻ [12] Mức oxytocin ở máu mẹ tăng ít ở giai đoạn một của chuyển dạ và nó tăng cao ở giai đoạn hai và sau khi sổ thai Mặt khác, nó cũng không có mặt ở những chỗ nối của tế bào tử cung [14] Số lượng
Trang 12receptor tiếp nhận oxytocin trong cơ tử cung tăng dần theo tuổi thai làm cho cơ tử cung càng về cuối thai kỳ càng nhạy cảm với oxytocin [15].
1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRẺ SƠ SINH NON THÁNG
Tất cả trẻ sơ sinh non tháng đều có biểu hiện ít nhiều thiếu sót về sự trưởng thành của các hệ thống trong cơ thể cả về mặt hình thái và chức năng [16]
1.4.1 Hô hấp
Hoạt động hô hấp kém hơn so với trẻ bình thường đặc biệt là đối với những trẻ có tuổi thai dưới 34 tuần [17],[18]
1.4.2 Tuần hoàn
Tim to tròn, còn ống động mạch (ống Botal) và lỗ Botal đóng chậm sau
đẻ vài tuần Thành mạch chưa phát triển, dễ vỡ, dễ thoát quản, dễ phù Các tế bào máu và các yếu tố đông máu đều giảm về cả số lượng và chất lượng Hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu giảm, các yếu tố đông máu như sinh sợi huyết, plasminogen… Đặc biệt là prothrombin giảm nhiều (15 – 20%); các vitamin đều thiếu: A, D, E, K [16]
1.4.3 Về thần kinh
Thần kinh của trẻ ĐN chưa phát triển hoàn thiện.Thần kinh vỏ não chưa hoạt động, mọi sự hoạt động phụ thuộc chủ yếu vào thần kinh thực vật, các phản xạ bẩm sinh yếu hoặc chưa rõ Mạch máu não dễ bị tổn thương hay xuất huyết, trẻ bị suy dinh dưỡng sớm sẽ dễ để lại những di chứng sau này [16]
Một số cơ quan bộ phận khác chưa phát triển hoàn thiện nên chưa thực hiện được chức năng đầy đủ Trẻ ĐN có diện tích da mỏng, lớp mỡ dưới da phân bố không đều, diện tích da trên cân nặng thấp; hoạt động nội tiết của các tuyến: tuyến yên, tuyến giáp, tuyến phó giáp trạng, tuyến thượng thận… chưa đồng bộ; hệ tiêu hóa kém phát triển, men tiêu hóa ít, phản xạ bú kém nên khả năng tiêu hóa kém, khả năng miễn dịch kém [16]
Trang 131.5 HẬU QUẢ CỦA ĐN Ở TRẺ SƠ SINH
1.5.1 Một số bệnh thường gặp trên trẻ sơ sinh đẻ non
Theo Nguyễn Văn Phong tỉ lệ mắc bệnh của trẻ sinh non tháng là 59,8% so với tổng số trẻ sơ sinh non tháng, trong khi đó trẻ sơ sinh đủ tháng chỉ có 4,7% nguy cơ mắc bệnh của trẻ non tháng cao gấp 12,8 lần so với trẻ đủ tháng [19]
Nhiễm khuẩn
Do chức năng miễn dịch kém nên trẻ ĐN sẽ bị các bệnh nhiễm khuẩn như viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, nhất là viêm ruột hoại tử [20]
Theo Đậu Quang Liêu trong 84 trẻ sơ sinh non tháng nhập viện có tới
75 trường hợp có biểu hiện nhiễm khuẩn bao gồm: nhiễm khuẩn huyết, viêm phế quản phổi, viêm ruột hoại tử …[21]
Theo Phạm Bá Nha tỉ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh trong nhóm ĐN cao hơn không ĐN với độ tin cậy > 99,99% [23]
Xuất huyết
Tình trạng xuất huyết có thể biểu hiện ở nhiều cơ quan như: mắt, dạ dày, phổi… nặng nhất là xuất huyết não, màng não [16],[20], nguy cơ xuất huyết thường gặp trên trẻ ĐN sau can thiệp thủ thuật
Rối loạn chuyển hóa
Hạ đường huyết, hạ canxi huyết hay gặp trên trẻ sơ sinh ĐN [20],[22]
Nhẹ cân
Trang 14Trẻ ĐN thường có cân nặng thấp, theo Nguyễn Văn Phong cân nặng trung bình trẻ ĐN là 2100 ± 326g [17], theo Trần Quang Hiệp 95,84% trẻ ĐN
có cân nặng dưới 2500g [24]
Ngoài ra theo An Johnson và cộng sự trẻ ĐN không những có nguy cơ mắc bệnh và tử vong cao mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực và trí tuệ của trẻ sau này Tác giả đã theo dõi 153 trẻ ĐN đến 4 tuổi thấy 54 trẻ (35%) phát triển bình thường, số còn lại là 16 – 30% có di chứng thần kinh nặng [25]
1.5.2 Tình hình tử vong của trẻ sơ sinh non tháng
Một thế kỷ trước đây, ngay cả ở châu Âu, trẻ đẻ non không có cơ hội để sống Từ năm 1990, Boudin ở pháp là người đầu tiên chứng minh rằng trẻ ĐN
có thể cứu sống được với ba điều kiện là: giữ ấm, dinh dưỡng và vệ sinh sạch
sẽ [18] Tỷ lệ tử vong và tàn tật của trẻ ĐN (do tổn thương thần kinh) tỷ lệ nghịch với tuổi thai [26]
Theo thống kê của Epipage (Pháp 1997), Epicure (Anh 1996) tỷ lệ sống của trẻ đẻ non từ 30 tuần đến 33 tuần tuổi là 80%, đối với trẻ rất non từ 23 tuần đến 25 tuần chỉ có 17% sống sót [26]
Trẻ đẻ non có nguy cơ cao bị di chứng thần kinh với tỷ lệ 1/3 trước tuần 32, từ 32 – 35 tuần tỷ lệ di chứng thần kinh là 1/5, giảm xuống 1/10 sau tuần 35 [6]
1.6 NGUYÊN NHÂN ĐN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA MẸ
Hiện tại, nguyên nhân ĐN vẫn chưa được tìm hiểu tường tận mặc dù đã
có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Nguyên nhân và một số yếu tố nguy cơ được cho rằng gây ĐN thường được
đề cập đến bao gồm:
Trang 15Tuổi mẹ: tuổi mẹ không phải là nguyên nhân đẻ non Tuy nhiên ở nhiều
nghiên cứu người ta thấy rằng đối với những bà mẹ quá trẻ dưới 20 hoặc quá lớn tuổi trên 35 tuổi thì nguy cơ ĐN tăng lên [4],[27]
Tình trạng kinh tế xã hội: những phụ nữ có điều kiện kinh tế thấp, lao
động nặng có nguy cơ ĐN cao hơn những phụ nữ có điều kiện kinh tế khá giả, lao động nhẹ Những người lao động chân tay cao gấp 2,3 lần so với những người lao động văn phòng Những người làm chân tay có cường độ làm việc trên 40 giờ mỗi tuần có nguy cơ ĐN cao gấp 3,6 lần so với những người có giờ lao động ít hơn [23],[28]
Thói quen thuốc lá và lạm dụng thuốc lá: việc sử dụng thuốc lá,
cocaine, và quá nhiều rượu trong khi mang thai làm tăng nguy cơ sinh non [29] Một phân tích trên sản phụ tại Thụy Điển chứng minh rằng hút thuốc (≥10 điếu thuốc mỗi ngày; odds ratio 1.7) liên quan với tăng nguy cơ sinh non [30]
Tiền sử sản khoa: những phụ nữ có tiền sử ĐN, sẩy thai, sẹo mổ cũ ở
tử cung thì nguy cơ ĐN ở lần mang thai tiếp theo cao hơn Những phụ nữ có tiền sử sinh non thì nguy cơ tái phát 25 – 50%, nguy cơ này tăng nhiều hơn nếu có nhiều lần sinh trước đó [31]
Theo Trần Quang Hiệp, phụ nữ có tiền sử ĐN một lần thì nguy cơ ĐN tăng gấp 2,34 lần so với những người không có tiền sử đẻ non [24] Theo Simson thì nguy cơ ĐN ở những lần tiếp theo là 1,84 lần ở những phụ nữ đã
có tiền sử đẻ non
Tình trạng bệnh lí khi mẹ mang thai: nguy cơ ĐN tăng lên ở một số
bệnh lí mẹ trong quá trình mang thai trên cả hai phương diện do chính bệnh lí gây ra
Trang 16Bệnh lí toàn thân:
Các bệnh lí gây sốt như nhiễm virus, vi khuẩn, kí sinh trùng… dễ kích thích tử cung gây co bóp do sự tăng cao của prostaglandin [31] Ngoài ra tử cung bị kích thích do viêm nhiễm tại chỗ như ruột thừa, abcess thành bụng…
Sang chấn trực tiếp hay gián cũng tiếp có nguy cơ gây ĐN Khi thai phụ bị ngã, bị tác động trực tiếp lên vùng bụng dễ bị rau bong non, những tác động phẫu thuật vùng bụng cũng dễ kích thích gây cơn co tử cung [4]
Những bệnh nội khoa mạn tính hay những bệnh do thai nghén gây ra như tăng huyết áp, tiền sản giật, bệnh lí tim mạch, thiếu máu cũng gây ra nguy cơ ĐN do những bất ổn của mẹ hoặc những bất ổn của thai do những bệnh lí này cũng là nguyên nhân chính buộc bác sĩ phải chấm dứt thai kì sớm hơn [29]
Tại Đức, ví dụ, mỗi năm có hơn 20.000 trẻ sơ sinh được sinh ra sớm do tiền sản giật
Các bệnh lí về hệ thống miễn dịch, đặc biệt như hội chứng khác thể kháng phospholipid, bệnh lupus ban đỏ hệ thống…[31]
Bệnh lí tại chỗ [30]
Tử cung dị dạng bẩm sinh chiếm 5% trong đẻ non Nếu có nguyên nhân này thì nguy cơ đẻ non là 40% Các dị dạng thường gặp: tử cung hai sừng, tử cung kém phát triển…
Bất thường mắc phải ở tử cung: dính buồng tử cung, u xơ tử cung, tử cung có sẹo…
Hở eo tử cung: 100% đẻ non nếu không được điều trị
Can thiệp phẫu thuật tại cổ tử cung như khoét chóp viêm nhiễm âm đạo, cổ tử cung cũng là nguyên nhân gây đẻ non
Ngoài những nguyên nhân, yếu tố nguy cơ gây đẻ non của mẹ Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ gây đẻ non ở thai nhi, phần phụ của thai
Trang 17Không rõ nguyên nhân: Có rất nhiều các trường hợp ĐN không rõ nguyên nhân cho dù đã có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu về nguyên nhân ĐN
đã được tiến hành Đây cũng chính là lí do mà công tác phòng chống ĐN hiện nay vẫn còn là một vấn đề hết sức nan giải
1.7 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
1.7.1 Một số nghiên cứu trong nước
Theo Bùi Thị Thúy [27]: mẹ làm ruộng, nghề khác có OR 6,9 và 2,38 lần so với cán bộ, viên chức Mẹ ở miền núi, đồng bằng có nguy cơ ĐN tăng 2,6 và 2,16 lần so với mẹ ở thành phố, thị xã Mẹ không có tiền sử ĐN có nguy cơ ĐN ở những lần tiếp theo 4,02 lần so với mẹ không có tiền sử đẻ non Trong quá trình mang thai không khám thai, nguy cơ ĐN cao gấp 4,2 lần
so với mẹ có khám thai
Theo Nguyễn Văn Phong [17]: nhóm mẹ là công nhân và nông dân chiếm tỷ lệ cao nhơn so với nhóm mẹ công chức văn phòng (OR = 1,22 và 2,10), mẹ bị tiền sản giật, sản giật các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân, tim có tỷ
lệ ĐN cao hơn so với nhóm mẹ không bị bệnh (OR = 4,5 và 1,12 và 1,28)
Theo Nguyễn Tiến Lâm [10] nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2009: nông dân, ở nông thôn nguy cơ đẻ non cao hơn cán bộ công chức, ở thành phố 2,24 lần Mẹ có tiền sử sẩy thai, đẻ non có nguy cơ đẻ non cao gấp 2,82 lần Mẹ không được khám và quản lý thai nghén có nguy cơ đẻ non cao gấp 6,96 lần Bệnh toàn thân, cao huyết áp, tiền sản giật, rau tiền đạo…làm tăng nguy cơ đẻ non
1.7.2 Một số nghiên cứu trên thế giới
Gustaaf Albert Dekker nghiên cứu về nguy cơ gây ĐN Nghiên cứu này cho rằng hút thuốc gây tăng nguy cơ đẻ non với tỷ lệ mẹ hút thuốc trong nhóm đẻ non cao nhất 22,9% so với 10,6% ở trẻ không đẻ non; p 0.00, tiền sử
mẹ đẻ trẻ sơ sinh cân nặng sơ sinh thấp là yếu tố nguy cơ lớn nhất, tăng gấp 5
Trang 18lần, mẹ mắc đái tháo đường nguy cơ đẻ non tăng gấp đôi, mẹ bị tăng huyết áp, tiền sản giật tăng nguy cơ đẻ non 9,65 (95% CI 2,5 – 37,1) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mẹ có tiền sử sẩy thai một lần làm giảm nguy cơ đẻ non tuy nhiên chưa giải thích được [32].
Theo Henderson JJ và cộng sự cho thấy đẻ non do một số nguyên nhân như hỗ trợ y tế không kịp thời, mẹ lớn tuổi, mẹ hút thuốc lá [33]
JR Cook, S Jarvis, M Knight và cộng sự (2013), nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng phụ nữ trong nhóm có sẹo mổ tử cung có nhiều khả năng sinh non, 24% sinh trước 37 tuần [34]
Trang 19CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu được chọn là những bệnh án sản phụ đẻ non có tuổi thai từ 22 đến 37 tuần tuổi, tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng hoặc kết quả siêu âm quý đầu của thai kỳ
Nhóm sản phụ đẻ non
Những bệnh án sản phụ đẻ non tại khoa Phụ sản BVBM với các điều kiện:
- Những hồ sơ bệnh án có tuổi thai từ 22 đến hết 37 tuần tính từ ngày đầu kì kinh cuối cùng hoặc có dự kiến sinh theo siêu âm trong quý đầu thai kỳ
- Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin cần thiết theo yêu cầu của nghiên cứu
- Thai sống
Nhóm bệnh án sản phụ không đẻ non
Những bệnh án sản phụ đẻ đủ tháng tại khoa Phụ sản BVBM với các điều kiện:
- Hồ sơ bệnh án có tuổi thai từ 38 tuần trở lên (loại trừ thai già tháng)
- Nhớ chính xác ngày đầu tiền kỳ kinh cuối cùng hoặc có siêu âm sớm trong quý đầu thai kỳ
- Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin cần thiết theo yêu cầu của nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ cho cả hai đối tượng.
- Không nhớ chính xác ngày đầu kỳ kinh cuối cùng hoặc không có siêu
âm sớm xác định tuổi thai
- Những trường hợp đình chỉ thai nghén do thai dị dạng, thai chết hoặc
do các lí do xã hội
- Những hồ sơ bệnh án không được ghi chép đầy đủ các dữ kiện cần thiết của yêu cầu nghiên cứu
Trang 20- Những trường hợp ĐN từ nơi khác chuyển đến và không ghi rõ cách thức đẻ.
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 1 tháng 1 năm 2016 đến 31 tháng 4 năm 2016, bệnh án nghiên cứu có thời gian vào viện từ 1 tháng 1 năm 2014 đến 31 tháng 12 năm 2014
Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Phụ sản BVBM
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang có so sánh dựa trên thông tin, dữ liệu thu thập thông tin từ bệnh án sản phụ ĐN tại khoa Phụ sản BVBM
2.2.2 Mẫu nghiên cứu
• Cỡ mẫu: mẫu toàn bộ sản phụ ĐN trong năm 2014
• Nhóm so sánh: để nghiên cứu được ý nghĩa hơn, tôi chọn nhóm không đẻ non để so sánh Bệnh án nhóm không đẻ non được chọn liên tục theo thời gian các sản phụ đẻ trong năm, với mỗi bệnh án đẻ non được chọn, chọn một bệnh án nhóm không đẻ non tương ứng Số lượng bệnh án nhóm so sánh bằng với nhóm ĐN
2.2.3 Biến số và chỉ số
Nghiên cứu sẽ tập trung vào các vấn đề sau:
1 Tình hình ĐN tại khoa Phụ sản BVBM từ tháng 1 năm 2014 đến tháng
12 năm 2014
• Số trẻ ĐN trên tổng số sản phụ đến đẻ tại khoa Phụ sản BVBM
• Tỷ lệ trẻ ĐN theo nhóm tuổi thai
• Cân nặng trẻ đẻ non tháng theo nhóm tuổi thai
• Điểm Apgar trẻ đẻ non tháng sau sinh 1 phút và 5 phút
Trang 212 Một số yếu tố nguy cơ của mẹ liên quan đến ĐN
• Tuổi mẹ: tính theo dương lịch
• Nghề nghiệp của sản phụ: phân ra các nhóm nghề nông dân, cán bộ nhà nước, công nhân, nghề khác (nội trợ, bán hàng )
• Nơi ở của sản phụ: chia thành 3 khu vực nội thành Hà Nội, ngoại thành
2.2.4 Kĩ thuật và công cụ thu thập thông tin
Kĩ thuật: Thu thập số liệu sử dụng thông tin có sẵn trong bệnh án mẫu
nghiên cứu.
Công cụ: Bệnh án mẫu.
2.2.5 Hạn chế sai số trong nghiên cứu
2.2.5.1 Sai số trong nghiên cứu.
- Sai số do người thu thập thông tin: thu thập thiếu thông tin, nhầm thông tin
- Sai số do đối tượng nghiên cứu: những thông tin trong bệnh án có thể ghi không chính xác, đối tượng không nhớ rõ thông tin
- Sai số do quá trình nhập và xử lý số liệu
2.2.5.2 Cách khắc phục sai số.
- Chuẩn bị đầy đủ thông tin, biến số cần thiết
- Chọn lọc những bệnh án không ghi đủ thông tin, mâu thuẫn thông tin ghi trong bệnh án
Trang 22- Nhập số liệu ít nhất hai lần để tránh sai sót do nhập liệu, kiểm tra tính logic của số liệu (mẹ đẻ con so thì không thể có tiền sử đẻ non…)
2.2.6 Quản lí, xử lí và phân tích số liệu
Các số liệu thu thập được ghi vào phiếu nghiên cứu, được xử lí theo phương pháp toán thống kê y học bằng máy vi tính với chương trình SPSS 20.0, STATA 12.0
Tần suất và tỷ lệ phần trăm cho các biến định tính
Sử dụng phương pháp thống kê tính tần số, tỉ lệ phần trăm %
Kiểm định khi bình phương để xác định mức độ khác nhau có ý nghĩa khi so sánh hai tỉ lệ
Kiểm định chính xác Fisher được sử dụng trong trường hợp phép kiểm định khi bình phương có hơn 20% ô có tần số mong đợi nhỏ hơn 5
Sử sụng phương pháp tính OR khi phân tích một số yếu tố liên quan
2.2.7 Đạo đức nghiên cứu
Đây là nghiên cứu với phương pháp hồi cứu mô tả cắt ngang dựa trên các số liệu có từ bệnh án và thu thập được bằng bộ câu hỏi Mỗi số liệu được
mã hóa thành một mã riêng Những số liệu trên được giữ bí mật nên không ảnh hưởng đến bệnh nhân
Thông tin thu thập được đảm bảo tính trung thực, khách quan
Các kết quả nghiên cứu sẽ được thông báo cho cơ sở nơi tiến hành nghiên cứu và có những khuyến nghị thích hợp
Trang 23CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học.
Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi, nơi cư trú, nghề nghiệp của mẹ.
• 13,7% sản phụ nhóm đẻ non và 4,1% nhóm không đẻ non có mẹ ≥ 35 tuổi
• Trong nhóm ĐN: sản phụ ở nội thành Hà Nội chiếm tỷ lệ lớn nhất 46,7%, ngoại thành Hà Nội chiếm 24,4% và các tỉnh thành khác chiếm 28,9%
• Trong nhóm đẻ non: nhóm nghề công chức, viên chức chiếm tỉ lệ cao nhất 55,3%; nhóm nông dân, công nhân chiếm tỉ lệ thâp nhất 12,2%