Tuy nhiên, quá trình xây dựng chính sách hiện nay còn chưa đảm bảođầy đủ thông tin và bằng chứng khoa học chắc chắn; tác động của các chínhsách đổi mới trong y tế đối với công bằng trong
Trang 1Ban Lãnh đạo Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, Phòng quản
lý đào tạo Trường Đại học Y Hà Nội, Phòng Đào tạo Viện đào tạo Y học dựphòng và Y tế công cộng, Bộ môn Kinh tế y tế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu để em có thể hoàn thànhkhóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, tạo điều kiện của Trung tâm y tếhuyện Quốc Oai và sự tham gia nhiệt tình, trách nhiệm của nhóm điều traviên là các cộng tác viên y tế và nhân viên y tế huyện Quốc Oai
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc của người học trò, em xinbày tỏ lòng biết ơn tới PGS Hoàng Văn Minh – người Thầy kính mến đã dạy
dỗ, tận tình chỉ bảo, định hướng và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị nhân viên của Trung tâm nghiêncứu Sức khỏe cộng đồng trường đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ em rấtnhiều trong quá trình hoàn thành khóa luận này
Và cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn
bè đã luôn bên cạnh dành cho em mọi sự động viên, khích lệ và hỗ trợ để emvượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu
Hà nội, ngày 6 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Ngô Thị Tâm
Trang 2• Phòng Quản lý Đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội
• Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
• Phòng Đào tạo, Nghiên cứu khoa học Viện Đào tạo Y học dự phòng và
Y tế công cộng
• Bộ môn Kinh tế y tế Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
• Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu,cách xử lý, phân tích số liệu là hoàn toàn trung thực và khách quan Các kếtquả nghiên cứu này chưa được công bố ở trong bất kỳ tài liệu nào
Nếu có sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà nội, ngày 06 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Ngô Thị Tâm
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nước ta đã và đangđạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên, vẫn tồn tại những bất cập vàyếu kém Hệ thống y tế còn chậm đổi mới; chất lượng dịch vụ y tế vẫn chưađáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân; điều kiện chăm sóc y tếcho người nghèo, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn…[1] Cải thiện hiệuquả của các chính sách y tế là mấu chốt của việc giải quyết những thách thứctrên Tuy nhiên, quá trình xây dựng chính sách hiện nay còn chưa đảm bảođầy đủ thông tin và bằng chứng khoa học chắc chắn; tác động của các chínhsách đổi mới trong y tế đối với công bằng trong khám chữa bệnh, sự thay đổihành vi của người cung ứng dịch vụ y tế và người sử dụng dịch vụ y tế, chấtlượng dịch vụ y tế cũng chưa được dự báo, nghiên cứu đầy đủ Chúng ta vẫncòn thiếu sự phối hợp cần thiết giữa những nhà nghiên cứu và nhà xây dựngchính sách [2]
Ngày nay, nhu cầu dịch vụ y tế hiện tăng lên đáng kể không chỉ do giàhóa dân số, các bệnh không truyền nhiễm và tai nạn, mà còn do dân trí đượccải thiện, điều kiện sống tốt hơn đòi hỏi dịch vụ y tế tốt hơn và tiện nghi hơn[3] Năm 2010 Việt Nam có khoảng 800 phòng khám đa khoa, 10700 trạm y
tế phường xã và 35000 phòng khám tư nhân; trong đó 1110 bệnh viện công
và 110 bệnh viện tư nhân Tỷ lệ giường bệnh công trên một vạn dân là 20,công suất sử dụng lên tới 120% [3] Trong 10 năm từ 2002 tới 2012, tỷ lệ sửdụng các dịch vụ y tế tăng từ 18,9% lên tới 39,2% [4] Mặc dù vậy, tự điều trịkhi có bệnh tật hay thương tích vẫn là một hành vi khá phổ biến ở nước ta.Một nghiên cứu chỉ ra có tới 37,5% người dân Hà Nội tự điều trị bệnh tật ởnhà mà không qua thăm khám bởi cán bộ y tế [5] Một nghiên cứu khác lạicho thấy, bệnh viện tuyến trên (tuyến trung ương và tuyến tỉnh/thành phố)
Trang 7được người dân ưu tiên lựa chọn khi điều trị nội trú, và họ chủ yếu đến cơ sở
y tế tư nhân để điều trị ngoại trú [6]
Huyện Quốc Oai nằm ở phía Tây cách trung tâm thành phố Hà Nộikhoảng 20km, bao gồm 1 thị trấn và 20 xã Huyện Quốc Oai nằm trong vùngtiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng, tính tới năm 2015 dân số ở đây đạt trênmột triệu tám trăm người với đặc điểm dân cư đại diện cho cả vùng đồngbằng và miền núi Năm 2015, trường Đại học Y tế Công cộng và Đại học Ydược thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Đại học Quốc gia Seoul HànQuốc lên kế hoạch dự án can thiệp 5 năm tại Quốc Oai, Hà Nội Các số liệukhảo sát đầu vào được thu thập nhằm phục vụ cho thiết kế can thiệp Trên cơ
sở nguồn số liệu này, nhằm cung cấp các thông tin về sử dụng dịch vụ y tếphục vụ quá trình quản lý và hoạch định chính sách y tế đáp ứng nhu cầutrong tình hình hiện tại của Quốc Oai nói riêng và Việt Nam nói chung, chúng
tôi thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế của người dân huyện Quốc Oai, Hà nội năm 2016”, với các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ y tế của người dân huyện Quốc Oai,
Hà nội năm 2016
2 Phân tích mối liên quan giữa sử dụng dịch vụ y tế và một số đặc điểmkinh tế văn hóa xã hội của đối tượng nghiên cứu
Trang 8Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU I.1 Định nghĩa
I.1.1 Dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế là toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khỏe (CSSK) chocộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hóa khôngtồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời thuận tiện
và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và cộng đồng vềCSSK [7], [8], [9]
Theo WHO: DVYT bao gồm tất cả các dịch vụ về chẩn đoán, điều trịbệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khoẻ Chúng bao gồm cácdịch vụ y tế cá nhân và các dịch vụ y tế công cộng [10]
I.1.2 Loại hình dịch vụ y tế
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về DVYT đã được phát biểudưới những góc độ khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung DVYT là một loại hànghóa dịch vụ công đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân vàcộng đồng bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng: Nhómdịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu (mang tính chất hàng hóa tư nhiều hơn
có thể áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thị trường này) và nhóm dịch vụ y tếcông cộng như phòng chống dịch bệnh (mang tính chất hàng hóa công nhiềuhơn) do Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm [11]
Là một loại hình dịch vụ, DVYT cũng có các đặc điểm cơ bản như:
− Tính chất vô hình của dịch vụ: Dịch vụ xuất hiện đa dạng nhưng không tồn tạihiện hữu
− Tính đồng nhất (không tách rời): Dịch vụ không tổn tại độc lập, bị phụ thuộcbời người tạo ra dịch vụ Nói cách khác nó xuất hiện đồng thời về không gian
và thời gian giữa sản xuất dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ
Trang 9− Tính không xác định (không ổn định, không đồng nhất): Dịch vụ không giốngnhau giữa các lần phục vụ khác nhau cho dù cùng một nhà sản xuất hay mộtloại hình phục vụ Chất lượng dịch vụ phụ thuôc nhiều yếu tố: không gian,thời gian, trạng thái tâm lý hay hoàn cảnh của các bên tham gia.
− Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ: Dịch vụ chỉ tồn tại ở thời gian
nó được cung cấp; do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để lưu kho dựtrữ
− Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khác với khi mua hàng hóa, kháchhàng được là chủ sở hữu hàng hóa mình mua, khi mua một dịch vụ, kháchhàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, hưởng lợi ích dịch vụ mang lại trongmột khoảng thời gian nhất định
Ngoài những tính chất của một loại hình dịch vụ nói chung, có nhữngđặc thù riêng của một ngành dịch vụ đặc biệt:
− Nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của mỗi người dân khácnhau Bệnh tật có thể đến bất ngờ, không báo trước, do đó không thể sự đoántrước thời điểm mắc bệnh cũng như việc mắc bệnh Về phía người dân, đây là
lý dó đôi khi không sẵn sàng tài chính để chi trả cho các dịch vụ DVYT làloại hàng hóa gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người, nên không giốngnhư các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền, người dân vẫn phải
sử dụng dịch vụ (khám, chữa bệnh)
− Đôi khi, DVYT không bình đẳng trong các mối quan hệ, trong việc cung cấpdịch vụ y tế, giá dịch vụ không dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa ngườimua và người bán, giá dịch vụ do bên cung cấp quyết định; đặc biệt khi trongtình trạng cấp cứu: không thể chờ đợi và phải chấp nhận dịch vụ bằng mọigiá
− Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp và bên sử dụng dịch vụ Hầu nhưngười sử dụng dịch vụ (người bệnh) có rất ít thông tin về bệnh tật cũng như
Trang 10các chỉ định điều trị, bởi vậy có thể nói, DVYT là một loại hàng hóa đặc biệt
mà người sử dụng (người bệnh) thường không thể tự mình lựa chọn loại dịch
vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế) Nóimột cách khác, ngược với quy luật cầu quyết định cung thì trong DVYT, cunglại quyết định cầu Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưngđiều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định Nhưvậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị hoặc bác sĩ điều trị (ở mộtchừng mực nhất định) chứ không được chủ động lựa chọn phương pháp điềutrị
− Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, nhà cung cấp dịch vụ có thể là một
tổ chức hay một cá nhân, tuy nhiên yêu cầu cần phải đảm bảo điều kiện nhất định
về cơ sở vật chất và phải có giấy phép hành nghề của nhà nước
I.2 Hình thức sử dụng dịch vụ y tế
Sử dụng DVYT là nhu cầu của mỗi người nhằm bảo vệ và nâng cao sứckhỏe của bản thân, mục đích có thể là phòng bệnh hoặc điều trị bệnh Cácdịch vụ CSSK được sử dụng như: tự điều trị, mua thuốc tại các hiệu thuốc,khám, điều trị hoặc sử dụng các DVYT khác tại các CSYT công hoặc tư ở cáctuyến y tế [12]
Khi bị ốm hay có vấn đề về sức khỏe, tùy thuộc vào độ nặng nhẹ củabệnh và các điều kiện liên quan như mức sống, thu nhập, trình độ văn hóa, tậpquán,…mà người dân có khả năng lựa chọn các cách xử lý như sau: Khôngđiều trị gì, tự điều trị và đi khám chữa bệnh Tỷ lệ sử dụng các DVYT nhưkhám và điều trị nội trú, ngoại trú và tự mua thuốc về chữa phản ánh khả năngtiếp cận, tài chính, văn hóa của xã hội đó:
− Không điều trị là khi người dân có những vấn đề sức khỏe hay những đợt ốm,chấn thương mà không đến CSYT khám và chữa bệnh hoặc mua thuốc vềđiều trị hay sử dụng bất cứ phương thuốc có sẵn nào Nguyên nhân của những
Trang 11đợt không điều trị này là do bệnh nhẹ, có thể tự khỏi, nhưng cũng có thể dongười ốm không có khả năng tiếp cận với y tế do khoảng cách, điều kiện kinhtế… Theo báo cáo kết quả điều tra y tế quốc gia năm 2001 – 2002 của Bộ y tế, tỷ
lệ không điều trị ở người dân tộc thiểu số lên tới 22%, của người dân tộc Kinh là3,4% Tỷ lệ này trong nhóm nghèo nhất là 6,1% và chỉ 2,3% ở nhóm giàu nhất.Chỉ 3% những người mắc bệnh cấp tính hoặc tai nạn thương tích không điều trị
và có tới 6% người bị bệnh mãn tính không điều trị [13]
− Tự mua thuốc về chữa được coi là một hiện tượng khá phổ biến ở Việt Nam,Đây là hành vi người bệnh tự đi mua thuốc uống không qua khám Điều tra y
tế quốc gia 2001 – 2002 cho thấy trên cả nước có 73% trong số trường hợp có
sử dụng DVYT khi gặp vấn đề sức khỏe họ tới các điểm bán thuốc mua thuốc
về nhà tự uống [13] Mặc dù tự điều trị nếu không có hiểu biết chuyên mônthì dễ dàng gặp các nguy cơ có hại như sai sót trong chẩn đoán và điều trị, thiếuhiểu biết về cách điều trị khác, lạm dụng thuốc, sử dụng sai thuốc, sai liều, nguy
cơ tương tác thuốc, dị ứng thuốc… khá cao; tuy nhiên hành vi này vẫn rất phổbiến Nguyên nhân có thể kể đến như do tính thuận tiện, không mất thời gian vàtiền bạc cho việc đi khám và điều trị; bên cạnh đó là vấn đề quản lý chặt chẽthuốc và kê đơn bán thuốc Có khoảng 1% số người giàu bị ốm tự mua thuốc vềđiều trị, trong khi đó tỷ lệ này ở người nghèo cao gấp 17 lần, chiếm 17% [13].Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng đưa ra lý do của việc người dân ưa thích tự
đi mua thuốc điều trị là do thuận tiện về khoảng cách, thời gian, dễ tiếp cận vàgiúp giảm chi phí KCB [14], [15], [16], [17]
− Trong cả 3 cách xử lý khi bị bệnh, đi khám chữa bệnh là biện pháp tích cựcnhất Người dân có nhiều lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh, từ y tế thôn bản lêntới CSYT trung ương Khi đi khám chữa bệnh, tùy thuộc bệnh và yêu cầu vềchuyên môn mà người dân sẽ được sử dụng DVYT nội trú hay DVYT ngoạitrú:
Trang 12+ Điều trị nội trú là việc người bệnh phải ở tại CSYT để theo dõi,điều trị ít nhất 24 giờ.
+ Điều trị ngoại trú là những trường hợp không phải nằm viện, tớikhám, điều trị hoặc được cho chỉ thị điều trị về nhà
Đối với người tới các CSYT để khám chữa bệnh, nghiên cứu này quantâm tới các vấn đề sau:
− Cơ sở DVYT được sử dụng: TYT, TTYT huyện, Bệnh viện huyện, TTYTtỉnh/TP, bệnh viện tỉnh/TP, bệnh viện trung ương, bệnh viện tư nhân, phòngkhám tự nhân, bác sĩ khám tại nhà, lang y, khác…
− Lý do: Nguyên nhân phải tới CSYT khám chữa bệnh hoặc tự điều trị như tiêmphòng; khám thai, nạo/hút thai, kế hoạch hóa gia đình, sinh đẻ; khám kiểm tratổng quát sức khỏe và tư vấn hay khám chữa bệnh
− Vấn đề sức khỏe cần sử dụng dịch vụ: Bệnh lý cấp tính, bệnh lý mãn tính, tainạn thương tích, phục hồi chức năng
I.3 Thực trạng sử dụng dịch vụ tế
I.3.1 Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế trên thế giới
Nghiên cứu của Liu, Zhang và cộng sự (2007) tại Trung Quốc cho thấy,gần một nửa người dân (47,0%) tự điều trị khi bị ốm đau, 32,9% đến gặp bác
sĩ tư nhân khi ốm, 10,1% vừa tự điều trị, vừa đến khám bác sĩ tư nhân và10,0% người dân không điều trị gì khi ốm đau Kết quả cũng cho thấy, tỷ lệnhập viện trong 1 năm là 11,1% [18]
Nghiên cứu về tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của ngườisống ở khu ổ chuột ở Dhaka (Bangladesh) của Khan và cộng sự (2012) chothấy hai loại hình sử dụng DVYT được các đối tượng sử dụng phổ biến là cáchiệu thuốc (42,6%) để tự điều trị cũng như phòng khám/ bệnh viện của nhànước (13,5%) [19]
Zaidi và cộng sự (2006) nghiên cứu về việc sử dụng dịch vụ y tế củangười dân ở 4 khu ổ chuột vùng Karachi, Pakistan trong việc điều trị tiêu
Trang 13chảy và cảm cúm Nghiên cứu cho thấy, phần lớn các trường hợp đều đi khámbác sĩ tư (>50%) Có 31% người dân tự điều trị tại nhà trong khi chỉ có 11%
và 13% điều trị tại các bệnh viện và trạm y tế xã phường [20]
Salinas và cộng sự (2010) trong nghiên cứu về sự phân chia sử dụngdịch vụ y tế ở thành thị và nông thôn đã nhận định người Mexico lớn tuổi ởkhu vụ nông thôn đi khám bác sĩ và nhập viện ít hơn đáng kể so với ở thànhthị (p< 0,0001) mà nguyên nhân chủ yếu là do rào cản như không có bảo hiểm
y tế hơn là do có sức khỏe tốt hơn[21]
Nghiên cứu tổng quan hệ thống trên 162 bài báo của Ford và cộng sự
về tiếp cận chăm sóc sức khỏe ở người cao tuổi ở khu vực nông thôn cho thấynhững người già ở khu vực nông thôn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăngặp nhiều rào cản trong tiếp cận và sử dụng các DVYT [22]
Một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của các tình trạng kinh tế xã hội nhưtuổi và giới trong việc xác định hành vi sức khỏe ở vùng nông thôn củaBangladesh cho thấy trung bình khoảng 35% (405/1169) những người bị bệnhtrong 15 ngày trước đó ở cả nhóm người trẻ và già đều chọn tự mua thuốc điều trịhoặc điều tị ở một bác sĩ nghiệp dư ở làng Tình trạng nghèo đói của hộ gia đìnhđược xem như một yếu tố quyết định hành vi lựa chọn DVYT Nghiên cứu chothấy, khi tình trạng đói nghèo của một hộ gia đình được kiểm soát, không có sựkhác biệt về tuổi tác hay giới tính trong lựa chọn dịch vụ CSSK [23]
I.3.2 Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế ở Việt Nam
Theo cuộc điều tra đánh giá hộ nghèo ở đô thị do Tổng cục Thống kêthực hiện tại 2 thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh năm 2009 cho thấy, 99,2%người dân ở 2 thành phố này có sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh trong 12tháng qua, bao gồm 62,7% đi khám bác sĩ và 36,5% tự điều trị bằng cách tựmua thuốc Chỉ có 0,8% người dân không đi khám hay tự điều trị do bệnh nhẹhoặc không có tiền Báo cáo này cũng chỉ ra tại Hà Nội, có 61,6% người dân
Trang 14đến khám bác sĩ khi có bệnh tật hay thương tích, trong đó 16,7% đến thườngxuyên và 41,9% thi thoảng mới đến Mặt khác, có tới 37,5% người dân tựđiều trị tại nhà khi có bệnh tật hay thương tích Xu hướng tương tự cũng đượcnhìn nhận ở thành phố Hồ Chí Minh, khi có 63,4% người dân đến khám bác
sĩ khi có bệnh tật hoặc thương tích Tỷ lệ người đến khám bác sĩ thườngxuyên ở thành phố Hồ Chí Minh (24,1%) cao hơn Hà Nội và tỷ lệ người dân
tự điều trị thấp hơn (36,0%) Theo nghiên cứu này, tỷ lệ nữ giới ở hai thànhphố có hành vi tìm kiếm sử dụng dịch vụ y tế cao hơn nam giới (66,7% so với59,1%) Tỷ lệ trẻ em từ 0-4 tuổi và người già trên 60 tuổi sử dụng dịch vụcũng cao hơn so với các nhóm tuổi khác; thấp nhất là nhóm tuổi 15 đến 19tuổi Người dân thường trú ở hai thành phố có tỷ lệ đi khám sức khỏe gấp đôinhững người di cư từ các vùng khác (23,4% so với 11,4%) Có 58% nhữngngười thuộc hộ nghèo đi khám chữa bệnh khi bị ốm đau Đáng chú ý là,những người thuộc hộ nghèo có tỷ lệ tự mua thuốc để điều trị cao hơn so vớinhững hộ giàu (41,5% so với 30,1%) Cũng theo nghiên cứu này, nhìn chungngười dân ở hai thành phố này thường đến khám tại bệnh viện công Trong
đó, người dân Hà Nội chủ yếu khám ở bệnh viện tuyến trung ương (35%) vàtuyến thành phố (33,8%); trong khi người dân thành phố Hồ Chí Minh chủyếu khám ở bệnh viện tuyến thành phố (48,9%) và tuyến quận (42,8%) [5]
Theo điều tra của Tổng cục thống kê, tỷ lệ sử dụng các DVYT nóichung tăng đáng kể từ năm 2002 tới năm 2012; từ chỉ 18,9% số người dânphải khám chữa bệnh vào năm 2002 lên 39,2% vào năm 2012 Tỷ lệ sử dụngcác dịch vụ nội trú khá ổn định, chiếm khoảng 7% trong dân số và đạt 7,3%vào năm 2012 Trong khi đó tỷ lệ sử dụng các DVYT ngoại trú tăng mạnh từ14,2% lên 36,0% trong 10 năm Tỷ lệ có khám chữa bệnh khác nhau đáng kểtrong các nhóm đối tượng khác nhau Năm 2012, có 40,2% người dân thànhthị và 38,7% người dân nông thôn có sử dụng các DVYT Về giới tính, chỉ có
Trang 1534,6% nam giới trong khi tỷ lệ khám chữa bệnh ở nữ giới là 43,6% Tỷ lệngười già trên 60 tuổi và trẻ em dưới 5 tuổi sử dụng DVYT cao nhất trong cácnhóm tuổi Khi chia dân số thành 5 nhóm bằng nhau tăng dần về điều kiệnkinh tế, tỷ lệ sử dụng DVYT cũng tăng dần [4].
Nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Huyền và cộng sự (2012) về sử dụngdịch vụ y tế và chi phí cho y tế ở nhóm lao động phi chính thức (xe ôm, thợcắt tóc, thợ may, buôn bán ) tại Hà Nội Kết quả cho thấy, số lần khám chữabệnh nội trú trung bình của nhóm lao động này trong một năm là 1,0 ± 0 lần,
số lần khám ngoại trú là 1,8 ± 3,7 lần và số lần tự mua thuốc điều trị là 2,2 ±1,4 lần Kết quả cũng cho thấy, bệnh viện tuyến trên (tuyến trung ương vàtuyến tỉnh/thành phố) được các đối tượng lựa chọn để điều trị nội trú, trongkhi họ chủ yếu đến cơ sở y tế tư nhân để điều trị ngoại trú [6]
Một nghiên cứu chất lượng các dịch vụ y tế cộng đồng và những quyếtđịnh của gia đình về CSSK ở Quảng Ninh, Trương Việt Dũng và cộng sự chothấy cách xử lý của các gia đình khi có trường hợp ốm đau: 43% có đi khámchữa bệnh, trong đó 22% đến cơ sở y tế cộng đồng, 12% đến thầy thuốc tư,9% đến bệnh viện tuyến trên; 35% mua thuốc tự chữa, và 22% tự chữa lấykhông mua thuốc [24]
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Dự về khả năng tiếp cận và sử dụng dịch
vụ KCB của người dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang năm 2007 mô tả cóphân tích trên 682 HGĐ cho thấy rằng: tỷ lệ người dân đến khám chữa bệnhtại trạm y tế xã là 53,5%, bệnh viện huyện 23,2%, bệnh viện tỉnh 14,5%,không chữa gì 2,8%, mua thuốc về tự chữa 0,8% Khoảng cách và thời gian làmột trở ngại rất lớn trong tiếp cận và sử dụng DVYT đặc biệt tại các nhóm cóđiều kiện kinh tế nghèo Nhóm thu thập kinh tế thấp sử dụng DVYT tại trạm
y tế xã là cao nhất, đạt 85,1% Nhóm hộ nghèo ít có cơ hội tiếp cận vớiDVYT có chất lượng cao hơn so với nhóm giàu, tiếp cận bệnh viện huyện cao
Trang 16nhất ở nhóm giàu (40,8%), thấp nhất nhóm nghèo (3%) Tiếp cận bệnh việntỉnh/trung ương cao nhất nhóm giàu (22,4%), thấp nhất nhóm nghèo (7,5%).Các HGĐ có mức thu nhập kinh tế khá và giàu thì dễ dàng tiếp cận với thôngtin về giáo dục sức khỏe hơn nhóm trung bình và nghèo Tiếp cận thông tin vềGDSK cao nhất nhóm giàu (95,9%), thấp nhất nhóm nghèo (21,2%), phươngtiện tiếp cận chủ động hơn, thời gian tiếp cận ngắn hơn nhóm nghèo và đặcbiệt là nhu cầu về sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và khả năng đáp ứng đểchi trả DVYT có chất lượng cao của nhóm khá và giàu dễ dàng hơn so vớinhóm trung bình và nghèo [25].
Điều tra tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở 3 xã Ia Khươi, IaPhí, Hòa Phú huyện Chưpăh tỉnh Gia Lai cho thấy: tỷ lệ người dân tới trạm y
tế xã là 37,7%, 175 tới bệnh viện công, 26,8% tới y tế tư nhân và có tới18,5% dân số không đi khám chữa bệnh Tỷ lệ không đi khám chữa bệnh caonhất trong số người mù chữ, chiếm 27,96%, và trong số những người có trình
độ trung học phổ thông trở lên chiếm 16,67% Tỷ lệ này cũng cao nhất ởnhóm đối tượng là nông dân, chiếm 23,4% Những người có BHYT có tỷ lệkhông khám chữa bệnh thấp hơn đáng kể những người không được BHYTthành toán (14,34% so với 35,2%) 25,71% số người nghèo không sử dụngDVYT trong khi chỉ có 15,73% những người đủ ăn, kinh tế khá không đichữa bệnh Các lý do không đi khám chữa bệnh chủ yếu được đưa ra do bệnhnhẹ (57,39%) [9]
Nghiên cứu tại thị xã Tây Ninh của Phạm Đình Luyến và Nguyễn NgọcTất cho kết quả gần 40% người dân tự mua thuốc điều trị khi có bất kỳ triệuchứng bệnh nào không thông qua thăm khám bởi bác sĩ, gần 80% không xem
cơ sở y tế tuyến xã là sự lựa chọn đầu tiên khi muốn được khám bệnh Gần15% người dân không biết gì về kháng sinh, và 2/3 dân số sử dụng kháng sinhkhông đúng cách [26]
Trang 17Một nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan sử dụng dịch vụkhám chữa bệnh tại các trạm y tế xã ở Hải Phòng cho thấy tỷ lệ người ốm tớitrạm y tế chỉ là 12,3%, tới các bệnh viện huyện là 35,6%, bệnh viện tuyến trên
là 15,5% và cơ sở y tế tư nhân là 18,3% Kết quả cho thấy, những người cóhọc vấn thấp hơn, có thẻ BHYT thì sử dụng DVYT tuyến xã nhiều hơn [27]
Khi nghiên cứu về thực trạng lựa chọn mua thuốc của người dân huyện
Từ Sơn, tác giả Phạm Văn Khanh cho thấy khi bị ốm, người dân đến trạm y tế
xã là 20,79%, nhà thuốc tư nhân là 4,03%, hiệu thuốc nhà nước là 2,96% với
lý do tin tưởng vào chất lượng thuốc ở trạm y tế xã và hiệu thuốc nhà nướchơn cả, ngoài ra có các lý do như trạm y tế đủ thuốc hơn hay hiệu thuốc gầnnhà hơn…[28]
Nghiên cứu của Phùng Thị Thu Hà mô tả nhu cầu khám chữa bệnh vàviệc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện Ba Vì tỉnh HàTây năm 2003 cho thấy nhu cầu khám chữa bệnh của người nghèo cao hơnnhóm không nghèo gấp 1,5 lần, sử dụng dịch vụ y tế của người nghèo chủ yếu
ở tuyến huyện, tuyến xã, trong khi nhóm không nghèo sử dụng dịch vụ y tế ởtuyến huyện và tuyến tỉnh Nhóm giàu sử dụng dịch vụ điều trị nội trú tạibệnh viện nhiều hơn nhóm nghèo 1,3 lần và có sử dụng nhiều các dịch vụ y tế
kỹ thuật cao, đắt tiền Nghiên cứu thấy sự khác nhau trong nhu cầu và sửdụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân trong bối cảnh nền kinh tế pháttriển phân hóa giàu nghèo ngày càng mạnh; thể hiện sự thiệt thòi trong việctiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của các đối tượng dễ bị tổnthương, người nghèo [29]
I.4 Một số yếu tố liên quan tới việc sử dụng dịch vụ Y tế
I.4.1 Yếu tố từ nhà cung cấp dịch vụ
I.4.1.1 Yếu tố giá cả
Trang 18Hiện nay nguồn tài chính công (mà chủ yếu ở đây là ngân sách nhànước và bảo hiểm y tế) chiếm tỷ trọng nhỏ so với nguồn tài chính tư (chi trảtrực tiếp từ tiền túi của người bệnh) trong công tác khám chữa bệnh TheoBáo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2013, ở nước ta, chi phí từ tiền túicủa hộ gia đình chiếm khoảng 92,7% chi tư cho y tế và trên 50% tổng chi củatoàn xã hội cho y tế Nếu chi phí từ tiền túi của hộ gia đình bằng hoặc lớn hơn40% khả năng chi trả của hộ gia đình (là phần thu nhập còn lại của hộ giađình sau khi đã chi cho lương thực, thực phẩm) thì đó là chi phí y tế thảmhọa Chi phí từ tiền túi của hộ gia đình cũng có thể gây ra tình trạng nghèohóa, khi chi trả trực tiếp cho y tế làm cho khả năng chi cho các khoản thiếtyếu của hộ gia đình bị giảm xuống dưới ngưỡng nghèo đói [30] Năm 2007,
tỷ lệ này ở Việt Nam cao hơn đáng kể so với mức trung bình của thế giới(54,8% so với 17,7%) Còn so với các nước thu nhập trung bình thấp, tỷ lệnày ở nước ta vẫn cao hơn 2,7% (54,8% so với 52,1%) [30] Như vậy, có thểthấy tỷ lệ chi phí từ tiền túi của hộ gia đình so với tổng chi cho y tế là khá lớn,trong khi thu nhập của người dân thấp, đây là lí do người nghèo gặp nhiềukhó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ y tế
Mặc dù như đã nói ở trên, DVYT có đặc trưng không bình đẳng trongcác mối quan hệ, hầu như người sử dụng dịch vụ phải chấp nhận sử dụng dịch
vụ khi có vấn đề về sức khỏe, đặc biệt trong các trường hợp cấp cứu nghiêmtrọng hay ảnh hưởng tới tính mạng; lúc này việc lựa chọn DVYT không phụthuộc vào giá dịch vụ Dù nghèo khó họ vẫn sẵn sàng bán cả nhà cửa, tàisản… Tuy nhiên, trong các trường hợp bệnh nhẹ và vừa thì vấn đề giá cả dịch
vụ có những ảnh hưởng trực tiếp tới việc lựa chọn và sử dụng DVYT
I.4.1.2 Khoảng cách tới cơ sở y tế
Khoảng cách từ nơi ở đến các cơ sở khám chữa bệnh có ảnh hưởng đến
cơ hội tiếp cận với dịch vụ y tế và CSSK của người dân, đặc biệt là người
Trang 19nghèo Phần lớn người nghèo sống ở nơi có vị trí địa lý khó khăn, dân số sốngthưa thớt nên việc đi lại thường khó khăn và việc đi từ nơi ở đến cơ sở khámchữa bệnh cũng xa hơn Do đó, khoảng cách giữa nơi ở và cơ sở khám chữabệnh xa cũng là rào cản lớn đối với việc tiếp cận DVYT và CSSK của ngườinghèo Mặc dù tính đến năm 2007, 98,2% số xã phường có trạm y tế; 100%
xã phường có cán bộ y tế hoạt động; 69,4% số xã có bác sĩ; 93,7% số xã có
nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; 84,5% số thôn bản có cán bộ y tế hoạt động [31],nhưng việc tiếp cận với các cơ sở khám chữa bệnh của người dân ở nhữngvùng khó khăn và người nghèo vẫn còn khá xa, nhất là đối với các cơ sở y tếtuyến trên Nhờ chương trình 135 (xây dựng cơ sở hạ tầng cho những xãnghèo) nên trong những năm gần đây, tỷ lệ các xã có trạm y tế xã đã tăng lên,nhờ đó khoảng cách từ các hộ gia đình ở những xã này đến trạm y tế đã ngắnhơn nhiều Năm 2008, từ nơi ở đến trạm y tế xã gần nhất là 7,9 km, đến năm
2010 chỉ còn 1,6 km Tuy nhiên, khoảng cách tới các cơ sở y tế khác nhưphòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện/trung tâm y tế huyện, bệnh viện tỉnhthì vẫn còn khá xa, khoảng cách này có xu hướng tăng theo tuyến y tế caohơn (phòng khám khu vực, bệnh viện/trung tâm y tế huyện và bệnh viện tỉnh[32]
I.4.1.3 Yếu tố dịch vụ y tế
Do tính không xác định của loại hình dịch vụ, DVYT cũng bị phụthuộc bởi nhiều yếu tố nên khó có thang đo đánh giá chất lượng dịch vụ này.Việc đo lường thường dựa trên y kiến, nguyện vọng, nhu cầu và mong muốncủa người sử dụng dịch vụ đối với CSYT Yếu tố DVYT thường được xemxét trên các khía cạnh: trình độ chuyên môn và trang thiết bị vật liệu y tế.Người dân thường sẽ quan tâm tới việc chọn CSYT có DVYT tốt hơn trongkhả năng tài chính của bản thân và gia đình
Hiện nay ở Việt Nam, phần lớn các cơ sở khám chữa bệnh có cơ sở vật
Trang 20chất tốt và đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn cao tập trung ở tuyếntrung ương, các thành phố lớn và các khu vực thành thị (số cán bộ y tế ở đôthị chiếm 51,3% trong khi dân số đô thị chỉ chiếm 28,1% dân số cả nước).Trong khi đó phần đông người nghèo ở nước ta lại sống ở các vùng nôngthôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vì vậy, việc tiếp cận với các dịch vụ y tế
và CSSK có chất lượng của người nghèo ở những vùng này là khá khó khăn
Bên cạnh đó cơ cấu nhân lực cũng chênh lệch giữa các tuyến và các địaphương Tỷ lệ bác sĩ cao ở tuyến tỉnh trở lên trong khi tuyến huyện điềudưỡng và hộ sinh chiếm tỷ lệ cao nhất, tuyến xã chủ yếu chỉ có y sỹ Cụ thể,nhân lực y tế trình độ cao (trên đại học) tập trung ở tuyến trung ương chiếm54,2%, 41,1% thuộc tuyến tỉnh; ở tuyến huyện và xã nhân lực y tế chủ yếu chỉ
có trình độ cao đẳng và trung học Điều này cho thấy chênh lệch rõ rệt vềtrình độ chuyên môn giữa các tuyến [32]
I.4.2 Yếu tố từ người sử dụng dịch vụ
I.4.2.1 Yếu tố bệnh
Mức độ bệnh ảnh hưởng rất nhiều tới lựa chọn phương thức khám chữabệnh của người dân Ở Việt Nam, thông thường với những khó chịu nhẹ nhưcảm cúm, nhức đầu,… người dân thường tự giải quyết bằng kinh nghiệm Họ
sử dụng các bài thuốc dân gian, thuốc lá, thuốc nước hoặc đi mua thuốc tựchữa mà không cần đến sự can thiệp của thầy thuốc Họ chỉ tới các CSYT khibệnh không khỏi hay có tiến triển nặng hơn
I.4.2.2 Điều kiện kinh tế
Điều kiện kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều các lĩnh vực đời sống,kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó có chăm sóc sức khoẻ Yếu tố tài chính cho
y tế, trong đó bao gồm cả chi phí khám chữa bệnh gián tiếp là một vấn đề lớnđược đề cập tới khi nói về các yếu tố cản trở việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ
y tế trong nhiều nghiên cứu Khó khăn về kinh tế luôn là nguyên nhân hàng
Trang 21đầu cho việc không sử dụng DVYT nào khi có vấn đề sức khỏe của ngườinghèo [33] Theo điều tra y tế quốc gia 2001–2002, lý do khó khăn về kinh tếchiếm khoảng 53% trong số người nghèo không chữa bệnh [34] Khi ngườidân có thu nhập cao thì họ cũng sẽ có khả năng sử dụng nhiều DVYT hơn và
có điều kiện sử dụng dịch vụ với giá cả cao hơn, chất lượng DVYT tốt hơn…Một hộ gia đình có thu nhập cao sẽ dễ dàng quyết định đi khám chữa bệnh;ngược lại, những người nghèo thường có xu hướng tự chữa ở nhà hoặc đếnthầy thuốc gần nhà hỏi, khám, mua thuốc để giảm bớt các khoản chi cho đilại, ăn, uống, người chăm sóc; họ sẽ hạn chế đến CSYT có chất lượng cao, thuphí cao [35, 36] Đây chính là những ảnh hưởng của điều kiện kinh tế giađình, hay cụ thể là khả năng chi trả cho DVYT của người dân tới việc sử dụngcác DVYT
I.4.2.3 Bảo hiểm y tế
Ở Việt Nam, năm 1992 điều lệ bảo hiểm y tế đầu tiên được ban hành,trong đó đã quy định 02 loại hình bảo hiểm y tế là Bảo hiểm y tế bắt buộc vàbảo hiểm y tế tự nguyện [3] Theo Luật Bảo hiểm Y tế định nghĩa: Bảo hiểm
Y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực CSSK, không vì mụcđích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện Bản chất của bảo hiểm y tếdựa trên nguyên lý tập hợp và chia sẻ rủi ro về sức khỏe, bệnh tật Nước rađang hướng tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, nhằm giúp người dân đượctăng cường tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và CSSK, người dân
có thẻ bảo hiểm y tế tránh được các rủi ro bị đói nghèo do không có khả năngchi trả DVYT Theo Trần Đăng Khoa (2013) việc sử dụng các dịch vụ khámchữa bệnh ngoài có liên quan đến yếu tố điều kiện kinh tế hộ gia đình còn bịảnh hưởng bởi tình trạng có hay không có bảo hiểm xã hội (p<0,01) Nghiêncứu của tác giả này cho biết có 45,2% người bệnh không đến cơ sở y tế trả lời
do không có bảo hiểm y tế; kết quả phân tích hồi quy đa biến cũng cho thấy
Trang 22người có thẻ bảo hiểm y tế tiếp cận với bệnh viện huyện cao gấp 2 lần so vớikhông có thẻ (95 CI: 1,04 – 3,4) [37].
I.4.2.4 Yếu tố đặc trưng cá nhân
a, Tuổi:
Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế bị ảnh hưởng bởi tình trạng sức khỏe(yếu tố bệnh) và nhu cầu CSSK của đối tượng Trên thực tế, nguy cơ mắcbệnh và nhu cầu của các đối tượng ở độ tuổi khác nhau là không giống nhau
Ví dụ, tiêm phòng là dịch vụ chủ yếu được thực hiện trên một số đối tượngnhư trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, phụ nữ có thai, trong độ tuổi sinh đẻ Trẻ em là mộttrong những đối tượng dành được nhiều ưu tiên quan tâm của gia đình cũngnhư xã hội; không những thế, đây cũng là đối tượng dễ cảm nhiễm với bệnhtật, do đó nhu cầu sử dụng DVYT của nhóm đối tượng này khá cao Ngoài ra,
do đặc tính suy thoái về thể chất, người già thường có nhiều nguy cơ mắcbệnh hơn so với lứa tuổi trẻ hơn, do vậy mà nhu cầu CSSK ở nhóm tuổi này
có thể cao hơn Theo tác giả Lương Huy Dương khi nghiên cứu tình hình sứckhỏe của người già ở một vùng nông thôn thì có tới 70,7% số người già sửdụng DVYT trong khi tỷ lệ này nói chung ở mọi lứa tuổi chỉ là 45 – 60%[38] Điều tra mức sống dân cư năm 2012 cũng cho kết quả tỷ lệ sử dụngDVYT cao nhất ở người trên 60 tuổi, chiếm 64,8% và trong các nhóm 0-4tuổi, 5 – 14 tuổi, 15-24 tuổi, 25 – 39 tuổi, 40 – 59 tuổi lần lượt là 59,7%;33,7%; 21,9%; 32,4% và 43,0% [4]
Trang 23đàn ông [9] Ngoài ra, người sử dụng các DVYT không nhất thiết là người cóvấn đề về sức khỏe như ốm đau bệnh tật, chấn thương; họ có thể là người đikiểm tra sức khỏe định kì, hoặc phụ nữ đi khám thai, nạo thai, đặt vòng, đẻ,tiêm phòng… Các cuộc điều tra mức sống dân cư gần đây cũng cho nhữngkết quả về tỷ lệ sử dụng DVYT cao hơn ở nữ giới; cụ thể, tỷ lệ này lần lượtqua các năm 2008, 2010, 2012 là 37,1%; 45,1%; 43,6%, trong khi tỷ lệ tươngứng ở nam giới chỉ là 30,6%; 36,6% và 34,6% [4].
c, Trình độ học vấn:
Trình độ học vấn thể hiện kiến thức, hiểu biết nói chung của người dântrong xã hội Trình độ học vấn là một trong những yếu tố quan trọng tác độngđến sức khỏe con người Những cộng đồng, khu dân cư có trình độ học vấncao thường có tình trạng sức khỏe tốt và tuổi thọ cao Dân trí cao hơn cũng lànguyên nhân người dân quan tâm sức khỏe hơn và có xu hướng sử dụng cácdịch vụ CSSK nhiều hơn
d, Nghề nghiệp:
Nhiều nghề do đặc trưng ngành dẫn tới người lao động có nguy cơ cao
bị mắc một số bệnh, gọi là bệnh nghề nghiệp Như vậy, tỷ lệ sử dụng DVYT
có thể không như nhau trong các nhóm nghề khác nhau
e, Dân tộc:
Người dân tộc thiểu số sử dụng DVYT thường thấp hơn đáng kể do hạnchế về khả năng tiếp cận y tế cũng như khó khăn về kinh tế Một nghiên cứucho thấy, khoảng cách là một trong số những rào cản ảnh hưởng tới sử dụngDVYT của người nghèo và dân tộc thiểu số Mặc dù được cấp thẻ bảo hiểm y
tế nhưng hầu hết trong số họ sống ở khu vực hẻo lánh, khó khăn trong đi lại,nhiều nơi vùng núi, người dân phải đi bộ rất xa từ nhà tới CSYT gần nhất(trạm y tế xã) trong điều kiện đường đi rất xấu [39] Điều tra của Tổng cụcthống kê cho thấy tỷ lệ sử dụng các DVYT cao hơn rõ rệt ở người dân tộc
Trang 24Kinh do với các nhóm khác; tỷ lệ này lần lượt là 40,7%; 35,0%; 26,9%;27,6% và 38,6% ở người Kinh, Tày, Thái, Hoa, Khơ-me năm 2012 [4].
I.5 Giới thiệu về nghiên cứu gốc
Đại học Y tế Công cộng và Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minhphối hợp với Đại học Quốc gia Seoul Hàn Quốc lên kế hoạch cho dự án canthiệp cộng đồng trong 5 năm tại huyện Quốc Oai, Hà Nội Để thu thập các sốliệu ban đầu về kinh tế - xã hội và y tế phục vụ cho việc thiết kế can thiệp,nghiên cứu khảo sát đầu vào được tiến hành trong thời gian từ tháng 12/2015tới tháng 04/2016 với các mục tiêu chính:
1 Mô tả các điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường cơ bản ở huyện Quốc Oainăm 2015
2 Mô tả tình trạng sức khỏe, các vấn đề sức khỏe, hành vi sức khỏe, sức khỏeliên quan đến chất lượng cuộc sống của người dân tại Quốc Oai
3 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành, thực trạng bao phủ dịch vụ chăm sóc sứckhỏe và chi phí chi trả dịch vụ của người dân địa phương
4 Xác định mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe và các yếu tố xã hội có liênquan của người dân tại Quốc Oai
Với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, nghiên cứu thực hiện trên
2400 hộ gia đình bằng cách chọn mẫu nhiều giai đoạn, dựa trên 3 tầng đồngbằng, trung du, miền núi lập danh sách các cụm và chọn ngẫu nhiên 30 cụmbằng phần mềm PPS, mỗi cụm chọn ra 80 hộ gia đình bằng phương phápchọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Bộ công cụ phỏng vấn gồm 2 bộ câu hỏi: bộcâu hỏi hộ gia đình hỏi chủ hộ - là người nắm rõ nhất thông tin về các thànhviên cũng như tình hình chi tiêu trong gia đình; gồm các phần: Phần A làthông tin chung về hộ gia đình, phần B là thông tin về các thành viên trong
hộ, phần C là thông tin về tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, phần D về điềukiện sống hộ gia đình, phần E là tài sản cố định và đồ dùng lâu bền, phần Fgồm thu nhập và chi tiêu hộ gia đình Và bộ câu hỏi cá nhân dành cho đối
Trang 25Hành vi sử dụng dịch vụ y tế
Các đặc trưng cá nhân đối tượng: Tuổi, giới, nghề, trình độ, tình trạng hôn nhân, dân tộc, nơi sống.
Yếu tố từ người sử dụng dịch vụ: BHYT, thu nhập.
I.6 Khung lý thuyết nghiên cứu
Trang 26Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người dân thuộc các hộ gia đình tại huyện Quốc Oai – Hà Nội
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Đối tượng sinh sống tại huyện Quốc Oai năm 2015
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
− Đối tượng mới đăng ký thường trú/ tạm trú ở địa phương dưới 3 tháng tínhđến ngày điều tra
− Không phỏng vấn được sau 3 lần điều tra viên tới thăm
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1.1 Thời gian nghiên cứu:
Thời gian : Tháng 12/2015 đến tháng 6/2016
2.2.1.2 Địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm: Huyện Quốc Oai, Hà Nội
Trang 27Huyện Quốc Oai là nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồngbằng, có diện tích 147,01 km2, nằm ở phía Tây cách trung tâm thành phố HàNội khoảng 20km Theo thống kê, năm 2015 dân số toàn huyện đạt khoảng1.800.000 người [40] Y tế của huyện mặc dù trong những năm gần đây cónhiều phát triển, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế Cán bộ y tế thiếu cả vềchất lượng và số lượng; kinh phí đầu tư cho y tế của huyện còn thấp, việckiểm tra, giám sát và quản lý cơ sở y tế trong và ngoài công lập còn hạn chế[41] Những điều này ảnh hưởng tới việc tiếp cận và sử dụng DVYT và CSSKcủa người dân trong huyện.
Nghiên cứu thực hiện trên 7 xã được chọn ngẫu nhiên theo phươngpháp PPS: Sài Sơn, Du Nghệ, Đồng Quang, Cấn Hữu, Hòa Thạch, ĐồngXuân, Phú Mãn Trong đó Đồng Xuân và Phú Mãn là 2 xã miền núi và 5 xãcòn lại là các xã vùng đồng bằng của huyện
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang (Nghiên cứu này sử dụng mộtphần số liệu về tình hình sức khỏe, sử dụng dịch vụ y tế thu nhập của hộ giađình trong nghiên cứu: “Khảo sát tình hình sức khỏe, bệnh tật, sử dung dụngdịch vụ và chi phí cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại huyện Quốc Oai,Thành phố Hà Nội năm 2015”)
2.2.3 Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.2.3.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu của nghiên cứu “Khảo sát tình hình sức khỏe, bệnh tật, sử dungdụng dịch vụ và chi phí cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại huyện QuốcOai, Thành phố Hà Nội năm 2015” được tính dựa trên công thức của Tổ chức
Y tế thế giới để ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ chính xác tuyệt đối:
Trang 28n = Trong đó:
n = Cỡ mẫu nghiên cứu là số hộ gia đình được khảo sát
z = 1,96 với mức ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%
p = 39,2% là tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế của người dân Việt Nam theotổng điều tra mức sống dân cư năm 2012 của Tổng cục thống kê [4];
d = 0,015 là độ chính xác tuyệt đối mong muốn
Cỡ mẫu tính được n = 4070 người – tương đương với khoảng 1017 hộ gia đình Điều chỉnh thêm 10% đề phòng đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu, cỡ mẫu cuối cùng là 1120 hộ gia đình
2.2.3.2 Chọn mẫu
Mẫu nghiên cứu đươc chọn bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiênnhiều giai đoạn:
− Bước 1: Huyện Quốc Oai được phân thành 2 tầng: đồng bằng và miền núi
− Bước 2: Lập danh sách 21 xã và thị trấn thuộc huyện Quốc Oai Hà Nội.
− Bước 3: Chọn ngẫu nhiên 7 xã từ cả 2 tầng theo phương pháp PPS.
− Bước 4: Từ mỗi xã chọn 160 hộ gia đình tham gia vào nghiên cứu Thu thập
số liệu cá nhân và sử dụng DVYT của tất cả các thành viên trong hộ
2.2.4 Biến số/chỉ số nghiên cứu
Nghiên cứu quan tâm các nhóm biến số/chỉ số sau:
Trang 29STT Biến số/ Chỉ số Định nghĩa thu thập Kỹ thuật Mục tiêu 1: Tình hinh sử dụng dịch vụ y tế
1 Sử dụng DVYT/ DVYTngoại trú/ DVYT nội
trú/ Tự điều trị
Tỷ lệ số người có ít nhất 1 lần sửdụng DVYT/ DVYT ngoại trú/
DVYT nội trú/ Tự điều trị trongthời gian nghiên cứu
Bộ câuhỏi
Bộ câuhỏi
Mục tiêu 2: Các yếu tố văn hóa xã hội liên quan
1 Tuổi
Tuổi tính theo năm sinh dươnglịch của đối tượng được chiathành các nhóm tuổi: 0 – 4; 5 –
14, 15 – 24; 25 – 39; 40 – 59;
60+
Bộ câuhỏi
2 Giới Giới tính của đối tượng: Nam/nữ Bộ câuhỏi
3 Tình trạng hôn nhân Chưa kết hôn/ Góa/ Ly hôn, lythân/ Không biết, không trả lời. Bộ câuhỏi
4 Trình độ học vấn Trình độ học vấn của đối tượngtính theo bậc học cao nhất mà
đối tượng hoàn thành
Bộ câuhỏi
5 Nghề nghiệp Nghề nghiệp chính mà đối tượnglàm trong vòng 12 tháng trước
điều tra
Bộ câuhỏi
6 Dân tộc Kinh/ Mường/ Nùng/ Thái/ Tày Bộ câuhỏi
7 Nơi sống Khu vực sống của đối tượng:đồng bằng/ miền núi. Bộ câuhỏi
8 Thu nhập trung bình Thu nhập trung bình 1 tháng của
đối tượng trong hộ gia đình tínhtheo thu nhập 1 năm gần nhất
Đối tượng được chia thành 5nhóm bằng nhau tăng dần về thunhập trung bình: Nhóm nghèonhất/ Nhóm nghèo/ nhóm trung
Bộ câuhỏi
Trang 30STT Biến số/ Chỉ số Định nghĩa thu thập Kỹ thuật
bình/ Nhóm khá/ Nhóm giàunhất
9 Bảo hiểm y tế Tình trạng có hay không có BHYTcủa đối tượng Bộ câuhỏi
2.2.5 Thu thập số liệu
2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp chủ hộ gia đình (Phụ lục)
Bộ câu hỏi gồm các phần:
Phần A: Thông tin chung: Từ câu 1 tới câu 13; gồm các thông tin địa
chỉ và cách thức liên lạc với hộ gia đình, xác nhận đồng ý tham gia nghiêncứu, thông tin cuộc phỏng vấn
Phần B: Thông tin về các thành viên trong gia đình: Từ câu B1 tới
B10; gồm các thông tin năm sinh, quan hệ với chủ hộ, giới tính, dân tộc, tôngiáo, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng có BHYT
Phần C: Tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế và chi phí y tế: Từ câu C1 tới
câu C29; gồm các thông tin về các lần điều trị nội trú, ngoại trú và tự điều trịcủa đối tượng, khoảng cách tới cơ cở y tế và cơ sở y tế gần nhất
Phần F: Thu nhập: Gồm câu F1 và F2 về thu nhập của cả hộ gia đình.
2.2.5.2 Quy trình thu thập số liệu
Bước 1: Tuyển và tập huấn điều tra viên 30 điều tra viên là cán bộ y tế
tại địa phương đã được tuyển chọn và tập huấn về phương pháp điều tra vàthực hành điều tra thử trước khi triển khai thu thập thông tin
Bước 2: Thu thập số liệu Điều tra viên tới các hộ gia đình được lựa
chọn Đối với mỗi hộ gia đình vắng mặt, điều tra viên quay lại 3 lần trước khiloại khỏi danh sách và chọn hộ bổ sung
Trang 31Thời gian trung bình cho thu thập số liệu là khoảng 30 phút đối với mỗiphiếu điều tra hộ gia đình
Bước 3: Phiếu được mã hóa và kiểm tra ngay tại chỗ để hạn chế bỏ sót
thông tin
Bước 4: Giám sát Nhóm giám sát viên của Trung tâm nghiên cứu hệ
thống y tế trường Đại học Y tế Công cộng tổ chức kiểm tra phiếu tập trung tạiTrung tâm Y tế huyện Quốc Oai cùng với các điều tra viên, trả lại nhữngphiếu thiếu số liệu hoặc chưa đạt yêu cầu Bên cạnh đó, phỏng vấn lại khoảng5% số hộ gia đình trong nghiên cứu để đảm bảo tính khách quan
2.2.6 Quản lý, xử lý và phân tích dữ liệu
Số liệu sau khi kiểm tra và làm sạch sẽ được nhập vào máy tính bằngphần mềm Epidata 3.1 với các tệp QES, REC, và CHK nhằm hạn chế sai sốkhi nhập liệu
Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê Stata 12.0 Cả thống kê mô
tả và thống kê suy luận được thực hiện Thống kê mô tả với các biến địnhlượng bao gồm trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn; thống kê mô tả biến địnhtính bao gồm tần số và tỷ lệ phần trăm Thống kê suy luận sử dụng test χ2 để
so sánh các tỷ lệ Mô hình hồi quy logistic được sử dụng để xác định mỗi liênquan giữa các yếu tố với tình hình sử dụng dịch vụ y tế, sử dụng dịch vụ y tếtuyến cơ sở và sử dụng dịch vụ y tế tuyến cao Mô hình hồi Mô hình loglinera được dùng để tìm mối liên quan giữa số lần sử dụng dịch vụ y tế vớicác yếu tố liên quan Mức ý nghĩa thống kê p<0,05 được sử dụng
2.2.7 Sai số và cách khắc phục
− Sai số có thể gặp phải:
+ Sai số do điều tra viên: Điều tra viên bỏ sót câu hỏi khi thu thậpthông tin, sai số khi ghi chép thông tin, sai số do điều tra viênkhông hiểu rõ về câu hỏi
Trang 32+ Sai số do người trả lời phỏng vấn: sai số tự khai báo, sai số nhớlại, đặc biệt khi hỏi một số thông tin về thu nhập và chi tiêu.
+ Sai số trong quá trình nhập liệu và làm sạch số liệu
− Cách khắc phục sai số:
+ Tập huấn kĩ cho các điều tra viên: huấn luyện kỹ điều tra viên về
bộ câu hỏi cũng như một số ngôn ngữ ở địa phương
+ Đối với sai số do đối tượng trả lời : hỏi chi tiết kỹ hơn, kiểm trachéo thông tin bằng cách lập lại câu hỏi, nhấn mạnh tính bí mật vàquyền riêng tư
+ Đối với sai số trong quá trình thu thập số liệu: Giám sát, kiểm tra
số liệu tại thực địa
+ Đối với sai số trong quá trình làm sạch số liệu và nhập liệu: Đọcphiếu và làm sạch trước khi nhập liệu Tạo các tệp check của phầnmềm nhập liệu nhằm hạn chế sai số trong quá trình nhập liệu.+ Làm sạch các số liệu bị thiếu và số liệu vô lý trước khi phân tích
2.2.8 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu Khảo sát tình hình sức khỏe, bệnh tật, sử dung dụng dịch
vụ và chi phí cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại huyện Quốc Oai, Thànhphố Hà Nội năm 2015 được hội đồng đạo đức thông qua trước khi triển khaitại thực địa Nghiên cứu không ảnh hưởng tới sức khỏe cũng như các vấn đề
về kinh tế của đối tượng Trước khi thu thập số liệu, đối tượng tham gianghiên cứu được phổ biến rõ ràng về mục tiêu nghiên cứu, quyền lợi khi thamgia nghiên cứu và đạo đức nghiên cứu Họ sẽ được thông báo là họ tự nguyệnquyết định tham gia vào nghiên cứu hay không Các thông tin thu thập được
từ các đối tượng chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, hoàn toàn được giữ bímật Đối tượng được quyền dừng sự tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu bất cứlúc nào