BN : Bệnh nhânĐTNC : Đối tượng nghiên cứu NCCN : Hiệp hội ung thư quốc gia Hoa Kỳ National Comprehensive Cancer NetworkNXB : Nhà xuất bản WHO : Tổ chức Y tế thế giới World
Trang 1NGUYỄN THỊ NGOAN
THùC TR¹NG STRESS ë BÖNH NH¢N UNG TH¦ Vó
T¹I BÖNH VIÖN K Hµ NéI N¡M 2015
Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2010 - 2016
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Trần Thị Thanh Hương Th.S Phạm Phương Mai
HÀ NỘI – 2016
Trang 2Với sự kính mong và lòng biết ơn sâu sắc, em xin được bày tỏ lòng cảm
ơn chân thành tới các thầy cô giáo Bộ môn Y Đức – Viện Đào tạo Y học Dựphòng và Y tế Công cộng – Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện tốtnhất giúp em thực hiện khóa luận này
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS TS
Trần Thị Thanh Hương – Phó trưởng Bộ môn Y đức- Y xã hội học, ThS Phạm Phương Mai – Giảng viên Bộ môn Sức Khỏe Toàn Cầu, Viện Đào tạo
Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại Học Y Hà Nội Hai cô giáođã hết lòng dẵn dắt, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình về chuyên môn và luôn độngviên tinh thần để giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại học Y Hà Nội Viện Đào tạo Y họcdự phòng và Y tế công cộng Ban giám đốc và tập thể bác sĩ, y tá tại bệnhviện K Hà Nội đã đồng ý cho phép và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng em xin cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bèluôn luôn động viên quan tâm, khích lệ, là chỗ dự tinh thần vững chắc giúp
em vượt qua mọi khó khăn và hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2016
Nguyễn Thị Ngoan
Trang 3BẢN CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội.
- Phòng Quản lý Đào tạo, phòng Công tác học sinh- sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội.
- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công Cộng- Trường Đại học
Y Hà Nội.
- Bộ môn Y đức – Y xã hội học Trường Đại học Y Hà Nội.
- Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp năm 2015-2016.
Tên em là: Nguyễn Thị Ngoan, sinh viên tổ 30 lớp Y6H Em xin camđoan đây là nghiên cứu của em, các số liệu trong quá trình làm khóa luận tốtnghiệp là số liệu có thật, đồng thời kết quả nghiên cứu chưa được công bốtrên bất kỳ tạp chí hay một công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Ngoan
Trang 4BN : Bệnh nhân
ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu
NCCN : Hiệp hội ung thư quốc gia Hoa Kỳ
(National Comprehensive Cancer Network)NXB : Nhà xuất bản
WHO : Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 5Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Stress 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Phân loại 4
1.1.3 Biểu hiện 5
1.1.4 Các thang đo stress 7
1.2 Ung thư vú 8
1.2.1 Định nghĩa 8
1.2.2 Tình hình Ung thư vú 9
1.2.3 Chẩn đoán ung thư vú 10
1.2.4 Phương pháp điều trị chính 12
1.3 Nghiên cứu về distress trên bệnh nhân ung thư và ung thư vú 13
1.4 Một số nét về bệnh viện K Hà Nội 15
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.1.1 Thời gian 16
2.1.2 Địa điểm 16
2.2 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2.1 Đối tượng 16
2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 16
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ 16
2.3 Thiết kế nghiên cứu 16
2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 16
2.5 Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu 17
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 17
Trang 62.6.1 Các biến số về thông tin chung 18
2.6.2 Biến số cho mục tiêu 1 19
2.6.3 Biến số cho mục tiêu 2 19
2.7 Quy trình thu thập số liệu 19
2.8 Sai số và cách khống chế sai số 20
2.9 Xử lý và phân tích số liệu 21
2.10 Vấn đề đạo nghiên cứu 21
Chương 3: KẾT QUẢ 22
3.1 Thông tin chung của bệnh nhân ung thư vú 22
3.2 Tình trạng Distress của bệnh nhân ung thư vú 25
Chương 4: BÀN LUẬN 37
4.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân ung thư vú 37
4.1.1 Đặc điểm về nhân khẩu học 37
4.1.2 Đặc điểm về tình trạng bệnh: 38
4.2 Tình trạng distress của bệnh nhân ung thư vú 39
4.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng distress của bệnh nhân ung thư vú 42 4.4 Hạn chế của nghiên cứu 45
KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1: Thông tin chung về nhân khẩu học của bệnh nhân ung thư vú 22Bảng 3.2: Thông tin chung về tình trạng bệnh của bệnh nhân ung thư vú 24Bảng 3.3: Mức độ distress của bệnh nhân ung thư vú 25Bảng 3.4: Tương quan giữa distress của bệnh nhân ung thư vú và một số yếu
tố nhân khẩu học 26Bảng 3.5: Tương quan giữa distress của bệnh nhân ung thư vú và một số yếu
tố đặc điểm của bệnh 28Bảng 3.6: Mô hình hồi quy logistic về một số yếu tố liên quan đến tình trạng
distress của bệnh nhân ung thư vú 29Bảng 3.7: Mối liên quan giữa distress và một số vấn đề khó khăn trong sinh
hoạt thường ngày của bệnh nhân ung thư vú 31Bảng 3.8: Mối liên quan giữa distress và một số vấn đề khó khăn liên quan
đến công việc gia đình của bệnh nhân ung thư vú 32Bảng 3.9: Mối liên quan giữa distress và một số vấn đề về cảm xúc của bệnh
nhân ung thư vú 33Bảng 3.10: Mối liên quan giữa distress và một số vấn đề về thể chất toàn thân
của bệnh nhân ung thư vú 34Bảng 3.11: Mối liên quan giữa distress một số vấn đề về thể chất khác của
bệnh nhân ung thư vú 35
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ distress của bệnh nhân ung thư vú 25
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Stress xuất hiện và tồn tại cùng với sự hình thành và phát triển của xãhội loài người Trong khi nhiều người cho rằng stress là động lực, là yếu tốcần thiết để phát huy sức mạnh tiềm tàng giúp mỗi cá nhân phấn đấu, vượtqua những khó khăn thì không ít người đã đưa ra bằng chứng không thể phủnhận rằng stress chính là “thủ phạm” dẫn đến sự phát sinh bệnh tật, làm suynhược cả thể chất và tinh thần
Theo Hans Selye không phải mọi dạng stress đều có hại, “stress chính là gia vị của cuộc sống”, “cuộc đời không có stress đó là cái chết” [1] Hans
Selye đã chia stress thành hai nhóm là “eustress” và “d istress” để phân biệtgiữa các dạng stress có lợi và có hại Trong khi “eustress” nói đến dạng stress dễchịu hay có tác dụng trị bệnh, mang đến sự thích thú, lòng nhiệt tình và niềm vuitrong cuộc sống thì “distress” chỉ một dạng stress xấu, gây ra bệnh tật, rất có hạicho sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần [2]
Theo ghi nhận ung thư toàn cầu GLOBOCAN 2012, Ung thư vú là loạiung thư thường gặp thứ hai trên thế giới, đứng thứ nhất về tỷ lệ mắc và tỷ lệtử vong trong các bệnh ung thư ở phụ nữ Trên thế giới cókhoảng 1,67 triệutrường hợp mới mắc ung thư vú (chiếm khoảng 25% trong tổng số các loạiung thư) Hàng năm tại Việt Nam có khoảng 12.000 phụ nữ mới mắc ung thưvú, khoảng 4.700 trường hợp tử vong và khoảng 39.000 người sống với bệnhung thư vú trong vòng 5 năm kể từ khi chẩn đoán [3] Số người mắc ung thưvú vẫn tiếp tục tăng lên trong những năm gần đây
Hiện nay Y học đã có nhiều tiến bộ trong điều trị ung thư giúp kéo dàithời gian sống cho bệnh nhân Tuy nhiên, điều trị ung thư là quá trình nặng nềvà lâu dài Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người bệnh Bệnh nhânkhông chỉ đối mặt với đau đớn về thể chất, tác dụng không mong muốn do
Trang 9các phương pháp điều trị nặng nề mà còn phải đối mặt với lo lắng, căngthẳng, stress kéo dài Trên thế giới có nhiều nghiên cứu chỉ ra những vấn đềtâm lý trên bệnh nhân ung thư vú Nghiên cứu của Hamid Saeedi-Saedi vàcộng sự trên bệnh nhân UTV năm 2015 đã cho thấy có 39% bệnh nhân có vấnđề distress [4] Sự lo lắng, buồn phiền hay các vấn đề tâm lý tiêu cực có thểgây ra sự gián đoạn và làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Môhình liên kết giữa lo âu và chất lượng cuộc sống, đặc biệt là suy giảm chứcnăng xã hội, mệt mỏi và suy giảm thể chất đã được chứng minh ở người bệnhung thư nói chung bởi Aass và cộng sự (2007) [5] Tuy nhiên tại Việt Nam,các nghiên cứu về vấn đề trên còn rất hạn chế Trong khuôn khổ đề tài nghiêncứu này chúng tôi tập trung tìm hiểu về distress_ một dạng stress xấu với 2mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng distress của bệnh nhân ung thư vú tại Bệnh viện K Hà Nội năm 2015.
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến thực trạng distress của bệnh nhân ung thư vú nói trên.
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Stress
1.1.1 Khái niệm
Stress có nguồn gốc từ tiếng latinh là “stringere” có nghĩa là kéo cănghoặc đè nén Thuật ngữ này được dùng phổ biến từ thế kỷ 17 để mô tả conngười đang trải qua thử thách gay go, tai họa hoặc nỗi buồn đau Năm 1956thuật ngữ “stress” được mọi người biết đến rộng rãi Theo Hans Selye:
“Stress là phản ứng của cơ thể với mọi tác động của môi trường, do đó nó là phản ứng không thể thiếu được ở động vật nói chung và con người nói riêng.” Sau này ông nhấn mạnh: “Stress có tính chất tổng hợp chứ không chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý” [6].
Theo từ điển Y học Anh – Việt (2007), NXB Khoa học: “Stress là bất cứ nhân tố nào đe dọa đến sức khỏe cơ thể hay có tác động phương hại đến chức năng cơ thể như thương tổn, bệnh tật hay tâm trạng lo lắng ” Định
nghĩa này đã xem stress như là các tác nhân [7]
Dưới góc độ xã hội học, stress được xem như một sự kiện từ môitrường đòi hỏi một cá nhân phải thử thách những tiềm năng và đáp ứng không
bình thường Hiểu một cách khác, stress là “những biến động trong xã hội, trong gia đình và trong đời sống cá nhân tác động lên con người, gây mất thăng bằng” cho họ [8].
Distress trong bệnh ung thư là cảm xúc khó chịu phải trải qua của tâmlý (nhận thức, hành vi, cảm xúc), xã hội, tinh thần Điều này gây khó khăn,trở ngại cho khả năng đương đầu, chống chọi hiệu quả với bệnh ung thư, cácphương pháp vật lý trị liệu và phác đồ điều trị Distress bao gồm những cảmxúc liên tục khác nhau từ cảm xúc chung chung, bình thường đến cảm thấy dễ
Trang 11bị tổn thương, buồn phiền, sợ hãi và nhiều vấn đề tâm lý tiêu cực khác.Distress còn gây ra tình trạng buồn chán, lo lắng, hoảng loạn, bị cô lập trongxã hội và tinh thần khủng hoảng dẫn đến trầm cảm… [8].
Distress là những điều tác động bất lợi tới cuộc sống, khiến người takhông làm những việc yêu thích trước đó Distress ngày càng được quantâm nghiên cứu và được coi như là một yếu tố làm giảm chất lượng cuộcsống của bệnh nhân ung thư Bao gồm những trạng thái lo âu trầm cảm, rốiloạn dạng cơ thể [9]
1.1.2 Phân loại
Có nhiều cách phân loại Stress khác nhau:[10], [11]
Theo H.Selye, stress có hai mức độ:
- Mức độ eustress: là mức độ stress bình thường, là phản ứng thích nghibình thường của cơ thể, đây là stress tích cực, nó huy động khả năng của cơthể vượt qua được tác nhân gây stress và lấy lại sự cân bằng
- Mức độ distress: là mức độ stress bệnh lý, phản ứng thích nghi của cơthể bị thất bại, con người không thể vượt qua được tác nhân gây stress và dẫnđến tình trạng ốm đau bệnh tật
Cách phân loại của H.Selye đã chỉ ra mức độ có lợi và có hại cho cơ thểcủa stress nhưng chưa chỉ rõ những dấu hiệu tâm sinh lý của từng mức độstress nên tác dụng dự báo để phòng ngừa còn hạn chế
Đặng Phương Kiệt phân chia mức độ stress như sau:
- Stress mức độ nhẹ: là mức độ mà chủ thể có thể cảm nhận như mộtthách thức làm tăng thành tích
- Stress mức độ vừa: là mức độ phá vỡ ứng xử và có thể dẫn đến nhữnghành động rập khuôn lặp đi lặp lại
- Stress mức độ nặng: là mức độ dẫn đến ngăn chặn ứng xử gây ra nhữngphản ứng lệch lạc, dễ bối rối, giận dữ và trầm nhược
Trang 12Cách phân loại này đã chỉ ra được dấu hiệu tâm lý của các mức độ stress.Cách phân loại mức độ stress của tác giả Nguyễn Thành Khải:
- Mức độ 1: Rất căng thẳng Chủ thể cảm nhận rất căng thẳng về tâm lý,đây là trạng thái khó chịu con người cảm nhận được và có nhu cầu được thoátkhỏi nó, do bị rơi vào tình huống khó khăn, chưa có phương án giải quyếthoặc rơi vào trạng thái căng thẳng kéo dài Về mặt cảm xúc có thể biểu hiệnở: sự giận dữ, nóng nảy thường xuyên, đôi khi là vô cớ, lo âu, thất vọng, chánnản….giảm hiệu quả của các quá trình nhận thức Chất lượng của hoạt độnggiảm sút rõ rệt
- Mức độ 2: Căng thẳng Con người cảm thấy có sự căng thẳng cảm xúc,sự tập trung chú ý cao hơn, trí nhớ, tư duy nhanh nhạy hơn, các thông số vềsinh lý tăng mạnh Trạng thái này kéo dài cơ thể sẽ chuyển sang mức độ rấtcăng thẳng Sự bền vững của mức độ này tùy thuộc vào đặc điểm tâm sinh lýcá nhân
- Mức độ 3: Ít căng thẳng Ở mức độ này, con người cảm nhận bình thườnghoặc có sự căng thẳng nhẹ, mọi hoạt động tâm sinh lý diễn ra bình thường, thayđổi không đáng kể, cơ thể huy động năng lượng với mức vừa phải
Cách phân loại của tác giả Nguyễn Thành Khải tương đối rõ ràng đã chỉ
ra được những biểu hiện tâm sinh lý trong từng mức độ
Nhìn chung sự phân chia mức độ stress chỉ mang tính chất tương đối bởimức độ stress còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cường độ, tính chất, thờigian tác động,…
1.1.3 Biểu hiện
Biểu hiện của stress ở con người rất đa dạng và phong phú [2],[11], [12]
Những thay đổi về sinh lý
Stress thường biểu hiện qua các đáp ứng sinh lý như: đáp ứng của cácgiác quan, những thay đổi trên vỏ não, các đáp ứng nội tiết, thay đổi ở hệ tiêu
Trang 13hóa, cơ…Biểu hiện bằng tim đập nhanh, khó thở, đau đầu, mất ngủ, căng cơ,buồn nôn, đau vùng dạ dày, tiêu chảy, táo bón…
Sự thay đổi về nhận thức
Các công trình nghiên cứu và thực tế cho thấy khi có stress ở mức độnhất định có thể dẫn đến sự thay đổi tích cực của tư duy, trí nhớ, khả năng chúý…như suy ngẫm để hiểu sâu sắc vấn đề, tăng cường tự nhận thức, tập trungcao độ để giải quyết tình huống một cách tối ưu Tuy nhiên stress quá mứckéo dài dẫn đến sự giảm sút hoạt động nhận thức: cảm giác và tri giác kémnhạy bén, tiếp nhận thông tin chậm, trí nhớ giảm sút, hay quên…Căng thẳngở mức độ bệnh lý _ distress có thể dẫn đến những rối loạn về tâm thần
Thay đổi về cảm xúc
Nhiều người cảm thấy hưng phấn, vui vẻ, tràn đầy khí thế nhưng cũngkhông ít người cảm thấy đơn độc, căng thẳng, nóng nảy, bất an, tuyệt vọng,dễ xúc động…Đặc biệt distress có những biểu hiện rối loạn lo âu: cảm giác sợhãi, mơ hồ, lo lắng, dễ bị kích thích
Biểu hiện về hành vi ứng xử
Stress được biểu hiện qua các hành vi ứng xử trong sinh hoạt hàng ngàycả khía cạnh tích cực và tiêu cực Tích cực như con người trở nên gần gũi, cởimở, thân thiện quan tâm đến người khác hơn, hăng say tham gia các hoạtđộng xã hội
Trái lại stress lại có những biểu hiện tiêu cực, tâm trạng con người thayđổi và dẫn đến có những hành vi ững xử không như bình thường do thiếu tựchủ, không kiểm soát được bản thân Chúng ta có thể nhận thấy những thayđổi này như: hành động chậm chạp lúng túng hay cứng nhắc, các hoạt động ýchí giảm, rối loạn giấc ngủ, hạn chế giao tiếp với người khác, kém hoạt bátnhanh nhẹn…Đó cũng chính là những biểu hiện của distress
Trang 141.1.4 Các thang đo stress.
Có nhiều thang đo stress được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau
- Thang đo tự đánh giá stress đối với sinh viên: Bộ câu hỏi được pháttriển và kiểm định bởi các chuyên gia sức khỏe tâm thần, xây dựng dựa trênbộ câu hỏi SQR 20 Thang đo này bao gồm 20 triệu chứng thể chất và tinhthần, có 7/20 triệu chứng thì sẽ được chẩn đoán là có stress Thang đo đãđược chuẩn hóa phù hợp với đối tượng nghiên cứu và người Việt Nam [13].Thang đo này thường được sử dụng trong nghiên cứu, đánh giá stress trênnhóm sinh viên
-Thang đo tự đánh giá stress trong công việc hay thang đo tự đánh giástress nghề nghiệp: Đây là thang đo dùng để khảo sát mức độ stress nghềnghiệp đã được tác giả Đặng Phương Kiệt dịch và giới thiệu trong cuốn sách
“Stress và sức khỏe” Thang đo tự đánh giá này gồm 57 câu, chia làm 3 thang
đo thành phần về: mối quan hệ với đồng ngiệp, các điều kiện sức khỏe đápứng với yêu cầu nghề nghiệp, hứng thú với nghề nghiệp và hệ quả do nghềnghiệp mang lại Tương ứng với mỗi câu có 5 phương án lựa chọn Cách tínhđiểm tương ứng cho từng câu:
Không hề xảy ra: 1 điểm
Hiếm khi xảy ra: 2 điểm
Đôi khi xảy ra: 3 điểm
Thường xuyên xảy ra: 4 điểm
Hầu hết thời gian đều xảy ra: 5 điểm
Cộng tổng điểm của cả 3 thang đo Sau đó đối chiếu với bảng phân loạiđể xác định mức độ stress [14]
Mức độ stress Mức độ thấp Mức độ trung bình Mức độ caoTổng điểm cả thang đo ≤116 điểm 117-142 điểm ≥143 điểm
Trang 15-Thang đo Distress Thermometer thường được sử dụng trên các bệnh nhânnói chung và bệnh nhân ung thư nói riêng Thang đo Distress Thermometer (DT)được giới thiệu bởi Bogaarts và các cộng sự năm 2011 và được Hội ung thưHoa Kỳ (NCCN) đưa vào hướng dẫn điều trị nhằm phát hiện distress trênbệnh nhân ung thư năm 2014 [15] Thang đo DT được sử dụng để đo lườngmức độ distress của bệnh nhân trong tuần qua kể cả ngày phỏng vấn DT baogồm hai phần:
Phần một gồm một thang điểm tự đánh giá từ 0 đến 10 Bệnh nhân tựcảm nhận mức độ distress của bản thân trong đó 0 là không bị distress và 10là rất distress Bệnh nhân tự khoanh tròn vào mức điểm mà bệnh nhân cảmthấy mình đang ở mức độ đó của distress Mức độ đánh giá như sau:
0-4 điểm: Không distres
5-7 điểm: Distress mức độ vừa
8-10 điểm: Distress mức độ nặng có những ảnh hưởng tiêu cựctrong cuộc sống
Phần hai bao gồm việc đánh giá 4 nhóm khía cạnh mà bệnh nhân gặpkhó khăn bao gồm:
Các vấn đề liên quan đến sinh hoạt thường ngày
Các vấn đề liên quan đến công việc gia đình
Các vấn đề liên quan tới cảm xúc
Các vấn đề liên quan đến thể chất
1.2 Ung thư vú
1.2.1 Định nghĩa
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào trong cơ thể khi bị kích thích bởicác tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chứckhông tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể Ung thư có thể
Trang 16phát triển ở những bộ phận khác nhau trong cơ thể Bệnh xuất phát từ đâuthường lấy tên bộ phận đó đặt tên cho bệnh [16].
Ung thư vú là bệnh ung thư xuất phát từ tuyến vú, đây là loại ung thưphổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam và đang có xu hướng gia tăng
Ung thư vú là một bệnh dễ phát hiện, điều trị ở giai đoạn sớm sẽ đemlại những kết quả khả quan Những năm gần đây nhờ những chương trìnhsàng lọc với vai trò quan trọng của chụp X Quang tuyến vú (mammography)
tỷ lệ tử vong do ung thư vú đã giảm một cách đáng kể vì có thể phát hiệnbệnh ở giai đoạn sớm [17]
1.2.2 Tình hình Ung thư vú
1.2.2.1 Trên thế giới
Bệnh ung thư vú đã được sử sách nói đến từ trước thời công nguyên.Theo thời gian các quan điểm về ung thư vú cũng thay đổi, phù hợp với cáccông trình nghiên cứu về ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng [18]
Bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất ở Mỹ và Bắc Âu, tỷ lệ mắc trung bình ởNam Âu, Tây Âu và thấp nhất ở Châu Á Ung thư vú có xu hướng tăng lên ởtất cả các nước Một số nước châu Á có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt làNhật Bản và Singapore, nơi có lối sống được Tây hóa [19]
Theo thống kê của GLOBOCAN 2012 ung thư vú là loại ung thư phổbiến thứ hai trên thế giới, có khoảng 1,67 triệu ca mới mắc trong năm 2012chiếm 25% tổng số các loại ung thư Số ca mới mắc ở các nước đang pháttriển ước tính là 883.000 trường hợp, cao hơn số ca ghi nhận được ở các nướcphát triển là 794.000 trường hợp [3]
1.2.2.2 Tại Việt Nam
Theo số liệu ghi nhận ung thư năm 2010 ung thư vú đứng hàng đầu ởnữ giới với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi trung bình trong cả nước là29,9/100.000 Ước tính năm 2020 con số này là 38,1/100.000 [20]
Trang 17Năm 2012, có khoảng 12.000 phụ nữ mới mắc ung thư vú chiếm tỷ lệcao nhất trong tất cả các loại ung thư ở nữ giới với 20,3% Có khoảng 4.700trường hợp tử vong và khoảng 39.000 người sống với bệnh ung thư vú trong 5năm kể từ khi được chẩn đoán [3].
1.2.3 Chẩn đoán ung thư vú
1.2.3.1 Chẩn đoán xác định.
Chẩn đoán xác định ung thư vú nhất thiết phải có sự khẳng định giải phẫubệnh học Trên thực tế lâm sàng, UTV thường được chẩn đoán dựa vào 3phương pháp: lâm sàng, tế bào học và chụp tuyến vú, nếu 1 trong 3 yếu tố nàycòn nghi ngờ thì bệnh nhân sẽ được sinh thiết tức thì để chẩn đoán xác định
Phương pháp sinh thiết ngoài ý nghĩa để chẩn đoán xác định còn có giátrị để đánh giá tình trạng thụ thể nội tiết (ER, PR) và Her-2/neu nhằm địnhhướng cho phương pháp điều trị nội tiết, hóa chất và để tiên lượng bệnh [21]
1.2.3.2 Chẩn đoán TNM và giai đoạn
Theo AJCC (Ủy ban liên kết chống Ung thư Mỹ) năm 2007, hệ thống phânloại giai đoạn ung thư vú theo TNM được áp dụng như sau [22]:
T: U nguyên phát
- Tx: không đánh giá được có u nguyên phát hay không
- To: không có u nguyên phát
- Tis: ung thư biểu mô tại chỗ: ung thư biểu mô ống, ung thư biểu
mô thùy tại chỗ, bệnh Paget núm vú không có u
- T1: u có kích thước lớn nhất ≤ 2cm
- T2: u có kích thước lớn nhất >2cm và ≤5cm
- T3: u có kích thước lớn nhất >5cm
- T4: u xâm lấn thành ngực hoặc da bất kể kích thước
N: hạch vùng
- Nx: không đánh giá được di căn hạch vùng( đã lấy bỏ trước đó)
Trang 18- No: không di căn hạch vùng
- N1: di căn hạch nách cùng bên di động
- N2: di căn hạch nách cùng bên cố định hoặc dính nhau, hoặc dicăn hạch vú trong cùng bên nhưng không di căn hạch nách
- N3: di căn hạch hạ đòn cùng bên có hoặc không kèm theo hạchnách cùng bên, hoặc di căn hạch vú trong cùng bên kèm di cănhạch nách cùng bên, hoặc di căn hạch thượng đòn cùng bên cóhoặc không kèm hạch nách hoặc hạch vú trong cùng bên
M: Di căn xa:
- Mx: không xác định được di căn hay không
- Mo: không di căn
- M1: có di căn xa
1.2.3.3 Chẩn đoán mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến vú [22]
Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới WHO năm 1982:
Không xâm nhập:
- Ung thư biểu mô nội ống
- Ung thư biểu mô thùy tại chỗ
Xâm nhập:
- Ung thư biểu mô ống xâm nhập
- Ung thư biểu mô ống xâm nhập với thành phần nội ống
- Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập
- Ung thư biểu mô thể nhày
- Ung thư biểu mô thể tủy
- Ung thư biểu mô thể nhú
- Ung thư biểu mô thể ống nhỏ
- Ung thư biểu mô dạng tuyến nang
- Ung thư biểu mô chế tiết
Trang 19- Ung thư biểu mô bán hủy
- Ung thư biểu mô dị sản
Các loại khác:
- Ung thư biểu mô vi ống xâm nhập
- Các loại đặc biệt khác
Các nghiên cứu cho thấy, hay gặp nhất là loại ung thư biểu mô thể ốngxâm nhập, chiếm > 90%
1.2.4 Phương pháp điều trị chính [23], [24].
Để điều trị bệnh ung thư vú cần phối hợp giữa các phương pháp tại chỗ,tại vùng (phẫu thuật, xạ trị) với các phương pháp toàn thân (hóa trị nội tiết).Việc sử dụng phương pháp điều trị nào phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, thểtrạng chung của người bệnh, tuổi tác và tình trạng thụ thể nội tiết
Các phương pháp:
- Phẫu thuật: phẫu thuật là phương thức điều trị chính trong UTV, đặcbiệt là ở giai đoạn chưa di căn Có nhiều cách thức phẫu thuật được áp dụngtùy theo từng giai đoạn bệnh Phương pháp phẫu thuật được áp dụng rộng rãinhất là phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn cải biên (phẫu thuật Patey) Ngoài racòn có phương pháp phẫu thuật bảo tồn tuyến vú
- Xạ trị: là phương pháp bức xạ ion hóa để giết chết tế bào ung thư.Phương pháp này được dùng để ngăn chặn ung thư tăng trưởng trước phẫuthuật, hay tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau phẫu thuật Phẫu thuật kếthợp với xạ trị là phương pháp điều trị ung thư giai đoạn sớm Khi xạ trị ngườibệnh thường gặp phải nhiều phản ứng phụ Thông thường nhất là phỏng nhẹ,rộp da, đau rát Đôi khi gặp phản ứng nặng người bệnh phải nghỉ ngơi mộtthời gian ngắn sau đó điều trị lại
- Hóa trị: Là phương pháp điều trị toàn thân bằng cách đưa các loại thuốchóa học vào cơ thể nhằm mục đích tiêu diệt những tế bào ung thư Hóa trị
Trang 20thường được dùng kết hợp với phẫu thuật, xạ trị hay dùng để chống ung thư táiphát hay di căn Hóa trị được sử dụng trước hoặc sau phẫu thuật ung thư vú giaiđoạn I, II, III có thể làm tăng cơ hội sống cho nhiều người bệnh Tuy nhiên hóachất tiêu diệt tế bào ung thư cũng gây hủy hoại tế bào lành và có nhiều phảnứng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân Những phản ứng phụ của hóa chấtbao gồm: rụng tóc, đỏ da, buồn nôn, nôn, chán ăn, mệt mỏi toàn thân.
- Điều trị nội tiết: Ung thư vú là một bệnh chịu ảnh hưởng của nội tiếttố nữ Vì thế ngăn chặn hoặc cho thêm nội tiết tố vào cơ thể người bệnh đểđiều trị ung thư Tuy nhiên phương pháp này chỉ hiệu quả với bệnh nhân nữmắc loại ung thư vú nào nhạy cảm với nội tiết tố nữ
- Điều trị sinh học: đây là hướng đi mới cho việc điều trị ung thư vú.Người ta vẫn đang nghiên cứu hiệu quả của điều trị sinh học UTV trong cảithiện thời gian sống thêm và chất lượng cho bệnh nhân
1.3 Nghiên cứu về distress trên bệnh nhân ung thư và ung thư vú
Khoảng 20% đến 40% bệnh nhân ung thư vú trải qua tình trạng distressở mức độ cao [25], [26] Mặc dù ít hơn 10% trong số họ được chẩn đoán bởicác chuyên gia ung thư xác nhận rằng có vấn đề về sức khỏe tâm thần và tưvấn sức khỏe tâm thần [27]
Tại Iran, trong một nghiên cứu của Hamid Saeedi-Saedi và cộng sự năm
2014 về distress trên 82 bệnh nhân ung thư vú gồm 79 bệnh nhân nữ và 3 bệnhnhân nam chỉ ra rằng: Có 32 bệnh nhân chiếm 39% có tỷ lệ mức độ distress cao
≥ 4 điểm và 50 bệnh nhân chiếm 61% có tỷ lệ về mức độ distressthấp < 3 điểm.Nghiên cứu này sử dụng thang đo distress- Distress Thermometer [4]
Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Colombia của Joanne Lester vàcộng sự về distress trên 100 bệnh nhân ung thư vú cho kết quả: điểm trungbình khi sử dụng thang đo Distress Thermometer là 4,3 điểm (SD = 3,1; 0-10) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm đang trong thời
Trang 21gian điều trị, sau điều trị và sau ba tháng điều trị Tuy nhiên điểm số củanhóm sau 6 tháng điều trị thì có kết quả giảm đáng kể so với nhóm thời giantrước đó (p < 0,01 cho tất cả) [15].
Ngoài các nghiên cứu về distress các nhà khoa học cũng nghiên cứu vềnhững vấn đề liên quan tới sức khỏe tâm thần khác như lo âu, trầm cảm…Trong một nghiên cứu của E Frick, M Tyroller và M Panzer (2007) về vấnđề lo âu trầm cảm trên bệnh nhân ung thư, tỷ lệ lo âu được báo cáo là 28,6%trong khi đó tỷ lệ trầm cảm là 25,5% [28] Một nghiên cứu về tâm lý xã hộivà chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư vú của Mehnert A và Kocknăm 2008 báo cáo kết quả cho thấy có tới 38% phụ nữ ung thư vú lo âu từmức độ trung bình đến mức độ cao, và 22% phụ nữ mắc ung thư vú bị trầmcảm nặng [29]
Staford và cộng sự (2013) cho thấy tỷ lệ lo âu ở nhóm bệnh nhân ungthư vú và sản phụ khoa là 17,7%, tỷ lệ trầm cảm là 32,5% và không có sựkhác biệt giữa nhóm bệnh nhân ung thư vú và ung thư phụ khoa [30]
Có khuyến cáo cho rằng có hơn một nửa số bệnh nhân ung thư mới cầnsử dụng phương pháp xạ trị, phương pháp này được thực hiện tại phòng khámngoại trú ở các trung tâm điều trị ung trong một lịch trình từ thứ 2 đến thứ 6kéo dài từ hai đến 8 tuần [28] Thời gian điều trị tích cực này có thể mang đến
cơ hội quý báu cho việc sàng lọc và can thiệp cho vấn đề tâm lý ở người bệnh[31] Đây là một trong các lý do để L.J Mackenzie và công sự (2013) đã tiếnhành nghiên cứu đau khổ tâm lý trên bệnh nhân ung thư trải qua điều trị xạ trị.Nghiên cứu này đã cho thấy tỷ lệ lo âu thực sự là 15% và 5,7% cho trầm cảmthực sự Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những bệnh nhân được chẩn đoán ungthư tiền liệt tuyến có biểu hiện lo âu thấp hơn những bệnh nhân mắc ung thưtuyến vú, và những bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên có tỷ lệ thấp hơn đáng kể vềsự hiện diện của lo âu so với nhóm tuổi từ 18-49 tuổi Với khả năng có sựbiểu hiện của trầm cảm giữa các nhóm trong phân tích hồi quy đa biến nhóm
Trang 22bệnh nhân được chẩn đoán các loại ung thư phổ biến khác ( bao gồm ung thưđầu và cổ, phổi, đại trực tràng, da melanoma) cao gấp 3,4 lần nhóm bệnhnhân ung thư vú Trong phân tích này, không có sự khác biệt giữa các nhómcủa biến giới, tuổi [32].
1.4 Một số nét về bệnh viện K Hà Nội
Bệnh viện K hay bệnh viện Ung bướu Trung ương là cơ sở chuyênkhoa đầu nghành của cả nước về điều trị và phòng chống ung thư, được thànhlập năm 1969 dựa trên cơ sở của Viện Radium Đông Dương – một cơ sở điềutrị và phòng chống ung thư lâu đời nhất trong khu vực (1923) Hiện nay bệnhviện gồm 3 cơ sở Cơ sở 1 nằm tại 43 Quán Sứ - Hàng Bông – Hoàn Kiếm –Hà Nội Cơ sơ 2 thuộc Tam Hiệp – Thanh Trì – Hà Nội Cơ sở 3 tại 30 đườngCầu Bươu – Thanh Trì – Hà Nội Hiện nay cơ sở 3 có quy mô lớn nhất với1.000 giường bệnh hiện đại, đồng bộ về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế,đạt tiêu chuẩn một bệnh viện chuyên khoa về ung thư hạng I, ngang tầm khuvực, đáp ứng được các nhu cầu cấp bách về khám và điều trị ung bướu củanhân dân Đội ngũ bác sỹ điều dưỡng cùng cán bộ công nhân viên giỏi, tậntụy luôn hết lòng vì người bệnh và người nhà bệnh nhân Bên cạnh hoạt độngkhám và điều trị cho bệnh nhân ung thư, bệnh viên luôn chú trọng công tácnghiên cứu khoa học và các hoạt động phòng chống ung thư Thể hiện bằngviệc ra đời của Viện nghiên cứu phòng chống ung thư quốc gia vào năm
2007 Bệnh viện K đang từng bước hoàn thiện về nhân lực và vật lực để phụcvụ công tác phòng chống và điều trị ung thư [33]
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Thời gian
Nghiên cứu được tiến hành từ 11/2015- 5/2016
2.1.2 Địa điểm.
Bệnh viện K cơ sở 1: các khoa Xạ
Bệnh viện K cơ sở 3: khoa Nội 5 và khoa Ngoại
2.2 Đối tượng nghiên cứu.
2.2.1 Đối tượng: là các bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư vú 2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn.
- Bệnh nhân nữ UTV từ 18 tuổi trở lên
- Bệnh nhân có chẩn đoán xác định là ung thư vú nguyên phát trongvòng 2 năm tính đến thời điểm phỏng vấn
-Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ.
- Bệnh nhân nhỏ hơn 18 tuổi
- Bệnh nhân UTV không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân không phải UTV nguyên phát
- Bệnh nhân không đủ thể lực và tinh thần để tham gia phỏng vấn
2.3 Thiết kế nghiên cứu.
Nghiên cứu định lượng: thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang Cỡmẫu được tính theo công thức ước tính 1 tỷ lệ trong quần thể:
Trang 24α: mức ý nghĩa thống kê Chọn α = 0,05 thì Z(1-α/2)=1,96.
p: Tỷ lệ bệnh nhân ung thư vú bị distress 0,39 được lấy từ nghiêncứu của Hamid Saeedi-Saedi và cộng sự trên bệnh nhân ung thư vú năm 2015cho thấy có 39% bệnh nhân có vấn đề distress [4]
ε: Sai số mong đợi, chọn ε=0,2
Chọn mẫu.
Cách chọn mẫu: chọn mẫu bằng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện Lựachọn tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán xác định là ung thư vú cho tới khiđủ cỡ mẫu
2.5 Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu.
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Bộ câu hỏi được xây dựng trênthang đo về distress: Distress Thermometer Bộ câu hỏi bao gồm:
Phần một: Thông tin chung về ĐTNC
Phần hai:Thang điểm từ 0-10 điểm để đánh giá mức độ stress bệnhnhân cảm thấy trong tuần vừa qua:
0-4 điểm: Không distress
5-7 điểm: Distress mức độ vừa
8-10 điểm: Distress mức độ nặng, có những ảnh hưởng tiêu cựctrong cuộc sống
Phần ba: 4 nhóm vấn đề chính mà bện nhân có thể gặp phải bao gồm:
Trang 25 Hoạt động thường ngày.
Công việc gia đình
Cảm xúc
Thể chất
2.5.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân theo bộ câu hỏi.Điều tra viên chào hỏi bệnh nhân Sau đó giới thiệu về nghiên cứu, nêurõ mục đích nghiên cứu Nếu bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu thì yêucầu bệnh nhân ký vào phiếu điều tra Sau đó, điều tra viên tiến hành phỏngvấn bệnh nhân Điều tra viên trực tiếp hỏi, bệnh nhân trực tiếp trả lời
2.6 Biến số và chỉ số
2.6.1 Các biến số về thông tin chung
Thông tin
chung của
ĐTNC
Tuổi Tỷ lệ % ĐTNC theo từng nhóm tuổi
Tình trạng hônnhân
Tỷ lệ % ĐTNC theo từng nhóm hôn nhân
Trình độ học vấn Tỷ lệ % ĐTNC theo nhóm trình độ học vấn.Công việc hiện tại Tỷ lệ % ĐTNC theo các nhóm công việc.BHYT Tỷ lệ % ĐTNC có hoặc không có BHYT.Thời gian được
Tỷ lệ % ĐTNC theo từng phương pháp điềutrị đang nhận được
Trang 262.6.2 Biến số cho mục tiêu 1
Mô tả thực
trạng Distress
Thực trạngDistress
Tỷ lệ % ĐTNC không distress
Tỷ lệ % ĐTNC distress mức độ vừa
Tỷ lệ % ĐTNC distress mức độ nặng
2.6.3 Biến số cho mục tiêu 2
Một số yếu tố liên quan
đến distress của ĐTNC
Đặc điểm nhân khẩuhọc của ĐTNC: tuổi,hôn nhân, học vấn, tìnhtrạng làm việc, bảo hiểm
y tế
Tình trạng distress củaĐTNC: distress/không
distress
Đặc điểm bệnh củaĐTNC: thời gian chẩnđoán, phương pháp đangđiều trị
Một số vấn đề : khó
khăn trong hoạt độngthường ngày, gia đình,cảm xúc, thể chất củaĐTNC
2.7 Quy trình thu thập số liệu
Công tác thu thập số liệu thực hiện từ tháng 11/2015 đến tháng 12/2015,ngay sau khi đề cương nghiên cứu được thông qua cùng với sự chấpthuận cho tiến hành nghiên cứu của Hội đồng Khoa học Trường Đại Học
Y Hà Nội, công tác thu thập số liệu chính thức được triển khai
Nhóm phỏng vấn gồm 3 điều tra viên và một trưởng nhóm Trước khi
đi phỏng vấn các điều tra viên được tập huấn một buổi Hướng dẫn về
Trang 27phương pháp, công cụ, cách thức thu thập thông tin số liệu và giải đápthắc mắc liên quan đến bộ câu hỏi.
Điều tra viên sẽ linh động đi phỏng vấn bệnh nhân vào các buổi trongtuần thích hợp Sau mỗi buổi phỏng vấn điều tra viên soát lại phiếu,phỏng vấn bổ sung các nội dung chưa đạt và nộp lại cho nhóm trưởng.Nhóm trưởng kiểm tra lại phiếu một lần nữa và sắp xếp theo từng ngàyđiều tra
2.8 Sai số và cách khống chế sai số
Hạn chế:
- Về phía bệnh nhân:
+ Bệnh nhân đang trong quá trình điều trị nên mệt mỏi không muốnhợp tác
+ Bệnh nhân được hỏi các vấn đề từ trong tuần trước nên dễ mắccác sai số nhớ lại
+ Sai số do bệnh nhân không tự nhận biết và mô tả chính xác cácvấn đề liên quan đến trạng thái tinh thần của mình
- Về phía điều tra viên:
+ Sai số do điều tra viên bỏ quên câu hỏi
+ Sai số trong quá trình nhập liệu
Cách khắc phục:
- Hướng dẫn cẩn thận về cách phỏng vấn cho điều tra viên Tập huấnkỹ cho điều tra viên về việc giải thích cho bệnh nhân về câu hỏi đểbệnh nhân chọn đúng
- Sau khi phỏng vấn xong một phiếu phải có bước kiểm tra lại để đảmbảo các câu hỏi đã được phỏng vấn hết
- Trưởng nhóm có mặt thường xuyên ở nơi tiến hành nghiên cứu đểgiám sát và hỗ trợ điều tra viên kịp thời
Trang 28- Các phiếu điều tra chưa đầy đủ yêu cầu điều tra viên điều tra lại.
- Kiểm tra kỹ các file số liệu trước khi phân tích để phát hiện nhữnglỗi sai trong quá trình nhập rồi khắc phục các lỗi đó
- Trong quá trình nhập số liệu, bộ số liệu được nhập lại 10% số phiếunhằm kiểm tra thông tin nhập một cách kỹ lưỡng nhất, hạn chế saisố một cách tối đa
2.9 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi được làm sạch sẽ được nhập vào máy tính và quản lýbằng phần mềm Epidata 3.1
Các số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm Stata 10.0
Thống kê mô tả: Mô tả số liệu về thông tin chung của đối tượng nghiêncứu: giá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn cho các biến định lượngvà tỷ số, tỷ lệ cho các biến định tính
Sử dụng test thống kê suy luận, phân tích hồi quy logistic (có ý nghĩavới p≤ 0,05)
2.10 Vấn đề đạo nghiên cứu
Các đối tượng nghiên cứu được đưa vào nghiên cứu trên cơ sở tựnguyện, điều tra viên giải thích về nghiên cứu và đối tượng đồng ýtham gia nghiên cứu sẽ ký vào bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiêncứu Đối tượng có quyền từ chối không tham gia nghiên cứu
Thông tin về đối tượng nghiên cứu được đảm bảo bí mật với mã sốriêng cho từng đối tượng nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ
3.1 Thông tin chung của bệnh nhân ung thư vú.
Trang 29Bảng 3.1: Thông tin chung về nhân khẩu học của bệnh nhân ung thư vú
Đặc điểm nhân khẩu học của BN UTV n %
Tuổi trung bình 50,8 ± 10,9 ( min=28; max=78)
Tình trạng hôn nhân
Đang sống với chồng/bạn tình 125 82,8
Bảo hiểm y tế
Nhận xét: Bảng 3.1 trình bày thông tin chung về nhân khẩu học của bệnh
nhân ung thư vú Theo đó, độ tuổi trung bình của tổng số 151 bệnh nhân thamgia nghiên cứu là 50,8 (SD= 10,9) với bệnh nhân ít tuổi nhất là 28 tuổi và lớnnhất là 78 tuổi Có 82,8% bệnh nhân đã kết hôn hoặc chưa kết hôn nhưngđang sống với bạn tình Nhóm bệnh nhân hiện tại không còn làm việc chiếm
tỷ lệ cao nhất với 55,6%
Về số năm học đã hoàn thành, nhóm từ 0 – 5 năm chiếm 19,9%, nhómđã hoàn thành hơn hoặc bằng 13 năm học chiếm 15,9% và nhóm từ 6 – 12năm chiếm tỷ lệ cao nhất là 64,2%
Trang 30Nhóm bệnh nhân sử dụng bảo hiểm y tế cho các chi trả chăm sóc tạibệnh viện chiếm 92,1% và không sử dụng bảo hiểm y tế cho các chi trả chămsóc tại bệnh viện chiếm 7,9%.
Trang 31Bảng 3.2: Thông tin chung về tình trạng bệnh của bệnh nhân ung thư vú
Đặc điểm bệnh của BN UTV n %
Thời gian chẩn đoán
Thời gian được chẩn đoán trung bình
(tháng) 7,7 ± 5,9 (min=1;max=24)Phương pháp điều trị hiện tại
Nhận xét: Bảng 3.2 trình bày thông tin về một số đặc điểm bệnh của bệnh
nhân ung thư vú Theo đó thời gian trung bình kể từ khi được chẩn đoán ungthư là 7,7 tháng (SD= 5,9) bệnh nhân có thời gian từ khi chẩn đoán đến nay ítnhất là 1 tháng và nhiều nhất là 24 tháng Trong đó nhóm có thời gian kể từkhi chẩn đoán từ 6 tháng trở xuống chiếm tỷ lệ 58,9% cao hơn nhóm có thờigian chẩn đoán trên 6 tháng với 41,1%
Các đối tượng nghiên cứu của chúng tôi thuộc nhóm sử dụng phươngpháp hóa trị chiếm tỷ lệ lớn nhất với 71,5% Nhóm bệnh nhân phẫu thuật vàxạ trị tương đương nhau với tỷ lệ lần lượt là 13,3% và 15,2% Không có bệnhnhân nào sử dụng phương pháp hooc môn và miễn dịch
Trang 323.2 Tình trạng Distress của bệnh nhân ung thư vú
60%
40%
Không distress Distress
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ distress của bệnh nhân ung thư vú
Nhận xét: Biểu đồ 3.1 cho thấy trong số những bệnh nhân ung thư vú tham
gia nghiên cứu có 40,4% bệnh nhân bị distress và 59,6% bệnh nhân không bịdistress
Bảng 3.3: Mức độ distress của bệnh nhân ung thư vú.
Điểm distress trung bình 4,0 ± 2,0( min=0; max=9)
Nhận xét: Điểm distress trung bình của đối tượng nghiên cứu là 4,0
(SD=2,0) Trong đó, có 90 bệnh nhân (59,6%) không distress, trong khi đó có
51 (33,8%) bệnh nhân distress mức độ vừa và 10 (6,6%) bệnh nhân distressmức độ nặng