Ý kiến của sinh viên về thực trạng sử dụng mạng xã hội trong giảng dạy tại trường Đại học Y Hà Nội...414.5.. Và hiện tại, chưa có nghiên cứu nào về việc sử dụng MXH trong học tập của sin
Trang 2và Y tế công cộng đã giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích
và quý báo trong suốt thời gian học tập đại học tại trường
Em xin chân thành cảm ơn Giám đốc Trung tâm khảo thí và đảm bảochất lượng, cùng với các cán bộ làm việc tại trung tâm đã tạo điều kiện giúp
đỡ em trong suốt quá trình thu thập số liệu tại trung tâm
Em xin cảm ơn tới toàn thể thầy cô trong Bộ môn Giáo dục sức khỏe đã
có những nhận xét và góp ý chân thành giúp em hoàn thành tốt khóa luận tốtnghiệp này
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo ThS Phạm Bích Diệp
Bộ môn Giáo dục sức khỏe Cô đã hướng dẫn tận tình và chỉ dạy cho emtrong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp, giúp em hoàn thành tốt khóaluận này
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ em trong học tập cũng như trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Phương
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Phòng đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội
- Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Tên em là: Lê Thị Phương, sinh viên năm thứ 4 khoa Y Tế Công Cộng,trường Đại học Y Hà Nội
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu được tiến hành nghiêmtúc và trung thực dưới sự hướng dẫn của THS Phạm Bích Diệp Kết quảtrong nghiên cứu chưa từng được công bố trong bất cứ y văn nào
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Lê Thị Phương
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Khái niệm mạng xã hội 3
1.1.1 Định nghĩa mạng xã hội 3
1.1.2 Chức năng của mạng xã hội 3
1.1.3 Mạng xã hội được sử dụng phổ biến hiện nay 4
1.2 Tầm quan trọng và ứng dụng của mạng xã hội trong cuộc sống, học tập và giảng dạy 5
1.2.1 Tầm quan trọng và ứng dụng của mạng xã hội trong cuộc sống 5
1.2.2 Tầm quan trọng và ứng dụng của mạng xã hội trong học tập và giảng dạy 6
1.3 Tổng quan về các nghiên cứu sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam 8
1.3.1 Nghiên cứu về thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên 8
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội trong sinh viên .9 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2 Địa điểm nghiên cứu 11
2.3 Thời gian nghiên cứu 11
2.4 Thiết kế nghiên cứu 11
2.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 11
2.6 Các biến số/chỉ số nghiên cứu 12
2.7 Phương pháp và quy trình thu thập số liệu 14
2.7.1 Công cụ thu thập số liệu 14
2.7.2 Quy trình thu thập số liệu 14
Trang 62.10 Phân tích số liệu 15
2.11 Đạo đức nghiên cứu 15
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 16
3.2 Thực trạng sử dụng mạng xã hội nói chung trong sinh viên trường Đại học Y Hà Nội 18
3.2.1 Kênh tiếp cận với mạng xã hội lần đầu tiên 18
3.2.2 Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên 19
3.2.3 Công cụ sử dụng truy cập mạng xã hội 21
3.2.4 Mục đích sử dụng mạng xã hội của sinh viên 22
3.2.5 Các trang mạng xã hội được sinh viên sử dụng 23
3.3 Thực trạng sử dụng mạng xã hội trong dạy và học của sinh viên trường Đại học Y Hà Nội 23
3.3.1 Thời gian sử dụng mạng xã hội trong học tập theo giới tính 23
3.3.2 Thời gian sử dụng mạng xã hội trong học tập theo năm học 24
3.3.3 Hình thức học tập trên mạng xã hội của sinh viên theo giới tính 26
3.3.4 Hình thức học tập trên mạng xã hội của sinh viên theo năm học 27
3.3.5 Nhận định của sinh viên về mạng xã hội trong học tập 28
3.3.6 Mức độ thường xuyên sử dụng thông tin trên MXH trong học tập30 3.3.7 Các loại mạng xã hội được sử dụng với mục đích học tập 30
3.3.8 Mức độ sẵn sàng sử dụng mạng xã hội để học tập của sinh viên 31
3.4 Ý kiến của sinh viên về sử dụng mạng xã hội trong giảng dạy tại trường Đại học y Hà Nội 32
3.4.1 Thực trạng sử dụng mạng xã hội trong giảng dạy tại trường Đại học Y Hà Nội 32
Trang 73.4.3 Ý kiến của sinh viên về khả năng áp dụng mạng xã hội trong giảng
dạy tại trường theo năm học 34
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 35
4.1 Đặc điểm chung về đối tượng 354.2 Thực trạng sử dụng mạng xã hội nói chung trong sinh viên trường Đại học Y Hà Nội 364.3 Thực trạng sử dụng mạng xã hội trong dạy, học của sinh viên trường Đại học Y Hà Nội 394.4 Ý kiến của sinh viên về thực trạng sử dụng mạng xã hội trong giảng dạy tại trường Đại học Y Hà Nội 414.5 Ý kiến của sinh viên về khả năng áp dụng mạng xã hội trong giảng dạy tại trường 41
KẾT LUẬN 43 KIẾN NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 2.1: Các biến số/chỉ số trong nghiên cứu 12
Bảng 3.1: Số lượng sinh viên theo giới tính và năm học 16
Bảng 3.2: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 17
Bảng 3.3: Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo giới tính 19
Bảng 3.4: Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo năm học 19
Bảng 3.5: Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo học lực 20
Bảng 3.6: Thời gian sử dụng mạng xã hội so với thời gian sử dụng internet trong ngày theo giới tính và học lực 20
Bảng 3.7: Mục đích sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo giới tính 22
Bảng 3.8: Mục đích sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo năm học 22
Bảng 3.9 Thời gian sử dụng mạng xã hội trong ngày cho học tập theo giới tính 23
Bảng 3.10: Thời gian sử dụng mạng xã hội trong ngày cho học tập theo năm học 24
Bảng 3.11: Mục đích học tập trên mạng xã hội của sinh viên theo giới tính 25 Bảng 3.12: Hình thức học tập trên mạng xã hội của sinh viên theo giới tính 26 Bảng 3.13: Hình thức học tập trên mạng xã hội của sinh viên theo năm học 27
Trang 9Bảng 3.15: Thực trạng sử dụng mạng xã hội trong giảng dạy tại trường Đại
học Y Hà Nội theo ý kiến của sinh viên các năm 32Bảng 3.16: Ý kiến của sinh viên về khả năng áp dụng mạng xã hội trong
giảng dạy tại trường theo giới tính 33Bảng 3.17: Ý kiến của sinh viên về khả năng áp dụng mạng xã hội trong
giảng dạy tại trường theo các năm 34
DANH MỤC BIỂU Đ
Biểu đồ 3.1: Kênh cung cấp thông tin về sử dụng mạng xã hội lần đầu tiên
trong sinh viên 18Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ các công cụ sử dụng truy cập mạng xã hội 21Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ sử dụng các trang mạng xã hội trong sinh viên 23Biểu đồ 3.4: Nhận định của sinh viên về mức độ tiện lợi của mạng xã hội
trong học tập 28Biểu đồ 3.5: Nhận định của sinh viên về tính hữu ích của thông tin trên mạng
xã hội trong học tập 29Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ sử dụng các mạng xã hội để học tập trong sinh viên 30
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên số khi mà mỗi giây mỗi phút trôiqua có không biết bao nhiêu là hoạt động trên internet đang diễn ra Cùng với
sự tiến bộ của công nghệ, sự ra đời của mạng xã hội trực tuyến đánh dấu một
sự thay đổi lớn trong cách chúng ta giao tiếp với nhau Sự ra đời ồ ạt của cácmạng xã hội (MXH) thời gian gần đây trên thế giới cũng như ở Việt Nam vớinhững tính năng, nguồn thông tin phong phú, đa dạng kéo theo sự gia tăngngày càng nhiều thành viên tham gia
Tại Việt Nam, MXH phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc, có đến 86%người dùng internet từng ghé thăm các trang MXH Những trang MXHthường được sử dụng tại Việt Nam là Facebook, Youtube, Zingme, Instagram,Twitter,… Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng thành viên trên cáctrang mạng xã hội là cao nhất trên thế giới [1] Tỷ lệ sử dụng MXH rất caotrong đối tượng sinh viên (96,9% sinh viên đang sử dụng MXH và chỉ có3,1% số sinh viên được hỏi trả lời là không sử dụng MXH [1]) Điều này chothấy MXH ở một khía cạnh nào đó có khả năng ảnh hưởng đến thói quen, tưduy, lối sống, văn hóa… của những người sử dụng mạng xã hội nói chung vàsinh viên nói riêng
Cùng với sự phát triển đó, MXH có thể hỗ trợ tích cực cho sinh viên trongviệc học tập, đặc biệt là sinh viên đại học Thậm chí, mạng xã hội còn tạo ramôi trường tốt cho sinh viên mở rộng kiến thức nhờ vào những tiến bộ củacông nghệ (94,7% sinh viên cho rằng mình có thêm kiến thức xã hội và học
Trang 12tập từ MXH [2]) Sinh viên không chỉ có thể học tập mà còn có thể rèn luyệntrí thông minh, giải trí, giao lưu kết bạn cũng như trao đổi những chủ đề trongcuộc sống hàng ngày trên mạng xã hội
Hiện nay, trên thế giới đã có một số nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứuứng dụng MXH trong học tập của sinh viên đại học [3],[4] Còn ở Việt Nam,các nghiên cứu về khả năng ứng dụng MXH vào hoạt động giảng dạy và họctập chưa có nhiều [5] Và hiện tại, chưa có nghiên cứu nào về việc sử dụng
MXH trong học tập của sinh viên trường Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu “Sử
dụng mạng xã hội trong sinh viên Đại học Y Hà Nội” là rất cần thiết để
cung cấp bằng chứng về ứng dụng của MXH vào giảng dạy và học tập Mụctiêu của nghiên cứu là:
1 Mô tả thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên trường Đại học Y Hà Nội năm 2015.
2 Mô tả ý kiến của sinh viên về sử dụng mạng xã hội trong dạy và học tại trường Đại học Y Hà Nội năm 2015
Trang 141.1 Khái niệm mạng xã hội
1.1.1 Định nghĩa mạng xã hội
“ Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tiếp (chat) và các hình thức tương tự khác”[1].
MXH cũng giống như một trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau.Nhưng nó khác một trang web thông thường ở chỗ, MXH có khả năng truyềntải thông tin và tích hợp các ứng dụng tương tác Một trang web bình thường
sẽ giống như truyền hình cung cấp càng nhiều thông tin, thông tin càng hấpdẫn càng tốt Còn MXH được tạo ra để mọi người có thể trao đổi, trò chuyệnvới nhau bằng cách gửi tin nhắn, hình ảnh, video,…[1]
1.1.2 Chức năng của mạng xã hội
Ngày nay, MXH có rất nhiều tính năng khác nhau và thuận tiện cho người
sử dụng như: chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận.Nhưng nhìn chung, MXH có bảy chức năng chính [6] như sau:
- Chức năng “danh tính” cho biết thông tin bao gồm: tên, tuổi, giới tính,nghề nghiệp, địa điểm… của người sử dụng
Trang 15- Chức năng “giao tiếp” là chức năng chủ yếu của MXH Giao tiếp làhoạt động không thể thiếu trong các trang MXH.
- Chức năng “chia sẻ” trên MXH là người sử dụng có thể trao đổi, truyền
đi hay nhận được một nội dung bất kỳ từ những người dùng khác, ví dụ như:một văn bản, video, hình ảnh, âm thanh,…
- Chức năng “hiển thị sự có mặt” cho người dùng biết được trong số bạn
bè trên MXH của họ có những ai đang truy cập MXH hay nói theo cách khác
là đang online cùng họ Điều này xảy ra thông qua các dòng trạng thái như
‘hiện’ hoặc ‘ẩn’
- Chức năng “liên kết” là không thể thiếu đối với bất kì một trang MXHnào Điều này có nghĩa là hai hay nhiều người có thể liên kết với nhau thôngqua việc thiết lập các mối quan hệ như: bạn bè, người thân, đồng nghiệp,…trên một trang mạng xã hội bất kỳ
- Chức năng “thể hiện mức độ truy cập và chất lượng” của thông tin Trêncác trang MXH khác nhau sẽ có cách thể hiện khác nhau Ví dụ, trênYouTube, mức độ truy cập và chất lượng của một video có thể được đánh giádựa vào ‘số lượt xem’, hoặc ‘thứ tự xếp hạng’ của video đó Video càng đượcnhiều lượt xem hay xếp hạng càng cao thì càng tốt Trong khi đó, trênFacebook mức độ truy cập và chất lượng của thông tin lại được đánh giá dựavào ‘số lượt thích’, ‘số lượt chia sẻ’ Thông tin càng được nhiều người thích
và nhiều lượt chia sẻ thì càng hay, càng nổi tiếng
Trang 16- Chức năng “nhóm”: Nhóm được tạo ra bởi những người sử dụng MXH
có cùng sở thích hoặc có chung một đặc điểm nào đó
1.1.3 Mạng xã hội được sử dụng phổ biến hiện nay
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều các trang mạng xã hội khác nhau, mộttrong số đó được ưa chuộng nhiều và sử dụng nhiều hơn như Facebook,Youtube, Twitter,… Có 4 loại MXH được sử dụng nhiều nhất trên thế giới,đứng đầu là Facebook, thứ hai là Twitter, tiếp theo là Googleplus và cuốicùng là Baidu [1] Hiện nay, số lượng người sử dụng các mạng xã hội nàytăng lên đáng kể theo từng năm Mức độ ưa thích sử dụng các loại mạng xãhội rất khác nhau theo châu lục [7]
MXH ưa chuộng của sinh viên thế giới là Facebook [8], điều này cũngkhá hợp lý khi mà mạng xã hội Facebook hiện đang là mạng xã hội mạnh nhấttrên thế giới [9] Kết luận trên cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu củaLenhart và cộng sự (2010) là 71% thanh niên có một tài khoản Facebook.Ngoài ra, trong sinh viên còn ưa chuộng sử dụng e-mail (đứng thứ 2 sauFacebook) [3]
Tại Việt Nam, cũng như trên thế giới mọi người sử dụng mạng xã hộiFacebook nhiều hơn các mạng xã hội khác, tiếp đến là Zingme, Twitter,Youtube… Một khảo sát của Vietnamsurvey 2/2013 về mức độ ưa chuộngcủa một số trang MXH tại Việt Nam đã chỉ ra rằng Facebook là MXH được
sử dụng nhiều nhất (93%), Zingme (55%), tiếp đến Twitter (45%), Youtube(27%) [9]
Trang 17Trong sinh viên Việt Nam, Facebook cũng được sử dụng rất nhiều Xu thế
sử dụng MXH trong sinh viên Việt Nam hiện nay đều lựa chọn các trangMXH nước ngoài là nhiều, còn những trang MXH thuần Việt thì ít được sửdụng hơn [10]
1.2 Tầm quan trọng và ứng dụng của mạng xã hội trong cuộc sống, học tập và giảng dạy.
1.2.1 Tầm quan trọng và ứng dụng của mạng xã hội trong cuộc sống
Trong thời kỳ công nghệ như ngày nay, MXH đã được ứng dụng rộng rãitrên nhiều lĩnh vực của cuộc sống như: MXH trong marketing, MXH trongtuyển dụng,… Trong lĩnh vực tuyển dụng, một số nhà tuyển dụng thường sửdụng thông tin cá nhân trên các trang mạng xã hội của các ứng cử viên để chođiểm về cá nhân đó Theo cuộc điều tra của một website về tuyển dụng hàngđầu thế giới CareerBuilder.com, các nhà tuyển dụng có xu hướng tra cứuthông tin cá nhân của ứng viên trên các mạng xã hội như Facebook, Linkedin[11] Trong lĩnh vực marketing, ứng dụng của MXH được sử dụng để nắm bắt
xu hướng mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng, thông qua số liệu thống kê
về số người truy cập internet và mạng xã hội Từ đó giúp hình thành kế hoạchphát triển sản phẩm và hướng kinh doanh cho sản phẩm đó [12]
Mạng xã hội luôn phát triển không ngừng, chính vì thế mà ngày càng cónhiều ứng dụng của mạng xã hội được khai thác và sử dụng trong cuộc sốnghằng ngày cũng như trong nhiều lĩnh vực khác
Trang 181.2.2 Tầm quan trọng và ứng dụng của mạng xã hội trong học tập và giảng dạy
Không chỉ có ứng dụng trong các lĩnh vực đời sống mà MXH cũng có rấtnhiều ứng dụng trong học tập Đa phần sinh viên đã nhận thấy lợi ích to lớn
mà mạng xã hội mang lại như: cung cấp và nâng cao kiến thức, kỹ năng tronghọc tập; rèn luyện trí thông minh thông qua các trò chơi,… [2] Ngoài ramạng xã hội còn tạo môi trường tốt để trao đổi học tập giữa giáo viên với sinhviên, giữa sinh viên với sinh viên [13],[14] Bên cạnh đó, MXH còn có thểứng dụng trong quản lý sinh viên tại các trường đại học hiện nay, thông quadiễn đàn trao đổi trực tuyến của trường Điều này đã giúp tăng cường trao đổithông tin giữa thầy giáo viên và sinh viên [15]
Môi trường đa phương tiện trên MXH, kết hợp những văn bản, hình ảnhvideo, camera …, cùng với các hình thức dạy học như: dạy học đồng loạt, dạytheo nhóm, dạy cá nhân, cá nhân làm việc tự lực với máy tính có kết nốiinternet, dạy học qua cầu truyền hình đem lại hiệu quả cao trong học tập vàgiảng dạy [16] Một nghiên cứu được tiến hành tại trường Đại học Thươngmại về sử dụng mạng xã hội Facebook trong học tập tại trường Có 283/968sinh viên trả lời rằng họ thường xuyên sử dụng Facebook để thảo luận với bạn
bè về bài học, bài tập, công việc hay mục đích học tập khác [5] Ngoài ra,MXH đóng góp khá lớn trong việc chia sẻ, tương tác và phối hợp giữa cácthành viên trong nhóm với nhau khi họ làm việc cùng nhau [4] Như vậy, cóthể nói ứng dụng MXH trong học tập là vô cùng hữu ích và có tiềm năng pháttriển lớn sau này
Trang 19Đối với nghề y là một nghề đặc biệt không chỉ chú trọng về kiến thứcsách vở mà kỹ năng cũng như kinh nghiêm thực hành là không thể thiếu, nênviệc ứng dụng MXH trong học tập và giảng dạy là rất bổ ích Trên thế giới,với việc đưa ứng dụng MXH vào trong giảng dạy tại các trường Đại học ykhoa đã mang lại hiệu quả cao trong học tập của sinh viên, đặc biệt là về kỹnăng lâm sàng
Có thể kể đến như, việc trường Đại học Rhode Island đã đưa MXHFacebook vào một khóa học dược lão khoa tại trường với mục đích khuyếnkhích sinh viên thảo luận trong lớp và để kết nối sinh viên với người cao tuổitình nguyện tham gia vào khóa học Kết quả đạt được là sinh viên cải thiệnnhận thức của mình về người lớn tuổi [4] Ngoài ra, mạng xã hội Twitter cũng
đã được sử dụng để tăng cường kỹ năng lâm sàng và ra quyết định của sinhviên điều dưỡng trong chăm sóc sức khỏe [17] Tương tự như thế, MXHYoutube được áp dụng khá hiệu quả trong các lớp học lâm sàng, bằng việcsinh viên sẽ được xem các video minh họa những trường hợp bệnh trên lâmsàng, sau đó sinh viên thảo luận để đưa ra câu hỏi cũng như câu trả lời phùhợp [17] Sự kết hợp của mạng xã hội vào giáo dục lâm sàng đã mang lại hiệuquả cao trong học tập của sinh viên y khoa
Bên cạnh đó, việc ứng dụng của mạng xã hội trong giảng dạy y khoa cũng
có thể được tiến hành qua việc xây dựng các mô hình, còn có thể gọi là “Môhình mạng xã hội trong y khoa” Những mô hình này đã đem lại kết quả khảquan và được ghi nhận rất tích cực trên thế giới Ví dụ mô hình "mEducator"hay còn gọi là "Thực hành tốt nhất”, đặt ra mục tiêu là giáo dục và chia sẻ nộidung liên quan đến y tế Thông qua các trường hợp lâm sàng có sẵn, tương tácvới bệnh nhân giả, từ đó trao đổi, thảo luận giữa giảng viên thính giảng và
Trang 20học viên tham gia diễn đàn để phân tích vấn đề, xác định kiến thức và tranhluận về các giải pháp được đề ra, từ đó đưa ra cách giải quyết hợp lý nhất [4]
Còn rất nhiều mô hình nghiên cứu khác về ứng dụng của mạng xã hộitrong học tập và giảng dạy đã được tiến hành và cho ra kết quả khả quan [17].Tuy nhiên, những nghiên cứu đó đều được tiến hành trên thế giới, còn tại ViêtNam thì gần như chưa có nghiên cứu nào về mô hình mạng xã hội như thế.Chính vì vậy, MXH nên được khai thác và đưa vào ứng dụng nhiều trong họctập và giảng dạy tại Việt Nam
1.3 Tổng quan về các nghiên cứu sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu về thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên
Mạng xã hội hiện nay được sử dụng khá nhiều, đặc biệt là trong sinh viên
Tỷ lệ người sử dụng mạng xã hội trong độ tuổi 18 – 29 tuổi là lớn nhất [18]
Phần lớn số sinh viên sử dụng MXH là sinh viên học tại các thành phốlớn Tỷ lệ sử dụng MXH của sinh viên Hà Nội là cao nhất, tiếp theo là thànhphố Hồ Chí Minh, sau đó là Hải Phòng và các tỉnh khác [1] Thời gian và địađiểm truy cập MXH trong sinh viên có sự khác biệt so với người sử dụnginternet và MXH nói chung Một khảo sát thực hiện trên các website cho biếtlưu lượng trên internet cao nhất vào giờ làm việc [19], đây cũng tương tự nhưthời điểm người dùng truy cập MXH trong ngày Tuy nhiên, trong sinh viênthời điểm truy cập mạng xã hội chủ yếu lại là vào buổi đêm và sinh viên thíchtruy cập MXH nhất là tại nhà [10], đây cũng là địa điểm mà sinh viên cảmthấy thoải mái nhất khi truy cập internet nói chung và mạng xã hội nói riêng
Trang 21Những người sử dụng internet hàng ngày phần lớn cũng sử dụng MXHthường xuyên: ngày nào cũng sử dụng (84%) [20] Trong sinh viên cũngtương tự như vậy, sinh viên sử dụng mạng xã hội khá thường xuyên, gần nhưmọi lúc mọi nơi chỉ cần có công cụ truy cập mạng xã hội và kết nối mạng.Điều nay khá hợp lý với việc sinh viên dành đến hơn 50% tổng thời gian truycập internet trong ngày để lên mạng xã hội [1],[2] Sinh viên Việt Nam có xuhướng dành nhiều thời gian sử dụng mạng xã hội hơn so với sinh viên trên thếgiới (3h/ngày > 2h/ngày) [5],[8] Bên cạnh đó, thời gian truy cập mạng xã hộitrung bình trên các công cụ của sinh viên là khác nhau Sinh viên chủ yếu sửdụng điện thoại di động và ipad nhiều hơn các công cụ khác [21]
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội trong sinh viên
Bất kỳ hành vi nào của con người đều chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tốkhác nhau như: cá nhân, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, môi trườngsống…, đối với hành vi sử dụng MXH cũng không ngoại lệ Hành vi sử dụngMXH chịu ảnh hưởng từ lúc tiếp cận đến lúc đã sử dụng và duy trì hành vi sửdụng đó Ví dụ, có đến 80% sinh viên sử dụng MXH là do tự mình tìm hiểu
và sử dụng, tiếp đến 73% sinh viên trả lời rằng họ sử dụng MXH là do bạn bègiới thiệu Ngoài ra, hành vi sử dụng MXH còn chịu ảnh hưởng của mục đích
sử dụng như giải trí, tìm kiếm tài liệu, học nhóm hay giáo viên yêu cầu [2]
Trong sinh viên, mục đích sử dụng MXH để giao tiếp vẫn cao hơn so vớimục đích học tập Tương tự với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quý Thanh về
“Internet và định hướng giá trị của sinh viên về tình dục trước hôn nhân” đãchỉ ra rằng sinh viên Việt Nam sử dụng internet cho mục đích chat là 66,3%;còn việc tìm kiếm thông tin học tập, đọc báo, truyện tranh trên mạng 65,6%[22] Giới không phải là yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng MXH Ở Việt Nam nữ
Trang 22giới sử dụng MXH ít hơn nam giới Tuy nhiên, nghiên cứu của Hargittai(2007), thì nữ giới sử dụng MXH gấp 1,6 lần nam giới Một nghiên cứu kháccủa Clark, Logan, Luckin, Mee, và Oliver – 2009 thì lại cho rằng sử dụngMXH giữa nam và nữ không có gì khác nhau [8],[22].
Hành vi sử dụng MXH chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi suy nghĩ của bảnthân Việc nhận định sử dụng mạng xã hội là tốt hay xấu ảnh hưởng đến hành
vi sử dụng MXH Hiện nay đa phần mọi người đều cho rằng sử dụng mạng xãhội là tích cực, chỉ một bộ phận nhỏ cho rằng nó tiêu cực và không nên sửdụng [2],[21] Điều này khá hợp với tâm lý con người, lợi ích của việc sửdụng sẽ khuyến khích hành vi sử dụng nhiều hơn và ngược lại Theo kết quảnghiên cứu tại trường Đại học kinh tế Đà Nẵng cho thấy, hành vi sử dụnginternet trong học tập chịu ảnh hưởng của 4 thành phần đó là: sự hữu ích, dễ
sử dụng, chuẩn chủ quan (sự ảnh hưởng của môi trường đến hành vi của cánhân, người khác cảm nhận như thế nào khi bạn làm việc đó, gia đình, bạn bè)
và khả năng sử dụng Trong đó, yếu tố dễ sử dụng và chuẩn chủ quan là 2 vấn
đề quan trọng nhất và có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến hành vi có haykhông sử dụng MXH trong sinh viên trường Đại học kinh tế Đà Nẵng [23].Qua đây ta thấy hành vi sử dụng MXH chịu ảnh hưởng của không chỉ của mộtyếu tố mà là nhiều yếu tố khác nhau cộng lại, và mức độ ảnh hưởng cũngkhác nhau đối với mỗi người
Internet nói chung và MXH nói riêng đều có những mặt lợi và mặt hại của
nó Và phần đông sinh viên đều cho rằng internet hay MXH là cần thiết(>50%) [24] Sinh viên cho rằng, mạng xã hội cung cấp nhiều kiến thức về xãhội và học tập, giao lưu bạn bè, tìm kiếm việc làm, giảm stress, rèn luyện tríthông minh [1],[2] Đặc biệt riêng Facebook có tác động rất tốt đến kết quả
Trang 23học tập, đến tự trọng và thỏa mãn cuộc sống sinh viên [24] Xét về mặt tiêucực, sinh viên cũng cho rằng MXH ảnh hưởng tiêu cực là không nhỏ Các ýkiến đó cho rằng sử dụng MXH tốn thời gian, làm học tập của giảm sút, làmthiếu kỹ năng sống trong thực tế [1], những sinh viên mà có thời gian truy cậpmạng xã hội nhiều thì học lực kém hơn các sinh viên có thời gian truy cậpmạng xã hội ít hơn [25] Ngoài ra, sinh viên còn cho rằng MXH là thiếu tínhbảo mật về thông tin và thông tin trên MXH là không thực tế [1],[10].
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên đại học hệ chính quy trường Đại học Y
Hà Nội năm thứ 2, năm thứ 4 và năm thứ 6 năm học 2014 - 2015 thuộc cácchuyên ngành: đa khoa, răng hàm mặt, y học cổ truyền, y học dự phòng, y tếcông cộng, điều dưỡng, kỹ thuật y học và dinh dưỡng
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Trường Đại học Y Hà Nội
2.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành bắt đầu từ tháng 15/01/2016 đến 15/05/2016
Trang 242.4 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Cỡ mẫu: Được tính toán theo công thức cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ trongquần thể
n =
Z2 (1 – α/2) p ( 1 – p)(p.ε))2
Trong đó: n = Cỡ mẫu: Số sinh viên cần điều tra Z(1 – α/2) = 1,96 là giá trịcủa độ tin cậy trong nghiên cứu tương ứng với α = 0,05 và độ tin cậy là 95%
p = 22,3% là tỷ lệ sử dụng MXH Instagram 2014 [26] ε) = 0,05 là khoảng sailệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu (p) và tỷ lệ của quần thể (P)
Từ công thức trên ta tính được n = 264
Cỡ mẫu tối thiểu là 264 và cộng với 10% dự phòng không tiếp cận đượcvới đối tượng nghiên cứu, làm tròn 300 mẫu
* Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu nhiều giai đoạn
Trang 25Giai đoạn 1: Chọn sinh viên năm thứ 2, năm thứ 4, năm thứ 6 đang họcđại học chính quy tại trường Đại học Y Hà Nội.
Giai đoạn 2: Từ danh sách các sinh viên năm thứ 2, năm thứ 4, năm thứ 6của trường (theo danh sách của trung tâm khảo thí và đảm bảo chất lượng)tiến hành chọn ngẫu nhiêu 100 sinh viên mỗi năm (2, 4, và 6) và mời vàotham gia nghiên cứu
2.6 Các biến số/chỉ số nghiên cứu
Bảng 2.1: Các biến số/chỉ số trong nghiên cứu
1 Tuổi Tuổi dương lịch = 2016 – năm sinh
3
Chuyên ngành theo học Đa khoa/ răng hàm mặt/ y học cổ truyền/ y
học dự phòng/ y tế công cộng/ điều dưỡng/
kỹ thuật y học/ dinh dưỡng
4 Sinh viên năm mấy Năm thứ 2/ năm thứ 4/ năm thứ 6
Trang 26STT Biến số Chỉ số/phân loại/ cách tính
III Ý kiến của sinh viên về sử dụng mạng xã hội trong dạy và
học tại trường Đại học Y Hà Nội
Trang 27STT Biến số Chỉ số/phân loại/ cách tính
% thời gian sử dụng mạng xã hội cho họctập so với thời gian sử dụng mạng xã hộitrong ngày
15
Nhận định của sinh viên
về mạng xã hội đối với
17 Hình thức học tập trên
mạng xã hội
Tỷ lệ % các hình thức học tập trên mạng xãhội của sinh viên
20
Mức độ đồng ý của sinh
viên về việc sử dụng
mạng xã hội trong giảng
dạy tại trường
SV lựa chọn 1 trong 5 mức độ từ rất khôngđồng ý đến rất đồng ý
21 Ý kiến của sinh viên về
khả năng áp dụng mạng
xã hội trong giảng dạy
SV lựa chọn 1 trong 5 mức độ từ rất khôngđồng ý đến rất đồng ý
Trang 28STT Biến số Chỉ số/phân loại/ cách tính
tại trường Câu hỏi mở để sinh viên tự điền
2.7 Phương pháp và quy trình thu thập số liệu
2.7.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi có cấu trúc được thiết kế sẵn để sinh viên tự điền phiếu
2.7.2 Quy trình thu thập số liệu
Lập danh sách tất cả sinh viên các lớp năm thứ 2, năm thứ 4, năm thứ 6được chọn ngẫu nhiên và gửi về trung tâm khảo thí và đảm bảo chất lượng
Sinh viên được thông báo về mục tiêu và nội dung nghiên cứu và đượcmời tham gia vào nghiên cứu
Đối với những sinh viên được chọn sau khi thi tại trung tâm khảo thí vàđảm bảo chất lượng sẽ được mời ở lại tham gia cung cấp số liệu trong khoảng
20 phút Sau khi sinh viên điền phiếu xong nộp lại cho điều tra viên
Đối với những sinh viên trong danh sách được chọn chưa tham giacung cấp số liệu tại trung tâm khảo thí và đảm bảo chất lượng sẽ được thuthập số liệu ngay tại lớp sau giờ học
Tất cả sinh viên không đồng ý tham gia vào nghiên cứu sẽ được mời ra
về Những đối tượng không đồng ý tham gia vào nghiên cứu sẽ được thay thếbằng những đối tượng khác, sao cho đảm bảo đủ cỡ mẫu là 300 mẫu
Trang 292.8 Sai số và cách khống chế sai số
Những sai số có thể gặp phải trong quá trình nghiên cứu gồm: sai sốnhớ lại, sai số trong quá trình thu thập số liệu, sai số trong quá trình nhập liệu
+ Với sai số nhớ lại: bộ câu hỏi được thiết kế các câu đơn giản, dễ trả lời
+ Với sai số khi điền phiếu: tiến hành nghiên cứu thử nghiệm bộ công
cụ để đảm bảo các câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu
Tập huấn kỹ cho cán bộ thu thập số liệu để trong quá trình sinh viênđiền phiếu, cán bộ thu thập số liệu có thể giải thích thống nhất những điểmsinh viên không hiểu
+ Với sai số nhập liệu: tạo file nhập liệu trong Epidata, trong đó có filecheck, có thể hạn chế sai số trong quá trình nhập liệu Làm sạch số liệu trướckhi nhập bằng cách kiểm tra chéo thông tin giữa các câu hỏi
2.9 Nhập liệu và quản lý số liệu
Số liệu được kiểm tra và mã hóa và làm sạch trước khi nhập vào máytính Số liệu được quản lý bởi phần mềm EpiData 3.1
2.10 Phân tích số liệu
Số liệu được xử lý phân tích bằng phần mềm STATA 12.0 Để phân tíchthực trạng sử dụng mạng xã hội và sự khác biệt giữa các nhóm test Khi bìnhphương và test Fisher’s được sử dụng để kiểm định sự khác biệt về tỷ lệ giữacác nhóm MannWithney test và Kruskal Wallis test được sử dụng để kiểm
Trang 30định sự khác biệt về giá trị trung bình của các nhóm Điểm trung bình được sửdụng để mô tả ý kiến của sinh viên về sử dụng mạng xã hội trong giảng dạy
và khả năng áp dụng mạng xã hội trong giảng dạy tại trường Mỗi câu hỏi đều
có 5 mức độ lựa chọn từ 1 đến 5: rất không đồng ý đến rất đồng ý Ý kiến củasinh viên được đánh giá qua điểm trung bình Trên 3 điểm được xem là đồng
ý, dưới 3 điểm là không đồng ý
2.11 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được hội đồng đạo đức trường đại học Y tế công cộngphê duyệt Mọi thông tin trong nghiên cứu đều được bảo mật Đối tượng cóquyền lựa chọn tham gia/không tham gia vào nghiên cứu Ngoài ra, đối tượng
có thể dừng tham gia vào nghiên cứu bất cứ lúc nào
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
300 sinh viên được chọn mời tham gia nghiên cứu đã điền phiều và gửiphiếu lại cho điều tra viên Trong 300 phiếu có 3 phiếu không hợp lệ nên đãđược loại trong khi phân tích
Bảng 3.1: Số lượng sinh viên theo giới tính và năm học
Nhận xét: Tổng số sinh viên nam là 133 chiếm 44,8%, tổng số sinh viên nữ
là 164 chiếm 55,2% Sinh viên năm thứ 2 chiếm 32,6%, sinh viên năm thứ 4
và năm thứ 6 mỗi năm chiếm 33,7%
Trang 32Bảng 3.2: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trang 33học lực
Nhận xét: Sinh viên thuộc chuyên ngành đa khoa chiếm tỷ lệ nhiều nhất
63,7%, tiếp đến là sinh viên chuyên ngành điều dưỡng chiếm 11,5%, sau đó làsinh viên chuyên ngành răng hàm mặt chiếm 8,1% và dự phòng chiếm 7,8%.Sinh viên thuộc các chuyên ngành khác chiếm tỷ lệ ít hơn
Sinh viên phần lớn là thuê trọ ở ngoài chiếm 56,8% Ngoài ra, có 24,3%sinh viên ở ký túc xá của trường và 15,9% sinh viên sống cùng gia đình Khitrả lời về học lực của năm học vừa qua có 4 sinh viên (chiếm 1,4%) học lựcxếp loại dưới trung bình, 71 sinh viên (chiếm 24,7%) có học lực xếp loạitrung bình, nhiều nhất có 160 sinh viên (chiếm 55,8%) xếp loại học lực khá
và 52 sinh viên (chiếm 18,1%) có học lực giỏi
3.2 Thực trạng sử dụng mạng xã hội nói chung trong sinh viên trường Đại học Y Hà Nội
100% sinh viên trường Đại học Y Hà Nội tham gia nghiên cứu trả lời có
sử dụng mạng xã hội
Trang 343.2.1 Kênh tiếp cận với mạng xã hội lần đầu tiên
Bạn bè
Tự tìm hiểu Người thân Thầy cô Phương tiện TT đại chúng
Khác
0.80% 0.16%
0.02%
0.01%
0.01%
0.00%
Biểu đồ 3.1: Kênh cung cấp thông tin về sử dụng mạng xã hội lần đầu tiên
trong sinh viên
Nhận xét: Kênh cung cấp thông tin về sử dụng mạng xã hội lần đầu tiên trong
sinh viên chủ yếu là thông qua bạn bè 79,5%, tiếp đến là sinh viên tự tìm hiểu15,8% Các kênh thông tin khác từ thầy cô, người thân, các phương tiên TTđại chúng, đều chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 2%
Trang 353.2.2 Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên
Bảng 3.3: Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo giới tính
Nhận xét: Mức độ sử dụng mạng xã hội hàng ngày trong sinh viên chiếm tỷ
lệ cao nhất: nam 40,4%, nữ 50,5% Chỉ có 1 nam sinh viên (0,3%) trả lời là sửdụng mạng xã hội vài lần trong tháng và 2 nữ sinh viên (0,7%) trả lời sử dụngmạng xã hội vài lần trong năm Còn lại là 8,1% sinh viên sử dụng mạng xãhội vài lần trong tuần Không có sự khác biệt về mức độ sử dụng mạng xã hộigiữa nam sinh viên và nữ sinh viên (p = 0,44 > 0,05)
Bảng 3.4: Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo năm học
Trang 36Nhận xét: Không có sự khác biệt về mức độ sử dụng mạng xã hội giữa sinh
viên các năm thứ 2, năm thứ 4 và năm thứ 6 (p = 0,7 > 0,05) Đa số sinh viên
sử dụng mạng xã hội hàng ngày, chiếm 90,9%
Bảng 3.5: Mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo học lực
Trang 37Nhận xét: Những sinh viên có học lực khác nhau đều sử dụng mạng xã hội
hàng ngày (sinh viên có học lực trung bình/dưới trung bình là 23%, khá là50,9%, giỏi 17,5%) Sự khác biệt về mức độ sử dụng mạng xã hội giữa sinhviên có học lực khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p = 0,4 > 0,05)
Bảng 3.6: Thời gian sử dụng mạng xã hội so với thời gian sử dụng internet
trong ngày theo giới tính và học lực
Đặc điểm
Thời gian sử dụngMXH trong ngày(phút/ngày)*
Thời gian học tập trênMXH so với thời gian sửdụng MXH trong ngày (%)
Nhận xét: Thời gian sử dụng mạng xã hội trong ngày của sinh viên nam
(103phút/ngày) nhiều hơn sinh viên nữ (99phút/ngày) Sinh viên nữ dành51% thời gian truy cập internet trong ngày để vào mạng xã hội, nhiều hơnsinh viên nam (47,9%) Sinh viên có học lực trung bình và dưới trung bình thì
Trang 38thời gian sử dụng mạng xã hội nhiều nhất 120phút/ngày, ít nhất là sinh viênhọc lực giỏi 81phút/ngày Sự khác biệt về thời gian sử dụng mạng xã hộitrong ngày giữa sinh viên nam và sinh viên nữ không có ý nghĩa thống kê (p =0,8 > 0,05) Sự khác biệt về thời gian sử dụng mạng xã hội trong ngày giữasinh viên có học lực giỏi, khá, trung bình/dưới trung bình cũng không có ýnghĩa thống kê (p = 0,07 > 0,05).
3.2.3 Công cụ sử dụng truy cập mạng xã hội
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ các công cụ sử dụng truy cập mạng xã hội
Nhận xét: Có 3 công cụ mà sinh viên thường sử dụng để truy cập mạng xã
hội Sinh viên thường hay sử dụng nhất là điện thoại di động chiếm 63,6%,sau đó là máy tính chiếm 32%, ít nhất là ipad chiếm 4,4%
Bảng 3.7: Mục đích sử dụng mạng xã hội của sinh viên theo giới tính