Trong thời gian vừa qua Đảng và Chính phủ đã ban hành một số vănbản quy phạm pháp luật quan trọng để đẩy mạnh công tác đào tạo liên tụctrong lĩnh vực y tế đó là: Nhằm đa dạng hóa các hìn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
- -NGUYỄN THÀNH TRUNG
NGHIÊN CỨU NHU CẦU VÀ THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO LIÊN TỤC VỀ Y HỌC CỔ TRUYỀN CHO NHÂN VIÊN Y TẾ HUYỆN
TẠI TỈNH THANH HÓA
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI-2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
1 TS NGUYỄN NGÔ QUANG
2 GS.TS TRƯƠNG VIỆT DŨNG
HÀ NỘI-2015
Trang 3JAHR Báo cáo chung tổng quan ngành y tếWFME Liên đoàn giáo dục y học thế giới
WPRO Tổ chức Y tế Thế giới Tây Thái Bình Dương
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu 40
Bảng 3.2 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu theo giới 41
Bảng 3.3 Thực trạng đào tạo liên tục tại bệnh viện 42
Bảng 3.4 Tỷ lệ cán bộ công tác tại các bệnh viện YHDT được đào tạo liên tục 42
Bảng 3.5 Nhân viên y tế tham gia các lớp bồi dưỡng 42
Bảng 3.6 Nội dung đào tạo 43
Bảng 3.7 Nhân viên y tế được đào tạo liên tục và thâm niên công tác 43
Bảng 3.8 Đào tạo liên tục và trình độ chuyên môn, học vị 43
Bảng 3.8 Nhu cầu đào tạo liên tục trong thời gian tới 44
Bảng 3.9 Khó khăn trong đào tạo liên tục 45
Bảng 3.10 Nội dung cần đào tạo liên tục 46
Bảng 3.11 Nhu cầu đào tạo và các đặc trưng cá nhân cơ bản 46
Bảng 3.12 Nhu cầu đào tạo liên tục theo nhóm tuổi 48
Bảng 3.13 Thông tin chung của cán bộ quản lý xây dựng chính sách 49
Bảng 3.14 Số năm tham gia quản lý xây dựng chính sách đào tạo liên tục 51
Bảng 3.15 Tập huấn về đào tạo liên tục 51
Bảng 3.16 Công việc trong đào tạo liên tục 51
Bảng 3.17 Thông tin chung về giảng viên 52
Bảng 3.18 Thời gian tham gia giảng dạy đào tạo liên tục 54
Bảng 3.19 Chứng chỉ sư phạm 54
Bảng 3.20 Các khó khăn của giảng viên 54
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Hệ thống y học cổ truyền trong nước và ngoài nước 3
1.1.1 Hệ thống y học cổ truyền ở các nước trên thế giới 3
1.2 Hệ thống Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam 6
1.2.1 Khái quát lịch sử YHCT Việt Nam 6
1.2.2 Hệ thống tổ chức y học cổ truyền Việt Nam hiện nay 8
1.2.3 Mạng lưới bệnh viện y dược cổ truyền tỉnh, thành phố 9
1.3 Khái niệm về nguồn nhân lực y tế 11
1.3.1 Khái niệm 11
1.3.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần khác của hệ thống y tế 12
1.3.3 Thực trạng nhân lực y tế và phát triển nguồn nhân lực y tế 13
1.3.4 Thực trạng nguồn nhân lực y dược cổ truyền Việt Nam 15
1.4 Đào tạo liên tục 17
1.4.1 Quan niệm về đào tạo liên tục 17
1.4.2 Các hình thức đào tạo liên tục và nguyên tắc quy đổi 17
1.4.3 Thời gian đào tạo liên tục 18
1.4.4 Tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng đào tạo y khoa liên tục 18
1.4.5 Hệ thống tổ chức cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế 19
1.5 Đào tạo trong bệnh viện 19
1.5.1 Các loại hình đào tạo trong bệnh viện 19
1.5.2 Các văn bản hiện hành liên quan đến đào tạo trong bệnh viện 20
1.6 Xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục 20
1.7 Quản lý chương trình và tài liệu đào tạo liên tục 21
1.7.1 Chương trình đào tạo liên tục 21
Trang 61.7.2 Tài liệu đào tạo liên tục 22
1.8 Quản lý giảng viên trong đào tạo liên tục cán bộ y tế 23
1.8.1 Giảng viên 23
1.8.2 Đào tạo giảng viên 23
1.8.3 Nhiệm vụ của giảng viên 23
1.8.4 Quá trình quản lý giảng viên 24
1.9 Tình hình đào tạo liên tục 24
1.9.1 Trên thế giới 24
1.9.2 Tại Việt Nam 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
2.2 Đối tượng nghiên cứu 32
2.3.Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 32
2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 32
2.4 Biến số và chỉ số 34
2.5 Công cụ và quy trình thu thập thông tin 36
2.5.1 Công cụ thu thập thông tin 36
2.5.2 Quy trình thu thập thông tin 37
2.6 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 37
2.7 Các sai số và cách khắc phục 37
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 37
2.9 Hạn chế của nghiên cứu 38
Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ 39
3.1 Các đặc trưng cá nhân của cán bộ y dược cổ truyền 39
3.2 Nhu cầu đào tạo của bệnh viện tuyến huyện 41
3.2.1 Thực trạng đào tạo liên tục tại bệnh viện 41
Trang 73.2.2 Nhu cầu đào tạo liên tục 43
3.3 Chất lượng đào tạo liên tục tại bệnh viện YHCT tỉnh 45
3.3.1 Cán bộ quản lý xây dựng chính sách 45
3.3.2 Giảng viên 48
Chương 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN 52
4.1 Nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế bệnh viện huyên 52
4.2 Năng lực và hoạt động đào tạo liên tục của các bệnh viện tỉnh 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đào tạo liên tục là một hình thức bảo đảm duy trì, cập nhật trình độ, kỹnăng, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên y tế trong các cơ sở y tế đáp ứngnhu cầu cung cấp dịch vụ y tế, bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế Vai trò củađào tạo liên tục trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng của hệ thốngchăm sóc y tế ngày càng trở nên quan trọng
Trong thời gian vừa qua Đảng và Chính phủ đã ban hành một số vănbản quy phạm pháp luật quan trọng để đẩy mạnh công tác đào tạo liên tụctrong lĩnh vực y tế đó là:
Nhằm đa dạng hóa các hình thức đào tạo khác nhau để phát triển nguồnnhân lực y tế cho tuyến cơ sở, Bộ Y tế ban hành văn bản số 1915/BYT-K2ĐTngày 8/4/2013 hướng dẫn các cơ sở đào tạo nhân lực y tế triển khai thực hiệnThông tư số 55/2012/TT-BGDĐT ngày 25/12/2012 của Bộ giáo dục và đàotạo quy định liên thông trình độ cao đẳng, đại học
Trong Luật khám chữa bệnh ngày 23/11/2009 quyền được nâng caonăng lực chuyên môn của cán bộ y tế được quy định tại điều 33, điều 37 vàđiều 83 [1]
Đặc biệt, ngày 9/8/2013, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số BYT, Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế, thay cho Thông tư số07/2008/TT-BYT ngày 28 tháng 5 năm 2008
22/2013/TT-Ngày 8/4/2014 Bộ Y tế đã ký Quyết định về việc ban hành Chiến lượcđào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế giai đoạn đến năm 2020 và đinh hướng đếnnăm 2030 [2]
Việt Nam là một trong những nước có truyền thống sử dụng Y học cổtruyền (YHCT) lâu đời Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, YHCT Việt Nam đãtrở thành một nền y học chính thống của dân tộc, đã đúc kết nhiều kinhnghiệm phòng và chữa bệnh có hiệu quả Đặc biệt sau khi nước nhà dành độclập, Đảng và nhà nước đã có những chủ trương chính sách quan trọng về pháttriển YHCT như chủ trương kết hợp Y học hiện đại (YHHĐ) và YHCT, tổchức hệ thống khám và chữa bệnh bằng YHCT từ tuyến trung ương đến cácđịa phương Năm 2003 Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt chính sách
Trang 9quốc gia về Y dược học cổ truyền đã đề ra những mục tiêu, những giải pháp
và chính sách cụ thể mà ngành y tế cần đạt được đến năm 2010 Trong đó cómục tiêu cũng cố và hoàn thiện hệ thống khám chữa bệnh bằng YHCT, đề racác chỉ tiêu khám chữa bệnh và sử dụng thuốc YHCT ở các tuyến y tế [3]
Ngày 18/4/2014 Bộ Y tế đã ban hành công văn số 2034/BYT-K2ĐT vềviệc tăng cường chất lượng công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế
Cho đến nay, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu tổng thể về thực trạng vànhu cầu đào tạo liên tục cho nhân viên y tế công tác tại các bệnh viện YHCT
Vì những lý do trên và để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo liên tục trong
hệ thống y tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu nhu cầu và thực trạng đào tạo liên tục về y học cổ truyền cho nhân viên y tế tuyến huyện tại tỉnh Thanh Hóa”
Với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả nhu cầu và thực trạng đào tạo liên tục về y học cổ truyền cho nhân viên y tế Bệnh viện tuyến huyện của tỉnh Thanh Hóa
2 Đánh giá năng lực và hoạt động đào tạo liên tục của Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Hệ thống y học cổ truyền trong nước và ngoài nước
1.1.1 Hệ thống y học cổ truyền ở các nước trên thế giới
Theo định nghĩa của WHO (2000): YHCT là toàn bộ kiến thức, kỹnăng và thực hành dựa trên lý luận, lòng tin và kinh nghiệm vốn có của nhữngnền văn hóa khác nhau, dù đã được giải thích hay chưa, nhưng được sử dụng
để duy trì sức khỏe, cũng như để phòng bệnh, chẩn đoán, cải thiện hoặc điềutrị tình trạng đau ốm về thể xác hoặc tinh thần [4]
Thực trạng các quy định về pháp lý đề cập đến YHCT ở mỗi quốc gia
là khác nhau [5] Một số nước YHCT được quản lý tốt trái lại ở một số nước
nó chỉ được đề cập đến như những thực phẩm chức năng và những phươngpháp chữa bệnh truyền miệng mà không được cho phép [6] Tuy nhiên ở cácnước đang phát triển tỷ lệ người dân sử dụng YHCT là rất cao với nhiều kinhnghiệm dân gian quý báu [7]
1.1.1.1 Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ở các nước phát triển
Có 1/3 người Mỹ đã sử dụng thuốc cổ truyền Năm 1990 doanh số bán
ra của thuốc cổ truyền ước khoảng 1 tỷ USD Năm 1989, 60% dân số Hà Lan
và Bỉ, 74% dân số Anh hài lòng với phương pháp chữa bệnh theo YHCT [5]
Một trong các quốc gia tiêu biểu sử dụng YHCT trong chăm sóc sứckhỏe phải kể tới Trung Quốc, quốc gia có một nền YHCT lâu đời và có ảnhhưởng sâu sắc tới nền YHCT của nhiều quốc gia khác nhau: Đại hàn DânQuốc, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam,…[8].Đây là một quốc gia có nền YHCT phát triển lâu đời vào bậc nhất thế giới.Năm 1995 Trung Quốc đã có 2.522 bệnh viện YHCT với 353.373 nhân viên y
tế và 236.060 giường bệnh, những bệnh viện này đã điều trị 200 triệu bệnhnhân ngoại trú và 3 triệu bệnh nhân nội trú 1 năm, đồng thời 95% các bệnhviện ở Trung Quốc có khoa YHCT [8], [9]
Hội nghị phát triển YHCT Trung Quốc năm 2005 đã thống kê: YHCTTrung Quốc đã được hơn 120 quốc gia và khu vực trên thế giới chấp nhận ỞAnh, hơn 3000 bệnh viện thực hành về YHCT Trung Quốc đã được mở Cókhoảng 2,5 triệu người Anh đã chi tổng số 90 triệu bảng Anh hàng năm để
Trang 11được điều trị bằng YHCT Trung Quốc Ở Pháp có 2600 bệnh viện thực hành
về YHCT Trung Quốc có tới 7000 đến 9000 cán bộ châm cứu Cho đến naytrên 50 hợp đồng y học được ký giữa Trung Quốc với các nước khác trong đó
có sự hợp tác về YHCT [10]
Nhật Bản: Với lịch sử nền YHCT trên 1400 năm, được xem là nước có
tỷ lệ người khám chữa bệnh bằng YHCT cao nhất thế giới hiện nay Thầythuốc YHCT Nhật Bản là sự kết hợp giữa YHCT Trung Quốc và thuốc dângian Nhật Bản gọi chung là Kampo Kampo được đào tạo như sau: sau khi tốtnghiệp ở trường y (6 năm) và thực hành 3 năm tại các cơ sở khám chữa bệnh,sau đó học thêm 3 năm về YHCT mới trở thành Kampoo Tính từ năm 1974đến 1989, sử dụng các loại thuốc YHCT ở Nhật Bản đã tăng 15 lần trong khicác loại tân dược chỉ tăng 2,6 lần Ít nhất 65% bác sĩ ở Nhật khẳng định rằng
họ đã sử dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT và thuốc YHHĐ [11] Lý dogiải thích là Kampoo không gây phản ứng, không gây tác dụng phụ, ngoài ra
y học Kampoo còn đáp ứng các yếu tố tâm linh và tinh thần của người Nhật[11] Một bài thuốc Kampoo dự định áp dụng cho bệnh nhân phải qua 2 giaiđoạn: giai đoạn 1 tất cả bệnh nhân được cho sử dụng và những người có đápứng với thuốc được lựa chọn,giai đoạn 2 một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
có nhóm chứng chỉ bao gồm những người bệnh nhân có đáp ứng với thuốcđược tiến hành trên và đánh giá tác dụng của thuốc [12], [13] Kampoo khôngnằm trong hệ thống nhà nước nhưng được khuyến khích phát triển và NhậtBản là nước có tỷ lệ người dân sử dụng YHCT cao nhất thế giới [14]
Đại Hàn Dân Quốc: ở quốc gia này hầu hết các cơ sở y tế nhà nước và
tư nhân đều hoạt động vì lợi nhuận Do việc mở rộng các cơ sở y tế tư nhândẫn đến sự thiếu hiệu quả của hệ thông y tế công lập, sử dụng quá mức dịch
vụ cần thiết, tập trung các bác sỹ ở các thành phố lớn và dẫn đến sự mất cânbằng giữa chi phí y tế cao và lợi ích chi phí thấp Tại Đại Hàn Dân Quốc,YHCT rất phát triển và có vị thế ngang bằng YHHĐ Tuy nhiên những nămgần đây YHCT có khuynh hướng bị thu hẹp lại do chế độ chi trả cho YHHĐ
có xu hướng rộng rãi và ưu đãi hơn [15]
+ Khu vực Đông Nam á: Chiến lược toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giớichú ý vai trò quan trọng của T/CAM trong việc bảo vệ, cải tiến và dự phòng y
tế tốt nhất, phổ biến nhất WHO khuyến khích tất cả những thành viên Aseanủng hộ T/CAM và tiếp tục lượng giá, công thức của chính sách quốc gia với
Trang 12cấu trúc phù hợp, tiến tới thực hành và sử dụng T/CAM phù hợp nhất và hợpvới hệ thống chăm sóc sức khỏe đặc biệt có lợi cho sức khỏe, thuận lợi kinh tế
xã hội và thương mại [16], [17], [18], [19], [20] Các nước Indonesia,Malaisia, đặc biệt là Thái Lan… cũng là những nước có truyền thống sử dụngYHCT để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ [14] Từ năm 1950 đến
1980 YHCT Thái Lan gần như bị tê liệt hoàn toàn do quá coi trọng YHHĐ.Điều này có ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu(CSSKBĐ) ở Thái Lan Từ năm 1980, chính phủ và ngành y tế Thái Lan đãkhẩn trương thiết lập chính sách phát triển thuốc thảo mộc trên phạm vi cảnước, tiến hành các cuộc điều tra về cây thuốc, các nghiên cứu dược học, dầntừng bước đưa thuốc YHCT vào hệ thống y tế quốc gia phục vụ công tácCSSK nhân dân [7] Brunei Darussalam bắt đầu thành lập T/CAM – VụYHCT – Bộ Y tế vào ngày 26/05/2008 tập trung mũi nhọn lồng ghép T/CAMtrong dịch vụ chăm sóc sức khỏe [16] Từ 23/12/2002 đến 4/2/2005 đã có 8chuyên gia về YHCT của Bệnh viện YHCT Trung ương - Việt Nam đến trungtâm nghiên cứu YHCT – Bộ Y tế Lào để nghiên cứu lâm sàng về y học cổtruyền, trong thời gian này các chuyên gia chữa khỏi bệnh cho hơn 5000 bệnhnhân bằng YHCT Bộ Y tế Lào đã có kế hoạch hợp tác với Bộ Y tế Việt Namđào tạo sau đại học và các khóa đào tạo ngắn về phương pháp chữa bệnh bằngYHCT [12]
+ Hiện nay, hầu như chưa có đề tài nghiên cứu nào trên thế giới đưa rađược nghiên cứu cụ thể về nguồn nhân lực để phát triển YHCT cũng như nhucầu đào tạo liên tục cho các cán bộ làm về công tác YHCT, tuy nhiên trongchiến lược phát triển YHCT năm 2002 – 2005, Tổ chức y tế thế giới tiếp tụckhẳng định vai trò và giá trị của YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu chonhân dân Chiến lược y học cổ truyền khu vực Tây Thái Bình Dương (2011 –2020) đã tính đến các thách thức và xu hướng của khu vực cũng như bối cảnhchiến lược toàn cầu Bản chiến lược đã ghi nhận phương hướng của mỗi quốcgia và vùng lãnh thổ sẽ tùy thuộc vào nhu cầu, năng lực, ưu tiên, chính sách y
tế hiện hành, các quy định, chiến lược, nguồn lực, văn hóa và lịch sử của quốcgia đó Mục tiêu của chiến lược bao gồm [21]:
- Đưa y học cổ truyền vào hệ thống y tế quốc gia
- Thúc đẩy sử dụng y học cổ truyền an toàn và hiệu quả
- Tăng cường cơ hội sử dụng y học cổ truyền an toàn và hiệu quả
Trang 13- Thúc đẩy bảo vệ sử dụng bền vững nguồn lực y học cổ truyền.
- Tăng cường hợp tác trong việc xây dựng, chia sẻ kiến thức, kỹ năngthực hành y học cổ truyền
1.1.1.2 Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe tại các châu lục khác
Các nước châu Phi, châu Mỹ La tinh, đặc biệt là các bộ lạc người dân ởđây từ lâu đã biết làm các phương thuốc từ cây cỏ sẵn có tại nơi sinh sống đểphòng và chữa các bệnh thông thường ở cộng đồng mình
Theo kết quả của một số nghiên cứu ở Australia, 48,5% dân số sử dụng
ít nhất một loại hình chữa bệnh theo phương pháp YHCT, các bác sỹ thựchành đã khuyến cáo người dân sử dụng thảo dược - một trong mười liệu phápđiều trị thay thế (châm cứu, thôi miên, ngồi thiền, tác động cột sống, thể dụcnhịp điệu, Yoga, vi lượng đồng căn, thảo dược, xoa bóp, ngửi hoa) [22].Chính phủ đã có những chính sách phổ cập biện pháp thay thế này đến toàncộng đồng [23], [24]
Trong chiến lược phát triển YHCT năm 2002 – 2005, Tổ chức y tế thếgiới tiếp tục khẳng định vai trò và giá trị của YHCT trong chăm sóc sức khỏeban đầu cho nhân dân [6] Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tích cực và nỗ lực
hỗ trợ cho các hoạt động phát triển nguồn lực YHCT ở các nước thông quacác khoá đào tạo cho lương y ở Lào, Mông Cổ, Philippin và các quốc đảo TâyThái Bình Dương Mục tiêu là sử dụng những lương y đã được đào tạo đểgiáo dục sức khoẻ hoặc cung cấp dịch vụ CSSKBĐ bằng YHCT [9], [15].Nâng cao năng lực nghiên cứu về YHCT cho các nước thông qua tổ chức cáchội thảo khu vực, các khoá đào tạo và những học bổng đào tạo chuyên gia[15]
1.2 Hệ thống Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam
1.2.1 Khái quát lịch sử YHCT Việt Nam
YHCT Việt Nam ra đời từ rất sớm, gắn liền với lịch sử phát triển củatruyền thống văn hoá dân tộc Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, YHCT ViệtNam đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm phòng và chữa bệnh có hiệu quả.Nền YHCT Việt Nam còn được phát triển trong sự giao lưu với Trung Quốc
và các nước trong khu vực Bằng sự xuất hiện nhiều danh y lớn như Tuệ Tĩnh,Hải Thượng Lãn Ông, Chu Doãn Văn, Hoàng Đôn Hòa, Nguyễn Đạo An…
Trang 14YHCT Việt Nam không chỉ là một nền y học kinh nghiệm đơn thuần mà cònphát triển về mặt lý luận Các tác phẩm YHCT Việt Nam có giá trị to lớntrong nền y học và văn hóa dân tộc [25].
Từ thời Vua Hùng dựng nước, nhân dân Việt Nam đã biết dùng thuốc
có nguồn gốc thiên nhiên, khoáng vật, thực vật, động vật.Tục ăn trầu cho ấm
cơ thể, phòng sốt rét, ngã nước, nhuộm răng làm chặt chân răng; ăn kèm gừngtỏi với thịt, cá cho dễ tiêu trở thành gia vị trong bữa ăn hàng ngày Dân miềnnúi có tập quán ăn hạt ngải, uống nước riềng, chấm muối xả… để phòng khíthấp, chống sốt rét rừng; dân miền Trung du biết uống chè vối; miền xuôiuống chè xanh, ăn diếp cá, riềng giúp tiêu hóa tốt…sản phụ uống chè vằngcho “thông máu”, ăn ngon hơn và tiêu cơm [26] Các kinh nghiệm ban đầu ấyđược tích luỹ nhiều thêm và được đúc kết thành kinh nghiệm riêng của mỗidân tộc trên đất nước Việt Nam trong việc phòng chữa bệnh [27]
Các thời nhà Ngô, Đinh và Tiền Lê, tuy không còn văn tự về nềnYHCT nhưng qua truyền thuyết ta cũng có thể hình dung được là dân tộc talúc đó đã biết sử dụng dược thảo để bảo vệ sức khỏe cho mình Đến thời nhà
Lý, chính quyền phong kiến đã tập hợp các vị lương y tổ chức thành Ty Thái
y và bổ nhiệm Ngự y để lo sức khỏe cho triều đình Thời kỳ này đã xuất hiệnnhiều lương y hoạt động mang tính chuyên nghiệp Sang thời Trần YHCTphát triển mạnh mẽ hẳn lên Từ Ty Thái y (đời Lý) nay sang viện Thái y vàtriều đình mở các khoa thi để tuyển chọn lương y giỏi Nhà Trần còn chotrồng nhiều dược liệu với quy mô lớn mà nay vẫn còn dấu tích tại vùng Yên
Tử (Quảng Ninh) Vì thế thời kỳ này có nhiều thầy thuốc giỏi, vượt lên tất cả
là Thiền sư Tuệ Tĩnh (thế kỷXIV), Ông đã đã được nhân dân suy tôn là vị
“Thánh thuốc nam”, người có công đầu trong việc sưu tầm, tập hợp và sửdụng thuốc nam “Nam dược trị Nam nhân” Đây là một quan điểm vừa mangtính khoa học, tính nhân văn vừa thể hiện được ý trí độc lập, tự chủ, tự tôndân tộc Để cho dân dễ hiểu, dễ nhớ các phương pháp chữa bệnh bằng thuốcnam Tuệ Tĩnh đã soạn bằng thơ phú để truyền bá YHCT Bài thơ phú thuốcnam có 630 vị bằng Quốc âm, phần đầu cuốn “Nam dược thần hiệu” có 400 vịthuốc ghi bằng chữ Hán, 82 vị có tên Việt Nam…nhằm phổ biến kinh nghiệm
sử dụng thuốc nam trong việc phòng và chữa bệnh cho nhân dân [28]
Triều đình nhà Hồ tuy tồn tại chẳng được bao lâu, nhưng ngoài nhữngcải cách về mặt nhà nước, Hồ Qúy Ly còn chú trọng đến việc chăm lo sức
Trang 15khỏe cho nhân dân, lập Quảng Tế Thự và các cơ sở chữa bệnh bằng châmcứu Nhưng rồi, một lần nữa, nước ta lại bị giặc Minh xâm lược, nền YHCTcủa ta lại bị chìm lắng một thời gian Khi Lê Lợi đuổi được giặc Minh thìYHCT của ta lại phát triển mạnh mẽ Nhà Hậu Lê rất chú trọng đến việc chữabệnh cho dân, tạo điều kiện cho các thầy thuốc hành nghề Vì vậy thời kỳ này
có nhiều thầy thuốc giỏi như Nguyễn Trực, Chu Doãn Văn, Hoàng Đôn Hòa,Nguyễn Đạo An…nổi tiếng nhất là đại danh y Lê Hữu Trác (1720-1791),ngoài việc chữa bệnh tận tụy, tài giỏi, Ông còn soạn “Hải Thượng Y TôngTâm Lĩnh” 28 tập 66 quyển Bộ sách được coi là bộ Bách khoa toàn thư vềYHCT Việt Nam [29] Về phòng bệnh, có quyển Vệ sinh yếu quyết đã chỉdẫn cụ thể cách giữ vệ sinh theo hoàn cảnh sinh hoạt của nhân dân, từ vệ sinh
cá nhân đến vệ sinh môi trường với cách tu dưỡng tinh thần và rèn luyện thânthể để tăng sức khỏe, tăng tuổi thọ Về dược học, phát huy truyền thống củaTuệ Tĩnh, Ông thừa kế “Nam dược thần hiệu” 496 vị, bổ sung 300 vị trongtập Lĩnh nam bản thảo, gần 2.000 phương thuốc gia truyền, kinh nghiệm vàotập Bách gia trân tàng, Hành giả trận nhu Ông đã đúc kết được nhiều quy tắcchẩn đoán, biện chứng, luận trị, cách dùng thuốc chữa bệnh và đạo đức ngườithầy thuốc: 9 điều y huấn cách ngôn [30]
Có thể nói, nền YHCT Việt Nam dưới triều đại phong kiến dù phải trảiqua những bước thăng trầm và các biến cố lịch sử, có lúc tưởng chừng bị tiêuvong do thủ đoạn nham hiểm và hèn hạ của kẻ thù song cứ qua cơn bĩ cực lạiđến thời kỳ hưng thịnh và ngày càng phát triển
Dưới các triều đại phong kiến, YHCT ở nước ta tồn tại dưới 2 hìnhthức: YHCT chính thống và YHCT dân gian Trong đó YHCT chính thốngchịu ảnh hưởng nhiều của YHCT Trung Quốc, được sử dụng phục vụ chovua, quan và các gia đình hoàng tộc Còn YHCT dân gian, chủ yếu là thuốcnam được sử dụng rộng rãi tại cộng đồng phục vụ cho người dân nghèo
Dưới thời Pháp thuộc (1884-1945): do ảnh hưởng của phong trào “Tâyhóa” ở các nước phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, chế độ thựcdân thuộc địa, bán thuộc địa đã kìm hãm ngành YHCT, nhưng chủ yếu chỉxảy ra tại các đô thị, còn tuyệt đại đa số nhân dân lao động nghèo (nhất là ởnông thôn và miền núi) vẫn tin dùng thuốc YHCT để chữa bệnh Nhờ đó việc
sử dụng thuốc YHCT Việt Nam vẫn được bảo tồn, duy trì và phát triển [31]
Trang 16Cách mạng tháng tám thành công, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng
và Chính phủ ta luôn quan tâm đến phát triển YHCT
1.2.2 Hệ thống tổ chức y học cổ truyền Việt Nam hiện nay
- Năm 1946, Hội Đông y được thành lập để phát triển y học cổ truyền phục vụchế độ mới [32], [33]
- Nam bộ kháng chiến: Ban nghiên cứu Đông y Nam bộ được thành lập phục
vụ nhân dân và bộ đội Ngoài việc xây dựng mạng lưới YHCT, Ban nghiêncứu Đông y đã xây dựng và biên soạn "Toa căn bản" trị bệnh thông thường.Tập "Tủ thuốc nhân dân" được soạn để phổ biến và sử dụng thuốc YHCT
- Ngày 27/02/1955 Bác Hồ đã gửi thư cho ngành y tế Trong thư Bác viết: “Yhọc phải dựa trên nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng Ông cha ta đã cónhiều kinh nghiệm quí báu chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc Để mở rộngphạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu phối hợp thuốcĐông và thuốc Tây” [28], [34], [28]
- Năm 1957 Vụ Đông y và Viện Đông y được thành lập với mục đích là đoànkết giới lương y, những người hành nghề y học cổ truyền (YHCT) và YHHĐ,đồng thời phát huy hoạt động của các cơ sở nghiên cứu và điều trị bằng thuốcYHCT [35], [34]
- Đến năm 1978: 33/34 tỉnh thành có bệnh viện YHCT Phong trào trồng và
sử dụng thuốc nam chữa bệnh phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết [32]
- Đến năm 2010 sau khi có chính sách quốc gia về YDCT ban hành năm 2003đến nay có 56/63 tỉnh thành phố có bệnh viện YDCT [36]
1.2.3 Mạng lưới bệnh viện y dược cổ truyền tỉnh, thành phố
- Tổng số bệnh viện y dược cổ truyền: 59
Tuyến Trung ương: 3 bệnh viện
Tuyến tỉnh: 53 bệnh viện
Bệnh viện YDCT ngành: 2 bệnh viện (Bệnh viện YDCT Bộ Công an;bệnh viện YDCT Quân đội)
Trang 17Bệnh viện y dược cổ truyền trong học viện: 1 bệnh viện (bệnh viện TuệTĩnh thuộc Học viện YDCT Việt Nam)
Hệ thống khám chữa bệnh bằng y dược cổ truyền ở nước ta được chiathành 4 cấp độ chuyên môn từ thấp đến cao trong bậc thang điều trị, phântuyến về chuyên môn kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ bằng ydược cổ truyền; hệ thống bệnh viện YDCT hiện nay gồm: bệnh viện YHCTtuyến Trung ương, bệnh viện YDCT tuyến tỉnh và bệnh viện YHDT của bộ,ngành
*) Bệnh viện tuyến Trung ương [12], [39], [40], [41], [42]
Bệnh viện Y học cổ truyền tuyến Trung ương, bệnh viện Châm cứuTrung ương, Viện Y dược dân tộc học Thành phố Hồ Chí Minh là bệnh việnđầu ngành về y học cổ truyền, là tuyến cuối cùng trong bậc thang chuyên mônđiều trị, tiếp nhận người bệnh từ tuyến dưới chuyển lên [43], với chức năngnhiệm vụ:
- Kế thừa, nghiên cứu ứng dụng những bài thuốc, những phương phápchữa bệnh bằng YHCT
- Nghiên cứu, đánh giá các phương pháp chữa bệnh bằng YHCT, kết hợpYHCT với YHHĐ và triển khai các phương pháp này cho các cơ sởkhám chữa bệnh bằng YHCT trong cả nước
- Nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp chữa bệnh của các nước cónền YHCT phát triển ứng dụng vào Việt Nam
- Nghiên cứu và xây dựng công tác hiện đại hóa YHCT, kết hợp YHCTvới YHHĐ Tổ chức đào tạo và hợp tác quốc tế về YHCT
- Tổ chức chỉ đạo và chuyển giao các kỹ thuật về YDCT cho tuyến dưới
Trang 18*) Bệnh viện y dược cổ truyền tuyến tỉnh [44]:
Bệnh viện y dược cổ truyền tuyến tỉnh với chức năng là tuyến điều trịcao nhất về chuyên ngành y dược cổ truyền tại tỉnh, tiếp nhận người bệnh từtuyến huyện chuyến đến do vượt khả năng chuyên môn của các bệnh việntuyến huyện và thực hiện nhiệm vụ:
- Đáp ứng hầu hết các kỹ thuật chuyên môn thuộc chuyên ngành, thựchiện các kỹ thuật chuyên môn chuyên sâu
- Kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại
- Bệnh viện YDCT là đơn vị chuyên môn cao nhất; là cơ sở thực hànhphục vụ công tác đào tạo của các trường y, dược;
- Nhiệm vụ chỉ đạo tuyến dưới về chuyên ngành y dược cổ truyền trongtỉnh
- Nghiên cứu kế thừa, phát huy phát triển, bảo tồn những kinh nghiệmchữa bệnh bằng y dược cổ truyền cũng như phát triển các phương phápchữa bệnh kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại
1.3 Khái niệm về nguồn nhân lực y tế
1.3.1 Khái niệm
Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực”
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy
mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vàoquá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốcgia, khu vực, thế giới Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quanniệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạonên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức[45], [46]
Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi
cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công,đạt được mục tiêu của tổ chức [45], [47]
Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cảnhững người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”.Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, ngườilàm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp
Trang 19các dịch vụ y tế Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức(như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y ); kể cảnhững người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quânđội, trường học hay các doanh nghiệp)
Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đốitượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tếthuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm
cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả nhữngngười khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụCSSK nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bàđỡ/mụ vườn) Có hai khái niệm thường được sử dụng khi bàn luận về nguồnnhân lực y tế:
- Khái niệm Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến cơ chế nhằm phát triển
kỹ năng, kiến thức và năng lực chuyên môn của cá nhân và về mặt tổ chứccông việc
- Khái niệm quản lý nguồn nhân lực: Theo WPRO (Tổ chức Y tế Thế giớiTây Thái Bình Dương), “Quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môitrường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việccủa mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối
ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quảnhất Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị tríphù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ trợ chuyênmôn phù hợp với mức chi phí hợp lý”
1.3.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần khác của hệ
thống y tế
Theo WHO, hệ thống y tế có 6 thành phần cơ bản:
- Nguồn nhân lực y tế được coi là một trong những thành phần cơ bản và quantrọng nhất của hệ thống Nguồn nhân lực có mối liên hệ rất chặt chẽ và khôngthể thiếu đối với các thành phần khác của hệ thống y tế
Trang 20- Phát triển nguồn nhân lực không chỉ thông qua đào tạo, mà còn phải sửdụng, quản lý một cách phù hợp để cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đếnngười dân
- Cần có một mô hình tổ chức và chức năng của các thành phần của hệ thốngcung ứng dịch vụ để biết được nhu cầu về quy mô và cơ cấu nhân lực y tế nhưthế nào, ngược lại, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế phụ thuộc mật thiết vào môhình tổ chức và cơ cấu nhân lực y tế
- Hệ thống thông tin y tế cũng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết,tin cậy cho việc lập kế hoạch và sử dụng nhân lực đáp ứng nhu cầu CSSK củanhân dân, đồng thời giúp phát hiện những vấn đề của nguồn nhân lực nhưphân bổ không hợp lý, năng lực không phù hợp để đáp ứng yêu cầu CSSK từphía người dân và cộng đồng, hoặc phát hiện và phân tích tần suất sai sótchuyên môn để khắc phục
- Cấp tài chính cho nhân lực y tế cũng phải đảm bảo cho công tác đào tạo mới
và đào tạo liên tục CBYT, đủ để trả lương và chính sách khuyến khích ở mứcđảm bảo được cuộc sống cho CBYT, tạo ra động lực khuyến khích CBYTlàm việc có chất lượng và sẵn sàng làm việc ở các miền núi, vùng sâu, vùng
xa, hoặc trong các môi trường, chuyên ngành độc hại, nguy hiểm
- Các sản phẩm y tế, vaccin, dược phẩm
1.3.3 Thực trạng nhân lực y tế và phát triển nguồn nhân lực y tế
Theo báo cáo của JAHR, số lượng nhân lực y tế tiếp tục được cải thiện
Số bác sỹ trên 1 vạn dân tiếp tục tăng lên và đạt 13,4 vào năm 2011, riêng sốbác sĩ trên 1 vạn dân tăng từ 7,33 năm 2011 lên 7,46 năm 2012 Số dược sĩđại học trên 1 vặn dân năm 2011 đạt 1,92; số lượng điều dưỡng trên 1 vạn dâncũng tăng đạt 10,02 năm 2011 [48]
Số lượng nhân lực y tế các loại tăng qua các năm, bao gồm cả số lượngbác sĩ, dược sĩ đại học và điều dưỡng Năm 2013 đã đạt 7,5 bác sĩ/vạn dân và2,01 dược sĩ đại học/vạn dân [49] Đối chiếu với chỉ tiêu 8 bác sĩ/vạn dân và1,8 dược sĩ đại học/vạn dân trong Kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 của ngành y
tế thì chỉ tiêu về dược sĩ đại học đã đạt được Tỷ số bác sĩ trên vạn dân vẫncòn một khoảng cách khá lớn so với chỉ tiêu đặt ra [50]
Trang 21Nguồn bổ sung cho đội ngũ nhân lực y tế khá dồi dào.Số lượng cơ sởđào tạo và quy mô đào tạo của các trường tiếp tục tăng, tuy không còn tăngnhiều như trước đây Số lượng sinh viên đại học ra trường tiếp tục tăngnhanh, năm 2014 có trên 7000 bác sĩ ra trường, tăng hơn 1000 so với năm
2013 Ước tính trong 3 năm tiếp theo con số này sẽ tiếp tục tăng với tốc độnhư vậy Số lượng dược sĩ đại học tốt nghiệp tăng từ 1000 năm 2009 lên hơn
2000 năm 2012 và vào khoảng 3000 năm 2013 Nguồn nhân lực điều dưỡngbao gồm bậc đại học, cao đẳng, trung cấp rất lớn Với chỉ tiêu tuyển sinhtrung cấp điều dưỡng từ khoảng trên 10.000 năm 2006 và tăng dần đến trên20.000 vào 2014, chỉ tiêu tuyển sinh cao đẳng tăng nhanh từ hơn 1000 năm
2006 lên gần 15.000 năm 2013, chỉ tiêu tuyển sinh điều dưỡng đại học cũngtăng đều đặn từ hơn 1500 năm 2006 lên gần 5000 năm 2013, nguồn cung củađối tượng này đang vượt quá nhiều so với nhu cầu của hệ thống y tế Tìnhtrạng cung nhiều hơn cầu cũng xảy ra với y sĩ, dược trung cấp và tương laikhông xa là dược cao đẳng [51]
Bên cạnh các chính sách phát triển số lượng nhân lực y tế, ngành y tếcũng triển khai các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực y tế Việccấp chứng chỉ hành nghề được áp dụng với tất cả những người khám chữabệnh (bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên y, lương y và người cóbài thuốc gia truyền) trong và ngoài công lập nhằm từng bước hội nhập với y
tế các nước trên thế giới và trong khu vực
Phân bổ nhân lực y tế vẫn chưa đồng đều, nhân lực y tế có trình độ đạihọc trở lên tập trung chủ yếu ở các thành phố và khu vực kinh tế phát triển.Năm 2010, số lượng dược sĩ đại học ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minhchiếm hơn 48% tổng số dược sĩ của cả nước Chủ yếu (92%) các dược sĩ nàylàm việc trong khu vực tư nhân, chiếm hơn một nửa số dược sĩ thuộc khối tưnhân của cả nước [52]
Bộ Y tế tiếp tục triển khai các giải pháp cải thiện chất lượng nhân lực,tăng cường năng lực cho tuyến thông qua một số đề án Đề án 1816 tiếp tụcđược thực hiện nhưng chuyển từ chỗ hỗ trợ nhân lực cho tuyến dưới sang đàotạo, chuyển giao gói kỹ thuật Đề án Bệnh viện vệ tinh giai đoạn 2013 – 2020bắt đầu được triển khai Giai đoạn 1 từ 2013 đến 2015, 14 bệnh viện hạt nhânđược giao nhiệm vụ xây dựng và phát triển cho 45 bệnh viện vệ tinh ở 32 tỉnh[53] Các hoạt động chủ yếu của đề án là các bệnh viện hạt nhân đào tạo nhân
Trang 22lực y tế, chuyển giao kỹ thuật, cung cấp trang thiết bị y tế, tư vấn khám chữabệnh từ xa qua mạng internet cho các bệnh viện vệ tinh Đề án xây dựng vàphát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình giai đoạn 2013 – 2020 được
Bộ trưởng Bộ y tế phê duyệt tại quyết định 935/QĐ-BYT ngày 22/3/2013, vớimục tiêu xây dựng và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình trong hệthống y tế của cả nước nhằm cung cấp dịch vụ CSSK cơ bản, toàn diện, liêntục cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, góp phần giảm quá tải bệnh viện.Trong cả nước, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu trong triển khai
mô hình phòng khám bác sĩ gia đình Đến cuối năm 2013, thành phố cókhoảng 200 bác sĩ được đào tạo chuyên về y học gia đình Mô hình này đượcđánh giá là góp phần giảm tải bệnh viện tuyến trên và từng bước tăng cườngchất lượng y tế cơ sở [54] Ngành y tế cũng có các chương trình, dự án vàhoạt động hỗ trợ kỹ thuật mà đa số tập trung ở tuyến tỉnh (chiếm hơn 50%),sau đó là tuyến huyện (36 – 38%) [55]
Nhà nước tiếp tục cải thiện chất lượng đào tạo tại các cơ sở đào tạonhân lực y tế:
- Ngày 4/11/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa
XI đã ban hành Nghị quyết 29NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo trong đó đưa ra quan điểm chỉ đạo về sự cần thiết phải đổi mới cả
về sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, các hoạt động quản trị củacác cơ sở giáo dục đào tạo, và sự tham gia của xã hội, cộng đồng, bản thânngười học, đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Bộ y tế hiện đang xâydựng kế hoạch hành động để triển khai Nghị quyết này
- Hệ thống văn bản pháp quy, hướng dẫn về đào tạo nhân lực y tế đangđược xây dựng, hoàn thiện nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo Cácthông tư hướng dẫn đào tạo chuyên khoa I, chuyên khoa II, bác sĩ nội trú đangđược xây dựng mới để thay thế các Thông tư hiện tại không còn phù hợp.Hiện nay các bản thảo đang được lấy ý kiến các đơn vị liên quan như cơ sởđào tạo, cơ sở sử dụng nhân lực y tế Để giải quyết tình trạng chất lượng đàotạo thấp ở các khóa đào tạo liên thông khối ngành khoa học sức khỏe, đặc biệt
là đào tạo bác sĩ liên thông, Bộ y tế triển khai xây dựng Thông tư hướng dẫnđào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học khối ngành khoa học sức khỏe.Thông tư này sẽ thay thế Thông tư 06/2008/TT-BYT trước đây về hướng dẫntuyển sinh liên thông trình độ cao đẳng, đại học y dược và công văn số
Trang 231915/BYT-K2ĐT ngày 8/4/2013 Đồng thời, Bộ y tế cũng đã có một số vănbản gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị kiểm soát chỉ tiêu tuyển sinh một sốngành đang đào tạo quá nhiều, kiểm soát việc đào tạo liên thông, đào tạo theođịa chỉ, quy định chặt chẽ về mở mã ngành đào tạo mới Bộ Y tế cũng bắt đầu
tổ chức triển khai xây dựng văn bản quy phạm luật về kết hợp viện – trườngtrong đào tạo thực hành để thay thế Thông tư 09/2008/TT-BYT ngày1/8/2008 về hướng dẫn việc kết hợp giữa các cơ sở đào tạo cán bộ y tế với cácbệnh viện thực hành trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và CSSKnhân dân đã không còn phù hợp trong tình hình các bệnh viện thực hiện cơchế tự chủ tài chính và sinh viên có rất ít cơ hội được thực hành [54]
1.3.4 Thực trạng nguồn nhân lực y dược cổ truyền Việt Nam
Trước yêu cầu phát triển mới của đất nước và hoà nhập với cộng đồngthế giới đòi hỏi YHCT phải không ngừng được đổi mới về tổ chức, nâng caonăng lực trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại vàmột nguồn nhân lực đủ về số lượng và mạnh về chất lượng đáp ứng được yêucầu phát triển ngày càng cao của phòng bệnh, chữa bệnh, nghiên cứu khoahọc và sản xuất thuốc Đông Dược phù hợp với sự phát triển của thế giới vàcủa thời đại
Thập kỷ 90, YHCT đã có một đội ngũ cán bộ gồm: 9 Giáo sư, 13 Phógiáo sư, 20 Tiến sỹ, 48 Bác sỹ chuyên khoa II, 331 Bác sỹ chuyên khoa I,
1384 Bác sỹ YHCT, 1687 Y sỹ YHCT, có 2 Trường Trung học, 9 Bộ mônYHCT ở các Trường đại học Y và một số Bộ môn YHCT trong các trườngCao đẳng hoặc trung học Y tế [56] Ngoài ra còn có khoảng 27.800 hội việnHội Châm cứu [57], 50.700 hội viện Hội Đông y [33]
Tính đến cuối năm học 2005-2006, riêng khoa YHCT trường Đại học
Y Hà Nội đã đào tạo được: 11.400 Bác sỹ đa khoa và chuyên khoa YHCT; 23Bác sỹ nội trú đã tốt nghiệp; 95 BS CK 2.825 BS CK1 và cao học; 33 Nghiêncứu sinh đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ y học; Ngoài ra đã bổ túc chotrên 10.000 BS về thuốc nam và châm cứu [56] Năm 2010 cả nước có 362sinh viên đại học tốt nghiệp bác sỹ y học cổ truyền, trong đó ở Học việnYDHCT Việt Nam có 185 người tốt nghiệp, Đại học y khoa Thái Bình có 36người tốt nghiệp, Đại học Y dược Hồ Chí Minh có 112 người tốt nghiệp, Đạihọc Y khoa Hà Nội có 29 người tốt nghiệp [58]
Trang 24Tuy nhiên cho đến nay theo báo cáo Chính sách Quốc gia về YDCTmới có 01 Sở Y tế có phòng quản lý YDCT, 66,7% Sở Y tế có chuyên viênchuyên trách YDCT, 31,7% Sở Y tế chỉ có chuyên viên bán chuyên trách vềYDCT, một số bệnh viện YDCT tỉnh, thành phố số giường bệnh còn thấpnhư: Ninh Bình, Long An, Đồng Nai, Lào Cai, Hoà Bình, Quảng Bình Độingũ chuyên sâu YHCT còn rất mỏng, nhiều nơi chưa có cán bộ chuyên môn
về YHCT, trang thiết bị phục vụ cho công tác khám chữa bệnh bằng YHCTcòn nghèo nàn, nhiều tỉnh số cán bộ YHCT có trình độ đại học chỉ đếm trênđầu ngón tay như Quảng Trị, Quảng Bình, Đắc Nông, Kon Tum Số cán bộ
có trình độ cao đa số tập trung tại các Viện, Bệnh viện TW đầu ngành để cóđiều kiện vừa tham gia điều trị, nghiên cứu khoa học và đào tạo Từ thựctrạng nguồn nhân lực YDCT ở tất cả các tuyến còn thiếu rất nhiều do đó tỷ lệbệnh nhân được khám chữa bệnh bằng YHCT ở các tuyến đều còn thấp so vớichỉ tiêu mà Chính sách Quốc gia về YDCT đã đề ra Cụ thể là: theo số liệubáo của các Sở Y tế tỷ lệ bệnh nhân khám và điều trị bằng YHCT tại tuyếntỉnh (so với số lần khám và điều trị chung), số lần khám bằng YHCT đạt8,8%, chỉ tiêu mà Chính sách quốc gia là 20% Tỷ lệ khám và điều trị bằngYHCT ở tuyến huyện (so với số lần khám và điều trị chung của tuyến), số lầnkhám bằng YHCT đạt 9,1%, chỉ tiêu chính sách quốc gia về YDCT là 25%
Tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT tại tuyến xã phường là 24,6 % Tỷ lệ nàytrong chính sách quốc gia về YDCT là 40% [36], [59], [60], [61]
1.4 Đào tạo liên tục
1.4.1 Quan niệm về đào tạo liên tục
Hiện nay, Bộ y tế ban hành Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày09/08/2013 của Bộ trưởng Bộ y tế về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối
với cán bộ y tế, trong đó nêu rõ: Đào tạo liên tục là các khóa đào tạo ngắn
hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độthuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụchỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên mônnghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dụcquốc dân [62]
1.4.2 Các hình thức đào tạo liên tục và nguyên tắc quy đổi
- Tập huấn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ ngắn hạn trong và ngoài nước theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến
Trang 25(E-learning) được cấp chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận: thời gian tham gia đàotạo liên tục được tính theo thực tế chương trình đào tạo.
- Hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vựcchuyên môn y tế có xác nhận của đơn vị chủ trì tổ chức căn cứ vào chươngtrình của hội thảo, hội nghị, tọa đàm: thời gian tham gia đào tạo được tính chongười chủ trì hoặc có bài trình bày tối đa 8 tiết học và người tham dự tối đa 4tiết học cho mỗi hội thảo/hội nghị/tọa đàm
- Thực hiện nghiên cứu khoa học; hướng dẫn luận án, luận văn; viết bàibáo khoa học đã được công bố theo qui định: được tính tối đa 12 tiết học chongười hướng dẫn luận án, chủ trì/thư ký đề tài cấp Nhà nước hoặc cấp Bộ; 8tiết học cho hướng dẫn luận văn hoặc chủ trì/thư ký đề tài cấp cơ sở (tính tạithời điểm luận văn được bảo vệ thành công hoặc đề tài được nghiệm thu đạt)
- Biên soạn giáo trình chuyên môn được tính tối đa không quá 8 tiết đốivới 1 tài liệu do người đứng đầu đơn vị xem xét (tính vào thời điểm xuấtbản); cán bộ y tế không phải là giảng viên của cơ sở giáo dục tham gia giảngdạy liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ được tính theo thời gian thực tế
- Hình thức đào tạo liên tục qui định tại Khoản 1 Điều này phải cóchương trình và tài liệu đào tạo được cấp có thẩm quyền thẩm định, phêduyệt
Các bác sĩ tìm thấy hoạt động đào tạo liên tục bằng nhiều cách khácnhau: bài giảng, hội thảo, các lớp học, cuộc họp, video, internet Các bác sĩcũng có thể tham gia đào tạo liên tục dựa trên đọc tạp chí khoa học (nhưJAMA) hoặc sách [63]
1.4.3 Thời gian đào tạo liên tục
- Cán bộ y tế đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khámbệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết họctrong 2 năm liên tiếp
- Cán bộ y tế không thuộc trường hợp qui định tại Khoản 1 Điều này cónghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 120 tiết học trong 5 năm liên tiếp,trong đó mỗi năm tối thiểu 12 tiết học
- Cán bộ y tế tham gia các hình thức đào tạo liên tục khác nhau đượccộng dồn để tính thời gian đào tạo liên tục
1.4.4 Tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng đào tạo y khoa liên tục
Nâng cao sức khỏe cho mọi người là mục tiêu cơ bản của giáo dục yhọc Năm 1998, Liên đoàn giáo dục y học thế giới (WFME) với sự phối hợp
Trang 26SỞ Y TẾ (MÃ C)
Y TẾ CÁC BỘ, NGÀNH
Các bệnh
viện đk,
chuyên TT Y tế dự phòng tỉnh
TT kiểm nghiệm Dược
Chi cục Dân số và KHHGĐ tế khác, …Đơn vị Y
của WHO đã khởi xướng xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục yhọc Bộ tiêu chuẩn quốc tế của WHO và WFME gồm có ba tập:
- Giáo dục y học cơ bản
- Giáo dục y học sau đại học
- Đào tạo liên tục/phát triển nghề nghiệp liên tục
Tiêu chuẩn quốc tế về đào tạo liên tục (CME/CPD) gồm 9 tiêu chuẩnvới 36 tiêu chí:
Tiêu chuẩn 1 Nhiệm vụ và kết quả đầu ra, có 4 tiêu chí
Tiêu chuẩn 2 Các phương pháp học tập, có 6 tiêu chí
Tiêu chuẩn 3 Lập kế hoạch và dẫn chứng bằng tư liệu, có 2 tiêu chí
Tiêu chuẩn 4 Cá nhân người bác sĩ, có 4 tiêu chí
Tiêu chuẩn 5 Những người cung cấp CME/CPD, có 4 tiêu chí
Tiêu chuẩn 6 Ngữ cảnh học tập và nguồn lực, có 7 tiêu chí
Tiêu chuẩn 7 Đánh giá các phương pháp và năng lực, có 4 tiêu chí
Tiêu chuẩn 8 Tổ chức, có 4 tiêu chí
Tiêu chuẩn 9 Đổi mới liên tục, có 1 tiêu chí [64]
1.4.5 Hệ thống tổ chức cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế
Sơ đồ hệ thống tổ chức cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế [64]
19
Trang 271.5 Đào tạo trong bệnh viện
1.5.1 Các loại hình đào tạo trong bệnh viện
- Hướng dẫn thực hành cho học sinh, sinh viên các trường nghề, trung cấp,cao đẳng, đại học
- Hướng dẫn thực hành sau tốt nghiệp và xác nhận quá trình thực hành
- Đào tạo liên tục/ đào tạo phát triển nghề nghiệp/ cập nhật kiến thức y khoaliên tục
1.5.2 Các văn bản hiện hành liên quan đến đào tạo trong bệnh viện
1.6 Xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục
Công tác đào tạo liên tục tuy đã triển khai trong ngành khá lâu, tuynhiên khó khăn chủ yếu nhất là cách tổ chức đào tạo và đặc biệt là vấn đềkinh phí cho đào tạo liên tục , do vậy Thông tư số 22/2013/TT-BYT cũng đãchỉ ra để có thể triển khai tốt công tác này thì cần phải xây dựng kế hoạch.Trên cơ sở đó mới có nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực cho côngtác đào tạo liên tục
*Quy trình xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục
a) Kế hoạch đào tạo liên tục 5 năm đối với bệnh viện trực thuộc Sở Y tế
Trang 28Đào tạo liên tục thường là thời gian ngắn (dưới 1 năm) nên kế hoạchđào tạo liên tục của các bệnh viện có nhiệm vụ chỉ đạo tuyến thường là kếhoạch 5 năm và cần trình Sở Y tế phê duyệt, vì vậy quy trình xây dựng và phêduyệt đòi hỏi có đủ thời để xem xét và báo cáo các cơ quan có thẩm quyềnNhà nước đưa vào kế hoạch kinh phí cho năm sau Sau đó Sở y tế sẽ tập hợpbáo cáo tỉnh để đưa vào kế hoạch chung của tỉnh/thành phố.
b) Kế hoạch đào tạo liên tục hàng năm
Kế hoạch đào tạo liên tục hàng năm của bệnh viện được xây dựng dựa trên kếhoạch 5 năm đã được phê duyệt Kế hoạch đào tạo liên tục của bệnh viện là
bộ phận của kế hoạch chung hàng năm Kế hoạch chung của bệnh viện trìnhcấp thẩm quyền phê duyệt cần có dòng kinh phí dành cho đào tạo liên tục
Quy trình cũng tương tự như xây dựng kế hoạch 5 năm, đầu mối xâydựng kế hoạch đào tạo là đơn vị phụ trách đào tạo liên tục, phòng kế hoạchtổng hợp sẽ tổng hợp trong kế hoạch chung
1.7 Quản lý chương trình và tài liệu đào tạo liên tục
1.7.1 Chương trình đào tạo liên tục
Xây dựng chương trình đào tạo là công đoạn quan trọng nhất của quytrình dạy học Chương trình đào tạo tốt thì sản phẩm đào tạo sẽ tốt và ngượclại Một chương trình đào tạo tốt sẽ giúp người học tiếp nhận được các nộidung cần thiết nhất phục vụ cho nghề nghiệp của họ Chương trình không tốt
sẽ làm lãng phí thời gian của người học và lãng phí các nguồn lực phục vụcho công tác đào tạo
Chương trình đào tạo liên tục cán bộ y tế cần lưu ý các nội dung sau:
- Đào tạo cập nhật các năng lực cần thiết trong hoạt động chuyên môn vàthực hành nghề nghiệp thường xuyên của người học
- Chương trình hướng về cộng đồng để góp phần giải quyết các vấn đề sứckhỏe trong cộng đồng
- Dạy – học lấy việc học, lấy người học là trung tâm Đào tạo theo nhómnhỏ, cá thể hóa trong đào tạo
Yêu cầu của chương trình đào tạo liên tục:
Trang 29- Thể hiện các mục tiêu đào tạo mong muốn
- Quy định được chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng, thái độ
- Cấu trúc nội dung đào tạo phù hợp với mục tiêu
- Lựa chọn phương pháp, hình thức hực hiện chương trình thích hợp
- Cách đánh giá kết quả rõ ràng, khách quan
- Chương trình đào tạo liên tục phải được cập nhật liên tục để bảo đảm tínhkhoa học, phù hợp với nhu cầu thực tiễn, trong thời gian tối đa 5 năm phảiđược xem xét, chỉnh sửa và bổ sung
Các nội dung của việc quản lý chương trình đào tạo liên tục
a) Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo liên tục
- Tập huấn triển khai thực hiện chương trình đào tạo liên tục nhằm làm cho
cả người dạy, người học và nhà quản lý hiểu đúng, đầy đủ nội dungchương trình mới xây dựng và thống nhất thực hiện
- Chuẩn bị đủ điều kiện để triển khai đại trà chương trình đào tạo mới
- Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chương trình đào tạo
- Đánh giá chương trình đào tạo sau một thời gian thực hiện
b) Quản lý chương trình đảm bảo chất lượng
- Quản lý mục tiêu đào tạo: một chương trình đào tạo khi thực hiện chúng taphải kiểm soát chất lượng bằng cách xem chương trình đó có đạt mục tiêuđưa ra ban đầu hay không
- Quản lý nội dung chương trình đào tạo: xem tất cả các nội dung trongchương trình có được giảng dạy và học tập đầy đủ hay không, cả lý thuyết
và thực hành, đặc biệt là thực hành lâm sàng Việc đánh giá thực hiệnchương trình phải đầy đủ, khách quan có giá trị
- Quản lý kế hoạch thực hiện chương trình bao gồm quản lý kế hoạch giảngdạy từng bài học, quản lý kế hoạch toàn khóa học Các kế hoạch đó phảiđược thực hiện đầy đủ, trôi chảy, các khó khăn vướng mắc đều được giảiquyết hợp lý không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Kế hoạch dạy học
là tài liệu quan trọng nhất khi triển khai chương trình đào tạo liên tục
- Quản lý phương pháp lượng giá và kết quả lượng giá học viên Phươngpháp lượng giá có ý nghĩa đối với tính giá trị và độ tin cậy của kết quảlượng giá Mọi kết quả lượng giá học viên đều được ghi nhận và phản ánhtoàn diện quá trình học tập của học viên
- Quản lý chỉ tiêu thực hành tay nghề Đây là nội đung đã được đề cập nhiềunhưng lại ít được quan tâm đúng mức Đối với cán bộ y tế, mọi khóa đào
Trang 30tạo liên tục phải có chỉ tiêu thực hành tay nghề, nhất là các môn lâm sàng.Chỉ tiêu thực hành được dùng để lượng giá khi kết thúc khóa học.
- Quản lý kế hoạch dạy - học: Mỗi giảng viên khi lên lớp đều phải có kếhoạch dạy-học Kế hoạch dạy học là văn bản pháp lý đánh giá chất lượnggiảng dạy của giảng viên Kế hoạch dạy - học cần thường xuyên cập nhậtthông tin mới, sinh động
1.7.2 Tài liệu đào tạo liên tục
Quản lý tài liệu dạy học trong đào tạo liên tục:
- Tài liệu theo sát chương trình: tài liệu mới biên soạn hay sử dụng tài liệu
có sẵn đều cần căn cứ vào chương trình đã phê duyệt để có tài liệu phùhợp, sát chương trình, nội dung cần cô đọng, chỉ nên đưa ra những nộidung mà chúng ta thường nói phải học, rất hạn chế những nội dung màgiảng viên thích thú nhưng không phải cốt lõi và tuyệt đối không đưa vàotài liệu các nội dung biết thì tốt Vì là đào tạo liên tục nên nội dung phải làcập nhật nhưng phải đảm bảo chính xác, khoa học
- Lưu trữ tài liệu Việc lưu trữ tài liệu rất quan trọng dể đảm bảo các khóađào tạo liên tục thực hiện đúng các hướng dẫn của Bộ Y tế, việc lưu trữcòn phục vụ cho việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý giáo dục saunày
1.8 Quản lý giảng viên trong đào tạo liên tục cán bộ y tế
Quản lý giảng viên, trợ giảng của một lớp học cũng như việc quản lýđội ngũ giảng viên, trợ giảng của một cơ sở đào tạo liên tục thuộc đơn vị, địa
Trang 31Lựa chọn giảng viên
Bồi dưỡng giảng viên
Giám sát hỗ trợ giảng viên
phương trong ngành y tế là một hoạt động quan trọng để thực hiện những điềukiện đảm bảo chất lượng đào tạo của một lớp đào tạo cũng như toàn bộ côngtác đào tạo của đơn vị, địa phương
1.8.2 Đào tạo giảng viên
Thực hiện theo các văn bản sau:
- Công văn số 2585/BYT-K2ĐT ngày 27/4/2010 về ban hành chương trìnhđào tạo sư phạm y học cơ bản cho giảng viên đào tạo liên tục với 80 tiếthọc
- Công văn số 689/BYT-K2ĐT về ban hành chương trình giảng dạy lâmsàng với 40 tiết học
1.8.3 Nhiệm vụ của giảng viên
- Lượng giá nhu cầu đào tạo của học viên của mỗi khóa/lớp đào tạo liên tục
- Điều chỉnh chương trình, nội dung lớp đào tạo cho phù hợp với kết quảlượng giá nhu cầu đào tạo
- Giảng dạy, hướng dẫn học viên về lý thuyết và thực hành các kỹ thuật
- Chuẩn bị người bệnh, khách hàng, phương tiện dụng cụ, địa điểm,…chocác buổi dạy lý thuyết và thực hành
- Tiến hành lượng giá, đánh giá kết quả học tập của học viên
- Giám sát các hoạt động hậu cần để tổ chức lớp đào tạo liên tục tại đơn vị(địa điểm học, phương tiện, dụng cụ, tài liệu học tập,…)
- Thảo luận với trợ giảng, giáo viên kiêm chức để giải quyết các vấn đề liênquan đến đào tạo và thông báo kết quả và những vấn đề chưa giải quyếtđược đến lãnh đạo đơn vị
1.8.4 Quá trình quản lý giảng viên
Theo sơ đồ sau:
24
Trang 321.9 Tình hình đào tạo liên tục
1.9.1 Trên thế giới
Một nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của đào tạo liên tục y khoa thuthập kết quả trên 248 bài báo đánh giá về đào tạo liên tục, trong đó 13% cácbài báo mô tả thử nghiệm ngẫu nhiên, nhưng chỉ có 7% tất cả các bài báo và20% các thử nghiệm ngẫu nhiên đánh giá tác động của đào tạo liên tục trênbệnh nhân Nhũng nghiên cứu này đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng đàotạo liên tục có thể cải thiện hành vi của bác sĩ [65]
Theo nghiên cứu đánh giá hiệu quả chiến lược đào tạo liên tục y khoatrong việc thay đổi hiệu quả làm việc của bác sĩ thực hiện bởi David A Davis
và cộng sự cho thấy trên 99 cuộc thử nghiệm với 160 can thiệp theo tiêuchuẩn của nghiên cứu Gần hai phần ba trong số những can thiệp (101/160)thể hiện sự cải thiện: 70% biểu hiện sự thay đổi trong hoạt động của bác sĩ và48% các can thiệp cho thấy có sự thay đổi tích cực trong chăm sóc sức khỏe[66] Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra hiệu quả tích cực của đàotạo liên tục trong chăm sóc sức khỏe, nhưng nếu không thực hiện đúng lại làmgiảm chất lượng chăm sóc bệnh nhân và tăng chi phí [67], [68], [69], [70],[71], [72]
Mặc dù các bác sĩ báo cáo họ phải chi tiêu một số tiền và thời gianđáng kể cho việc đào tạo liên tục, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra một sự khácbiệt lớn giữa hiệu quả thực tế và lý tưởng của CME Dave Davis và cộng sự(1999) thực hiện trên 14 nghiên cứu với 17 can thiệp cho kết quả: 9 thay đổitích cực trong hành nghề, ¾ can thiệp làm thay đổi tích cực việc chăm sóc sứckhỏe [73]
Tuy nhiên theo một nghiên cứu Maliheh Mansouri và cộng sự cho thấymức độ ảnh hưởng của đào tạo liên tục trên hiệu quả làm việc của bác sĩ và
Trang 33trên bệnh nhân là không cao, có một mối tương quan tích cực giữa mức độhiệu quả của đào tạo liên tục và khoảng thời gian can thiệp (r=0,33) [74].
Theo một khảo sát của American Hospital Association (AHA) trên cáchọc viên về đánh giá giá trị và hiệu quả tổng thể của đào tạo liên tục y khoatrên 6 năng lực cốt lõi: tính chuyên môn, chăm sóc và quy trình làm việc vớibệnh nhân, kiến thức y học, học tập và nâng cao thực hành cơ bản, kỹ nănggiao tiếp và mối quan hệ giữa các đồng nghiệp, hệ thống thực hành cơ bản.Các kết quả chỉ ra rằng các học viên nhận thấy được giá trị của đào tạo liêntục (4.2 điểm trên thang điểm 5), nhưng phần lớn họ đồng ý với kết quả nàytrong việc giải quyết những kiến thức y học và việc chăm sóc bệnh nhân Cácđối tượng tham gia phản hồi rằng đào tạo liên tục là cách hiệu quả nhất đểnâng cao kiến thức y học và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân, nhưng
nó lại kém hiệu quả nhất trong việc cải thiện các thực hành của bác sĩ, khuyếnkhích cung cấp các cách chăm sóc bệnh và thông tin liên lạc được thông suốt,thúc đẩy chăm sóc theo nhóm và tăng cường sự tham gia của các bác sĩ trong
tổ chức của họ [75]
Theo WHO, các chương trình đào tạo liên tục (CME) được tổ chức tạiBelgaum, Mangalore, Madurai, Manipal, Tirunelveli ở phía Nam,Dharamshala, Aligarh và Muzaffarnagar ở phía Bắc, Bhopal, Nagpur vàJaipur ở phía tây và Cuttack, Patna và Guwahati ở phía Đông, tuy nhiên cácbác sĩ ở nhiều khu vực nông thôn vẫn còn đang bỏ lỡ các khóa học do họ íthoặc không có khả năng tiếp cận với các khóa học này Theo một nghiên cứu
“Thúc đẩy tỷ lệ sử dụng thuốc” công bố vào tháng 9 năm 2002 của danh mụccác thuốc thiết yếu của WHO và Vụ chính sách thuốc cho thấy CME là mộtyêu cầu cho việc đăng ký của các chuyên gia y tế tại nhiều như nước pháttriển như Hoa Kỳ, nhưng các cơ hội đào tạo liên tục lại bị giới hạn tại cácnước đang phát triển vì còn thiếu các văn bản quy phạm pháp luật, các biệnpháp khuyến khích Hồi đồng Y khoa của Ấn Độ thành lập một quy định rằngcác thành viên phải hoàn thành 30 giờ đào tạo liên tục mỗi năm để nhận đượcchứng chỉ hành nghề như bác sĩ, nhưng chỉ có 20% bác sĩ của Ấn Độ làm theo
vì quy định này không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý [76]
Theo một vài nghiên cứu, đào tạo trực tuyến được thực hiện để bổ sungkiến thức cho các chủ đề không gây tranh cãi hoặc không phức tạp, còn cácchủ đề có nhiều tranh cãi hoặc có nguy cơ áp dụng sai hoặc có nhiều lợi ích từ
Trang 34sự tương tác và thảo luận Một nghiên cứu cho rằng “Đào tạo liên tục (CME)trực tiếp thích hợp cho các nội dung mới và gây nhiều tranh luận và CME trựctuyến thích hợp để lấp đầy khoảng trống về kiến thức” [77], [78].
Bên cạnh đó những nhà lãnh đạo y tế, cần có sự thay đổi qua quá trìnhđào tạo liên tục là cần thiết, đặc biệt là đối với những người làm việc tại cácphòng ban chức năng quản lý Các nhà nghiên cứu đã thấy việc can thiệp vàohành chính đã tạo một không khí thay đổi trong toàn tổ chức y tế [79]
Vai trò lãnh đạo của các bác sĩ là cần thiết trong việc thiết kế và cungcấp các giáo trình đào tạo liên tục, đây cũng chính là một lĩnh vực của cácnghiên cứu, “các bác sĩ tìm hiểu thông qua sự tương tác với các đồng nghiệptrong các buổi đào tạo theo nhóm nhỏ, chính thức hoặc không chính thức”[80]
Trong số 239 đơn vị đủ điều kiện giảng dạy đào tạo liên tục trong bệnhviện Mỹ và tại Mỹ, và 184 (77%) các trường y tế Canada trả lời khảo sát.Trong số này, khoảng 94% của Mỹ và 6% trụ sở tại Canada Trong đó, tại Mỹ
có 127 đơn vị (chiếm 79%) được công nhận bởi ACCME và 22 (14%) do các
cơ quan kiểm định nhà nước Tại Canada chỉ có 12 đơn vị (chiếm 6%) đượccông nhận bởi Ủy ban công nhận của trường Y tế Canada (CACMS) Tỷ lệđáp ứng cho 3 đơn vị: các Trường y khoa Canada, các trường y khoa Mỹ vàcác bệnh viện giảng dạy của Mỹ [81]
1.9.2 Tại Việt Nam
a) Thực trạng và tầm quan trọng của công tác đào tạo liên tục trong ngành
Y tế
Nghề Y có đặc thù quan trọng do gắn liền với tính mạng và sức khỏecủa con người, việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chếtối thiểu những sai sót chuyên môn là một nhiệm vụ bắt buộc với mọi ngườihành nghề Trên thế giới đào tạo y khoa liên tục luôn gắn với lịch sử ra đời vàphát triển của nghề Y Trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học kỹ thuật và nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế, việcđào tạo liên tục càng trở nên cấp thiết
Ở nước ta, đào tạo liên tục nhân lực y tế đã được triển khai thông quacác hình thức ban đầu như tập huấn chuyên môn, chỉ đạo tuyến, hội thảo, hội
Trang 35nghị, giao ban chuyên môn bệnh viện,…Nghị quyết số 46/NQ-TW của BộChính trị đã chỉ rõ “nghề Y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đàotạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”, đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt nêubật tính đặc thù trong đào tạo, sử dụng nhân lực y tế [82].
Các luật cán bộ, công chức; viên chức; giáo dục; giáo dục đại học đều
đề cập đến chất lượng nhân lực y tế nói riêng Luật khám bệnh, chữa bệnh đãquy định nghĩa vụ học tập cho bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên hànhnghề khám chữa bệnh và chỉ rõ những người không tham gia cập nhật kiếnthức y khoa liên tục trong 2 năm sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề
Trong vòng 10 năm qua, chính phủ đã ban hành nhiều chính sách liênquan đến đào tạo, sử dụng, đãi ngộ cán bộ y tế.: Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 46/NQ-TW”; Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào tạo bồi dưỡng công chức đã quyđịnh nghĩa vụ học tập của mọi công chức; Nghị định 29/2012/NĐ-CP vềtuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức có hướng dẫn thực hiện bắt buộccập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành…
Năm 2008, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 07/2008/TT-BYT hướngdẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế Bộ y tế quy định tất cả cán
bộ y tế đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cậpnhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ củamình Tuy nhiên, việc triển khai đào tạo liên tục nhân lực y tế theo luật khámbệnh chữa bệnh và Thông tư về đạo tạo liên tục còn khá chậm, nhiều đơn vị y
tế vẫn còn thụ động, trông chơ ở Bộ Y tế và sự hỗ trợ từ các dự án, vì vậyviệc đào tạo liên tục nhân lực y tế còn chưa đáp ứng yêu cầu như mong muốn.Đến nay, Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống đào tạo liên tụcnhưng chưa hoàn chỉnh Những chế độ chính sách còn chưa đầy đủ, thiếuđồng bộ khiến việc triển khai thực hiện đào tạo liên tục gặp nhiều khó khăn.Chất lượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnhhưởng đến công tác chuyên môn của ngành [64]
Theo báo cáo đánh giá năng lực của các cơ sở đào tạo nhân lực y tế tạiViệt Nam, chương trình đào tạo mới và đào tạo liên tục vẫn chưa được chútrọng Phần lớn các ý kiến cho rằng chương trình đào tạo cần dành nhiều thờigian hơn cho thực hành kỹ năng, tập trung hơn nữa để tăng cường kỹ năng