1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết quả công tác giảm nghèo của xã krông jing, huyện m’đrắk, tỉnh đắk lắk

59 652 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 507,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN iii MỤC LỤC iv DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi DANH MỤC BẢNG BIỂU vii PHẦN I: MỞ ĐẦU 1 1.1 Lý do chọn đề tài 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆUCƠ SỞ LÝ LUẬN 3 2.1 Cơ sở lý luận 3 2.2 Cơ sở thực tiễn 7 2.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo của một số nước trên thế giới 7 2.2.2 Thực trạng giảm nghèo tại Việt Nam 12 2.2.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác giảm nghèo tại địa phương 13 2.2.4 Quan điểm, mục tiêu của Đảng và nhà nước đối với công tác xóa đói giảm nghèo 15 2.3. Nguyên nhân của sự của đói nghèo 16 2.4 Ý nghĩa của việc xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế xã hội 17 PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18 3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18 3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 18 3.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 18 3.2.1 Điều kiện tự nhiên 18 Bảng 3.1 Thống kê diện tích các loại đất trên địa bàn xã Krông Jing 20 3.2.2 Đánh giá thực trạng kinh tế xã hội 22 Bảng 3.2 Thống kê diện tích và năng suất một số loại cây trồng chính 22 Bảng 3.3 Thống kê một số loại vật nuôi chính trên địa bàn xã Krông Jing 23 3.3 Phương pháp nghiên cứu 28 3.3.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra 28 3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 28 3.3.3 Phương pháp sử lý số liệu 28 3.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 29 3.3.5 Hệ thống chỉ tiêu 29 PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30 4.1 Tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Krông Jing, huyện M’Đrắk 30 4.1.1 Tình trạng đói nghèo tại xã xã Krông Jing, huyện M’Đrắk 30 Bảng 4.1: Tỉ lệ số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã Krông Jing năm 2014 30 4.1.2 Một số chính sách, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo đã và đang được thực hiện tại xã Krông Jing M’Đrắk 33 4.2 Quá trình và kết quả thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo ở xã Krông Jing giai đoạn 2012 – 2014 34 4.2.1 Hoạt động hỗ trợ xây dựng nhà ở 34 4.2.2 Hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất 36 Bảng 4.2: Phân bổ nguồn vốn dể phát triển sản xuấtgiai đoạn 2013 2014 37 4.2.3 Hoạt động hỗ trợ cho vay vốn 38 4.2.4 Hỗ trợ cho hoạt động giáo dục 40 4.2.5 Hỗ trợ về y tế 41 4.2.6 Hỗ trợ trong vấn đề giải quyết việc làm 42 4.2.7 Một số hỗ trợ khác 42 4.3 Kết quả đạt được từ việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo ở xã Krông Jing M’Đrắk – Đăk Lăk 43 Bảng 4.3: Số hộ nghèo trên địa bàn xã Krông Jing giai đoạn 2012 – 2014 43 PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47 5.1. Kết luận: 47 5.2. Kiến nghị: 47 Đối với hộ nghèo đói 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BQ : Bình quân CĐĐH : Cao đẳng Đại học LĐTBXH : Lao động thương binh xã hội KH : Kế hoạch KTXH : Kinh tế Xã hội THCS : Trung học cơ sở UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1 Thống kê diện tích các loại đất trên địa bàn xã Krông Jing 20 Bảng 3.2 Thống kê diện tích và năng suất một số loại cây trồng chính 22 Bảng 3.3 Thống kê một số loại vật nuôi chính trên địa bàn xã Krông Jing 23 Bảng 4.1: Tỉ lệ số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã Krông Jing năm 2014 ..30 Bảng 4.2: Phân bổ nguồn vốn dể phát triển sản xuấtgiai đoạn 2013 2014 37 Bảng 4.3: Số hộ nghèo trên địa bàn xã Krông Jing giai đoạn 2012 – 2014 43 PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Những năm gần đây, nhờ những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển mình rất quan trọng. Đặc biệt là vào năm 2006 nước ta đã chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO. Những nhân tố đó đã làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đại bộ phận đời sống nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt. Song, một bộ phận không nhỏ dân cư đặc biệt là dân cư ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa… đang chịu cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống như ăn, ở, mặc, đi lại…. Chính vì vậy, sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Nó không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của những nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới, mà đối với nước ta khi nền kinh tế đang có sự chuyển mình thì vấn đề phân hoá giàu nghèo càng được chú trọng hàng đầu. Để có thể hoàn thành mục tiêu quốc gia là Xoá đói giảm nghèo thì thì trước tiên phải rút ngắn sự phân hoá giàu nghèo. Đây không chỉ là nhiệm vụ của bộ máy lãnh đạo mà còn là nhiệm vụ của toàn thể nhân dân. Phải phát huy truyền thống tinh hoa văn hoá người Việt trong nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo. Việt Nam là một trong những nước nghèo trên thế giới, với gần 80% dân cư sống ở khu vực nông nghiệp và 70% lực lượng lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp vào những năm cuối của thế kỷ 21. Với chủ trương phát triển một nền kinh tế thị truờng theo định hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà nước thì đây vừa là một nhiệm vụ chiến lược của công cuộc phát triển KTXH, vừa là phương tiện để đạt được mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Muốn đạt được mục tiêu này thì trước hết phải xoá bỏ đói nghèo và lạc hậu. Đây là một trách nhiệm hết sức nặng nề của Đảng và Nhà Nước ta, bởi Nhà Nước không chỉ bảo đảm nhu cầu tối thiểu cho dân mà còn xóa bỏ tận gốc các nguyên nhân gây ra đói nghèo trong dân cư. Để tập trung các nguồn lực và triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả các giải pháp, chính sách xoá đói giảm nghèo phải trở thành chương trình mục tiêu quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhằm hỗ trợ trực tiếp các xã nghèo, hộ nghèo các điều kiện cần thiết để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo, vì vậy mà Đại hội 8 của Đảng đã xác định “Xóa đói giảm nghèo là một trong những chương trình phát triển kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài. Thực hiện chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà Nước về phát triển kinh tế xã hội và xoá đói giảm nghèo thì cho đến nay tất cả các tỉnh, thành trong cả nước đã xây dựng chương trình xoá đói giảm nghèo phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương, từng khu vực nhằm xoá đói giảm nghèo và lạc hậu góp phần tích cực vào công cải cách nền kinh tế. Xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đăk Lăk là một xã trên 90% số dân sống bằng nghề nông, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Đất đai bạc màu, giá vật tư nông nghiệp tăng cao, giá sản phẩm nông nghiệp bấp bênh nên đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao nên công tác xóa đói giảm nghèo tại xã luôn là vấn đề cấp thiết và nan giải, biết được những khó khăn và như cầu bức thiết của người dân, tìm hiểu tình hình nghèo đói của xã từ đó đưa ra những đề xuất nhằm tăng cường công tác xóa đói giảm nghèo và đời sống của người dân, vì lý do đó tôi chọn để tài: “ Kết quả công tác giảm nghèo của xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, Tỉnh Đăk Lăk”. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu: Hệ thống các hoạt động liên quan đến kết quả công tác giảm nghèo của Xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk Đánh giá kết quả công tác giảm nghèo trên địa bàn Xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk Đừa ra một số đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả công tác giảm nghèo của Xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đăk Lăk. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆUCƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Cơ sở lý luận Cùng với chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, lạm phát, khủng hoảng kinh tế thì nghèo đói được coi là vấn nạn của toàn xã hội, là rào cản thực hiện tiến bộ xã hội. Ở những quốc gia kém phát triển, đặc biệt ở các nước thế giới thứ ba, người nghèo phải chấp nhận sống một cuộc sống dưới mức tối thiểu của một con người. Và khi xã hội càng tiến bộ thì cộng đồng thế giới càng dành sự quan tâm nhiều hơn tới những người nghèo. Trên thực tế, hàng năm, thế giới có những hoạt động ủng hộ người nghèo như đấu giá từ thiện vì người nghèo, nhắn tin ủng hộ người nghèo, thành lập quỹ vì người nghèo… Trên bình diện lý luận, quan điểm và khái niệm về nghèo đói cũng nhận được sự quan tâm của cộng đồng các quốc gia và giới khoa học. Ở những quốc gia và nền kinh tế khác nhau thì quan niệm về nghèo đói cũng có sự khác biệt, điều này tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và trình độ phát triển của những xã hội đặc thù. Khái niệm nghèo, đói. Theo Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP): Nghèo đói là trạng thái một bộ phận dân cư không được hưởng và thão mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Khái niệm nghèo đói có thể chia thành hai loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. + Nghèo tuyệt đối là sự không thoã mãn những nhu cầu tối thiểu của con người để duy trì cuộc sống như: Cơm ăn không đủ no, áo không đủ mặc, nhà cửa không bảo đảm chống được mưa nắng, thiên tai bão lũ...không so sánh với ai khác nhưng bản thân họ không đủ lượng calo cần thiết để duy trì cuộc sống. + Nghèo tương đối là sự thõa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của con người như: cơm ăn chưa ngon, quần áo chưa mặc đẹp, nhà ở chưa khang trang... hay nói cách khác là có sự so sánh về thoã mãn các nhu cầu cuộc sống giữa người này với người khác, vùng này với vùng khác. Ở Việt Nam, Nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thõa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng động xét trên mọi phương diện. Theo Chương trình Quốc gia Xoá đói giảm nghèo và phương hướng từ năm 20062010 của Thủ tướng Chính phủ, đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Khái niệm “hộ nghèo” Hộ nghèo: Là những hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ dưới ngưỡng đói nghèo. Căn cứ xác định chuẩn nghèo đói và chuẩn mực nghèo đói ở Việt Nam: Chuẩn mực nghèo đói giai đoạn 20062010 (Theo quyết định của thủ tướng chính phủ 1702005QĐTTg ký ngày 08 Tháng 07 năm 2005) Chuẩn nghèo chỉ áp dụng cho 2 khu vực là: + Khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân 200.000đồngngườitháng, được coi là nghèo. + Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 260.000đồngngườitháng, được coi là nghèo Chuẩn nghèo đói giai đoạn 20112015 (Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ 092011QĐTTg ký ngày 21 Tháng 9 năm 2010): + Khu vực nông thôn : hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồngngườitháng (từ 4.800.000 đồngngườinăm) trở xuống. Hộ cận nghèo thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồngngườitháng. + Khu vực thành thị : Hộ nghèo có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồngngườitháng (từ 6.000.000 đồngngườinăm) trở xuống. Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồngngườitháng. Mức chuẩn nghèo quy định tại Điều 1 Quyết định này là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Chuẩn nghèo không cố định mà luôn được điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội, địa phương nào có đủ điều kiện sau đây có thể nâng chuẩn nghèo lên để phù hợp với thực tế của địa phương đó: + Thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân của cả nước (năm 2008 960USDngười) + Có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo trung bình của cả nước. ( năm 2009 là 11%) + Tự cân đối được ngân sách và tự giải quyết được các chính sách đói nghèo theo chuẩn nâng lên. Khái niệm “hộ cận nghèo” Hộ cận nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người gần ngưỡng đói nghèo. Ngày 2192010 Thủ tướng ban hành Quyết định số 1752CT – TTg chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 2015. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 – 510.000 đồngngườitháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 510.000 – 650.000 đồngngườitháng. Mức quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 11 2011. Khái niệm “hộ vượt nghèo” Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một qúa trình thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở trên chuẩn mực nghèo đói. Hiện nay, ở một số địa phương có sử dụng khái niệm hộ thoát (hoặc vượt) đói và hộ thoát nghèo. Hộ thoát nghèo đương nhiên không còn là hộ đói nghèo nữa. Trong khi đó, hộ thoát nghèo đói có thể đồng thời thoát hẳn nghèo(ở trên chuẩn nghèo), nhưng đa số trường hợp thoát đói (rất nghèo) nhưng vẫn ở trong tình trạng nghèo. Số hộ nghèo giảm hay tăng trong một khoảng thời gian: Là hiệu số giữa tổng số hộ nghèo ở thời điểm đầu và cuối. Như vậy, giảm số hộ đói nghèo khác với khái niệm số hộ vượt nghèo và thoát nghèo. Số hộ thoát nghèo là số hộ ở đầu kỳ nhưng đến cuối kỳ vượt ra khỏi ngưỡng nghèo. Trong khi đó, số hộ nghèo giảm đi trong kỳ chỉ phản ánh đơn thuần chênh lệch về mặt số lượng hộ nghèo, chưa phản ánh thật chính xác kết quả của việc thực hiện chương trình. Khái niệm “xã nghèo” Xã nghèo: Theo Quyết định số 5872002QĐLĐTBXH ngày 22052002 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc ban hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 20012005. Quy định xã nghèo là xã có + Tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên. + Chưa đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường giao thông, trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sạch, chợ). Cụ thể là: + Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch. + Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt. +Chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại được cả năm. + Số phòng học (theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉ đáp ứng được dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bợ bằng tranh tre, nứa, lá. + Chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm. + Chưa có chợ hoặc chợ tạm bợ. Khái niệm “xoá đói giảm nghèo” Xoá đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nước và xã hội hướng vào người nghèo hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm taọ điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định. 2.2 Cơ sở thực tiễn 2.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo của một số nước trên thế giới 2.2.1.1. Giải quyết đói nghèo ở Hàn Quốc Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng. Từ đó, gây ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị xã hội. Để ổn định tình hình chính trị xã hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản: Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay. Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao. Thay giống lúa mới có năng suất cao. Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấp nhà ở. Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dâncó việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân ở các thành phố lớn dể kiếm việc làm. Chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn. Tóm lại: Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn, có như vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế . 2.2.1.2. Giải quyết đói nghèo ở Đài Loan Đài Loan là một trong những nước công nghiệp mới (NIES), nhưng là 1 nước thành công nhất về mô hình kết hợp chặt trẽ giữa phát triển công nghiệp với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn (mặc dù Đài Loan không có các điều kiện thuận lợi như một số nước trong khu vực) đó là chính phủ Đài Loan đã áp dụng thành công một số chính sách về phát triển kinh tế xã hội như: Đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại gia đình với quy mô nhỏ, chủ yếu đi vào sản xuất nông phẩm theo hướng sản xuất hàng hoá. Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, mở mang thêm những nghành sản xuát kinh doanh ngoài nông nghiẹp cũng được phát triển nhanh chóng, số trang trại vừa sản xuất nông nghiệp, vừa kinh doanh ngoài nông nghiệp chiếm 91% số trang trại sản xuất thuần nông chiếm 90%. Việc tăng sản lượng và tăng năng suất lao động ttrong nông nghiệp đến lượt nó lại tạo điều kiện cho các nghành công nghiệp phát triển . Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nông thôn. Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nông thôn cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ. Trong nhiều thập kỷ qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giao thông nông thôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, công cuộc điện khí hoá nông thôn góp phàn cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt ở nông thôn. Chính quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp ngay ở vùng nông thôn để thu hút những lao đông nhàn rỗi của khu vực nông nghiệp, tăng thu nhập cho những người nông dân nghèo, góp phần cho họ ổn định cuộc sống. Đài Loan áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc đối với những người trong độ tuổi, do đó trình độ học vấn của nhân dân nông thôn được nâng lên đáng kể, cùng với trình độ dân trí được nâng lên và điều kiện sống được cải thiện. Tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ 3,2%năm(1950) xuống còn 1,5%năm(1985). Hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân cũng được quan tâm đầu tư thích đáng. Ngoài Hàn Quốc, Đài Loan còn 1 số nước ASEAN cũng có những chương trình phát triển kinh tế xã hội bằng con đường kết hợp giữa những ngành công nghiệp mũi nhọn với việc phát triển kinh tế nông thôn với mục đích xoá đói giảm nghèo trong dân chúng nông thôn. Điều đặc trung quan trọng của các nước ASEAN là ở chỗ những nước này đều có nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, bước vào công nghiệp hoá có nghĩa là vào lúc khởi đầu của quá trình công nghiệp hoá.Tất cả các nước ASEAN (trừ Singapo) đều phải dựa vào sản xuất nông nghiệp, lấy phát triển nông nghiệp là một trong những nguồn vốn cho phát triển công nghiệp, điền hình là những nước như Thái Lan, Inđônêxia, Philipin và Malayxia. Tất cả những nước này phần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn, đời sống kinh tế nghèo nàn lạc hậu, thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy mà chính phủ các nước này trong quá trình hoạch định các chính sach kinh tế xã hội họ đều rất chú trọng đến các chính sách nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, giành cho nông nghiệp nông thôn những ưu tiên cần thiết về vốn đầu tư để tiến hành cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp. Tuy nhiên khi bước vào giai đoạn 2 của quá trình công nghiệp hoá, tất cả các nước ASEAN đều nhận thấy rằng không thể đi lên chỉ bằng con đường nông nghiệp mà phải đầu tư cho các ngành công nghiệp, dịch vụ. Chính vì lẽ đó mà các chính sách về phát triển nông nghiệp nông thôn cũng như các chương trình phát triển khác như chương trình xoá đói giảm nghèo không được chú trọng như ở giai đoạn đàu của quá trình công nghiệp hoá. Do vậy khoảng cách về thu nhập của những người giàu với những người nghèo là rất lớn. Sự phân tầng xã hội là rõ rệt gây mất ổn định về tình hình chính trị xã hội, từ đó làm mất ổn định trong phát triển kinh tế . Sự phồn vinh của băng cốc, Manila được xây dựng trên nghèo khổ của các vùng nông thôn như ở vùng đông bắc Thái Lan, ở miền trung đảo Ludon. Cho đến nay sự bất bình đẳng thu nhập ở Thái Lan vẫn tiếp tục gia tăng, các thành phố lớn, các khu cônh nghiệp vẫn có tỷ lệ tăng trưởng cao, năm 1981 Bangkoc đóng góp 42% GDP, đến năm 1989 lên tới 48% cho GDP trong khi đó phần đóng góp cho GDP ở các vùng khác lại giảm xuống như ở miền bắc và miền nam Thái lan phần đóng góp đã giảm xuống từ 14,7% năm 1981 xuống còn 10% năm 1989. Ở Malayxia chính phủ đã thực hiện chính sách phân phối lại trong nền kinh tế quốc dân, nhưng việc phân phối lại thì lợi ích vẫn chủ yếu tập trung cho tần lớp giàu có, những người nghèo khổ đặc biệtlà nông dân hầu như không được chia sẻ lợi ích đó, khái niệm công bằng ở đây là sự công bằng giữa tầng lớp giàu có. Vào năm 1985 ở Malayxia có tới 82.000 hộ gia đình ở khu vực nông thôn thuộc diện nghèo đói. Tình trạng nghèo khổ ở Philipin còn tồi tệ hơn, năm 1988 tỷ lệ nghèo đói ở Philipin lên tới 49,5% dân số trong 3,1 triệu hộ gia đình đói nghèo thì tới 2,2 triệu gia đình (72,8%) sống ở khu vực nông thôn, đời sống chủ yếu dựa vào nghề nông, còn 843.000 hộ (27,2%) sống ở khu vực phi nông nghiệp. Điều này cho thấy đa số những người nghèo Philippin sống tập trung ở khu vực nông thôn. Tình trạng nghèo khổ ở các nước ASEAN vẫn tiếp tục gia tăng, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này, điều này cho thấy do sự tăng trưởng kinh tế không theo kịp sự tăng trưởng dân số, mặt khác là do quá trình chuyển dịch cơ cấu sang những ngành sản xuất công nghệ cao của một số nước ASEAN hiện nay làm cho nạn thất nghiệp ngày càng trầm trọng hơn.Để giải quyết tình trạng đói nghèo, chính phủ các nước ASEAN có rất nhều cố gắng. Chính phủ Inđônêxia trong kế hoạch 5 năm lần năm đã tăng chỉ tiêu cho các hoạt động tạo ra những việc làm mới cho những người chưa có việc làm, nhằm tạo thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần tích cực cho công cuộc xoá đói giảm nghèo cho nhân dân. Ở Thái Lan, một trong những biện pháp chống nghèo khổ mà nước này đã áp dụng là phân bố cơ sở sản xuất công nghiệp xây dựng mới về khu vực nông thôn, nơi có sẵn tài nguyên thiên nhiên nhằm thu hút số lao động dôi dư ở khu vực nông nghiệp(để khắc phục tình trạng dân lao động di cư vào thành phố kiếm việc làm) làm tăng thu nhập cho người dân và gia đình họ. Biện pháp này còn nhằm mục đích đô thị hoá nông thôn, đưa những vùng nông thôn hẻo lánh xa xôi vào dòng phát triển chung của đất nước. Những nỗ lực trong các giải pháp chống nghèo khổ của các nước ASEAN đã đem lại những kết quả đáng kể, song để khắc phục tình trạng đói nghèo có tính lâu dài bền vững thì chính phủ các nước này phải duy trì và đẩy mạnh nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển tạo nên cơ sở vật chất dể phân phối lại thu nhập qua sự điều tiết của chính phủ và khi nền kinh tế phát triển thì tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế được nâng cao, từ đó chính phủ đầu tư cho việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là chương trình xoá đói giảm nghèo một cách hiệu quả nhất.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn cô TS.Tuyết Hoa Niê Kđăm đã tận tình

Để hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp cũng như bài chuyên đề này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các đoàn thể cá nhân trong và ngoài trường.

giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành bài này.

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo Khoa Kinh tế, trường Đại học Tây Nguyên đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.

Xin chân thành cảm ơn các cô, chú và các anh chị tại UBND xã Krông Jing, huyện M’Đrăk, Tỉnh Đăk Lắk, ban tự quản các thôn, cùng bà con nông dân xã Krông Jing đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè và người thân đã giúp

đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như quá trình tôi thực tập.

Xin chân thành cảm ơn

Đắk Lắk, tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Y puinh niê

Trang 4

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU/CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.2 Cơ sở thực tiễn 7

2.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo của một số nước trên thế giới 7

2.2.2 Thực trạng giảm nghèo tại Việt Nam 12

2.2.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác giảm nghèo tại địa phương 13

2.2.4 Quan điểm, mục tiêu của Đảng và nhà nước đối với công tác xóa đói giảm nghèo 15

2.3 Nguyên nhân của sự của đói nghèo 16

2.4 Ý nghĩa của việc xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế xã hội 17

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 18

3.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 18

3.2.1 Điều kiện tự nhiên 18

Bảng 3.1 Thống kê diện tích các loại đất trên địa bàn xã Krông Jing 20

3.2.2 Đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội 22

Bảng 3.2 Thống kê diện tích và năng suất một số loại cây trồng chính 22

Bảng 3.3 Thống kê một số loại vật nuôi chính trên địa bàn xã Krông Jing 23

3.3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra 28

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 28

3.3.3 Phương pháp sử lý số liệu 28

Trang 5

3.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 29

3.3.5 Hệ thống chỉ tiêu 29

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

4.1 Tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Krông Jing, huyện M’Đrắk 30

4.1.1 Tình trạng đói nghèo tại xã xã Krông Jing, huyện M’Đrắk 30

Bảng 4.1: Tỉ lệ số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã Krông Jing năm 2014.30 4.1.2 Một số chính sách, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo đã và đang được thực hiện tại xã Krông Jing- M’Đrắk 33

4.2 Quá trình và kết quả thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo ở xã Krông Jing giai đoạn 2012 – 2014 34

4.2.1 Hoạt động hỗ trợ xây dựng nhà ở 34

4.2.2 Hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất 36

Bảng 4.2: Phân bổ nguồn vốn dể phát triển sản xuấtgiai đoạn 2013- 2014 37

4.2.3 Hoạt động hỗ trợ cho vay vốn 38

4.2.4 Hỗ trợ cho hoạt động giáo dục 40

4.2.5 Hỗ trợ về y tế 41

4.2.6 Hỗ trợ trong vấn đề giải quyết việc làm 42

4.2.7 Một số hỗ trợ khác 42

4.3 Kết quả đạt được từ việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo ở xã Krông Jing - M’Đrắk – Đăk Lăk 43

Bảng 4.3: Số hộ nghèo trên địa bàn xã Krông Jing giai đoạn 2012 – 2014 43

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47

5.1 Kết luận: 47

5.2 Kiến nghị: 47

Đối với hộ nghèo đói 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thống kê diện tích các loại đất trên địa bàn xã Krông Jing 20 Bảng 3.2 Thống kê diện tích và năng suất một số loại cây trồng chính 22 Bảng 3.3 Thống kê một số loại vật nuôi chính trên địa bàn xã Krông Jing 23 Bảng 4.1: Tỉ lệ số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã Krông Jing năm 2014 30 Bảng 4.2: Phân bổ nguồn vốn dể phát triển sản xuấtgiai đoạn 2013- 2014 37 Bảng 4.3: Số hộ nghèo trên địa bàn xã Krông Jing giai đoạn 2012 – 2014 43

Trang 8

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu Những năm gần đây, nhờnhững chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có nhữngbước chuyển mình rất quan trọng Đặc biệt là vào năm 2006 nước ta đã chính thức

là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO Những nhân

tố đó đã làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đại bộ phận đời sốngnhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt Song, một bộ phận không nhỏ dân cưđặc biệt là dân cư ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa… đang chịu cảnh nghèo đói, chưađảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống như ăn, ở, mặc, đi lại….Chính vì vậy, sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta ngày càng diễn ra mạnh mẽ Nókhông chỉ là mối quan tâm hàng đầu của những nước có nền kinh tế phát triển trênthế giới, mà đối với nước ta khi nền kinh tế đang có sự chuyển mình thì vấn đề phânhoá giàu nghèo càng được chú trọng hàng đầu Để có thể hoàn thành mục tiêu quốcgia là Xoá đói giảm nghèo thì thì trước tiên phải rút ngắn sự phân hoá giàu nghèo.Đây không chỉ là nhiệm vụ của bộ máy lãnh đạo mà còn là nhiệm vụ của toàn thểnhân dân Phải phát huy truyền thống tinh hoa văn hoá người Việt trong nhiệm vụxóa đói giảm nghèo

Việt Nam là một trong những nước nghèo trên thế giới, với gần 80% dân cưsống ở khu vực nông nghiệp và 70% lực lượng lao động làm trong lĩnh vực nôngnghiệp vào những năm cuối của thế kỷ 21 Với chủ trương phát triển một nền kinh

tế thị truờng theo định hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà nước thì đây vừa làmột nhiệm vụ chiến lược của công cuộc phát triển KT-XH, vừa là phương tiện đểđạt được mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh" Muốn đạtđược mục tiêu này thì trước hết phải xoá bỏ đói nghèo và lạc hậu Đây là một tráchnhiệm hết sức nặng nề của Đảng và Nhà Nước ta, bởi Nhà Nước không chỉ bảo đảmnhu cầu tối thiểu cho dân mà còn xóa bỏ tận gốc các nguyên nhân gây ra đói nghèotrong dân cư Để tập trung các nguồn lực và triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệuquả các giải pháp, chính sách xoá đói giảm nghèo phải trở thành chương trình mụctiêu quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhằm

hỗ trợ trực tiếp các xã nghèo, hộ nghèo các điều kiện cần thiết để phát triển sản

Trang 9

xuất, tăng thu nhập, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo, vì vậy màĐại hội 8 của Đảng đã xác định “Xóa đói giảm nghèo là một trong những chươngtrình phát triển kinh tế - xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài" Thựchiện chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà Nước về phát triển kinh tế xã hội vàxoá đói giảm nghèo thì cho đến nay tất cả các tỉnh, thành trong cả nước đã xây dựngchương trình xoá đói giảm nghèo phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế

xã hội của từng địa phương, từng khu vực nhằm xoá đói giảm nghèo và lạc hậu gópphần tích cực vào công cải cách nền kinh tế

Xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đăk Lăk là một xã trên 90% số dân sốngbằng nghề nông, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp Đất đai bạc màu, giá vật tưnông nghiệp tăng cao, giá sản phẩm nông nghiệp bấp bênh nên đã ảnh hưởng rất lớnđến sản xuất và đời sống của nhân dân Tỷ lệ hộ nghèo còn cao nên công tác xóa đóigiảm nghèo tại xã luôn là vấn đề cấp thiết và nan giải, biết được những khó khăn vànhư cầu bức thiết của người dân, tìm hiểu tình hình nghèo đói của xã từ đó đưa ranhững đề xuất nhằm tăng cường công tác xóa đói giảm nghèo và đời sống củangười dân, vì lý do đó tôi chọn để tài: “ Kết quả công tác giảm nghèo của xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, Tỉnh Đăk Lăk”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Hệ thống các hoạt động liên quan đến kết quả công tác giảm nghèo của XãKrông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk

- Đánh giá kết quả công tác giảm nghèo trên địa bàn Xã Krông Jing, huyệnM’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk

- Đừa ra một số đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả công tác giảm nghèo của

Xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đăk Lăk

Trang 10

PHẦN II: T NG QUAN TÀI LI U/C S LÝ LU N ỔNG QUAN TÀI LIỆU/CƠ SỞ LÝ LUẬN ỆU/CƠ SỞ LÝ LUẬN Ơ SỞ LÝ LUẬN Ở LÝ LUẬN ẬN

2.1 Cơ sở lý luận

Cùng với chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, lạm phát, khủng hoảng kinh tế thì

nghèo đói được coi là vấn nạn của toàn xã hội, là rào cản thực hiện tiến bộ xã hội Ởnhững quốc gia kém phát triển, đặc biệt ở các nước thế giới thứ ba, người nghèophải chấp nhận sống một cuộc sống dưới mức tối thiểu của một con người Và khi

xã hội càng tiến bộ thì cộng đồng thế giới càng dành sự quan tâm nhiều hơn tớinhững người nghèo Trên thực tế, hàng năm, thế giới có những hoạt động ủng hộngười nghèo như đấu giá từ thiện vì người nghèo, nhắn tin ủng hộ người nghèo,thành lập quỹ vì người nghèo… Trên bình diện lý luận, quan điểm và khái niệm vềnghèo đói cũng nhận được sự quan tâm của cộng đồng các quốc gia và giới khoahọc Ở những quốc gia và nền kinh tế khác nhau thì quan niệm về nghèo đói cũng

có sự khác biệt, điều này tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và trình độ phát triển củanhững xã hội đặc thù

* Khái niệm nghèo, đói.

Trang 11

- Theo Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP):Nghèo đói là trạng thái một bộ phận dân cư không được hưởng và thão mãn nhữngnhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùytheo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương.

- Khái niệm nghèo đói có thể chia thành hai loại: nghèo tuyệt đối và nghèotương đối

+ Nghèo tuyệt đối là sự không thoã mãn những nhu cầu tối thiểu của con

người để duy trì cuộc sống như: Cơm ăn không đủ no, áo không đủ mặc, nhà cửakhông bảo đảm chống được mưa nắng, thiên tai bão lũ không so sánh với ai khácnhưng bản thân họ không đủ lượng calo cần thiết để duy trì cuộc sống

+ Nghèo tương đối là sự thõa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của con

người như: cơm ăn chưa ngon, quần áo chưa mặc đẹp, nhà ở chưa khang trang hay nói cách khác là có sự so sánh về thoã mãn các nhu cầu cuộc sống giữa ngườinày với người khác, vùng này với vùng khác

- Ở Việt Nam, Nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả

năng thõa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngangbằng với mức sống tối thiểu của cộng động xét trên mọi phương diện

- Theo Chươngtrình Quốc gia Xoá đói giảm nghèo và phương hướng từ năm 2006-2010 của Thủ

tướng Chính phủ, đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới

mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống

* Khái niệm “hộ nghèo”

- Hộ nghèo: Lànhững hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ dưới ngưỡng đói nghèo

Căn cứ xác định chuẩn nghèo đói và chuẩn mực nghèo đói ở Việt Nam:

* Chuẩn mực nghèo đói giai đoạn 2006-2010 (Theo quyết định của thủ

tướng chính phủ 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08 Tháng 07 năm 2005)

Chuẩn nghèo chỉ áp dụng cho 2 khu vực là:

+ Khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân 200.000đồng/người/tháng, đượccoi là nghèo

+ Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 260.000đồng/người/tháng, đượccoi là nghèo

Trang 12

* Chuẩn nghèo đói giai đoạn 2011-2015 (Theo quyết định của Thủ tướng

chính phủ 09/2011/QĐ-TTg ký ngày 21 Tháng 9 năm 2010):

+ Khu vực nông thôn : hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống Hộ cận nghèo thunhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

+ Khu vực thành thị : Hộ nghèo có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống Hộ cận nghèo là hộ có mứcthu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

Mức chuẩn nghèo quy định tại Điều 1 Quyết định này là căn cứ để thực hiệncác chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác

Chuẩn nghèo không cố định mà luôn được điều chỉnh cho phù hợp với từnggiai đoạn phát triển của xã hội Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế- xã hội, địaphương nào có đủ điều kiện sau đây có thể nâng chuẩn nghèo lên để phù hợp vớithực tế của địa phương đó:

+ Thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân của cả nước(năm 2008 960USD/người)

+ Có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo trung bình của cả nước

( năm 2009 là 11%)

+ Tự cân đối được ngân sách và tự giải quyết được các chính sách đói nghèotheo chuẩn nâng lên

* Khái niệm “hộ cận nghèo”

- Hộ cận nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người gần ngưỡng đói

nghèo

- Ngày 21/9/2010 Thủ tướng ban hành Quyết định số 1752/CT – TTg chuẩn

hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 Hộ cận nghèo ở nôngthôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 – 510.000 đồng/người/tháng Hộcận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 510.000 – 650.000 đồng/người/tháng Mức quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh

xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày1/1/ 2011

* Khái niệm “hộ vượt nghèo”

Trang 13

- Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một qúa trình thựchiện chương trình xoá đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ởtrên chuẩn mực nghèo đói Hiện nay, ở một số địa phương có sử dụng khái niệm hộthoát (hoặc vượt) đói và hộ thoát nghèo Hộ thoát nghèo đương nhiên không còn là

hộ đói nghèo nữa Trong khi đó, hộ thoát nghèo đói có thể đồng thời thoát hẳnnghèo(ở trên chuẩn nghèo), nhưng đa số trường hợp thoát đói (rất nghèo) nhưng vẫn

ở trong tình trạng nghèo

- Số hộ nghèo giảm hay tăng trong một khoảng thời gian: Là hiệu số giữatổng số hộ nghèo ở thời điểm đầu và cuối Như vậy, giảm số hộ đói nghèo khác vớikhái niệm số hộ vượt nghèo và thoát nghèo Số hộ thoát nghèo là số hộ ở đầu kỳnhưng đến cuối kỳ vượt ra khỏi ngưỡng nghèo Trong khi đó, số hộ nghèo giảm đitrong kỳ chỉ phản ánh đơn thuần chênh lệch về mặt số lượng hộ nghèo, chưa phảnánh thật chính xác kết quả của việc thực hiện chương trình

* Khái niệm “xã nghèo”

- Xã nghèo: Theo Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/05/2002của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc ban hành tiêu chí xãnghèo giai đoạn 2001-2005 Quy định xã nghèo là xã có

+ Tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên

+ Chưa đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường giao thông,trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sạch, chợ) Cụ thể là:

+ Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch

+ Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt

+Chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại được

cả năm

+ Số phòng học (theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉđáp ứng được dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bợ bằng tranhtre, nứa, lá

+ Chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm

+ Chưa có chợ hoặc chợ tạm bợ

* Khái niệm “xoá đói giảm nghèo”

Xoá đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nước và

xã hội hướng vào người nghèo hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo

Trang 14

đói, nhằm taọ điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhậpkhông đáp ứng những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định.

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo của một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Giải quyết đói nghèo ở Hàn Quốc

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việcphát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị,xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân sốHàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là táđiền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnhnghèo đói tột cùng Từ đó, gây ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị

để kiếm việc làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổnđịnh chính trị -xã hội Để ổn định tình hình chính trị - xã hội, chính phủ Hàn Quốcbuộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế - xã hội của mình, cuối cùng đã phảichú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vựcnông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4nội dung cơ bản:

- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dânvay

- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao

- Thay giống lúa mới có năng suất cao

- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập cácHTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấpnhà ở

Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dâncóviệc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân ở các thành phố lớn dể kiếmviệc làm Chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơcấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản

Trang 15

xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhằm xoá đói giảm nghèocho dân chúng ở khu vực nông thôn.

Tóm lại: Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng chính

phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nôngnghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn, cónhư vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho nềnkinh tế

2.2.1.2 Giải quyết đói nghèo ở Đài Loan

Đài Loan là một trong những nước công nghiệp mới (NIES), nhưng là 1 nướcthành công nhất về mô hình kết hợp chặt trẽ giữa phát triển công nghiệp với pháttriển kinh tế nông nghiệp nông thôn (mặc dù Đài Loan không có các điều kiện thuậnlợi như một số nước trong khu vực) đó là chính phủ Đài Loan đã áp dụng thànhcông một số chính sách về phát triển kinh tế -xã hội như:

- Đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại giađình với quy mô nhỏ, chủ yếu đi vào sản xuất nông phẩm theo hướng sản xuất hànghoá

- Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn,

mở mang thêm những nghành sản xuát kinh doanh ngoài nông nghiẹp cũng đượcphát triển nhanh chóng, số trang trại vừa sản xuất nông nghiệp, vừa kinh doanhngoài nông nghiệp chiếm 91% số trang trại sản xuất thuần nông chiếm 90% Việctăng sản lượng và tăng năng suất lao động ttrong nông nghiệp đến lượt nó lại tạođiều kiện cho các nghành công nghiệp phát triển

- Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nôngthôn Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nông thôn cả về đường

bộ, đường sắt và đường thuỷ

Trong nhiều thập kỷ qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giao thông nôngthôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, công cuộc điện khí hoá nông thôngóp phàn cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt ở nông thôn Chính quyềnĐài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp ngay ở vùng nông thôn đểthu hút những lao đông nhàn rỗi của khu vực nông nghiệp, tăng thu nhập cho những

Trang 16

người nông dân nghèo, góp phần cho họ ổn định cuộc sống Đài Loan áp dụng chế

độ giáo dục bắt buộc đối với những người trong độ tuổi, do đó trình độ học vấn củanhân dân nông thôn được nâng lên đáng kể, cùng với trình độ dân trí được nâng lên

và điều kiện sống được cải thiện Tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ 3,2%/năm(1950)xuống còn 1,5%/năm(1985) Hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhândân cũng được quan tâm đầu tư thích đáng

Ngoài Hàn Quốc, Đài Loan còn 1 số nước ASEAN cũng có những chươngtrình phát triển kinh tế -xã hội bằng con đường kết hợp giữa những ngành côngnghiệp mũi nhọn với việc phát triển kinh tế nông thôn với mục đích xoá đói giảmnghèo trong dân chúng nông thôn Điều đặc trung quan trọng của các nước ASEAN

là ở chỗ những nước này đều có nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, bước vào côngnghiệp hoá có nghĩa là vào lúc khởi đầu của quá trình công nghiệp hoá.Tất cả cácnước ASEAN (trừ Singapo) đều phải dựa vào sản xuất nông nghiệp, lấy phát triểnnông nghiệp là một trong những nguồn vốn cho phát triển công nghiệp, điền hình lànhững nước như Thái Lan, Inđônêxia, Philipin và Malayxia Tất cả những nước nàyphần lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn, đời sống kinh tế nghèo nàn lạc hậu, thunhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy mà chính phủ các nước nàytrong quá trình hoạch định các chính sach kinh tế - xã hội họ đều rất chú trọng đếncác chính sách nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, giành cho nôngnghiệp nông thôn những ưu tiên cần thiết về vốn đầu tư để tiến hành cuộc cáchmạng xanh trong nông nghiệp Tuy nhiên khi bước vào giai đoạn 2 của quá trìnhcông nghiệp hoá, tất cả các nước ASEAN đều nhận thấy rằng không thể đi lên chỉbằng con đường nông nghiệp mà phải đầu tư cho các ngành công nghiệp, dịch vụ.Chính vì lẽ đó mà các chính sách về phát triển nông nghiệp nông thôn cũng như cácchương trình phát triển khác như chương trình xoá đói giảm nghèo không được chútrọng như ở giai đoạn đàu của quá trình công nghiệp hoá Do vậy khoảng cách vềthu nhập của những người giàu với những người nghèo là rất lớn Sự phân tầng xãhội là rõ rệt gây mất ổn định về tình hình chính trị xã hội, từ đó làm mất ổn địnhtrong phát triển kinh tế

Sự phồn vinh của băng cốc, Manila được xây dựng trên nghèo khổ của cácvùng nông thôn như ở vùng đông bắc Thái Lan, ở miền trung đảo Ludon Cho đến

Trang 17

nay sự bất bình đẳng thu nhập ở Thái Lan vẫn tiếp tục gia tăng, các thành phố lớn,các khu cônh nghiệp vẫn có tỷ lệ tăng trưởng cao, năm 1981 Bangkoc đóng góp42% GDP, đến năm 1989 lên tới 48% cho GDP trong khi đó phần đóng góp choGDP ở các vùng khác lại giảm xuống như ở miền bắc và miền nam Thái lan phầnđóng góp đã giảm xuống từ 14,7% năm 1981 xuống còn 10% năm 1989.

Ở Malayxia chính phủ đã thực hiện chính sách phân phối lại trong nền kinh

tế quốc dân, nhưng việc phân phối lại thì lợi ích vẫn chủ yếu tập trung cho tần lớpgiàu có, những người nghèo khổ đặc biệtlà nông dân hầu như không được chia sẻlợi ích đó, khái niệm công bằng ở đây là sự công bằng giữa tầng lớp giàu có

Vào năm 1985 ở Malayxia có tới 82.000 hộ gia đình ở khu vực nông thôn thuộc diện nghèo đói

Tình trạng nghèo khổ ở Philipin còn tồi tệ hơn, năm 1988 tỷ lệ nghèo đói ởPhilipin lên tới 49,5% dân số trong 3,1 triệu hộ gia đình đói nghèo thì tới 2,2 triệugia đình (72,8%) sống ở khu vực nông thôn, đời sống chủ yếu dựa vào nghề nông,còn 843.000 hộ (27,2%) sống ở khu vực phi nông nghiệp Điều này cho thấy đa sốnhững người nghèo Philippin sống tập trung ở khu vực nông thôn

Tình trạng nghèo khổ ở các nước ASEAN vẫn tiếp tục gia tăng, cùng với quátrình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này, điều này cho thấy do sự tăng trưởngkinh tế không theo kịp sự tăng trưởng dân số, mặt khác là do quá trình chuyển dịch

cơ cấu sang những ngành sản xuất công nghệ cao của một số nước ASEAN hiệnnay làm cho nạn thất nghiệp ngày càng trầm trọng hơn.Để giải quyết tình trạng đóinghèo, chính phủ các nước ASEAN có rất nhều cố gắng

Chính phủ Inđônêxia trong kế hoạch 5 năm lần năm đã tăng chỉ tiêu cho cáchoạt động tạo ra những việc làm mới cho những người chưa có việc làm, nhằm tạothu nhập ổn định cho người lao động, góp phần tích cực cho công cuộc xoá đóigiảm nghèo cho nhân dân

Ở Thái Lan, một trong những biện pháp chống nghèo khổ mà nước này đã ápdụng là phân bố cơ sở sản xuất công nghiệp xây dựng mới về khu vực nông thôn,nơi có sẵn tài nguyên thiên nhiên nhằm thu hút số lao động dôi dư ở khu vực nôngnghiệp(để khắc phục tình trạng dân lao động di cư vào thành phố kiếm việc làm)

Trang 18

làm tăng thu nhập cho người dân và gia đình họ Biện pháp này còn nhằm mục đích

đô thị hoá nông thôn, đưa những vùng nông thôn hẻo lánh xa xôi vào dòng pháttriển chung của đất nước

Những nỗ lực trong các giải pháp chống nghèo khổ của các nước ASEAN đãđem lại những kết quả đáng kể, song để khắc phục tình trạng đói nghèo có tính lâudài bền vững thì chính phủ các nước này phải duy trì và đẩy mạnh nhịp độ tăngtrưởng kinh tế Khi nền kinh tế phát triển tạo nên cơ sở vật chất dể phân phối lại thunhập qua sự điều tiết của chính phủ và khi nền kinh tế phát triển thì tích luỹ từ nội

bộ nền kinh tế được nâng cao, từ đó chính phủ đầu tư cho việc xây dựng các côngtrình cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là chương trình xoá đóigiảm nghèo một cách hiệu quả nhất

2.2.1.3 Giải quyết đói nghèo ở Trung Quốc

Ngay từ khi Đại Hội Đảng XII của Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1984,chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, nhung cái chính làcải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn.Mục đích của nó là làm thay đổi các quan hệchính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánh nặng về tài chính đã đè quá nặng lênnhững người nghèo khổ ở nông thôn trong nhiều năm qua, phục hồi ngành sản xuấtnông nghiệp

Năm 1985 Đặng Tiểu Bình đã nói:" Sự nghiệp của chúng ta sẽ không có ýnghĩa gì nhiều nếu không có sự ổn định ở nông thôn " Sau khi áp dụng một loạtcác chính sách cải cách kinh tế ở khu vực nông thôn, Trung Quốc đã thu đượcnhững thành tựu đáng kể, đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong thể chế chínhtrị, thay đổi về căn bản về cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển đổi phương thức quản

lý, thay đổi căn bản phương thức phân phối, phân phối theo lao động đóng vai tròchính, và Trung Quốc đã thực hiện thành công việc chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường có sự điều tiết cuả Nhà nước , thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nền kinh tế thịtrường thì sự phân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội Do chính sách mởcửa nền kinh tế , các thành phố lớn thì tập trung các nhà máysản xuất công nghiệp ,tuy có phát triển một số nhà máy công nghiệp ở một số vùng nông thôn, song vùnggiàu có thì ngày càng giàu có, vùng nghèo đói thì vẫn nghèo đói nhất là vùng

Trang 19

sâu,vùng xa Để khắc phục tình trạng nghèo khổ cho khu vực nông thôn chính phủ

đã đưa ra một loạt các giải pháp cơ bản nhằm xoá đói giảm nghèo cho nhân dân,trong đó có các giải pháp về tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, xâydựng các vùng định canh, định cư, khu dân cư mới, chính sách này đã đem lạinhững thành công đáng kể cho nền kinh tế -xã hội Trung Quốc trong những nămqua

2.2.2 Thực trạng giảm nghèo tại Việt Nam

Theo chuẩn đói nghèo của TCTK thì tỷ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam đã giảmmạnh từ 70% năm 1990 xuống còn 32% năm 2000 và dến năm 2002, tỷ lệ này chỉcòn 28,9%.So với mục tiêu giảm ½ tỷ lệ hộ nghèo đói giai đoạn 1990-2015 thì ViệtNam đã về trước mục tiêu này và được cộng đồng quốc tế đánh giá là nước giảm tỷ

lệ hộ nghèo đói tốt nhất Tuy nhiên Việt Nam là một trong những nước nghèo đứng hàng thứ 133/174 nước trên thế giới theo GDP bình quân đầu người

-Theo chuẩn đói của Bộ LĐTBXH là hộ có thu nhập bình quân một người mộttháng ở vùng miền núi hải đảo,trung du,đồng bằng ,đô thị lần lượt dưới 55-70-90nghìn đồng áp dụng cho thời kỳ 1996-2000 và dưới 80-100-150 nghìn đồng chothời kỳ 2001-2005 được thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Tỷ lệ hộ nghèo đói theo tiêu chuẩn 2001-2005 của Bộ LĐTBXH, giai đoạn

25.425.49.827.824.427.85.515.6

22.422.48.424.617.825.64.715.4

15.515.56.520.215.915.7415.4

13.513.55.31611.213.13.511.1

22.333.99.725.622.324.98.814.2

14.521.88.617.013.219.46.910.3

10.414.96.113.29.611.02.37.4

36.162.319.839.723.352.210.220.8

2.2.2.1 Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh

Trang 20

Qua bảng 2.1 cho thấy tỷ lệ hộ đói nghèo ở nước ta giảm từ 19.23% năm 1996xuống 10% năm 2000 Năm 2001, do thay đổi chuẩn nghèo nên cả nước có 2.8 triệu

hộ nghèo chiếm 17.2% tổng số hộ nghèo trong cả nước, đến cuối năm 2002, còn11.7% giảm từ 2.8 triệu hộ xuống còn 1.97 triệu hộ Tỷ lệ hộ nghèo đói măm 2004tiếp tục giảm chỉ còn 8.3 % trong đó vùng Đông Nam bộ có tốc độ giảm nghèonhanh nhất (từ 9.6% năm 2002 còn 7.4 % năm 2004)

2.2.2.2 Tốc độ giảm nghèo không đồng đều

Các vùng núi cao ,vùng sâu vùng xa,có tỷ lệ đói nghèo khá cao.Có tới 64% số

hộ nghèo đói tập trung tại các vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên vàDuyên Hải Miền Trung Tỷ lệ hộ nghèo ở những vùng này cao gấp từ 1.7-2 lần sovới cả nước.Đó là những vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tựnhien khó khăn…

Trong những năm gần đây tỷ lệ hộ nghèo đói ở nước ta được cải thiện nhưngmức cải thiện ở nhóm người nghèo chậm hơn so với mức chung.Cụ thể là sự giatăng chênh leechjthu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất (từ 7.3 lầnnăm 1995 lên 9.1 lần năm 2002) cho thấy hố ngăn cách giữa giàu nghèo đang có xuhướng ngày càng gia tăng.[3]

2.2.2.3 Kết quả giảm nghèo chưa bền vững

Nghèo đói ở nước ta phổ biến là trong những hộ có thu nhập thấp và bấpbênh.Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp với điều kiện nguồn lựcrất hạn chế(đất đai ,lao động ) 90% số nghèo đói nước ta sống ở nông thôn,trình độtay nghề thấp ,ít có khả năng tiếp cận nguồn lực các nguồn lực trong sản xuất nhưvốn kỹ thuật,công nghệ… không có điều kiện tiếp cận với công nghệ thông tin nênrất khó có khả năng chuyển đổi việc làm sang các nghành nghề phi nông nghiệp để

có thu nhập cao hơn.Hiện vẫn còn một tỷ lệ khá lớn hộ gia đình nằm sát cận ngưỡngnghèo và nếu gặp rủi ro hay sự thay đổi chính sách thì nguy cơ tái nghèo của nhómnày rất cao.Mặc dù số lượng hộ nghèo của các dân tộc thiểu số đã giảm nhưng tỷ lệtrong tổng số hộ nghèo của cả nước vẫn tăng lên

2.2.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác giảm nghèo tại địa phương

Quán triệt và thực hiện chủ trương của Đảng, Nghị quyết của tỉnh về xóa đói, giảm nghèo, trong những năm qua, xã Krông Jing tập trung các nguồn lực, thực

Trang 21

hiện nhiều chính sách, giải pháp xóa đói, giảm nghèo, xóa nhà ở tạm trên địa bàn, đem lại nhiều kết quả quan trọng, bảo đảm kinh tế - xã hội của địa phương phát triển theo hướng bền vững Qua quá trình thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo,

xã Cư Suê rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, phải xác định xóa đói, giảm nghèo là một trong những chính sách ưu

tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của xã, là mục tiêu hàng đầu của các mục tiêuthiên niên kỷ Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo phảihướng vào những vùng còn tỷ lệ hộ nghèo cao như vùng sâu, vùng xa, vùng đồngbào dân tộc thiểu số với tinh thần: về chủ trương, phải đúng trọng tâm, đúng trọngđiểm; về chỉ đạo, phải quyết liệt, biết khối lượng công việc, lực lượng thực hiện,thời hạn hoàn thành; về chủ trì, phải gương mẫu, tận tụy, sâu sát, dân chủ, sáng tạonhưng đúng pháp luật của Nhà nước

Thứ hai, xây dựng lộ trình thực hiện các chính sách, cơ chế đặc thù, các biện

pháp đột phá, nhằm thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo trên địabàn Đi đôi với công tác này, phải tích cực giải quyết việc làm cho người lao động,gắn với đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nghề ngắn hạn cho người lao động

ở nông thôn trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp nhằm nâng cao kiếnthức tay nghề, đủ điều kiện tham gia thị trường lao động chất lượng cao

Thứ ba, xã hội hóa các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, phát động phong trào

quần chúng sâu rộng trong toàn xã Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm,khuyến ngư và hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thống Phấn đấu thực hiệnmục tiêu xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững thông qua việc đẩy mạnh cácchương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, các chương trình hỗ trợ vềsản xuất và đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, những nơi đặc biệt khó khăncủa xã, kết hợp và lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trêntừng địa bàn và dựa trên cơ sở đề xuất của nhân dân cho phù hợp; đồng thời, xemviệc xóa nhà ở tạm là nội dung quan trọng trong chương trình xóa đói, giảm nghèocủa địa phương

Thứ tư, thiết lập cơ chế phân bổ ngân sách công bằng, minh bạch và có tính

khuyến khích cao, tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong việc huy độngnguồn lực tại chỗ cũng như lồng ghép với các nguồn khác, góp phần nâng cao hiệuquả thực hiện chương trình Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng nguồn lực,

Trang 22

bảo đảm đúng mục tiêu, đúng đối tượng, không thất thoát; kiên quyết xử lý các tổchức, cá nhân sử dụng nguồn kinh phí của chương trình không đúng mục đích,không có hiệu quả.

Thứ năm, hằng năm, tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết để đánh giá, rút kinh

nghiệm quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình xóa đói, giảmnghèo và xóa nhà ở tạm; kịp thời khen thưởng để động viên nhân tố tích cực, khắcphục những yếu kém, tồn tại để tổ chức thực hiện chương trình tốt hơn cho nhữngnăm tiếp theo

Trên cơ sở những kết quả và bài học kinh nghiệm, thời gian tới, Đảng bộ vànhân dân xã Krông Jing quyết tâm vượt qua khó khăn, khắc phục những tồn tại, tiếptục đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, thực hành tiết kiệm, tương thân tương ái, giúp

đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống, thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêuquốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế nhanh, bền vững, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, hoàn thành các chỉ tiêu

mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra

2.2.4 Quan điểm, mục tiêu của Đảng và nhà nước đối với công tác xóa đói giảm nghèo

* Quan điểm

1 Xoá đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước và là sự

nghiệp của toàn dân Phải huy động nguồn lực của nhà nước, xã hội và của ngườidân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương

2 Công cuộc giảm nghèo nhanh đối với các huyện nghèo là nhiệm vụ chínhtrị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và sự phối hợp tíchcực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

3 Trung ương tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư, hỗ trợ giảmnghèo nhanh và bền vững

Trang 23

- Nhóm chính sách, chương trình dự án tạo điều kiện cho người nghèo pháttriển sản xuất, tăng thu nhập: Chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đất sản xuất cho hộnghèo; Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề.

- Nhóm chính sách tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội:Chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục , trợ giúp pháp lý cho người nghèo

- Nhóm dự án nâng cao năng lực và nhận thức

2.3 Nguyên nhân của sự của đói nghèo

Ở Việt nam nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:

- Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt,hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã vàđang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực

- Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếuvốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười laođộng, ốm đau, rủi ro

- Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng

bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chínhsách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông,lâm, ngư,chính sách trong giáo dục đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định

cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế

Kết quả điều tra về xã hội học cho thấy:( Bộ lao động thương binh và xã hội)

- Thiếu vốn: 70-90% tổng số hộ được điều tra

- Đông con: 50-60% tổng số hộ được điều tra

- Rủi ro, ốm đau: 10-15% tổng số hộ được điều tra

- Thiếu kinh nghiệm làm ăn: 40-50% tổng số hộ được điều tra

- Neo đơn, thiếu lao động: 6-15% tổng số hộ được điều tra

- Lười lao động, ăn chơi hoang phí: 5-6% tổng số hộ được điều tra

- Mắc tệ nạn xã hội: 2-3% tổng số hộ được điều tra

Trang 24

2.4 Ý nghĩa của việc xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Xóa đói giảm nghèo là một trong những chương trình mục tiêu của Đảng vànhà nước luôn được quan tâm hàng đầu, bởi nó mang ý nghĩa quan trọng đối với sựphát triển kinh tế xã hội của đất nước

- Đối với bản thân người nghèo: Xóa đói giảm nghèo giúp người nghèo cóđiều kiện nâng cao thu nhập, từ đó cải thiện đời sống, tiếp cận được với các dịch vụ

xã hội (y tế, giáo dục…) thông qua các chương trình chính sách cụ thể của nhànước.Tăng cường tình đoàn kết, lòng tin của nhân dân đối với đường lối lãnh đạocủa Đảng trong thời kỳ mới

- Đối với xã hội: Xóa đói giảm nghèo góp phần thu hẹp khoảng cách giàunghèo giữa các khu vực trong phạm vi cả nước Vượt qua rào cản để xây dựng một

xã hội tiến bộ, vì người nghèo

Thực tế cho thấy tình trạng đói nghèo đã kéo theo nó những hậu quả nghiêmtrọng Một trong nhưng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đói nghèo đó làngười dân thiếu đất sản xuất, ở những khu vực miền núi, hải đảo do đó dẫn đến việckhai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên làm cho nguồn tài nguyên bị suy giảm và ônhiễm môi trường, mất ổn định chính trị Đói nghèo dẫn đến người dân không cóđiều kiện nuôi con ăn học, đó chính là nguyên nhân của nạn mù chữ Từ đó làmgiảm chất lượng về nguồn nhân lực trong tương lai

Do đó thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo không chỉ góp phần ổn địnhđời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội mà còn góp phần xây dựng một đất nướcphát triển bền vững về mọi mặt

Trang 25

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Công tác giảm nghèo tại xã, Krông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đăk Lăk

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu:

 Địa điểm: Tại xã Krông Jing, huyện M’Đrắk, tỉnh Đăk Lăk

 Thời gian nghiên cứu:

- Thời gian thu thập số liệu từ năm 2012 đến năm 2014

- Thời gian nghiên cứu từ ngày 16/3/2105 đến 16/5/2015

 Nội dung nghiên cứu:

- Đặc điểm địa bàn xã Krông Jing, huyện M’Đrăk, tỉnh Đăk Lăk

- Tình hình thực hiện công tác giảm nghèo của xã, Krông Jing ,huyện M’Đrăk,tỉnh Đăk Lăk

- Hiệu quả giảm nghèo tại địa bàn xã Krông Jing ,huyện M’Đrăk, tỉnh ĐăkLăk

- Đề xuất các biện pháp để thực hiện tốt công tác giảm nghèo xã Krông Jing,huyện M’Đrăk, tỉnh Đăk Lăk

3.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện tự nhiên

3.2.1.1 Vị trí địa lý

Xã Krông Jing nằm về phía Tây của huyện M’Đrắk, tiếp giáp với trung tâm chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện, nằm trên tuyến quốc lộ 26 nối với trung tâm tỉnhĐắk Lắk và tỉnh Khánh Hòa Tọa độ địa lý được giới hạn như sau:

- Từ 108o42’05” đến 108o44’00” độ kinh Đông;

- Từ 12o49’01” đến 12o42’19” độ vĩ Bắc

Có vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Đông giáp thị trấn M’Đrắk và xã Cư Mta;

- Phía Tây giáp huyện Ea Kar và xã Ea Pil;

Trang 26

- Phía Nam giáp xã Krông Á;

- Phía Bắc giáp Ea Lai, Ea Pil

Với vị trí là xã nằm trên trục QL 26, có vị trí giáp ranh thị trấn M’Đrắk tạođiều kiện thuận lợi cho xã trong quan hệ thương mại phát triển kinh tế - văn hóa - xãhội với huyện và các địa phương khác trong huyện và các vùng lân cận

3.2.1.2 Đặc điểm, địa hình, địa mạo

Nằm ở trung tâm cao nguyên M’Đrăk và được chia làm 3 dạng địa hình chínhsau:

* Địa hình núi cao sườn dốc

Phân bố tập trung ở phía Tây và phía Đông – Nam của xã, với diện tíchkhoảng 1.352 ha, chiếm 18,15% tổng diện tích Độ cao trung bình 800 – 900 m (Sovới mực nước biển), cao nhất 1.112 m (Đỉnh Chư Ba), địa hình chia cắt mạnh, độdốc cấp V, VI (>200), thảm thực vật chủ yếu là rừng tự nhiên, cây lùm bụi và đấttrống

* Địa hình đồi đỉnh bằng lượn sóng

Phân bố hầu hết ở các khu vực của xã, với diện tích khoảng 5910 ha, chiếm79,30% tổng diện tích, độ cao trung bình 600 – 700m Ở dạng địa hình này hiệnđang sử dụng sản xuất nông, lâm nghiệp

* Địa hình bằng và thấp trũng

Phân bố ven theo các suối, khe, nằm dải rác trong toàn xã, với diện tíchkhoảng 190 ha, chiếm 2,55% tổng diện tích Loại địa hình này hiện đang được khaithác trồng lúa và hoa màu Hướng sẽ xây dựng các công trình thủy lợi và mở rộngdiện tích đất lúa nước

3.2.1.3 Khí hậu, thời tiết

Khí hậu thời tiết huyện M’Đrăk nói chung và xã Krông Jing nói riêng mangđầy đủ đặc điểm khí hậu nhiệt đới cao nguyên, đồng thời chịu ảnh hưởng của khíhậu duyên hải nam trung bộ, nhiệt độ cao đều trong năm, nhiệt độ trung bình năm từ

23 - 25°C, tổng tích ôn 8000 - 8500°C, lượng mưa bình quân năm từ 2035,7 mm,lượng mưa cao nhất 2729,9 mm ( năm 1996-2000) và thấp nhất 1673,3 mm ( 1985),biên độ nhiệt ngày đêm 9 - 12°C và chia thành 2 mùa rõ rệt

Trang 27

- Mùa mưa: Từ tháng 5 kết thúc tháng 12, kéo dài 8 tháng, chiếm 94,5% lượngmưa cả năm, mưa phân bố không đều và có 2 đỉnh mưa là tháng 5 và tháng 10, mưakéo dài và kết thúc muộn là điều kiện thuận lợi cho cây trồng phát triển, tuy nhiênmưa lớn tập trung gây nên tình trạng lũ quét, ảnh hưởng không nhỏ đên sản xuấtnông nghiệp và làm hư hỏng các công trình giao thông, thuỷ lợi.

- Mùa khô: Từ tháng 1 đến tháng 4, thời kỳ này mưa ít, chiếm 5,5% lượng mưa

cả năm, giai đoạn này khô hạn, thiếu nước trầm trọng gây rất nhiều khó khăn chosản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Xã Krông Jing có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa chia thành hai mùa rõ rệt:Mùa khô từ tháng 12 và kết thúc vào tháng 3 năm sau Đặc biệt mùa khô là gió chủđạo là gió Đông – Đông Bắc, lượng mưa không đáng kể, chiếm 5,5% lượng mưa cảnăm lượng bốc hơi lớn, độ ẩm không khí thấp Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11,đặc điểm là lượng mưa lớn chiếm 94,5% tổng lượng mưa cả năm, gió chủ đạo làhướng Tây - Tây Nam

3.2.1.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất

Theo tài liệu điều tra đất trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp thực hiện năm 1978, được hiệu chỉnh và bổ sung năm 2005,

cơ cấu và tỷ lệ các loại đất chính trên địa bàn xã Krông Jing như sau:

B ng 3.1 Th ng kê di n tích các lo i đ t trên đ a bàn xã ảng 3.1 Thống kê diện tích các loại đất trên địa bàn xã ống kê diện tích các loại đất trên địa bàn xã ện tích các loại đất trên địa bàn xã ại đất trên địa bàn xã ất trên địa bàn xã ịa bàn xã

(Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp)

Đất đai trên địa bàn xã Krông Jing có 5 loại đất chính:

Đất đỏ vàng trên đá Granit diện tích 3.760 ha chiếm 50,46% tổng diện tích tự nhiên Loại đất này có độ ẩm và xốp cao;

Trang 28

Đất đỏ vàng trên đá phiến sét diện tích 1.427 ha chiếm 19,15% tổng diện tích

tự nhiên Loại đất này nhìn chung có thành phần cơ giới trung bình đến nặng;

Đất nâu vàng trên đá bazan diện tích 69 ha chiếm 0,92% tổng diện tích tự nhiên Phần lớn nhóm đất này có tầng dày hơn 50 – 70 cm, thành phần cơ giới thịt nặng;

Đất phù sa sông suối 49 ha chiếm 0,64% tổng diện tích tự nhiên Loại đất này chủ yếu nằm dọc theo các hệ thống sông suối, khu vực trũng Đây là loại đất có tínhchất phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa;

Đất xám trên đá macma axit và đá cát diện tích 2.148 ha chiếm 28,82% tổng diện tích tự nhiên Có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo mùn, đạm, lân, kali Loại đất này có khả năng thích nghi với nhiều loại cây trồng như mía, cây có củ Cần có biệnpháp cải tạo thích hợp để đạt được hiệu quả canh tác tốt nhất

Với đặc điểm các loại đất, cùng khí hậu cùng đặc thù, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp Hiện tại các cây trồng đang thích nghi khá tốt đặc biệt

là cây hàng năm

Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Gồm toàn bộ diện tích ao, hồ, suối, mặt nước chuyên dùngtrên địa bàn xã, là nguồn cung cấp nước chủ yếu phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp

và các ngành kinh tế Hàng năm nguồn nước mặt được bổ sung thường xuyên bằnglưu lượng mưa

- Nguồn nước ngầm: Hiện nay đang được khai thác sử dụng chủ yếu cho sinhhoạt của nhân dân, từ các giếng khoan, giếng khơi, nguồn nước ngầm có trữ lượnglớn, chưa bị ô nhiễm, khai thác dễ dàng, nhưng cũng cần được bảo vệ khai thác hợp

lý Qua xem xét một số giếng đào cho thấy mạch nước ngầm xuất hiện ở độ sâu 12m

8 Nước mưa: Với tổng lượng mưa trung bình hàng năm 2035,7 mm, đây lànguồn nước lớn bổ sung cho nguồn nước sông, suối, ao, hồ và cung cấp trực tiếpcho sản xuất, đời sống của nhân dân

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã tài nguyên khoáng sản không nhiều chủ yếu là sản xuất vậtliệu xây dựng như: Cát, đá…trữ lượng không lớn chính vì vậy việc khai thác gặpnhiều khó khăn Ngoài ra hiện đang triển khai các dự án thăm dò khoáng sản trên

Trang 29

địa bàn xã nói riêng và toàn huyện nói chung Mức độ đánh giá sơ bộ ban đầu thìlượng khai thác được không lớn, vì vậy cần có phương án đánh giá cụ thể hơn để cókết luận và đi đến phương án khai thác.

Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2013, toàn xã có 1.949,97 ha rừng, chiếm26,17% diện tích tự nhiên, trong đó toàn bộ là rừng sản xuất Tổng diện tích đấtrừng năm 2013 trên địa bàn xã Krông Jing là 1.952,59ha, trong đó: Công ty Lâmnghiệp M’Đr ắk quản lý 1.889,05 ha, hộ gia đình cá nhân quản lý là 63,54 ha

Tài nguyên nhân văn

Nhìn chung các dân tộc trên địa bàn xã từ nhiều vùng, miền đến đây sinhsống, mỗi dân tộc có phong tục tập quán riêng, tạo nên cho địa phương có một nềnvăn hoá đa dạng, phong phú, có nhiều nét độc đáo và giàu bản sắc về nhân văn, nhất

là bản sắc dân tộc truyền thống của người Êđê với kiến trúc nhà dài, nhiều nhạc cụdân tộc và những lễ hội cồng chiêng là những nét đặc trưng văn hoá tây nguyên

3.2.2 Đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội

3.2.2.1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trong những năm qua mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do thiên tai song dưới

sự chỉ đạo của Đảng ủy, giám sát của Hội đồng Nhân dân và sự ra sức của Ủy ban Nhân dân của xã đã đi vào bước phát triển ổn định Tăng trưởng bình quân từ năm

2012 – 2014 là 13,50% Đến năm 2014 thu nhập bình quân đầu người đạt 13,00 triệu đồng/ người/ năm

Cơ cấu ngành kinh tế

Bảng 3.2 Thống kê diện tích và năng suất một số loại cây trồng chính

Năm 2014 Diện tích (ha) Năng suất

( Tấn/ha)

Sản lượng (Tấn)

Ngày đăng: 29/06/2016, 12:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2: Phân bổ nguồn vốn dể phát triển sản xuấtgiai đoạn 2013- 2014 - Kết quả công tác giảm nghèo của xã krông jing, huyện m’đrắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.2 Phân bổ nguồn vốn dể phát triển sản xuấtgiai đoạn 2013- 2014 (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w