Lý do chọn đề tài Môn Hóa học trước hết là một môn thuộc nhóm khoa học tự nhiên, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, thái độ khoa học cho học
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1 Lý do chọn đề tài
Môn Hóa học trước hết là một môn thuộc nhóm khoa học tự nhiên, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, thái độ khoa học
cho học sinh đối với các hiện tượng khoa học, tự nhiên,…
Môn Hóa học là một môn khoa học, những kiến thức của bộ môn nhiều khi rất trừu tượng, khó hiểu, cứng nhắc, cần khả năng tư duy, khả năng liên hệ kiến thức của chính nó và với các môn học khác, khả năng liên hệ thực tế tốt từ học sinh, điều này
đã làm cho nhiều em học sinh sợ và không muốn học Hóa học hoặc một số em học sinh có tư duy tốt, thuộc bài nhưng khả năng vận dụng để giải thích các hiện tượng, các bài tập thực tế chưa cao
Do việc phân bố thời gian không hợp lý trong một tiết học theo phân phối chương trình hiện tại, nhiều giáo viên chỉ cung cấp hết kiến thức cơ bản theo yêu cầu của chuẩn kiến thức kỹ năng mà không chủ động xây dựng theo chủ đề, chuyên đề cụ thể phù hợp hơn với điều kiện của từng lớp, từng trường để có thời gian, phân bố hoạt động hợp lí hơn nhằm lồng ghép, tích hợp các môn học khác hoặc giải thích được các hiện tượng, bài tập trong thực tế nên tiết học trở nên nhàm chán, thiếu tính ứng dụng của một môn khoa học
Việc lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế vào bài học giáo viên phải hết sức khéo léo Có thể dẫn dắt tạo tình huống ngay khi bắt đầu vào bài mới, hoặc có thể tích hợp các kiến thức liên môn để giải thích, tích hợp vấn đề môi trường, giáo dục ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường, đưa các tình huống giả định bằng các hiện tượng
và bài tập thực tiễn, thiết lập liên hệ giữa nội dung học với nội dung thực tiễn
Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Hóa học nói chung và môn Hóa học lớp 11 nói riêng, đồng thời, để phát huy cao hơn nữa hiệu quả giảng dạy theo tinh thần đổi mới thì dạy học theo chủ đề, tích hợp là vấn đề cần được quan tâm nhất hiện nay
Bởi dạy học theo chủ đề, chuyên đề và tích hợp là một xu thế phổ biến trong dạy học hiện đại Nó giúp học sinh tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn mang lại hiệu quả nhận thức, có thể tránh được những biểu hiện cô lập, tách rời phương diện kiến thức, đồng thời phát triển tư duy biện chứng, logic, hệ thống, khoa học và vận dụng kiến thức linh hoạt vào các yêu cầu môn học theo nhiều cách khác nhau Và vì thế, việc nắm kiến thức sẽ sâu sắc, hệ thống và lâu bền hơn
Trang 2Một trong những điểm tôi đã làm là tích hợp kiến thức liên môn trong khi
dạy học một số chuyên đề của chương trình Hóa học lớp 11 cơ bản (Cụ thể:
Chuyên đề Nito và hợp chất của Nito, Chuyên đề Cacbon và hợp chất của Cacbon, Chuyên đề Đại cương về Hóa hữu cơ) Có những vấn đề hoá học có thể giúp học sinh
giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, có những vấn đề
hóa học có thể giúp củng cố, khắc sâu những kiến thức của môn học khác
I.2 Mục đích nghiên cứu
Xác định phương pháp và xây dựng hệ thống các kiến thức của các môn học có liên quan trong các chuyên đề cụ thể nhằm phát huy tính tích cực, khắc sâu và vận dụng kiến thức linh hoạt, nâng cao hứng thú học tập cho học sinh
I.3 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và giải pháp dạy học kết hợp việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy
học một số chuyên đề của chương trình Hóa học lớp 11 cơ bản (Cụ thể: Chuyên đề
Nito và hợp chất của Nito, Chuyên đề Cacbon và hợp chất của Cacbon, Chuyên đề Đại cương về Hóa hữu cơ)
I.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học môn Hoá học, như: Dạy học theo chuyên đề, dạy học tích hợp, ;
Phương pháp nghiên cứu, tập hợp và thống kê các môn học có liên quan trong các chuyên đề cần truyền đạt
I.5 Giới hạn nghiên cứu
Giải pháp dạy học kết hợp việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học một số
chuyên đề của chương trình Hóa học lớp 11 cơ bản (Cụ thể: Chuyên đề Nito và
hợp chất của Nito, Chuyên đề Cacbon và hợp chất của Cacbon, Chuyên đề Đại cương
về Hóa hữu cơ);
Đề tài được tiến hành nghiên cứu đối với học sinh lớp 11 - trường THPT Tân Lâm (Năm học 2015–2016)
I.6 Lịch sử của đề tài
Vấn đề dạy học tích hợp trong môn Hóa học đã có nhiều đề tài nghiên cứu Nhưng
bản thân tôi, chưa tìm thấy tài liệu có liên quan đến việc dạy học tích hợp được lồng
ghép vào dạy trong các chuyên đề của Hóa học lớp 11, cụ thể: Chuyên đề Nito và hợp
Trang 3chất của Nito, Chuyên đề Cacbon và hợp chất của Cacbon, Chuyên đề Đại cương về Hóa hữu cơ.
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
II.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
II.1.2 Môn Hóa học
Môn hoá học trong trường THPT giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh Mục đích của môn học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học, giờ thực hành,
Học hoá để hiểu, giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên
tử, phân tử, sự chuyển hoá của các chất bằng phản ứng hoá học,
Hóa học là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người Hoá học góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người,
II.1.3 Dạy học theo chủ đề, chuyên đề
Dạy học chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các nội dung của các môn học khác nhau hoặc các phần của môn học đó làm thành nội dung học trong một chủ đề có
ý nghĩa cao hơn, thực tế hơn, phù hợp hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn
Dạy học theo chủ đề là một mô hình mới cho hoạt động lớp học thay thế cho lớp học truyền thống bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, với trọng tâm tập trung vào học sinh và nội dung tích hợp với những vấn đề, những thực hành gắn với thực tiễn
Quá trình xây dựng dạy học theo chủ đề tạo ra quá trình tích hợp nội dung (đơn môn hay liên môn) trong quá trình dạy
II.1.4 Dạy học tích hợp, liên môn
Dạy học tích hợp là lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn học (Thí dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, môi trường, bảo vệ sức khỏe, tính tiết kiệm vào nội dung các môn học: địa lý, sinh học, vật lý, hóa học, toán, giáo dục công dân ), xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống;
Trang 4Giáo viên có thể tích hợp các nội dung ở các môn học khác nhau, hoặc các kiến thức khác liên quan đến bài giảng để chuyển tải đến học sinh những chủ đề giáo dục lồng ghép thông qua các hình thức truyền đạt bằng trình chiếu, giảng dạy, thảo luận, dạy học theo dự án,…
Còn dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau Đối với những kiến thức liên môn nhưng có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trình của môn đó và không dạy lại ở các môn khác
Dạy học tích hợp, liên môn xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn
Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học
* Đối với môn Hóa học nói riêng:
Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung
và dạy học hóa học nói riêng ở trường phổ thông Dạy học liên môn thực chất là sự vận dụng những nội dung và phương pháp các lĩnh vực, các môn học có liên quan để nhằm làm tăng thêm hiệu quả dạy học hóa học
Dạy học liên môn là cho người học nhận thức được sự thống nhất, thấy được mối liên
hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiểu được tính toàn diện của các hiện tượng, khắc phục được tính tản mạn trong kiến thức
Vậy tại sao nên quan tâm đến dạy học theo chủ đề và tích hợp trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay?
Hiện nay, có ba lý do quan trọng cần lưu tâm và đặt chúng ta phải nghĩ đến một giải pháp làm thế nào để đáp ứng và giải quyết được ba vần đề này, chính là: Một là, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục – trong đó chú trọng đổi mới phương pháp, cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực của học sinh
Hai là, tính giới hạn về định lượng nội dung trong sách giao khoa và quá trình bùng
nổ thông tin, tri thức kèm theo đó là nhu cầu cập nhật kiến thức vô hạn đối với sự học của người học
Trang 5Ba là, với cách tiếp cận giảng dạy truyền thống hiện có, liệu chúng ta đủ khả năng để thực hiện các mục tiêu dạy học tích cực như: tăng cương tích hợp các vấn đề cuộc sống, thời sự vào bài giảng; tăng cường sự vận dụng kiến thức của học sinh sau quá trình học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; rèn luyện các kĩ năng sống phong phú vốn rất cần cho người học hiện nay
Thực tế trên cho thấy, khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên
và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp hoặc liên quan đến nhiều môn học Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp đa chiều,
liên môn Do đó, hệ quả là buộc chúng ta phải xây dựng các chủ đề để tiến hành dạy học Tất nhiên, việc xây dựng các chủ đề trong dạy học cũng không tham vọng sẽ giải quyết việc đưa toàn bộ thực tiễn vào chương trình, nhưng quan trọng hơn hết chính là nó mở đường cho giáo viên và học sinh tiếp cận với kiến thức theo một hướng khác Không phải là sự thụ động mà là chủ động của học sinh Không phải là
sự tiếp nhận kiến thức sau khi học mà có thể là ngay khi làm nhiệm vụ học
Ngoài ra, một thực tế khác cũng đáng quan tâm: hiện nay, ít nhiều trong chương trình học của các môn học cũng có nhiều đơn vị kiến thức có tính giao thoa, liên hệ tương đối gần hoặc trùng lặp
Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theo phân theo từng chủ đề kiến thức và tập trung hướng tới tích hợp, liên môn
II.2 THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU
Trước tình hình học hoá học hiện nay, việc phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy tính thực tế; giáo dục về môi trường, về tư tưởng, vừa mang bản sắc dân tộc mà không mất đi tính cộng đồng trên toàn thế giới; những vấn đề cũ vẫn có tính chất cập nhật và mới mẽ
Tuy nhiên, mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội tụ tất cả những quan điểm nêu trên, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đừng quá lạm dụng khi lượng kiến thức không đồng nhất
Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy phương pháp giảng dạy truyền thống giữa các môn học chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau, tách rời từng phương diện kiến thức, học sinh hoạt động chưa tích cực, hiệu quả đem lại cũng chưa cao
Trang 6Chính vì lẽ đó, dạy học theo chủ đề và tích hợp là một xu hướng tất yếu của dạy học hiện đại, là biện pháp để tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh Học sinh được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có hệ thống, khoa học và logic Qua đó, học sinh cũng thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các kiến thức được học trong chương trình, vận dụng các kiến thức lí thuyết và các kĩ năng thực hành, đưa được những kiến thức về môn học vào ứng dụng trong thực tế một cách hiệu quả
Có hai hình thức tích hợp chủ yếu:
Tích hợp giữa các phần trong cùng một môn học Điều này thể hiện trong việc
bố trí các bài học giữa các phần một cách đồng bộ và sự liên kết với nhau trên nhiều mặt nhằm hỗ trợ nhau, bổ sung làm nổi bật cho nhau Phần này sẽ củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức cho phần khác và đều hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao trình độ nhận thức nói chung và kiến thức của môn học nói riêng cho học sinh
Hình thức tích hợp được các giáo viên vận dụng và hiện đang được đẩy mạnh là tích hợp liên môn Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong từng bài học, trong từng chủ đề với các kiến thức của các bộ môn khác, các ngành khoa học, nghệ thuật khác, cũng như các kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng, qua đó làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học sinh
II.3 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Thực tế cho thấy, áp dụng hình thức tích hợp kiến thức liên môn trong khi dạy học theo chuyên đề, học sinh rất hào hứng với nội dung bài học, vốn kiến thức tổng hợp của học sinh được bổ sung nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả Mặt khác, các kiến thức liên môn thông qua hình thức tích hợp này còn giúp học sinh có thêm căn
cứ, cơ sở để củng cố kiến thức đã học
Tích hợp kiến thức liên môn trong khi dạy học theo chuyên đề sẽ giúp cho học sinh tìm hiểu, hệ thống kiến thức một cách khoa học, logic hơn, tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê cho môn học nói riêng và nghiên cứu khoa học nói chung; học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học hoá học
II.3.1 Để thực hiện được điều này, tôi đã:
* Xây dựng chuyên đề dạy học
Thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, tôi đã căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn
Trang 7nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của lớp, của nhà trường
Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, tôi đã xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong mỗi chuyên đề đã xây dựng
Nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm của từng bài, từng chương để tìm được mối liên hệ nhằm xây dựng được chủ đề dạy học một cách phù hợp nhất, đáp ứng được yêu cầu của việc củng cố và tiếp thu kiến thức, đồng thời, vận dụng kiến thức đó vào trong thực tiễn;
Trong những chủ đề đó, tôi phải xác định được các nội dung có liên quan đến các môn học khác, các hiện tượng tự nhiên, các ứng dụng trong cuộc sống một cách có hệ thống để đưa vào bài giảng một cách khoa học, phù hợp với điều kiện của học sinh *
Biên soạn câu hỏi, bài tập
Với mỗi chuyên đề đã xây dựng, xác định và mô tả 4 mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học Trên cơ sở đó, biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chuyên đề đã xây dựng
* Thiết kế tiến trình dạy học
Mỗi chuyên đề được thực hiện ở nhiều tiết học nên một nhiệm vụ học tập có thể được thực hiện ở trong và ngoài lớp học Vì thế, trong một tiết học có thể chỉ thực hiện một
số bước trong tiến trình của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng
* Hướng dẫn học sinh cách học tập theo phương pháp mới
Dần hướng dẫn cho học sinh có thói quen nghiên cứu kiến thức bài học một cách có
hệ thống, biết tìm hiểu, tổng hợp kiến thức từ nhiều nguồn thông tin, nhiều môn học, lĩnh vực khác nhau và biết vận dụng những kiến thức đã học vào trong cuộc sống
II.3.2 Một số chủ đề, chuyên đề được dạy học tích hợp trong chương trình hóa học lớp 11 cơ bản
II.3.2.1 Chuyên đề: Nito và các hợp chất của Nito
1 Chuyên đề Nito và các hợp chất của Nito được phân bố theo thời lượng
Trang 8* Cấu tạo, tính chất vật lí, điều chế Nito và các hợp chất của Nito (1 tiết)
* Tính chất hóa học của Nito và các hợp chất của Nito (3 tiết)
- Tiết 1: Tính chất hóa học và ứng dụng của N2, NH3
- Tiết 2: Tính chất hóa học và ứng dụng của HNO3
- Tiết 3: Tính chất hóa học và ứng dụng của muối amoni, muối nitrat * Luyện tập (2 tiết)
- Tiết 1: Các dạng bài tập của N2, NH3, muối amoni
- Tiết 2: Các dạng bài tập của HNO3, muối nitrat
2 Tổ chức dạy học chuyên đề
- Theo phân phối chương trình: Tiết 11: Nito; Tiết 12, 13: Amoniac và muối amoni;
Tiết 14, 15: Axit nitric và muối nitrat; Tiết 19: Luyện tập 3 Mục tiêu tích hợp
a Môn Vật lí
- Biết được trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan của N2, NH3, HNO3, NO, NO2, muối amoni, muối nitrat
- Củng cố cách pha loãng dung dịch axit
- Quan sát thí nghiệm, hình ảnh , rút ra được nhận xét về tính chất vật lí và hóa học của nito và các hợp chất của nito;
- Cũng cố cách pha loãng dung dịch axit;
- Phân biệt được muối amoni, muối nitrat với một số muối khác b Môn Sinh học
- Biết được hoạt tính sinh học của N2, NH3, HNO3, muối amoni, muối nitrat đối
với con người và động thực vật c Toán
- Tính thể tích khí ở đktc trong phản ứng hoá học, tính % thể tích trong hỗn hợp khí, tính thể tích khí amoniac sản xuất được ở đktc theo hiệu suất.phản ứng - Tính %
về khối lượng của muối amoni trong hỗn hợp
- Tính thành phần % khối lượng của hỗn hợp kim loại tác dụng với HNO3
- Tính thành phần % khối lượng muối nitrat trong hỗn hợp; nồng độ hoặc thể tích dung dịch muối nitrat tham gia hoặc tạo thành trong phản ứng
d Sinh học: Biết tác hại của dung dịch axit để cẩn thận hơn khi tiếp xúc;
e Văn học: Vận dụng kiến thức để phân tích, giải thích một số câu ca dao, tục ngữ theo quan điểm của môn Hóa học, như:
Trang 9“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ Bỗng nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Hay “Không có lửa làm sao có khói”
f GD KNS
- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sống xung quanh;
- Rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm, thuyết trình trước đám đông,
4 Cụ thể từng tiết:
a Tiết 11: Cấu tạo, tính chất vật lí, điều chế Nito và các hợp chất của Nito
* Trong phần tìm hiểu về cấu tạo, tính chất vật lí của N2:
GV sử dụng kiến thức liên môn để bổ sung:
+ Môn Vật lí: Trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan của N2; Nhiệt độ ngưng tụ của các chất trong không khí khi mô tả quả trình thu N2 bằng phương pháp chưng chất phân đoạn không khí lỏng;
+ Môn Sinh học: Khả năng duy trì sự cháy và sự cháy của N2
* Trong phần tìm hiểu về cấu tạo, tính chất vật lí của NH3:
GV sử dụng kiến thức môn Vật lí để bổ sung về trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan của NH3 Giáo dục ý thức giữ gìn vệ sinh chung khi đi vệ sinh cho HS
* Trong phần tìm hiểu về cấu tạo, tính chất vật lí của HNO3:
GV sử dụng kiến thức liên môn để bổ sung:
+ Môn Vật lí: Trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan, sự tỏa nhiệt mạnh khi pha loãng của HNO3;
+ Môn Sinh học: Gây bỏng và nguy hiểm đến sức khỏe của con người khi tiếp xúc trực tiếp với axit;
+ Giáo dục đức tính bình tĩnh, cẩn thận khi pha loãng axit đặc b.
Tiết 12: Tính chất hóa học của N 2 và NH 3
* Trong phần tìm hiểu tính chất hóa học, ứng dụng của N2:
GV bổ sung kiến thức liên môn:
+ Môn Vật lí: Trạng thái, màu sắc, mùi vị của một số Oxit của Nito thường gặp; + Môn Sinh học: Tính độc hại của một số Oxit của Nito đối với môi trường, với sức khỏe con người;
Trang 10+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho HS; + Giải
thích được hiện tượng thực tế:
- Vì sao trong không khí, vẫn tồn tại khí O2, mặc dù N2 chiếm gấp 4 lần khí O2
và N2 có thể phản ứng được với O2?
- Nitơ phản ứng với nhiều kim loại nhưng tại sao trong vỏ Trái Đất không gặp một nitrua kim loại nào cả?
* Trong phần tìm hiểu tính chất hóa học, ứng dụng của N2:
GV bổ sung kiến thức liên môn:
+ Môn Toán: Củng cố các kỹ năng tính toán;
+ Môn Sinh học: Hoạt tính sinh học của NH3 đối với môi trường, với con người; + Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho HS;
+ Môn Văn: Câu ca dao, tục ngữ “Không có lửa làm sao có khói” theo quan điểm Hóa học đúng hay sai?
+ Giải thích 1 số hiện tượng thực tế:
- Nước tiểu có mùi khai
- Vì sao trong phòng thí nghiệm, nếu lỡ để thoát khí Cl2 bay ra ngoài thì ta có thể dùng khí NH3 là tốt nhất để làm sạch khí Cl2?
- Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, thường ngửi thấy mùi
khai? c Tiết 13: Tính chất hóa học và ứng dụng của HNO 3 * GV bổ sung kiến thức
liên môn:
+ Môn Vật lí: Củng cố về trạng thái, màu sắc của NO, NO2, N2;
+ Môn Sinh học: Củng cố về kiến thức tính độc hại của NO, NO2 và axit đối với môi trường, với sức khỏe con người;
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho HS;
d Tiết 14: Tính chất hóa học, ứng dụng của muối amoni và muối nitrat
* Trong phần tìm hiểu về tính chất hóa học và ứng dụng của muối amoni
GV vận dụng kiến thức liên môn:
+ Môn Vật lí: Củng cố trạng thái, màu sắc của muối Amoni và các chất có liên quan + Môn Sinh học và Kỹ thuật nông nghiệp nhằm giải thích một số vấn đề trong thực tế:
- Vì sao trong công nghiệp, thực phẩm, (NH4)2CO3 được dùng làm bột nở?