1.2.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng mối liên kết giữa “bốn Nhà” trong sản xuất và tiêu thụ hành tại xã Nam Trung, trên cơ sở đó đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường mối liên kết tại địa bàn. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể (1) Hệ thống hoá cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu. (2) Phân tích thực trạng mối liên kết giữa “bốn Nhà” trong sản xuất tiêu thụ hành ở xã Nam Trung. (3) Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối liên kết giữa “bốn Nhà” trong sản xuất – tiêu thụ hành tại địa xã Nam Trung.
Trang 1PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết
Với công cuộc đổi mới nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong hơn
20 năm thực hiện, nước ta đã có những bước phát triển khá toàn diện và to lớn Nông nghiệp phát triển ổn định và có xu hướng tái sản xuất theo chiều sâu, đời sống vật chất, tinh thần nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn thay đổi theo chiều hướng lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng vào sự ổn định của đất nước, tạo cơ sở cho sự phát triển bền
vững Nghị quyết TW 7 đã nêu rõ: “Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp, đội ngũ trí thức với nông dân trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi; có chính sách khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp, trí thức về nông thôn, đóng góp tích cực và có hiệu quả cho quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo đường lối của Đảng” Trên tinh thần đó, việc nâng cao năng
suất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp cũng nhằm mục đích đầu tư cho nông thôn, xây dựng nông thôn mới tạo thêm thu nhập, nâng cao mức sống cho nông dân là quan trọng
Hiện nay, nền nông nghiệp nước ta đang dần chuyển từ sản xuất tự cấp,
tự túc sang sản xuất hàng hoá Khi nông sản được sản xuất nhiều hơn thì tiêu thụ trở thành một bài toán hóc búa Đặc biệt hội nhập kinh tế quốc tế đem lại cho nông nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội mới nhưng cũng mang đến những yêu cầu mới đối với nông sản về chất lượng, chủng loại, giá cả Người nông dân thường thiếu vốn đầu tư, thiếu thông tin về thị trường và thông tin về quy trình
kỹ thuật chuẩn Doanh nghiệp và nhà khoa học có thể cung cấp những thứ người nông dân thiếu và cần nguồn sản phẩm chất lượng, ổn định từ nông dân Như vậy, việc liên kết giữa các tác nhân này là rất cần thiết
Ngày 24 tháng 6 năm 2002, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định
số 80/2002/QĐ-TTg khuyến khích các doanh nghiệp và người sản xuất ký kết
Trang 2hợp đồng tiêu thụ nông sản với sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chính sách ưu đãi và sự tham gia của nhà khoa học trong nghiên cứu chuyển giao công nghệ (còn được gọi là chủ trương liên kết “bốn Nhà”) Với mục đích liên kết là để có được những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, bảo đảm sức khỏe người tiêu dùng, tạo ra môi trường kinh doanh văn minh, lành mạnh, an toàn trong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc
tế Muốn vậy phải có sự trợ giúp của các nhà khoa học về mặt kỹ thuật, chuyên môn, kể cả việc dự báo thị trường, thời tiết Doanh nghiệp sẽ tổ chức thu gom,
xử lý, chọn lựa theo tiêu chuẩn để phân phối cho thị trường Nhà nông phải bảo đảm cung cấp đầy đủ hàng hóa đạt chất lượng Vì vậy, để liên kết các khâu trên thì liên kết “bốn Nhà” trở nên cấp thiết
Là một xã sản xuất nông nghiệp mạnh trong vùng và đã có những thành công nhất định Đặc biệt là xã điển hình phát triển mạnh về sản xuất hành và chế biến nông sản, xã Nam Trung – Nam Sách – Hải Dương đã có những bước đi đúng hướng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng Cùng với cây trồng chính là lúa xã Nam Trung bước đầu đang xây dựng và phát huy hiệu quả giúp nhân dân đạt được những thành công nhất định Mặc dù với những thành công như vậy nhưng ở đây thực tế sản xuất nông nghiệp như thế nào, có tồn tại mối liên kết “bốn Nhà” trong sản xuất không? Nếu tồn tại một trong những liên kết “bốn Nhà” thì thực trạng và tác tác động của nó như thế nào đến sản xuất - tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ở đây như thế nào? Làm thế nào để tăng cường những tác động tốt của mối liên kết “bốn Nhà” cũng như phát triển mối liên
kết đó? Từ đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Tìm hiểu mối liên kết giữa “bốn Nhà” trong sản xuất - tiêu thụ hành tại xã Nam Trung, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 31.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng mối liên kết giữa “bốn Nhà” trong sản xuất và tiêu thụ hành tại xã Nam Trung, trên cơ sở đó đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường mối liên kết tại địa bàn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hoá cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu.(2) Phân tích thực trạng mối liên kết giữa “bốn Nhà” trong sản xuất - tiêu thụ hành ở xã Nam Trung
(3) Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối liên kết giữa “bốn Nhà” trong sản xuất – tiêu thụ hành tại địa xã Nam Trung
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và mối quan hệ giữa họ trong liên kết sản xuất – tiêu thụ hành tại địa phương
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng liên kết “bốn Nhà” trong sản xuất – tiêu thụ hành và đưa ra các giải pháp tăng cường liên kết đó trên địa bàn xã Nam Trung - Nam Sách - Hải Dương
1.4.2 Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu tại xã Nam Trung - Nam Sách - Hải Dương
1.4.3 Phạm vi thời gian
- Thời gian thực hiện đề tài: 23/12/2010 - 26/5/2010
- Thời gian thu thập số liệu: 24/01/2010 – 29/4/2010
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trang 42.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm liên kết
Theo quy luật phát triển của xã hội, đoàn kết tạo nên sức mạnh và theo tác động của quy luật kinh tế cơ bản, việc tích luỹ, tích tụ, tập trung hoá trong sản xuất để sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn vốn xã hội đồng thời đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất Các hoạt động này diễn ra theo hai phương pháp: Cưỡng bức (thôn tính nhau qua cạnh tranh đi tới hợp nhất, sát nhập) và tự nguyện liên hiệp, liên kết với nhau Đó là xu hướng phát triển của bất cứ nền kinh tế nào Sự liên kết phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, không gò ép, cùng có lợi, quản lý dân chủ và hoạt động từ thấp đến cao Sau đây là một số quan điểm về liên kết kinh tế
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học của viện nghiên cứu và phổ biến tri
thức bách khoa thì “Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động
do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra sự ổn định của các hoạt động kinh tế thông qua các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt các tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường chung, bảo vệ lợi ích cho nhau”.
David W.Pearce (1999) trong từ điển Kinh tế học hiện đại cho rằng
“Liên kết kinh tế chỉ là tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững”.
Tác giả Trần Văn Hiếu (2005) cho rằng: “Liên kết kinh tế là quá trình thâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh
tế dưới hình thức tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng
Trang 5có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật, thông qua hợp đồng kinh tế khai thác tốt các tiểm năng của các chủ thể tham gia liên kết Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc các ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trong khu vực và quốc tế”.
Trong các văn bản của nước ta thì liên kết kinh tế được hiểu là các hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc
và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất
Theo quyết định số 38HĐBT ra ngày 10/04/1989: Liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất Sau khi bàn bạc thống nhất, các đơn vị trông tổ chức lên kết kinh tế cùng nhau ký hợp đồng những vấn đề có liên quan đến phần hoạt động của mình để thực hiện
Tóm lại, liên kết kinh tế là các quan hệ kinh tế giữa hai hay nhiều chủ thể kinh tế với mục đích đạt được lợi ích kinh tế xã hội của các bên, dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định, những giấy tờ, bằng chứng có tính ràng buộc bằng pháp luật, những cam kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.2 Nội dung của liên kết
2.1.2.1 Liên kết trong chuyển giao khoa học kỹ thuật
Đây là một hình thức liên kết thường được tiến hành giữa nhà khoa học với các hộ nông dân Theo hình thức liên kết này, thông qua đó nhà khoa học
sẽ chuyển giao những TBKT cho người nông dân Khi đã được chuyển giao KHKT người nông dân tiếp nhận nó và đưa vào sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có chất lượng tốt hơn Thông qua liên kết đó người ta
ký trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua địa phương ký kết các hợp đồng hoặc
Trang 6bằng thỏa thuận miệng với nhau để chuyển giao các TBKT Khi liên kết theo hình thức này người nông dân sẽ nhận các TBKT mới để áp dụng vào sản xuất đổi lại người nông dân sẽ phải trả chi phí đơn vị, tổ chức đã chuyển giao TBKT đó.
Trong khi chuyển giao TBKT sẽ phát sinh nhiều vấn đề từ khả năng tiếp cận tiến bộ kỹ thuật, mạng lưới cộng tác viên cấp cơ sở, nguồn vốn xây dựng mô hình và nhân rộng trong sản xuất để tạo nguồn hàng hoá nông sản trong quá trình hội nhập Vì thế cần có phương hướng, cách thức tiếp cận người dân để liên kết nhằm mang lại hiệu quả
Thông qua rất nhiều chương trình, dự án của các Bộ ngành từ Trung ương đến địa phương, đã có những chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ cho nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh như chương trình Điện năng lượng mặt trời, chương trình áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông lâm nghiệp, chương trình tập huấn, đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, chương trình xây dựng mô hình thư viện điện tử… Qua những kết quả đạt được cho thấy người dân dần từng bước đã có những nhận thức nhất định về việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhất là sản xuất nông lâm nghiệp… Tuy vậy mức độ là chưa cao Chính vì thế nhu cầu về công tác chuyển giao khoa học
và công nghệ cần phải được tăng cường và phát triển thêm nhiều vấn đề từ việc tổ chức xây dựng mô hình trình diễn, tổ chức tham quan tập huấn theo phương pháp lấy nông dân dạy nông dân (đó chính là xây dựng cho được một mạng lưới công tác viên cấp cơ sở có trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm - bước đầu có thể là sơ cấp hay trung cấp)
Trang 7Việc chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh nói riêng và bà con nông dân nói chung Đây là điều kiện tốt để các nông hộ
có điều kiện tiếp cận và tuyên truyền vận động áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống nhằm từng bước thay đổi một số lề lối tập quán canh tác cũ, lạc hậu và hiệu quả thấp
2.1.2.2 Liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào cho quá trình sản xuất – tiêu thụ
* Liên kết trong khâu cung ứng vật tư, nguyên liệu đầu vào
Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa các cửa hàng, đại
lý, công ty, doanh nghiệp với người nông dân Người nông dân có tư liệu sản xuất (đất đai, sức lao động, ) họ cần các nguyên liệu đầu vào là giống, phân bón, thuốc trừ sâu, để tiếp tục sản xuất
Khi thực hiện mối liên kết này, các đơn vị, tổ chức cung ứng đầu vào
sẽ đứng ra ký kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận trực tiếp với người nông dân hoặc thông qua địa phương Qua hình thức này các nhà cung ứng đầu vào sẽ cung cấp các đầu vào để người nông dân có vật tư đầu vào và từ đó họ đưa vào sản xuất Như vậy, thông qua mối liên kết này, các nhà cung ứng vật tư sẽ bán được sản phẩm mình sản xuất ra và thu lại lợi nhuận cho cơ sở, tổ chức, đơn vị mình Đồng thời người nông dân lại có đầu vào để sản xuất với cam kết từ nhà cung ứng mang lại như đảm bảo số lượng, chất lượng vật tư đầu vào Khi liên kết được thực hiện đều mang lại lợi ích cho các bên tham gia
Từ đó người nông dân sẽ chủ động về các nguồn đầu vào và sẽ yên tâm sản xuất hơn Có các dạng chủ yếu sau:
+ Ứng trước vật tư, vốn, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ, mua bán lại nông sản: trong liên kết này thường diễn ra giữa các chủ thể trực tiếp sản xuất, kinh doanh là các hộ, doanh nghiệp với các đối tượng hộ hay doanh nghiệp hoặc với các Trung tâm, Viện nghiên cứu của các trường đại học, cao đẳng nhà
Trang 8chuyển giao tiến bộ cho doanh nghiệp, cho hộ sản xuất kinh doanh Hay là liên kết giữa doanh nghiệp cho bà con nông dân ứng trước sản xuất để chủ động nguồn nguyên liệu và bán thành phẩm cho doanh nghiệp Liên kết này phần lớn được thể hiện qua hợp đồng kinh tế, một phần là sự thỏa thuận ngầm định giữa các bên tham gia nhằm bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các bên tham gia liên kết.
+ Bán vật tư, mua lại sản phẩm: Phổ biến nhất là liên kết giữa doanh nghiệp bán chịu vật tư cho bà con sản xuất và cuối vụ mua lại sản phẩm Thực hiện tốt liên kết này sẽ mang lại nhiều lợi ích mà doanh nghiệp ở đây là chủ động nguồn nguyên liệu sản xuất và có một thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định Còn nông dân có vốn, vật tư để sản xuất và yên tâm khi đã có đầu ra cho sản phẩm Ví dụ, liên kết giữa nhà máy đường Lam Sơn đầu tư giống, phân bón, tư vấn kỹ thuật sản xuất cho bà con trường mía và cuối vụ thu mua mía nguyên liệu là mô hình liên kết hiệu quả
* Liên kết trong khâu cung ứng dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp
Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa các tác nhân là tổ chức (HTX dịch vụ), cá nhân cung cấp dịch vụ nông nghiệp với người nông dân Khi sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, ngoài những tư liệu sản xuất chủ yếu (đất đai, sức lao động, ) hộ nông dân còn cần các dịch
vụ phục vụ cho khâu sản xuất khác như: khâu làm đất, khâu chăm sóc, thủy lợi
Khi thực hiện mối liên kết này, các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ
sẽ đứng ra ký kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận liên kết với người dân để cung ứng các dịch vụ đầu vào Qua hình thức này các nhà cung ứng đầu vào
sẽ cung cấp các dịch vụ đầu vào để người nông dân thực hiện tốt khâu sản xuất Như vậy, thông qua mối liên kết này, các nhà cung ứng dịch vụ sẽ cung cấp dịch vụ cho người dân và thu lại thu nhập cho cơ sở, tổ chức, đơn vị mình Đồng thời người nông dân lại có dịch vụ đầu vào để sản xuất với cam
Trang 9kết từ nhà cung ứng mang lại như đảm bảo chất lượng, đúng thời vụ sản xuất trong các dịch đầu vào Khi liên kết này được thực hiện đều mang lại lợi ích cho các bên tham gia Từ đó thúc đẩy các sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, nhất là trong thời đại hiện nay.
Trang 102.1.2.3 Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ nông sản luôn là nỗi lo của người nông dân mỗi khi chính vụ Mỗi năm cứ vào lúc chính vụ thu hoạch, được mùa nông dân chưa kịp mừng
đã ập đến nỗi lo tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Chính vì thế nhu cầu liên kết trong khâu tiêu thụ sản phẩm là một nhu cầu thiết yếu nhằm mục đích bao tiêu sản phẩm sản xuất ra của người nông dân
Trong mối liên kết này người sản xuất thường liên kết với các doanh nghiệp, cơ sở tiêu thụ sản phẩm Hộ sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các tổ chức chính quyền) ký kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận miệng với các cam kết về số lượng, chất lượng, để cung cấp các sản phẩm mà mình sản xuất ra cho các nhà thu mua Còn nhiệm vụ của đơn vị, tổ chức thu mua sẽ phải bao tiêu hết số lượng như đã cam kết với người dân Mỗi bên liên kết đều mang lại lợi ích cho nhau Theo đó thì lợi ích mà người nông dân được hưởng
là được bao tiêu sản phẩm mà mình làm ra với giá cả ổn định, giảm thiểu rủi
ro khi được mùa mất giá Gắn với nó thì nhà sản xuất cũng sẽ có nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định cho việc sản xuất – kinh doanh của mình Trong nội dung liên kết này, cơ bản là vậy nhưng ngoài ra nó còn phát sinh nhiều vấn đề Ví dụ như trong việc tiêu thụ thì gắn vào trước đó trong khâu sản xuất thì tổ chức đơn vị tiêu thụ có thể ứng trước một phần chi phí đầu vào để đảm bảo nhà sản xuất sẽ cung ứng đầu vào cho mình Hay họ sẽ chuyển giao TBKT cho người nông dân Nói chung kèm theo mỗi nội dung liên kết thì sẽ kèm theo
nó những lợi ích chi phí mà mỗi bên nhận được và bỏ ra
2.1.3 Đặc trưng của liên kết
Từ lý thuyết về liên kết, chúng ta đưa ra những đặc trưng cơ bản của liên kết kinh tế như sau:
Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuất phát từ những lợi ích kinh tế khác nhau của từng chủ thể kinh tế cũng như quá trình vận động phát triển tự nhiên của lực lượng sản xuất
Trang 11Liên kết kinh tế là những quan hệ kinh tế đạt tới trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn định, thường xuyên lâu dài thông qua những thoả thuận, hợp đồng từ trước giữa các bên tham gia liên kết.
Liên kết kinh tế là quá trình làm xích lại gần nhau và ngày càng cố kết với nhau, trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết Quá trình này vận động, phát triển qua những nấc thang từ quan hệ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh, hợp nhất lại
Liên kết kinh tế là những hình thức hoặc những biểu hiện của sự hành động giữa chủ thể liên kết thông qua những thoả thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp định, điều lệ Mối liên kết nhằm thực hiện tốt những mục tiêu nhất định trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất kinh doanh ) Tuỳ theo góc độ xem xét quá trình liên kết có thể diễn ra liên kết theo ngành, liên kết giữa các thành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ
2.1.4.2 Liên kết ngang
Liên kết ngang (liên kết giữa các tác nhân trong cùng ngành hàng) là hình thức liên kết giữa các chủ thể nhằm mục đích làm chủ thị trường sản
Trang 12phẩm Hình thức liên kết này có nhiều dạng ví dụ như hội nghề nghiệp Các
cơ sở liên kết với nhau là những cơ sở độc lập nhưng có quan hệ với nhau và thông qua bộ máy kiểm soát chung
Như vậy, liên kết kinh tế có thể diễn ra ở mọi ngành sản xuất kinh doanh, thu hút được sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý
2.1.4.3 Hợp đồng trong sản xuất nông nghiệp
a) Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng sản xuất nông nghiệp là phương thức gắn kết các khâu trong chuỗi giá trị nông nghiệp bao gồm sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng hay còn gọi là sản xuất theo hợp đồng bao tiêu sản phẩm Trong xu hướng hiện đại hóa và thương mại hóa, sản phẩm nông nghiệp, hợp đồng sản xuất nông nghiệp đang dần trở nên cần thiết
ở Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết người làm nông nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa quen với phương thức sản xuất theo hợp đồng với doanh nghiệp Mô hình này vẫn chưa phát huy hết hiệu quả
Hợp đồng là một cơ cấu quan trọng để điều phối sản xuất, phân phối,
và bán lẻ sản phẩm giữa những người tham gia khác nhau trong chuỗi giá trị
Cụ thể, một hợp đồng là đưa ra những luật lệ của việc giao dịch qua việc phân bổ của ba yếu tố chính: giá trị, rủi ro, và quyền quyết định Một hợp đồng thành công do đó sẽ phân bổ giá trị, rủi ro, và quyết định theo cách mà hai bên cùng có lợi, lý tưởng là cùng chia sẻ rủi ro và cải tiến chất lợng và sản xuất
Hợp đồng sẽ định rõ những chi tiết điển hình khác nhau về các điều kiện thương mại như là giá thành, số lượng, ngày giao hàng, điều kiện thanh toán, điều khoản đóng góp, đặc điểm sản xuất
b) Phân loại hợp đồng
Từ phân tích trên người ta đã phân loại hợp đồng thành hai loại
+) Hợp đồng miệng (thỏa thuận miệng)
Trang 13Hợp đồng miệng là các thỏa thuận không được hợp đồng bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó Hợp đồng miệng cũng được hai bên thống nhất về số lượng, giá cả, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin,
độ tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng Hợp đồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết (họ hàng, anh em ruột thịt bạn bè ), hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác liên kết sản xuất - tiêu thụ với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể hiện được nguồn lực tài chính khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với các đối tác
Tuy nhiên hợp đồng miệng thường chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa Hợp đồng miệng cũng
có thể có hoặc không có đầu tư ứng trước về tiền vốn, vật tư cũng như các hỗ trợ và giám sát kỹ thuật So với hợp đồng bằng văn bản thì hợp đồng miệng lỏng lẻo và có tính chất pháp lý thấp hơn
+) Hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng)
Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm Theo Eaton and Shepherd (2001), liên kết dạng hợp đồng là hình thức một công ty cam kết mua hàng hóa từ nhà sản xuất với một mức giá được xác định trước khi mua Mối quan hệ hợp đồng giữa nhà sản xuất và nhà chế biến chỉ sự điều chỉnh của những văn bản thỏa thuận cá nhân mang tính pháp lý, những giao dịch này có thể về giá mua bán, thị trường, chất lượng và số lượng nguyên liệu đầu vào, các dịch vụ kỹ thuật, cung cấp tài chính, được thỏa thuận trước khi bán Liên kết dạng hợp đồng tạo ra sự linh hoạt trong việc chia sẻ rủi ro và quyền kiểm soát giữa các chủ thể tham gia hợp đồng
Trang 142.1.5 Mục đích và nguyên tắc liên kết
2.1.5.1 Mục đích chung của mô hình liên kết “ bốn Nhà”:
Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp của “các nhà”, tận dụng có hiệu quả nhất tiềm năng, lợi thế so sánh về sản xuất nông nghiệp của nước ta nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm có giá trị cao, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, xuất khẩu thu nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước, đẩy mạnh CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn
Hai là, thông qua đó: Tăng cường cải tiến quản lý nhà nước cải cách hành chính - đưa nền hành chính thực sự vì dân phục vụ dân chủ chứ không phải chủ yếu “Hành dân là chính” như lâu nay Mặt khác, từ đó phát triển khoa học công nghệ, gắn khoa học với sản xuất nông nghiệp, đưa các nhà khoa học về trực tiếp phục vụ nông dân, nông thôn
Ba là, tăng cường sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các nhà kinh doanh (DN) hướng vào mục tiêu, đối tượng chung là phục vụ sản xuất nông nghiệp
là nhà nông và thông qua đó mà tạo điều kiện để mọi nhà kinh doanh đều phát triển kinh doanh có hiệu quả
Bốn là, về phương thức hành động không phải chỉ liên kết song phương (từng “nhà” riêng biệt với nhà nông) mà còn liên kết tổng hợp, tác động qua lại giữa các “nhà” với nhau, hỗ trợ cho mỗi nhà thực hiện tốt vai trò, chức năng hoạt động của mình
2.1.5.2 Các nguyên tắc liên kết trong mô hình:
Mục đích chung chỉ có thể đạt được khi sự liên kết diễn ra theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Với Nhà nước: Thực hiện được các nguyên tắc quản lý vĩ mô về kinh
tế như: Tập trung dân chủ; phân công phân cấp mạnh cho cấp dưới và cơ sở kinh doanh; vận dụng có hiệu quả các quy luật khách quan, đặc biệt là các quy luật, phạm trù của kinh tế thị trường; hiệu quả kinh tế; kết hợp hài hoà
Trang 15các lợi ích nhà nước, tập thể, cá nhân người lao đông, trong đó lợi ích cá nhân người lao động là động lực trực tiếp.
- Với các “Nhà” khác: Tuân thủ pháp luật; thích nghi với thị trường; tự nguyện, bình đẳng, dân chủ; hiệu quả kinh doanh; và cùng có lợi
2.1.6 Vai trò của liên kết
Thứ nhất, việc các tổ chức liên kết với nhau sẽ tạo tiền đề cho việc thúc
đẩy nhanh quá trình nhất thể hóa nền kinh tế, qua đó thúc đẩy sản xuất - tiêu thụ phát triển
Thứ hai, liên kết giữa các nhà, tổ chức với nhau đã thúc đẩy nhanh quá
trình tích tụ và tập trung tư bản, đó là tiền đề để phát triển cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên toàn cầu nói chung
Thứ ba, giúp các nhà trong mối liên kết khai thác và sử dụng các lợi thế
của mình, cụ thể như đất đai, sức lao động, nguồn vốn sao cho có hiệu quả nhất thông qua quá trình liên kết
Thứ tư, giúp nâng cao trình độ hiểu biết, trao đổi kinh nghiệm, cùng
nhau tiến bộ từ đó nâng cao năng suất lao động
Thứ năm, liên kết giúp các tác nhân phản ứng nhanh với các thay đổi của thị truờng, trong đó giúp nhà sản xuất – kinh doanh đáp ứng nhu cầu thị
trường luôn thay đổi bằng cách đa dạng hóa mẫu mã và chủng loại sản phẩm Giúp tiêu thụ sản phẩm được nhanh hơn thông qua sự liên kết của hệ thống nhà thương mại với nhà sản xuất
Thứ sáu, liên kết kinh tế giúp cho các chủ thể tiếp cận nhanh chóng với
các công nghệ kỹ thuật mới nhờ sự phối hợp với các nhà nghiên cứu khoa học
ở các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu
2.1.7 Mục tiêu của liên kết kinh tế
Tạo mối ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hoạt động kinh
tế hoặc quy chế hoạt động của từng tổ chức để tiến hành phân công chuyên môn hóa và hợp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham
Trang 16gia liên kết để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, thu nhập cho các bên liên kết, tăng thu ngân sách Nhà nước.
Tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thanh viên, giá cả cho từng loại sản phẩm, bảo vệ lợi ích kinh tế của nhau, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất
Giúp nhau về kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh và quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh tế và cán bộ quản lý, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ vận chuyển, thông tin, xử lý thông tin… đều thể hiện qua hợp đồng kinh tế
2.1.8 Ý nghĩa kinh tế, xã hội trong liên kết giữa Nhà khoa học, Nhà doanh nghiệp và Nhà nông
Tăng cường liên minh công nông tri thức: việc chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá thì việc liên minh công nông tri thức có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó giúp cho quá trình sản xuất - chế biến - tiêu thụ được hiệu quả hơn
Thực hiện quan hệ hợp tác: Qua liên kết tăng cường quan hệ hợp tác giữa các bên, giúp cho quan hệ cung cầu phù hợp và hiệu quả hơn
Giải quyết quan hệ phân phối: Thông qua liên kết vấn đề phân phối thu nhập, trách nhiệm quyền hạn của các bên tham gia liên kết được cụ thể hơn, sản phẩm đến với người tiêu dùng mạnh hơn
Thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật: Liên kết giúp cho việc vận dụng, sử dụng các tiến bộ mới vào sản xuất sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, chất lượng sản phẩm làm ra tốt hơn
Tạo sự gắn kết “bốn Nhà”: Khi các nhà cùng tham gia vào liên kết thì hiệu quả thu được sẽ cao hơn, đồng bộ hơn trong thực hiện Với sự có mặt của nhà khoa học, TBKT sẽ được cập nhật và áp dụng thường xuyên trong sản xuất thay thế cho những kỹ thuật lạc hậu không hiệu quả, giống cây - giống con cho năng suất và hiệu quả thấp Còn với các DN và người dân thông qua
Trang 17liên kết giúp cho họ yên tâm hơn trong sản xuất, mạnh dạn đầu tư cho sản xuất, ổn định yếu tố đầu vào thị trường đầu ra, giảm thiểu rủi ro cũng như được chia sẻ rủi ro trong sản xuất, và với sự liên kết như vậy sẽ đạt được hiệu quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh.
Nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, giúp cho nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng ngày càng phát triển bền vững phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế nước nhà theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.1.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết
2.1.9.1 Các yếu tố từ hộ sản xuất
Đối với người sản xuất do trình độ hiểu biết còn hạn chế về liên kết, về hợp đồng, trách nhiệm trong liên kết, họ chỉ nhìn những cái lợi trước mắt mà không nhìn lâu dài Họ sợ sự rằng buộc về mặt pháp luật khi ký kết hợp đồng
Mặt khác, có những hộ sản xuất mặc dù đã ký hợp đồng tiêu thụ với công ty nhưng nơi nào mua với giá cao hơn họ vẫn bán, thậm chí một số hộ nhiều nông dân trên cùng một diện tích và sản lượng lại ký hợp đồng tiêu thụ dẫn đến tình trạng phá vỡ hợp đồng, làm các công ty không chủ động được nguyên liệu
Một yếu tố ảnh hưởng nữa là mặc dù công ty tạo điều kiện cho người dân sản xuất bằng cách ứng vốn, mua phân bón, chuyển giao khoa học kỹ thuật, thu mua với giá đảm bảo ổn định, vậy mà vẫn có những trường hợp nông dân không “chung thuỷ” với công ty sẵn sàng bán cho công ty khác khi
họ trả giá cao hơn
Một thực tế khó khăn ảnh hưởng đến sự liên kết giữa công ty và hộ sản xuất đó là hộ sản xuất luôn muốn chất lượng hàng hoá của mình là cao trong khi đó thực tế lại không đạt như vậy Vì vậy, dẫn đến tình trạng xảy ra các mâu thuẫn trong thu mua giữa công ty và hộ sản xuất không bán theo hợp
Trang 18đồng với công ty mặc dù công ty đã đầu tư ban đầu (hộ sản xuất sẵn sàng đi đến với các công ty và cơ sở sản xuất khác mà hộ không ký kết).
Sản xuất của hộ vẫn tự phát, không tập trung, quy mô kinh tế của hộ rất nhỏ, diện tích manh mún, không mang tính tập trung, sản xuất hàng hóa Đã thế tư tưởng thay đổi phương thức sản xuất của hộ rất ít, hầu như hộ không giám mạnh dạn đầu tư trong sản xuất của mình, sợ ảnh hưởng mà quyền lợi
mà họ đang có, sợ rủi ro trách nhiệm khi tham gia liên kết
Như vậy, nhận thức của liên kết sản xuất của hộ rất kém, các lý do chính trên là làm cho việc liên kết còn hạn chế và để liên kết trong sản xuất của hộ được hiệu quả hơn cần giải quyết tốt các lý do ảnh hưởng trên
2.1.9.2 Các yếu tố từ doanh nghiệp
Các cơ sở chế biến thu mua sản phẩm nông sản ổn định nhưng vẫn còn tình trạng cơ sở chế biến ngừng mua hoặc giảm giá lại không thông báo cho nông dân, trong khi mua còn gây khó dễ với nông dân nhất là vào thời điểm chính vụ nông sản
Chế tài mà công ty đưa ra để sử phạt các hộ phá vỡ hợp đồng có hiệu lực chưa cao, mới chỉ dừng lại phạt tiền nên tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ra nhất là khi thời vụ nguyên liệu khan hiếm mà giá hơn giá thị trường
Sự chủ động phối hợp liên kết phục vụ cho sản xuất, quy hoạch vùng nguyên liệu của các cơ sở chế biến với cấp chính quyền địa phương, với hộ nông dân chưa cao
2.1.9.3 Các yếu tố từ nhà khoa học
Sự tham gia của các nhà khoa học, nhà kỹ thuật còn hạn chế, ảnh hưởng đến sự gắn liền đất sản xuất của hộ Tổ chức khoa học giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình liên kết Họ chính là người giúp nông dân ứng dụng các công nghệ, TBKT để nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá Tuy nhiên cho
Trang 19đến nay, số đông các cơ quan khoa học vẫn lúng túng khi thực hiện liên kết
“bốn Nhà”
Vẫn còn thiếu vắng các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu mạnh dạn chủ động đưa định hướng liên kết thành một ưu tiên trong việc triển khai các mô hình, chương trình, dự án nghiên cứu Ngay cả những hợp đồng được kí kết thông qua hoạt động liên kết thì quyền lợi vật chất của các cơ quan khoa học hay các nhà khoa học cũng chưa được xác định rõ ràng
2.1.98.4 Các yếu tố từ nhà nước
Tác động của chính quyền địa phương ít ảnh hưởng, sau đó vấn đề sản xuất, thu mua các tình trạng tranh chấp xảy ra chính quyền ít có vai trò trọng tài để giải quyết
Vai trò, chức năng về trung gian, cầu nối của chính quyền các cấp còn hạn chế do chính sách và do bản thân chính quyền (nhất là chính quyền cấp
cơ sở) đã không phát huy và làm tròn trách nhiệm là trọng tài để giải quyết các vấn đề ảnh hưởng đến liên kết Chính quyền cơ sở gần như thả nổi để tự
cơ sở chế biến và hộ sản xuất thoả thuận với nhau trong hợp đồng liên kết
Chưa xác định rõ về sự rằng buộc, trách nhiệm, lợi ích giữa các bên tham gia liên kết nên dẫn đến phá vỡ quá trình này, nhất là khi cơ sở chế biến
vi phạm hợp đồng
Chính sách chưa thật sự đi sát với người sản xuất nông sản, còn ở dạng chung chung khiến cho hộ nông dân gặp khó khăn trong khi vận dụng vào liên kết
Trên đây là những yếu tố ảnh hưởng cơ bản của các bên khi tham gia liên kết và chính các yếu tố này đã ảnh hưởng đến quá trình liên kết bền vững trong sản xuất nông sản và muốn có một quá trình liên kết bền vững thì cần giải quyết tốt những yếu tố ảnh hưởng trên
Trang 202.2 Cơ sở thực tiễn
Mô hình liên kết giữa các nhà có thể diễn ra trong nhiều ngành hàng nông nghiệp Thực tế của các nước trên thế giới cho thấy đây là mô hình đem lại lợi ích cho các bên tham gia, đặc biệt là hộ nông dân và mô hình này đã nhanh chóng lan rộng ở các nước đang phát triển điển hình như là ở Trung Quốc,
2.2.1 Thực tiễn liên kết ở một số quốc gia trên thế giới
Mô hình liên kết “bốn Nhà” có thể diễn ra trong nhiều ngành hàng nông nghiệp Thực tế của các nước trên thế giới cho thấy đây là mô hình đem lại lợi ích cho các bên tham gia, đặc biệt là hộ nông dân và mô hình này đã nhanh chóng lan rộng ở các nước đang phát triển điển hình như là ở Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản
2.2.1.1 Ở Trung Quốc
Sản lượng chè của Trung Quốc chiếm 25% sản lượng chè của thế giới Tại Trung Quốc, liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông phát triển rất nhanh chóng trong thời gian gần đây Điều này đã khuyến khích các thành phần công, thương nghiệp tham gia nhiều hơn nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tạo liên kết chặt chẽ giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ nông sản Trung Quốc gọi là “Kinh doanh sản nghiệp hoá nông nghiệp” Đây là phương thức kinh doanh nông nghiệp kiểu mới, trong
đó nhà nước phối hợp với các xí nghiệp và các nhà khoa học trong các khâu tác nghiệp trước sản xuất, trong sản xuất và sau sản xuất của hàng triệu hộ nông dân, nhằm hướng vào thị trường nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất thực hiện nhất thể hoá sản xuất - chế biến - tiêu thụ, đưa sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng quy mô hoá, chuyên môn hoá và thâm canh hoá
Có 4 hình thức chính của sản nghiệp hoá:
Thứ nhất, hình thức doanh nghiệp chế biến gia công là chủ thể: Tức là
doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước rồi thông qua hình
Trang 21thức ký hợp đồng, khế ước,cổ phần rồi liên hệ với nhân dân và vùng sản xuất nguyên liệu Trong đó doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ, thu mua nông sản định hướng sản xuất cho nông dân Nông dân đảm bảo nguyên liệu ổn định cho doanh nghiệp sản xuất Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp và nông dân vay vốn, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và nông dân trước các thay đổi của thị trường nhằm cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư, người dân yên tâm sản xuất.
Thứ hai, hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể: Các tổ chức hợp
tác nông dân đứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biến, các đơn
vị kinh doanh nông sản, mặt khác tiến hành tổ chức nông dân sản xuất họ đóng vai trò như chiếc cầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ với nông dân
Thứ ba, hình thức hiệp hội nông dân chuyên nghiệp: Đây là hình thức
chia sẻ thông tin, hỗ trợ nhau về tiền vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ Giữa các hộ gia đình trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi
Thứ tư, hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: Ở hình thức này
hạt nhân trung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản Tức là các chợ công ty này tác động hướng dân nông dân sản xuất các mặt hàng riêng biệt, từ đó hình thành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào cho kinh doanh của mình
2.2.1.2 Ở Thái Lan
Là một đất nước trồng cả rau nhiệt đới và ôn đới nên có thể nói, chủng loại rau của Thái Lan rất phong phú Hiện nay có trên 100 loại rau được trồng
ở Thái Lan, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến
Mức tiêu dùng rau bình quân tại Thái Lan là 53 kg/người/năm với các kênh tiêu thụ rau chủ yếu là:
Trang 22Loại kênh thứ nhất: Người sản xuất - nhóm nông dân tự thành lập - người bán buôn (Tại Băng Cốc)/ Người chế biến/ Xuất khẩu - người bán buôn
- người bán lẻ - người tiêu dùng
Loại kênh thứ hai: Người sản xuất - Người thu gom trên địa bàn trồng rau - Thị trường bán buôn trung tâm - Người bán buôn tại Băng Cốc - Người bán lẻ - Người tiêu dùng
Thông thường, phần lớn các thương lái thu gom rau trực tiếp tại nông
hộ và chở rau đi bằng xe bán tải Một số nông dân cũng có thể bán trực tiếp rau ra chợ bằng cách chuyên chở bằng xe tải riêng của gia đình Rau thường được vận chuyển vào buổi chiều và được tiêu thụ chủ yếu ở các chợ bán buôn lớn tại Băng Cốc Khoảng hơn 20% lượng rau ở các chợ bán buôn được đưa đến các siêu thị và khuynh hướng này đang tăng dần trong cách tiêu thụ rau ở Thái Lan
Đối với thị trường giao dịch theo hợp đồng: Cục nội thương trực thuộc
bộ thương mại thiết lập thị trường để phục vụ cho các giao dịch theo hợp đồng giữa người nông dân hoặc tổ chức nông nghiệp với những người mua hàng Cục nội thương đề ra tiêu chuẩn hàng hóa, đề ra mẫu hợp đồng tiêu chuẩn, văn phòng thương mại của Cục nội thương đặt tại các tỉnh để điều tiết các hoạt động ký kết, giám sát thực hiện hợp đồng, tham gia cùng với Ban trọng tài và các bên ký kết giải quyết mâu thuẫn khi có tranh chấp Người bán (nông dân, nhóm nông dân, HTX) và người mua (nhà máy chế biến công nghiệp, nhà xuất khẩu ) mong muốn được ký kết hợp đồng để mua bán các nông sản sẽ phải thông báo ý định đó cho Cục nội thương hoặc văn phòng thương mại ở các tỉnh để họ xem xét Nếu được chấp thuận các bên phải đến văn phòng thương mại làm hợp đồng theo sự quản lý và quy chế của văn phòng thay cho việc trước đây người mua thiết kế hợp đồng Do kiến thức của nông dân hạn chế nên Bộ thương mại phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến kiến thức liên quan đến việc ký kết hợp đồng thỏa thuận và phân loại
Trang 23chất lượng sản phẩm Để khuyến khích việc ký kết hợp đồng mua bán nông sản giữa nông dân với các doanh nghiệp, Cục Nội thương tổ chức hội nghị với
sự tham gia của người mua, người bán và các đối tượng có liên quan đến việc
ký hợp đồng Đồng thời, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc chấp hành hợp đồng, hỗ trợ tài chính cho người mua đã ký hợp đồng thỏa thuận trong trường hợp đặc biệt Những loại nông sản có khả năng ký kết hợp đồng được xác định là cà chua, gừng, ngũ cốc, hành tây, chôm chôm, vải, nhãn, đậu tượng,
và hành tỏi làm gia vị
2.2.2 Thực tiễn về vấn đề liên kết tại Việt Nam
Nhằm phát triển các vùng nguyên liệu bền vững tại nhiều địa phương thì nhiều mô hình liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông đã xuất hiện Với mục đích là để có được những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn trong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc tế thì việc liên kết “bốn Nhà” là vô cùng quan trọng Điển hình một số nơi đã thực hiện thành công mô hình này như: Thái Bình, Nam Định, Kiên Giang
2.2.2.1 Thái Bình
Tại Thái Bình, khoai tây là cây có giá trị kinh tế cao nhưng chưa được
mở rộng trong sản xuất do nguồn giống bị thoái hoá, sâu bệnh nhiều và năng suất không cao Đặc biệt, người dân không chủ động được đầu ra nên vẫn còn tình trạng “được mùa thì rớt giá, mất mùa thì được giá” Để khắc phục tình trạng đó, năm 2009, Trung Tâm Khảo nghiệm Khuyến nông Khuyến ngư tỉnh
đã triển khai mô hình sản xuất khoai tây thương phẩm
Đây là mô hình sản xuất khoai tây thương phẩm cho công ty Orion Hàn Quốc với giống Atlantic được trồng trên diện tích 15ha thuộc 16 xã của xã Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Tiền Hải Quá trình thực hiện mô hình, Trung tâm đã làm cầu nối giữa các HTX trong tỉnh với công ty Orion, ngoài ra còn tổ chức tập huấn chuyển giao TBKT, cử cán bộ theo dõi, chỉ đạo và hướng dẫn hộ
Trang 24trồng Kết thúc quá trình trồng, mô hình đã thu được kết quả đáng phấn khởi: Khoai cho năng suất từ 800-1200 kg/sào, tỷ lệ củ thương phẩm cao đạt 90-95%, hàm lượng tinh bột trong củ lớn rất thích hợp cho chế biến Đặc biệt, Công ty Orion đã ứng trước giống đạt tiêu chuẩn và ký hợp đồng thu mua toàn bộ khoai thương phẩm với giá cố định ngay từ đầu vụ, nên nông dân có thể tính được hiệu quả kinh tế trước khi trồng, yên tâm sản xuất.
Xã An Khê, xã Quỳnh Phụ là một xã điển hình trong phong trào sản xuất cây vụ đông, vì vậy khi đưa mô hình về địa phương đã được cán bộ, nhân dân ủng hộ nhiệt tình và quyết định trồng 2ha Với kinh nghiệm trồng khoai lâu năm cộng với sự giúp đỡ của cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông tỉnh nên khoai sinh trưởng và phát triển tốt Sau 3 tháng trồng, thu được khoảng 25 tấn/ha khoai thương phẩm, với giá 3.300đồng/kg, trừ chi phí lãi khoảng 1 – 1,2 triệu đồng/sào
Trồng khoai tây theo chỉ đạo của HTX mang lại sự yên tâm cho người dân Đầu tư lớn nhất ban đầu là giống thì được hỗ trợ khi nào có sản phẩm mới phải thanh toán; quá trình trồng, chăm sóc đã có cán bộ kỹ thuật của Trung tâm khuyến nông và ban chỉ đạo HTX giúp đỡ; khi thu hoạch khoai thương phẩm công ty mua hết
Thành công từ mô hình đã được các HTX và hộ nông dân đánh giá cao, đồng thời gắn kết giữa nông dân với doanh nghiệp thông qua hệ thống khuyến nông, mở ra hướng đi mới cho phát triển cây vụ đông ở Thái Bình Tuy nhiên
để cách làm này thực sự hiệu quả cần sự quan tâm hơn nữa của các nhà khoa học, các cấp chính quyền, đặc biệt người nông dân cần thay đổi cách thức trong sản xuất từ nhỏ lẻ, phân tán sang tập trung quy mô lớn, ký kết hợp đồng
Qua mô hình liên kết “bốn Nhà” đã tạo điều kiện cho nông dân an tâm sản xuất, hạn chế được tình trạng tranh mua, tranh bán và giúp nông dân sản xuất theo hướng bền vững, an toàn vệ sinh thực phẩm, tránh được các rủi ro trong sản xuất Lúc tiêu thụ với giá bao tiêu trong hợp đồng, công ty luôn tạo
Trang 25điều kiện cho người nông dân vừa có lãi và giá bán không biến động lớn với ngoài thị trường Từ đó nông dân cũng đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất theo hướng sản xuất an toàn, nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.
2.2.2.2 Tại Nam Định
Để nền kinh tế nông nghiệp ngày càng phát triển và đứng vững trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, tỉnh Nam Định đang nhân rộng mô hình liên kết “bốn Nhà” trong sản xuất, chế biến rau màu đặc biệt là các loại cây trồng
vụ đông nhằm phục vụ xuất khẩu
Tỉnh Nam Định đã thúc đẩy liên kết “bốn Nhà” trong trồng rau màu xuất khẩu: Triển khai các chính sách hỗ trợ người nông dân trồng các loại cây
vụ đông phục vụ xuất khẩu, đồng thời tổ chức cho các doanh nghiệp gặp gỡ với nông dân để thoả thuận, ký kết hợp đồng trồng và tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, tỉnh cũng vận động các Ngân hàng Thương Mại tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân và các doanh nghiệp vay vốn đầu tư, mở rộng diện tích, chế biến rau màu xuất khẩu
Đến nay đã có 10 doanh nghiệp thường xuyên ký kết với gần 50 địa phương trong tỉnh, nhằm phát triển trồng cây vụ đông xuất khẩu với tổng số diện tích hơn 1.000 ha Các doanh nghiệp còn ký kết hợp đồng với nông dân các địa phương trong tỉnh cung cấp giống cây trồng có chất lượng cao và chủ động đưa các giống cây mới vào đồng rộng
Về phía người nông dân, họ đã đa dạng hoá cơ cấu cây trồng với nhiều loại cây rau màu như cà chua, dưa chuột bao tử, ngô bao tử, ngô ngọt, ớt Thu nhập bình quân từ trồng cà chua nhót đạt 68 triệu đồng/ha/vụ, cà chua quả to cho thu nhập 79,3 triệu đồng/ha/vụ, dưa chuột bao tử cho thu nhập 56,2 triệu đồng/ha/vụ
Tuy vậy, theo các công ty chuyên chế biến rau màu xuất khẩu, nông dân trong tỉnh vẫn chưa đáp ứng được việc cung cấp nguồn nguyên liệu rau màu chất lượng cao Với nhu cầu hiện nay tại Nam Định, các doanh nghiệp
Trang 26cần thu mua của nông dân ở các địa phương từ 5.000 đến 10.000 tấn sản phẩm rau màu để chế biến xuất khẩu trong khi nguồn cung chỉ mới đáp ứng được 30%.
Nhằm khắc phục bất cập, yếu kém trong phát triển cây trồng vụ đông, tỉnh Nam Định đã có các giải pháp như: Các địa phương cần tổ chức rà soát, quy hoạch lại vùng chuyên canh cây vụ đông xuất khẩu; ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi ở các vùng sản xuất cây rau màu vụ đông; tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất rau màu; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dân trồng cây rau màu vụ đông; xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích nông dân phát triển trồng cây vụ đông đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp lo đầu ra tốt cho sản phẩm rau màu vụ đông
2.2.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
a) Nghiên cứu ở ngoài nước
Trên thế giới, hợp đồng là hình thức biểu hiện phổ biến nhất của liên
kết giữa người sản xuất và doanh nghiệp Một số nghiên cứu dưới đây chỉ ra
tính cấp thiết, vai trò cũng như những tồn tại hiện nay của hình thức liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất theo hình thức hợp đồng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
Theo Johann Kirten và Kurs Sartorius (2002), quá trình công nghiệp hoá ở
các nước đang phát triển đem đến những người sản xuất và người tiêu dùng mới Người sản xuất mới được trang bị đầu vào sản xuất tốt hơn và sản xuất
ra nhiều hàng hoá hơn Còn người tiêu dùng mới yêu cầu những sản phẩm chất lượng ngày càng cao Bên cạnh đó, toàn cầu hóa cũng đem lại cơ hội xuất khẩu và những thách thức trong cạnh tranh đối với sản xuất nội địa Liên kết ngang dưới dạng hợp đồng là một tất yếu khách quan Tác giả cũng đã chỉ
ra ba dạng hợp đồng phổ biến giữa doanh nghiệp và nhà nông bao gồm: Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng cung ứng đầu vào và hợp đồng trọn gói
Trang 27(DN tham gia và cả quá trình từ cung ứng đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm) Hợp đồng đem lại lợi ích cho cả nhà sản xuất và doanh nghiệp, nhằm giảm thiểu rủi ro, bảo đảm khối lượng, chất lượng và giá
cả hàng hoá theo những yêu cầu nhất định Tuy nhiên, hai tồn tại lớn nhất của hợp đồng trong sản xuất nông nghiệp là chi phí giao dịch đối với các hộ sản xuất nhỏ cao và tình trạng phá vỡ hợp đồng
Nghiên cứu của Sachiko Miyata, Nicholas và Dinghuan Hu (2007) về “ảnh
hưởng của hợp đồng nông nghiệp tới thu nhập - mối liên kết giữa nông dân, người thu mua và các siêu thị ở Trung Quốc” đã chỉ ra rằng hợp đồng nông nghiệp được xem như là một trong những biện pháp để nâng cao thu nhập cho những người nông dân kinh doanh nhỏ thông qua việc cung cấp công nghệ và thông tin thị trường cho nông dân, kết hợp chúng thành các thị trường mới có lợi Nghiên cứu này sử dụng mô hình probit để ước lượng sự tham gia hợp đồng nông nghiệp để chứng tỏ rằng các công ty muốn ký hợp đồng làm việc với nông dân kinh doanh lớn hơn, mặc dù tất cả các trang trại trong khu vực
là khá nhỏ Hơn nữa, sử dụng mô hình lựa chọn Heckman cũng cho thấy rằng nông dân kinh doanh có hợp đồng có thu nhập cao hơn đáng kể so với người nông dân làm việc độc lập Các kết quả cũng cho thấy rằng mức giá cao hơn
do người trồng nhận được từ hợp đồng phản ánh chất lượng hàng hoá cao hơn Các kết quả này còn cho thấy rằng hợp đồng nông nghiệp có thể giúp nông dân nhỏ lẻ tăng thu nhập của họ và tiến đến thâm nhập được vào các thị trường đang phát triển khu vực đô thị và thị trường xuất khẩu Tuy nhiên, nghiên cứu này được nghiên cứu trong trường hợp tỉnh Sơn Đông, một trong những tỉnh thịnh vượng ở Trung Quốc, do đó, nghiên cứu thể bị hạn chế ở khu vực Tây Trung Quốc
Như vậy, liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp là một tất yếu trong bối cảnh công nghiệp hoá nông nghiệp và toàn cầu hoá để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Liên kết đem lại nhiều lợi ích cho các tác
Trang 28nhân tham gia, tuy nhiên cũng không phải là giải pháp tốt nhất cho mọi loại hàng hoá nông sản Sự thành công của hợp đồng chịu ảnh hưởng lớn bởi thái
độ tuân thủ hợp đồng của các bên tham gia cũng như các tác động bên ngoài như thị trường và chính sách vĩ mô
b) Nghiên cứu ở trong nước
Tại Việt Nam, quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng đã mở đường cho liên kết “bốn Nhà” trong nông Doanh nghiệp và nhà nông thực hiện sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng được ưu đãi hỗ trợ về đất đai, về đầu tư cơ sở hạ tầng,
về tín dụng, về chuyển giao kỹ thuật công nghệ, về thị trường và xúc tiến thương mại
Vũ Trọng Khải (2009) đề cập đến sự bế tắc trong thực hiện liên kết
“bốn Nhà” Một là khó khăn trong việc ký hợp đồng với hộ nông dân nhỏ lẻ Với quy mô nhỏ, các nhà nông này có thể dễ dàng tiêu thụ nông sản được sản xuất theo kỹ thuật truyền thống ngay tại chợ quê Họ không cần liên kết với nhà doanh nghiệp chế biến - tiêu thụ nông sản, họ không có khả năng và không cần áp dụng quy trình và tiêu chuẩn toàn cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm (Global GAP) Còn doanh nghiệp lại không thể ký hợp đồng tiêu thụ nông sản với hàng ngàn hộ nông dân nhỏ lẻ Hai là việc bội tín khi thực hiện hợp đồng Quyết định 80/2002/QĐ-TTg quy định giá sàn trong quan hệ mua bán giữa nhà nông và doanh nghiệp Khi giá cả xuống dưới giá sàn thì nông dân bán nông sản cho doanh nghiệp nhưng khi giá nông sản tăng cao nông dân vì lợi ích trước mắt lại bán cho bất kì ai theo giá thị trường Bản thân doanh nghiệp lại không thể mua theo giá này, hay nói cách khác phải buộc vi phạm cam kết với nông dân, vì các hợp đồng đầu ra của doanh nghiệp đã được ký kết từ trước, nếu tăng giá đầu vào doanh nghiệp sẽ bị lỗ Tác giả đề xuất đã đến lúc cần đánh giá lại việc thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg trong thời gian qua và thiết lập khung pháp lý mới cho giao dịch nông sản
Trang 29bằng hình thức sản xuất theo hợp đồng.
Nguyễn Xuân Dũng, 2009 cho rằng Liên kết bốn nhà cần phải chặt chẽ
So với yêu cầu phát triển nền sản xuất nông nghiệp bền vững, thì mức độ phát triển của khu vực nông nghiệp chưa đạt yêu cầu Các ngành trong nội bộ khu vực kinh tế nông thôn chưa gắn kết, hỗ trợ nhau phát triển Có thể thấy rằng, một số chính sách kuyến khích phát triển nông nghiệp, nông sản hàng hóa của Nhà nước chưa đồng bộ, công tác quy hoạch các vùng trọng điểm, vùng động lực và vùng chuyên canh sản xuất nông sản hàng hóa chưa dựa trên nhu cầu thị trường, một số hợp đồng kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp đã được triển khai nhưng thiếu sự hỗ trợ của các nhà khoa học cũng như của các cơ quan quản lý nhà nước Nhiều hợp đồng kinh tế tiêu thụ sản phẩm đã được ký kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn thiếu chuẩn mực và chưa bình đẳng
Theo Võ Mai (2009) cho rằng, phải xây dựng HTX theo mô hình khép
kín Điều dễ nhận thấy là nông sản hàng hóa của nông dân sản xuất ra đều phải thông qua thương lái tiêu thụ Hàng hóa này thương lái bán lại cho ai? Dĩ nhiên, thương lái giao cho doanh nghiệp Điều này lý giải vì sao thương lái và doanh nghiệp có quyền định đoạt giá nông sản, nông dân thì không Đã vậy,
do nông dân sản xuất manh mún, công nghệ sau thu hoạch và bảo quản sản phẩm quá yếu dẫn đến sự thất thoát lớn Ví dụ: mỗi năm, nông dân cả nước sản xuất ra 6 triệu tấn trái cây các loại trong đó thất thoát 30% Để liên kết
“bốn Nhà” đi vào thực chất, hỗ trợ nông dân tiêu thụ sản phẩm ổn định, không thể vắng HTX kiểu mới Hiện nay, Hội Làm vườn Việt Nam đã và đang tiến hành hỗ trợ nông dân xây dựng 20 HTX trong đó có 7 đơn vị sản xuất trái cây an toàn Các HTX này hoạt động theo mô hình khép kín: Sản xuất - đóng gói - tiêu thụ Đến nay có 3/7 HTX tìm được 3 đối tác liên kết Đối với Hội Nông dân, ngoài chức năng giám sát trong việc thực hiện liên kết
“bốn Nhà”, còn phải động viên nông dân giữ chữ tín với khách hàng, phải sản
Trang 30xuất ra sản phẩm an toàn, phấn đấu phải trở thành ngưởi sản xuất có văn hóa, hiểu biết về an toàn lao động và biết bảo vệ môi trường
Như vậy liên kết các nhà là một chủ trương đúng của Nhà nước Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại trong quá trình thực hiện do đặc tính của sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, do xung đột về lợi ích giữa các tác nhân, do tác động của thị trường, do tính pháp lý của hợp đồng… Vì vậy, cần phải có đường đi đúng
để liên kết thực sự hiệu quả, đem lại lợi ích thực sự cho người sản xuất, doanh nghiệp, nhà khoa học và cho toàn xã hội
Trang 31PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Xã Nam Trung huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương là một xã đồng bằng Sông Hồng, nằm gần trung tâm của huyện Nam Sách, có đường Tỉnh lộ 390 chạy qua, thuận lợi cho việc phát triển, giao lưu kinh tế Xã nằm ở tọa độ địa lý: 20,17o đến 20,44o vĩ Bắc và 106,06o đến 106,39o độ kinh Đông Ranh giới địa chính được xác định như sau:
Phía Đông- Bắc giáp xã Quốc Tuấn
Phía Đông- Nam giáp xã An Lâm
Phía Tây- Nam giáp xã An Sơn và Nam Hồng
Phía Tây- Bắc giáp xã Nam Chính
Phía Nam giáp thị trấn Nam Sách
- Đặc điểm địa hình
Xã có địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, màu mỡ thuận lợi cho phát triển trồng trọt, nhất là các loại rau củ vụ đông
- Khí hậu, thời tiết
Xã nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng nên mang đặc điểm của đồng bằng sông Hồng, xã Nam Trung chịu ảnh hưởng của khí hậu thời tiết gió mùa nóng ẩm, nắng và có mùa đông khá lạnh Vào thời kỳ đầu mùa đông thì thời tiết tương đối khô, cuối mùa thì ẩm ướt, vào mùa hè thì nóng ẩm và có nhiều mưa, số giờ nắng trung bình trong năm là 1650 giờ/năm, nhiệt độ trung bình 23,2oC trong đó nhiệt độ thấp nhất là khoảng 16oC Lượng mưa trung bình là 1450-1650 mm, nhưng lượng mưa phân bố không đều trong năm
Trang 32Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung khoảng 70% lượng mưa của cả năm, do đó vào khoảng tháng 7-8 thì lượng mưa rất lớn thường gây ra úng lụt và gây nhiều thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, vào mùa này thường lạnh và mưa phùn, thời tiết vào mùa này rất phù hợp với các cây ngắn ngày có giá trị kinh tế cao
và mang lại thu nhập cho người nông dân như các loại cây: Rau, đậu, hành, tỏi Tuy nhiên trong sản xuất nông nghiệp không tránh gặp phải một số khó khăn do thời tiết mang lại, mùa mưa thường kéo dài hay làm úng lụt, giông bão, gió bấc, sương mù, sương muối Do đó chúng ra cần có những giải pháp hạn chế những ảnh hưởng xấu của thời tiết như: Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, thông tin kịp thời các thời kỳ sâu bệnh, cách phòng trừ cho các
hộ sản xuất, phát huy thuận lợi của khí hậu thời tiết mang lại và hạn chế ảnh hưởng xấu của tự nhiên mang lại để sản xuất nông nghiệp đạt năng suất, hiệu quả cao
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của xã qua 3 năm
3.1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Vai trò của đất đai càng trở nên quan trọng hơn đối với những địa phương mà sản xuất nông nghiệp tương đối mạnh như xã Nam Trung Vấn đề sử dụng đất đai có ý nghĩa rất lớn trong vấn đề phát triển kinh tế của
xã Tình hình sử dụng đất nông nghiệp xã qua 3 năm từ 2007 đến 2009 thể hiện ở bảng sau:
Trang 33Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của Xã Nam Trung qua 3 năm 2007– 2009
* Đất để sản xuất Nông nghiệp
1 Đất trồng cây hàng năm- Trong đó, đất trồng hành 148618 23,9492,65 168617 27,2392,71 160602
92,54
26,5 8
Trang 344 Đất canh tác/Hộ NN 0,81 0,80 0,79 98,29 98,72 98,50
(Nguồn: Thống kê xã Nam Trung, 2010)
Trang 35Qua bảng 3.1 chúng tôi có một số nhận xét:
Tính đến năm 2009 thì diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã khai thác đưa vào sử dụng là 651ha cơ bản là đúng mục đích, hiệu quả sử dụng đất ngày càng tăng nhưng chưa cao, chưa phát huy hết tiềm năng của đất đai Hằng năm diện tích đất để sản xuất nông nghiệp giảm 1,2% Đất nông nghiệp giảm
là do trên địa bàn chuyển đổi đất sử dụng sang xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, trường học
Tiềm năng đất đai cho phát triển đất trồng cây hàng năm khoảng 602ha ngoài trồng lúa là chủ yếu thì người dân còn tập trung vào trồng cây cụ đông chính là cây hành làm cây trồng cho giá trị hàng hóa cao và tập trung chủ yếu
ở thôn Thụy Trà và thôn Mạn Đê
Qua 3 năm, đất trồng hành có những thay đổi lớn, cụ thể: Năm 2007 diện tích là 148 ha, đến năm 2008 tăng lên 168ha do chính quyền cùng người dân tích cực mở rộng diện tích trồng hành và tăng 13,51% so với năm 2007
Đến năm 2009 diện tích trồng hành lại giảm xuống 160ha lý do:
- Một số hộ không thiết tha với làm nông nghiệp mà chuyển sang kinh doanh, dịch vụ
- Do điều kiện thời tiết bất ổn, năm 2008 hầu hết diện tích trồng hành đều bị ngập úng, gây thiệt hại cho người dân trồng hành vì thế sang năm 2009 do tâm lý sợ rủi ro nên người dân đã thu hẹp quy mô trồng
và giảm 4,77% so với năm 2008
Tiềm năng đất đai phát triển trồng cây lâu năm hầu như không có khả năng mở rộng và các năm vẫn dữ nguyên ở 27ha tập trung chủ yếu ở thôn Thượng Dương, phục vụ cho trồng cây lâu năm, cây ăn quả
Nhìn chung tình hình sử dụng đất nông nghiệp đã có chuyển biến tích cực,
sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng đã hình thành, củng cố và mở rộng nhiều vùng sản xuất chuyên canh tập trung, là cơ sở đảm bảo khả năng ổn định và phát triển sản xuất lương thực cũng như phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến
Trang 363.1.2.2 Tình hình nhân khẩu và lao động
Nguồn lao động trong độ tuổi của bất cứ quốc gia nào đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó đặc biệt là ở những nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay Bên cạnh đất đai thì lao động cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng đối quá trình sản xuất nói chung
và sản xuất nông nghiệp nói riêng
Thông qua việc tìm hiểu tình hình dân số và lao động xã Nam Trung qua 3 năm 2007 – 2009, dựa vào bảng 3.2 chúng tôi có một số nhận xét sau:
- Tổng số hộ của xã đã có sự thay đổi nhưng không đáng kể, qua 3 năm số hộ trong toàn xã tăng 28 hộ trong đó số hộ nông nghiệp có tăng nhưng tốc độ tăng và cơ cấu hộ nông nghiệp so với tổng số hộ có xu hướng giảm dần thể hiện trong kinh tế của xã đã bắt đầu có sự chuyển dịch
- Cùng với sự thay đổi về số hộ thì số nhân khẩu và lao động cũng có
sự thay đổi theo hướng đó Số nhân khẩu nông nghiệp cũng như các năm và không có sự chuyển biến đáng nói Mặc dù vậy số khẩu nông nghiệp tăng bình quân 0,53% Như vậy cũng cho thấy một điều đáng mừng là người dân Nam Trung bên cạnh phát triển các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nhưng họ vẫn duy trì và phát triển ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa Cụ thể là sản xuất nông sản theo hướng hàng hóa và
đã từng bước có sự chuyển dịch từ lao động nông nghiệp là chủ yếu sang lao động trong các ngành nghề khác như dịch vụ, công nghiệp…
Nhìn chung, là một xã vẫn đang đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp thì xã Nam Trung là một xã có nguồn lao động nông nghiệp khá dồi dào Lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất cao nhưng trình độ của người lao động còn thấp, thời gian bị thất nghiệp lúc nông nhàn rất nhiều vì vậy đòi hỏi xã cần có chính sách đào tạo và phát triển hơn nguồn lao động có tay nghề để phục vụ cho quá trình CNH – HĐH của toàn xã đồng thời cần có giải pháp mở rộng thêm ngành nghề cho số lao động dư thừa này
Trang 37Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động Xã Nam Trung qua 3 năm 2007 – 2009
8100,66
5
100,05100,55
8
2101,55 101,04
8100,95 100,71
Lao động phi nông nghiệp Lao động
Trang 38Nhân khẩu NN/ hộ NN khẩu/hộ 5,70 5,72 5,55
100,35
100,21
103,20101,71
100,14
( Nguồn: Thống kê xã Nam Trung, 2010)
Trang 393.1.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng nông thôn
Do nhận thức tốt về ý nghĩa và tầm quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật, UBND xã Nam Trung luôn quan tâm đến công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ đời sống và sản xuất Cơ sở vật chất kỹ thuật càng đầy đủ thì hoạt động sản xuất càng phát triển, năng suất lao động càng tăng và kinh tế xã hội của địa phương đó càng phát triển Dựa vào bảng ta thấy tình hình cơ sở
hạ tầng nông thôn xã có một số thuận lợi và khó khăn cho phát triển kinh tế
xã như sau:
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng nông thôn năm 2009
5 Công trình phúc lợi
(Nguồn: Thống kê Xã Nam Trung, 2010)
Những thuận lợi: Nam Trung có mạng lưới giao thông khá đồng bộ , một số tuyến đường được nâng cấp và mở mới Nỗi bật các đường nối các thôn xóm đã được bê tông hóa kiên cố mà các loại xe trọng tải có thể lưu thông tốt Các công trình thuỷ lợi cũng được đầu tư nâng cấp và xây dựng
Trang 40trường học đã được kiên cố và khang trang Hệ thống điện lưới quốc gia đã có trên toàn xã Những thành tựu đạt được không thể không kể đến đó là hằng năm xã đã tổ chức mở rộng thi công thêm đường bê tông hóa nội đồng Hiện nay chiều dài đường bê tông hóa đã lên tới 4 km, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt vào mùa thu hoạch thuận tiện hơn cho việc thu mua hành tại đồng và sẽ giảm bớt sự vất vả cho bà con nông dân.
Những khó khăn: Cơ sở vât chất tuy đã được củng cố nhưng còn nhiều thiếu thốn như hệ thống tưới nước vào chính vụ trồng hành vẫn còn chưa cung cấp đủ, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp công nghệ mặc dù đã được cải tiến giúp giảm thải làm ô nhiễm môi trường nhưng phần lớn vẫn còn
cũ lạc hậu Bên cạnh đó toàn xã có một trạm y tế nhưng cơ sở vật chất còn thiếu thốn, cán bộ y tế chưa có nhiều kinh nghiệm Tất cả chi tiết được thể hiện ở bảng bên
3.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Nam Trung
Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu tình hình sản xuất kinh doanh của xã Nam Trung trong 3 năm vừa qua, tình hình sẽ đươc thể hiện ở bảng 3.4 sau: