Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu những chủ trương, đường lối của ĐCSVN đối với Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự Viê ̣ t Nam trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ NGÂN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUÂN TÌNH NGUYỆN VÀ CHUYÊN GIA QUÂN SỰ THỰC HIỆN NHIỆM
VỤ QUỐC TẾ TẠI CAMPUCHIA (1979-1989)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Mã ngành: 60220315
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ NGÂN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUÂN TÌNH NGUYỆN VÀ CHUYÊN GIA QUÂN SỰ THỰC HIỆN NHIỆM
VỤ QUỐC TẾ TẠI CAMPUCHIA (1979-1989)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Mã ngành: 60220315
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập Chương trình cao học chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Lịch sử, các thầy, cô giáo và Ban lãnh đạo nhà trường Với sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa và các thầy, cô giáo trong Khoa, đến nay luận văn tốt nghiệp của tôi đã hoàn thành
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp Chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Lịch Sử - Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, các chuyên gia và bạn bè đã tạo điều kiện ửng hộ, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2015
Học viên Trần Thị Ngân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo
quân tình nguyện và chuyên gia quân sự làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia (1979 – 1989)” là do tác giả tự nghiên cứu và hoàn thành dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa
Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Thị Ngân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và hướng sử dụng 5
6 Những đóng góp mới của luận văn 5
7 Kết cấu cu ̉ a luâ ̣n văn 5
Chương 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN TÌNH NGUYỆN, CHUYÊN GIA QUÂN SỰ VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 1984 6
1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đa ̉ ng 6
1.1.1 Tình hình thế giới và khu vực 6
1.1.2 Tình hình Việt Nam 9
1.1.3 Tình hình Campuchia 11
1.1.4 Hoạt động của Quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam ở Campuchia trước năm 1979 14
1.2 Lãnh đạo Quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam ở Campuchia 21
1.2.1 Xây dựng bộ máy lãnh đạo, chỉ huy đối với Quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam ở Campuchia 28
1.2.2 Lãnh đạo mọi mặt hoạt động của Quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam ở Campuchia 33
1.2.2.1 Giúp đỡ Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang 33
1.2.2.2 Giúp đỡ Campuchia chiến đấu đẩy lùi tàn quân Khơme Đỏ 29
1.2.2.3 Giúp đỡ Campuchia xây dựng chính quyền cơ sở……… 35
1.2.2.4 Giúp đỡ Campuchia phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội 39
Tiểu kết chương 1 49
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐA ̣O CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN TÌNH NGUYỆN , CHUYÊN GIA QUÂN SỰ TẠI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1984 ĐẾN NĂM 1989 51
2.1 Thắng lợi mùa khô 1984 - 1985 của quân, dân Campuchia và chủ trương của Đảng 51
2.1.1 Thắng lợi mùa khô 1984 - 1985 của quân, dân Campuchia 51
2.1.2 Chủ trương của Đảng 47
2.2 Chỉ đạo thực hiện 57
Trang 62.2.1 Giúp Campuchia đẩy mạnh hoạt động quân sự 57
2.2.2 Giúp Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang 61
Tiểu kết chương 2 58
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 59
3.1 Nhận xét 59
3.1.1 Về ưu điểm 59
3.1.1.1 Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giúp đỡ cách mạng Campuchia 59
3.1.1.2 Luôn coi trọng lãnh đạo nhiệm vụ quân sự trong quan hệ với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị- xã hội 68
3.1.1.3 Quán triệt đầy đủ nguyên tắc “giúp bạn là tự giúp mình” và “cách mạng là sự nghiê ̣p của quần chúng nhân dân” 70
3.1.1.4 Luôn kiê ̣n toàn các cơ quan giúp việc trong tư vấn, thực hiện công tác giúp Campuchia 72
3.1.2 Về hạn chế và nguyên nhân 74
3.1.2.1 Hạn chế 74
3.1.2.2 Nguyên nhân 68
3.2 Kinh nghiệm 69
3.2.1 Tìm tòi, hoạch định chủ trương phù hợp và đáp ứng với tình hình thực tiễn 69
3.2.2 Coi trọng việc phối hợp hoạt động linh hoạt, nhịp nhàng giữa lực lượng vũ trang Viê ̣t Nam và Campuchia 79
3.2.3 Quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc trong giúp đỡ Campuchia 81
3.2.4 Kết hợp giữa thực hiện nhiệm vụ quốc tế với xây dựng Quân tình nguyện, chuyên gia quân sự vững mạnh về mọi mặt 84
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC……… 90
Trang 7MỘT SỐ THUẬT NGƢ̃ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CHDCND: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
CHDC: Cộng hòa Dân chủ
CNCS: Chủ nghĩa Cộng sản
CNTB : Chủ nghĩa Tư bản
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CHXHCN: Cộng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa
ĐCS: Đảng Cô ̣ng sản
ĐCSVN: Đảng Cô ̣ng sản Việt Nam
ĐNDCM: Đảng Nhân dân cách ma ̣ng
KHCN: Khoa học công nghê ̣
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình xây dựng và phát triển của Quân đô ̣i Nhân dân Viê ̣t Nam là li ̣ch sử của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế Ngay từ khi ra đời , ĐCSVN đã coi nhiê ̣m vu ̣ quốc tế đối với nhân dân và lực lượng vũ trang cách ma ̣ng hai nước Lào
và Campuchia là nhiệm vụ quan trọng Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp
và 21 năm chiến đấu chống Mỹ, Viê ̣t Nam vừa thực hiê ̣n nhiệm vụ giải phóng và bảo vệ đất nước vừa chi viê ̣n sức người , sức của cho cách mạng hai nước Lào và Campuchia, giúp nhân dân hai nước thoát khỏi ách thống trị của quân xâm lược
Trong thế kỷ XX đã diễn ra nhiều cuô ̣c chiến tranh tàn khốc , chứng kiến nhiều ho ̣a diê ̣t chủng vô cùng tàn ba ̣o , trong đó có chế đô ̣ Pôn Pốt - Iêngxary ở Campuchia (thập kỷ 70) thực hiện đối với chính dân tô ̣c mình Trước lời kêu go ̣i của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia , ĐCSVN đã cử Quân tình nguyê ̣n và chuyên gi a quân sự sang giúp đỡ Campuchia củng cố và xây dựng chính quyền cách mạng , xây dựng lực lươ ̣ng vũ trang gồm ba thứ quân không ngừng lớn mạnh, đủ sức vươn lên đảm đương nhiê ̣m vu ̣ chiến đấu đưa đất nước Campuchiathoát khỏi họa diệt chủng, xây dựng la ̣i đất nước
Được nhân dân Campuchia ủn g hô ̣ và giúp đỡ , các lực lượng vũ tra ng cách mạng Campuchia cùng Q uân tình nguyê ̣n Viê ̣t Nam đoàn kết, liên minh chiến đấu khá hiệu quả Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam đã hoàn thành nhiê ̣m vu ̣ quốc tế, đưa đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của Pôn Pốt - Iêngxary, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng Campuchia
Nghiên cứu sự lãnh đa ̣o của Đảng đối với Q uân tình nguyê ̣n Viê ̣t Nam ở Campuchia từ năm 1979 - 1989 là hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, nhìn nhận chính xác, đầy đủ hơn sự giúp đỡ to lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cách ma ̣ng Campuchia, góp phần phát triển tình đoàn kết giữa hai dân tô ̣c Đó là
những lý do cơ bản để tôi chọn vấn đề “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia (1979 -
Trang 91989)” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngoài ra, qua luận văn, tôi muốn cung cấp thêm một số tư liệu để phục vụ công tác giảng dạy môn Lịch sử, Lịch sử Đảng Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam và Đường lối cách mạng của Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong viê ̣c chỉ đạo thực hiê ̣n làm nhiê ̣m vu ̣ quốc tế , ĐCSVN đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc lãnh đạo Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự ta ̣i Campuchia trong giai đoa ̣n 1979 - 1989, được nhiều giới sử ho ̣c quan tâm Qua khảo cứu, tôi thấy tư liê ̣u về mảng đề tài này có những nhóm sau :
2.1 Các công trình nghiên cứu về sự giúp đỡ của Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam giúp đỡ Campuchia
“Vấn đề Campuchia” (Trường Chinh, Tạp chí Quân đội nhân dân, Hà Nội, 12/1979); “Kỷ nguyên mới của đoàn kết hợp tác Việt Nam - Campuchia” (Nxb Sự
thâ ̣t, Hà Nội, 1979); “Mãi mãi đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam anh hùng” (Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1982); “Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia” (Hoàng Văn Thái, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983); “Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của chúng ta” (Lê Duẩn , Nxb Sự Thâ ̣t , Hà Nội , 1983);
“Chiến lược đoàn kết hợp tác với các nước ĐôngNam Á của Hồ Chí Minh - Quan điểm lịch sử và triển vọng” (Lê Mậu Hãn, Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1993); “Quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954”
(Đỗ Đình Hãng , Nxb Đa ̣i ho ̣c tổng hơ ̣p , Hà Nội , 1993); “Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1975 - 1995)” (Lưu Văn Lợi, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998); “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000” (Nxb, Chính trị Quốc Gia , Hà Nội , 2002); “45 năm Cu ̣c Đối ngoại Bộ Q uốc phòng (1964 - 2009)” (Bộ Quốc phòng,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004); …
Nhóm công trình này chú trọng đến mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước từ khi ĐCSVN ra đời (tháng 2/1930) đến cuối những năm 1980 của thế kỷ XX Về quá trình ngoại giao giữa hai nước , làm nổi bật các chủ trương chính sách của Việt Nam với Campuchia từ cuô ̣c kháng chiến chống Pháp đến cuô ̣c khá ng chiến chống Mỹ Đó là quá trình đoàn kết lâu dài giữa hai dân tô ̣c bảo vê ̣ hòa bình ở Đông Dương nói chung và hai nước nói riêng Cùng với đó là việc Việt Nam đưa quân Quân tình nguyê ̣n giúp Campuchia về xây dựng lực lượn g cũng như xây dựng đất nước Campuchia đươ ̣c coi như mô ̣t nghĩa vu ̣ quốc tế Một số công trình đã thể hiện được mối quan hệ chính trị - ngoại giao trên tất cả các lĩnh vực giữa Việt Nam và
Trang 10Campuchia trong những giai đoạn lịch sử quan trọng đối với hai nước từ năm 1930 đến năm 1989 và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể
2.2 Các công trình nghiên cứu về sư ̣ lãnh đạo của Đảng , Quân ủy Trung ương đối với Quân tình nguyê ̣n, chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam ở Campuchia
“Vấn đề Campuchia” (Trường Chinh, Tạp chí Quân đội nhân dân, Hà Nội, 12/1979); “Tội ác diệt chủng của bọn Pôn Pốt - Iêngxary” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979); “Quân đội nhân dân Việt Nam và nhiệm vụ cao cả trên đất bạn Campuchia” (Lê Đức Anh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986); “Bộ đội tình nguyện Quân khu 9 qua hơn 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia” (Nguyễn Đệ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995); “Công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam (1975 - 2005)” (Đảng ủy quân sự Trung ương, Nxb Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 2008); “Sự thống nhất hữu cơ giữa nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế, giữa tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng của quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia” (Lê Hai, Tạp chí N ghiên cư ́ u li ̣ch sử , số 2, 2011); “Những năm tháng làm nhiệm vụ quốc tế vẻ vang; “Li ̣ch sử quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam giúp Cách mạng Campuchia (1978 - 1989)” (Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử
quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010)…
Cuốn “Quân đội nhân Viê ̣t Nam và nhiê ̣m vụ quốc tế cao cả trên đất bạn Campuchia” đã nêu bâ ̣t tinh thần chiến đấu của Q uân tình nguyê ̣n và chuyên gia
quân sự cùng sự chỉ đa ̣o sáng suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong suốt quá trình chiến đấu cũng như giúp nhân dân Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang và xây dựng các cơ sở cách ma ̣ng , xây dựng la ̣i đất nước Sự giúp đỡ của quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam đã góp phần tích cực ta ̣o lên những thắng lợi và thành tựu to lớn có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Campuchia Cuốn sách khẳng định: Trong mọi thời kỳ, những chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam không quản ngại hy sinh , gian khổ cùng kề vai , sát cánh với quân dân Campuchia đánh
đuổi kẻ thù chung, giành lấy những thắng lợi cho cách mạng mỗi nước
Nhìn chung, thông qua các công trình nói trên, dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, làm nổi bật lên tình cảm hữu nghị hợp tác chiến đấu giữa hai nước Việt Nam và Campuchia Việt Nam luôn sẵ n sàng giúp đỡ Campuchia trong mo ̣i điều kiê ̣n và hoàn cảnh Tuy nhiên, tất cả các công trình đ ều nghiên cứu ở một khía cạnh riêng biê ̣t chưa có công trình nào đề câ ̣p đến vấn đề Đảng lãnh đạo Qu ân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự làm nhiê ̣m vu ̣ quốc tế ta ̣i Ca mpuchia (giai đoa ̣n 1979
- 1989) như tôi đã lựa cho ̣n
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với Quân tình nguyện và chuyên gia quân
sự thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia từ năm 1979 đến năm 1989; trên cơ sở đó đúc rút một số kinh nghiệm tham khảo cho hiện tại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc tế
tại Campuchia của ĐCSVN những năm 1979 - 1989
- Đi sâu phân tích chủ trương của ĐCSVN trong quá trình lãnh đạo Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia những năm 1979
- 1989
- Chỉ ra thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia những năm 1979 - 1989; đúc rút một số kinh nghiệm phục vụ cho việc phát triển tình đoàn kết giữa hai nước thời điểm hiện tại
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chủ trương, chính sách, giải pháp, biện pháp mà ĐCSVN đề ra và thực hiện trong lãnh đạo Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những chủ trương, đường lối của ĐCSVN đối với Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự Viê ̣ t Nam trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, sự chỉ đạo của ĐCSVN trong việc hiện thực hóa chủ trương
đó từ năm 1979 (thời điểm Việt Nam đưa quân vào giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt) đến năm 1989 (Việt Nam rút hết quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ra khỏi Campuchia)
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả luận văn sử dụng
các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử như: Phương pháp lịch sử, phương pháp logíc, phương pháp phân tích nhằm làm sáng tỏ những chủ trương, đường lối của Quân
ủy Trung ương ĐCSVN đối với Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự của Viê ̣t Nam
tại Campuchia Các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê được sử dụng
để xử lý các sự kiện, con số, với mục đích dựng lại quá trình Quân ủy Trung ương chỉ
Trang 12đạo Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia
Phương pháp logic, phương pháp lịch sử được sử dụng tích cực trong nhận xét, đánh giá
và đúc kết kinh nghiệm
5 Nguồn tư liệu và hướng sử dụng
- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh, thông tư của Đảng và Quân ủ y Trung ương đối với Q uân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự ta ̣i Campuchia giai đoa ̣n từ năm 1979 - 1989 Các báo cáo tổng kế t của các sư đoàn , quân đoàn, tham gia làm nhiê ̣m vu ̣ quốc tế ở Campuchia (đã công bố và chưa công bố ) là tài liệu gốc của luận văn
- Các công trình nghiên cứu về Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quâ n sự Viê ̣t Nam ta ̣i Campuchia là nguồn tài liệu quan trọng , được khai thác, sử dụng để làm sáng tỏ những nội dung có liên quan của luận văn
6 Những đóng góp mới của luận văn
Về tư liệu: Luận văn sưu tầm, khai thác và giới thiệu nguồn tư liệu phong
phú, có giá trị về các chủ trương , chính sách và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với Campuchia của ĐCSVN
Về nội dung khoa học:
- Trình bày một cách có hệ thống, tương đối khách quan, toàn diện và làm sáng tỏ quan điểm, chủ trương chỉ đạo của Đảng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Việt Nam tại Campuchia từ năm 1979 đến năm 1989
- Rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu phục vụ hiện tại dựa trên những đánh giá, nhận xét về thành tựu , ưu điểm và khuyết điểm những vấn đề còn tồn tại tro ng quá trình ĐCSVN đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện quan hệ với Campuchia những năm 1979 - 1989
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về mả ng quân sự hoặc phục vụ công tác giảng dạy lịch sử và những môn học có liên quan
7 Kết cấu cu ̉ a luâ ̣n văn
Chương 1: Sự lãnh đạo của Đảng đối với Q uân tình nguyện , chuyên gia
quân sự Viê ̣t Nam tại Campuchia từ năm 1979 đến năm 1984
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với Quân tình nguyê ̣n ,
chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam tại Campuchia từ năm 1984 đến năm 1989
Chương 3: Nhâ ̣n xét và kinh nghiê ̣m
Trang 13Chương 1 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN TÌNH NGUYỆN, CHUYÊN GIA QUÂN SỰ VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 1984
1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng
1.1.1 Tình hình thế giới và khu vực
Phong trào cách mạng thế giới sau một thời kỳ phát triển với sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng của hệ thống XHCN cùng với phong trào giải phóng dân tộc sôi động và rộng khắp, đến những năm cuối thập niên 70 (thế kỷ XX) bắt đầu gặp nhiều khó khăn và bộc lộ dấu hiệu khủng hoảng Những rạn nứt, bất đồng quan điểm và chính kiến về những vấn đề quốc tế, về đường lối chiến lược, sách lược của các ĐCS vốn nảy sinh từ những thập niên trước, đến những năm 80 (thế kỷ XX) tiếp tục bộc lộ rõ rệt, ngày càng có dấu hiệu trầm trọng, rồi lâm vào khủng hoảng
và suy thoái, lên đến “đỉnh của vòng xoáy trôn ốc” Bên cạnh đó, ở các nước XHCN xảy ra tình trạng quan liêu về quản lý, quần chúng nhân dân thờ ơ thụ động, các hiện tượng tiêu cực ngày càng tăng Hầu hết các nước XHCN đều trong tình trạng năng suất lao động thấp (kém khoảng 4 lần so với CNTB) Xuất khẩu của các nước XHCN được coi là phát triển như Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Hungari, Liên Xô chỉ chiếm từ 12 đến 15% tổng thu nhập quốc dân, trong khi đó Mỹ
và phương Tây khoảng 40% Những khó khăn về kinh tế dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt về chính trị, xã hội trong nội bộ các nước XHCN Đây là thời kỳ tiền khủng hoảng của cả hệ thống XHCN Những khó khăn đó càng thêm gay gắt khi cuộc cách mạng KHCN, quá trình quốc tế hóa nền sản xuất, phân công lao động quốc tế diễn
ra mạnh mẽ trên thế giới, làm cho khoảng cách giữa các nước XHCN và các nước
TBCN ngày tăng
Khủng hoảng diễn ra ở ngay bộ phận nòng cốt của phong trào, ở các đảng cầm quyền các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô Chủ nghĩa dân tộc mạnh lên ở một số nước như phong trào Công đoàn đoàn kết ở Ba Lan, nhóm “Hiến chương 77” ở Tiệp Khắc, Anbani và Rumani ngày càng tách ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô Thêm vào đó, bất bình trong dân chúng các nước Đông Âu cũng ngày càng tăng lên khi mức sống của họ thua kém Tây Đức và các nước Tây Âu
Đứng trước khủng hoảng, song Ban lãnh đạo của nhiều nước XHCN như
Trang 14Liên Xô, Rumani, Anbani, CHDCND Triều Tiên, Cuba, CHDC Đức đến đầu thập niên 80 (thế kỷ XX) đều bác bỏ mọi tư tưởng cải cách, đổi mới Bungari, Tiệp Khắc tuy hứa hẹn cải cách, nhưng chưa đưa ra những biện pháp nghiêm túc, cụ thể
Từ giữa những năm 70 (XX), các ĐCS ở các nước TBCN như Pháp, Italia, Anh, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Phần Lan, Nhật Bản,…đã thấy rõ những hạn chế của mô hình CNXH Xô viết và tuyên bố đi theo đường lối “CNCS châu Âu”, thực hiện liên minh chính trị rộng rãi, thỏa hiệp với cả phái tả và các đảng tư sản Mặc dù vậy, “CNCS châu Âu” vẫn không được đi vào cuộc sống, một số đảng đi theo xu hướng này lâm vào khủng hoảng Đến thập niên 80 (XX), mô hình này cũng dần mất phương hướng và không mang lại giá trị hiện thực Cùng với những khó khăn thất bại của các ĐCS ở Liên Xô, Đông Âu và ở các nước tư bản, nhiều ĐCS các khu vực khác trên thế giới cũng gặp khó khăn trầm trọng Chỉ có phong trào cộng sản ở Mỹ-latinh trong thập niên 80 là có vai trò to lớn trong cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài, góp phần lật đổ chế độ phản động, thiết lập chế độ dân chủ, trở lại hoạt động hợp pháp, công khai, có vai trò đáng kể trong đời sống chính trị của các nước như Braxin, Achentina, Urugoay, Paragoay, Chilê…
Nhìn chung, hệ thống XHCN trong giai đoạn này suy thoái, khủng hoảng, nhất là ở châu Âu Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do chậm tổng kết lí luận và thực tiễn, giáo điều trong việc áp dụng kinh nghiệm và vận dụng lí luận, chậm đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động của các ĐCS
Phong trào giải phóng dân tộc cũng có những bước phát triển, những thuộc địa cuối cùng của chủ nghĩa thực dân cũ đã giành được độc lập, nhiều nước sau khi giành được độc lập đã thi hành chính sách thân thiện với các nước XHCN hay chịu ảnh hưởng về đường lối cách mạng của các nước XHCN như: Ănggôla, Nam Yêmen, Môdămbích,…Bên cạnh đó, các nước đang phát triển cũng thể hiện tinh thần đoàn kết mạnh mẽ khi cùng nhau lên tiếng chỉ trích, đấu tranh đòi xóa bỏ những quan hệ bất bình đẳng với các nước tư bản phát triển, đòi thiết lập một “trật
tự kinh tế mới” công bằng hơn Tại Hội nghị cấp cao Phong trào Không liên kết họp tại Habana (năm 1979), các nước đã đồng thuận chống lại những hành động gây chiến gây mất ổn định của chủ nghĩa đế quốc
Nhìn chung, phong trào cách mạng thế giới trong giai đoạn này suy thoái, khủng hoảng, nhất là ở châu Âu Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do chậm tổng kết lí luận và thực tiễn, giáo điều trong việc áp dụng kinh nghiệm và
Trang 15vận dụng lí luận, chậm đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động của các ĐCS
Đầu những năm 70 (thế kỷ XX), ở các nước TBCN phát triển đã diễn ra những cuộc đấu tranh của công nhân đòi các quyền dân chủ và dân sinh diễn ra mạnh mẽ Phong trào này có sự gắn bó mật thiết với với cuộc đấu tranh chống chạy đua vũ trang, bảo vệ hòa bình thế giới đang ngày càng phát triển
Thế giới cũng đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ ba, khi khoa học - kỹ thuật dần trở thành một thành tố lực lượng sản xuất trực tiếp Điều này khiến nhiều nước có sự phát triển vượt bậc, tiêu biểu như Nhật Bản và Đức, vươn lên trở thành những trung tâm kinh tế lớn của thế giới TBCN, cạnh tranh trực tiếp với Mỹ
Về quan hệ giữa các nước lớn, Mỹ chủ trương hòa hoãn với cả Liên Xô và Trung Quốc, song tích cực cải thiện quan hệ với Trung Quốc để kiềm chế, cô lập Liên Xô và chống lại ảnh hưởng của Liên Xô tại Châu Á Ngày 1/1/1979, Trung - Mỹ ra thông cáo chung và tuyên bố chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao
Một thời gian ngắn sau khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước được thiết lập, trong chuyến thăm của Phó tổng thống Hoa Kỳ Mondale tới Trung Quốc (tháng 8/1979), Hoa Kỳ cam kết “bảo vệ an ninh cho Trung Quốc nếu Trung Quốc bị Liên
Xô tấn công” và “bất kỳ nước nào tìm cách làm suy yếu Trung Quốc đều là trái với lợi ích của Mỹ”
Trong khi đó, Liên Xô cũng tiến hành khai thác triệt để thất bại của Mỹ sau chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975) và những khó khăn của Trung Quốc để mở rộng ảnh hưởng, kiềm chế Trung Quốc Liên Xô triển khai tàu chiến ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, ủng hộ mạnh mẽ các lực lượng tiến bộ thuộc thế giới thứ
ba, khuyến khích các nước XHCN thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Châu Á, Phi và Mỹ
La tinh Liên Xô cũng dành cho Đông Nam Á sự quan tâm thích đáng sau khi Mỹ giảm bớt sự hiện diện quân sự tại đây Trung Quốc cũng không ngồi yên nhìn hai
cường quốc gia tăng ảnh hưởng, một mặt, tiến hành “cải cách”, “mở cửa”, tiến hành
“bốn hiện đại hóa; mặt khác, tiến hành bao vây, cô lập Liên Xô, Việt Nam, tranh thủ
sự rút lui của Hoa Kỳ để mở rộng ảnh hưởng xuống Đông Nam Á
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam (30/4/1975) đã tác động mạnh mẽ tới khu vực Đông Nam Á, các nước ASEAN đã thay đổi các chính sách đối ngoại với các nước Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, với sự kiện
Trang 16ngày 7/1/1979 ở Campuchia, các nước ASEAN có lý do để lo ngại về những hành động quân sự của Việt Nam tại Campuchia, sợ rằng chiến tranh lan rộng, đe dọa môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực thái độ và phản ứng của các nước ASEAN lúc này là hết sức tiêu cực đối với Việt Nam, bầu không khí khu vực trở nên nóng bỏng và căng thẳng hơn bao giờ hết Sự chia rẽ của hai nhóm nước ở Đông Nam Á
đã được các cường quốc bên ngoài sử dụng triệt để hòng cô lập, bao vây Việt Nam, trong đó có Trung Quốc Đông Nam Á đang chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ ảnh hưởng của Trung Quốc Tại khu vực, Trung Quốc vừa thi hành chính sách chống Việt Nam một cách quyết liệt, vừa ra sức lôi kéo, vỗ về các nước ASEAN, hòng lập một mặt trận chống các nước Đông Dương
1.1.2 Tình hình Việt Nam
Năm 1975, cuô ̣c kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Viê ̣t Nam giành được thắng lợi , đất nước thống nhất , bước vào thời kỳ xây dựng CNXH Về kinh tế, do chiến tranh tàn phá nă ̣ng nề , nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ , nông nghiê ̣p la ̣c hâ ̣u , có dấu hiệu khủng hoảng Để sớm ổn đi ̣nh tình hình kinh tế , chính quyền cách mạng Viê ̣t Nam đã có những biện pháp khuyến khích sản xuất phát triển Sau một thời gian ngắn, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp của Nhà nước và của cả tư nhân đều được tạo điều kiện thuận lợi trở lại hoạt động Những khó khăn về nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế được khắc phục
Chính quyền cách mạng Viê ̣t Nam cũng rất chú ý đến việc khôi phục sản xuất nông nghiệp, vận động nông dân vào các tổ đổi công, giúp đỡ nông dân tích cực tháo gỡ bom mìn, khuyến khích khai hoang, phục hóa, làm thủy lợi Vì thế, nông nghiệp nhanh chóng được khôi phục và bước đầu có sự phát triển, đáp ứng nhu cầu về lương thực cho nhân dân Tuy nhiên, kế hoạch 5 năm (1976 - 1980) không thành công như mong đợi Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể làm ăn thua lỗ, không phát huy được tác dụng, kinh tế tư nhân, cá thể bị ngăn cản, không phát triển được Thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được nhu cầu tiêu dùng và xã hội, nền kinh tế chưa tạo được tích lũy Lương thực, vải mặc và các hàng tiêu dùng khác đều thiếu; thị trường vật giá không ổn định…
Trong kế hoạch 5 năm (1976 - 1980), bình quân một năm tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 1,4%, thu nhập quốc dân tăng 0,4%; trong khi đó, dân số tăng với tốc độ bình quân 2,24% (năm 1980 dân số Việt Nam tăng thêm 6 triệu người so với năm 1975) Kết thúc kế hoạch 5 năm, tất cả 15 chỉ tiêu chủ yếu đều không đạt kế hoạch, thậm chí một số sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp quan trọng không giữ được
Trang 17mức của năm 1976 Đến năm 1980, sản xuất lương thực không đạt chỉ tiêu 21 triệu tấn như Đại hội lần thứ IV đề ra, bình quân lương thực giảm từ 274,4kg/người (năm 1976) xuống 268,2kg/người (năm 1980) [71; 28] Sản phẩm công nghiệp thể hiện một số ngành tiêu biểu không đạt mức kế hoạch Bên cạnh đó, tình trạng lưu thông, phân phối rối ren, cán cân thương mại chênh lệch, nhập khẩu gấp 4 - 5 lần xuất khẩu, thị trường tài chính, tiền tệ không ổn định, lạm phát diễn ra nghiêm trọng, giá cả tăng vọt: năm 1976 tăng 128%, năm 1980 tăng 189,5%, năm 1981 tăng 313,7% [71; 28] Thực trạng kinh tế - xã hội như trên đã làm cho đời sống của nhân dân và cán bộ, lực lượng vũ trang trở nên vô cùng khó khăn Nhiều nhu cầu tối thiểu như lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu thốn trầm trọng, nạn đói diễn ra ở nhiều nơi Mặc dù năm 1979 Nhà nước đã phải nhập hơn 1,2 tấn lương thực nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu của nhân dân Vấn đề lương thực, thực phẩm, việc làm cho người lao động, nhu cầu về giáo dục, y tế… đang đặt ra những yêu cầu đáp ứng cấp bách
Đặc biệt, các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội được tiến hành rất khẩn
trương Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí được kịp thời sử dụng vào công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động Những hoạt động văn hóa lành mạnh được đẩy mạnh ở khắp mọi nơi, đồng thời với việc nghiêm cấm những hoạt động văn hóa phản động, đồi trụy, bài trừ những tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan, mại dâm, ma túy Cuộc sống văn hoá mới dần được xây dựng Hệ thống các trường học lần lượt được mở lại Việc xóa nạn mù chữ được chú trọng, các địa phương đều phát động phong trào bình dân học vụ, mở các lớp bổ túc văn hóa ở khắp nơi Ngành y tế được xây dựng và đẩy mạnh hoạt động Nhiều đội y tế lưu động được phái xuống các thôn, xã tổ chức tiêm phòng, khám chữa bệnh cho nhân dân, kịp thời dập tắt những ổ dịch Công tác vệ sinh phòng bệnh, hoạt động thể dục, thể thao cũng được chú ý phát động thành phong trào quần chúng
Sau khi Việt Nam thống nhất, quan hê ̣ Việt Nam và Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn Tranh chấp và xung đột biên giới xảy ra liên tục trong các năm 1977 và 1978, những cuộc xung đột bắt đầu n gay sau khi giải phóng Sài Gòn Ngày 4/5/1975, một toán quân PônPốt đột kích đảo Phú Quốc, sáu ngày sau quân PônPốt đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu Mối lo ngại này càng tăng thêm vì sự hiện diện của cố vấn Trung Quốc ở Campuchia và Trung Quốc tăng cường viện trợ quân sự cho lực lượng vũ trang của Pôn Pốt
Trong khi chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh xâm lược do tập đoàn Pôn
Trang 18Pốt - Iêngxari gây ra ở biên giới phía Tây Nam Tổ quốc, quân và dân Việt Nam phải đối phó với những hành động chống phá, khiêu khích của các thế lực thù địch ở biên giới phía Bắc Sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc huy động 32 sư đoàn bộ binh (tương đương 60 vạn quân), 550 xe tăng, 450 khẩu pháo, 1.260 súng cối mở cuộc tấn công vào lãnh thổ Việt Nam dọc theo biên giới phía Bắc, từ huyện (nay là thị xã) Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu), bắt đầu cuộc chiến tranh biên giới
Nhìn chung, sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam vừa xây dựng đất nước, khôi phục lại nền kinh tế bị tàn phá trong chiến tranh vừa phải chống la ̣i các t hế lực thù địch bên ngoài
1.1.3 Tình hình Campuchia
Campuchia vừa giành được thắng lợi trong cuô ̣c kháng chiến chống Mỹ thì cũng là lúc cách mạng Campuchia bị phản bội , đánh dấu thời kỳ đen tối trong li ̣ch sử Campuchia Đây là thời kỳ tồn ta ̣i của Campuchia dân chủ d o nhóm đô ̣c tài cực đoan do Pôn Pốt - Iêngxary đứng đầu
Xuất phát từ chủ nghĩa cực đoan, khi có chính quyền trong tay Pôn Pốt quyết đưa đất nước Campuchia đi nhanh tới c hủ nghĩa Cộng sản trong thời gian cực ngắn Chính vì vâ ̣y Pôn Pốt - Iêngxary đã bất chấp mo ̣i tình hình thực tế của kinh tế - xã
hô ̣i Campuchia sau những năm chiến tranh bi ̣ tàn phá nă ̣ng nề đang đòi hỏi cần có những biê ̣n pháp khắc phu ̣c từn g bước Tuy nhiên, Pôn Pốt - Iêngxary vẫn thi hành nhiều đường lối đô ̣i nô ̣i và đối ngoa ̣i phản đô ̣ng
Về kinh tế , Pôn Pốt - Iêngxary chủ trương tập trung vào thế mạnh nông
nghiê ̣p, thực hiê ̣n chủ trương đó , tiến hành lừa dân ra khỏ i các thành phố về nông thôn, biến những người không có ích cho nông nghiê ̣p thành những người nông dân
bị cưỡng bức lao động làm việc trong các công xã Cuô ̣c lùa dân lần thứ nhất diễn ra vào tháng 4/1975, đẩy hơn hai triê ̣u n gười dân Phnô m Pênh, hơn 200.000 người ở thành phố Báttambang và hàng chục nghìn số dân ở các thị trấn khác , tứ c là hơn
mô ̣t nửa dân Campuchia được đưa về nông thôn [83; 330]
Đến tháng 5/1975, Pôn Pốt thực hiện bước thứ hai , xáo trô ̣n dân trong toàn quốc, chuyển dân từ các tỉnh phía Nam và phía Đông về phía Tây Bắc để tập trung nhân lực xây dựng vùng này, làm căn cứ lâu dài, loại trừ khả năng liên kết chống đối của nhân dân và chuẩn bị cuộc chiến tranh xâm chiếm các nước láng giềng
Trong lao đô ̣ng công xã chỉ có pha ̣t không có thưởng, nếu không đa ̣t được đi ̣nh mức thì pha ̣t nhe ̣ là giảm xuất ăn, phạt nặng là đi găng Ăngca nghĩa là phải nhâ ̣n án tử
Trang 19hình vì tội có ý p há hoại công xã Người ốm vì lao đô ̣ng quá sức được nghỉ nhưng không đươ ̣c nhâ ̣n khẩu phần ăn hoă ̣c giảm xuất ăn Mọi thu hoạch đều tập trung vào công xã Sau khi thu hoa ̣ch xong công xã có nhiê ̣m vu ̣ nô ̣p sản phẩm lên cho Ăngca theo quy định bắt buô ̣c Số lươ ̣ng thuế không đươ ̣c giảm nhe ̣ dù tình hình sản xuất nông nghiê ̣p khó khăn hoă ̣c mất mùa do thiên tai gây ra Số thóc còn la ̣i đươ ̣c phân chia cho người lao đô ̣ng qua khẩu phần chết đói hàng ngày trong các bếp ăn tâ ̣p thể
Có thể thấy, Công xã nhân dân của Pôn Pốt là một hệ thống nhà tù, mô ̣t xã hô ̣i kìm kẹp con người Chính những người dân Campuchia còn sống sót lại đã nhận xét:
“Nhà tù của Ăngca thâ ̣t lớn, không có tường rào, không có sích sắt nhưng đi đâu cũng không đươ ̣c” [81; 330] Con người sống trong công xã chỉ có cái quyền duy nhất là lao
đô ̣ng đến kiê ̣t sức và luôn phải nhận lấy cái chết do bị kệt sức vì lao động, vì đói ăn, bị
ốm đau và không có thuốc men điều tri ̣ và bi ̣ giết ha ̣i
Về xã hội, để che đậy hành động của mình và đánh lạc hướng dư luận thế giới, ngày 2/3/1976, Pôn Pốt - Iêngxary bắt nhân dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hô ̣i , nhưng thực chất quốc hô ̣i đó không có thực quyền Chính phủ Campuchia dân chủ thành lập ngày 14/4/1976 cũng chỉ là hình thức Mọi quyền hành đều tập trung trong tay của Pôn Pốt - Iêngxary Dưới thời Campuchia dân chủ, quyền lực được tâ ̣p chung trong tay một tổ chức duy nhất là Ăngca
Trong quá trình giành quyền hành về tay Ăngca , Pôn Pốt đã tấn công t hanh lọc với quy mô lớn Pôn Pốt chia dân làm ba loại để thống trị : Dân loa ̣i mô ̣t là dân sống ở vùng giải phóng trước ng ày 01/01/1975, được cai tri ̣; dân loa ̣i hai sốn g ở vùng giải phóng từ sau ngày 01/01/1975 và được thẳng tay tiêu diệt “dân gửi” (gồm những người bi ̣ dồn từ thành thi ̣ về nông thôn) Với thủ đoa ̣n này Pôn Pốt gây chia
rẽ, thù hằn dân tô ̣c trong nô ̣i bô ̣ nhân dân và dẫn đến cuô ̣c tàn sát lẫn nhau nhằm thủ tiêu mo ̣i khả năng chống đối trong quần chúng nhân dân Đây chỉ là thời kỳ đầu của Campuchia dân chủ , về sau các dân tô ̣c cũng không khác gì nhau , đều bị lao đô ̣ng cưỡng bức, bị hành hạ, bị Ăngca giết ha ̣i Ngoài ra Pôn Pốt - Iêngxary còn thực hiện chính sách đồng hóa, tàn sát với các dân tộc ít người
Dưới chế đô ̣ Campuchia dân chủ , mọi sản phẩm lao động đều nằm trong tay Ăngca, những nhu cầu tối thiểu của con người đều do công xã bao cấp tâ ̣p thể với
mô ̣t tiêu chuẩn chết đói người lao đô ̣ng không có chút sản phẩm dư thừa nào Do
vâ ̣y, viê ̣c giao lưu buôn bán không còn tồn ta ̣i , tầng lớp thương nhân bi ̣ thủ tiêu PônPốt thi hành xỏa bỏ ngân hàng vào tháng 5/1975, hoàn toàn xóa bỏ đồng tiền
Trái ngược với các tầng lớp trên thì binh lính Campuchia dân chủ được ưu
Trang 20đãi tối đa , vì đây là chỗ dựa của Pôn Pốt - Iêngxary Binh lính được tuyển lựa từ thành viên công xã và nhất là từ tầng lớp vô sản lưu manh , sản phẩm của xã hội trước, có những người chưa đến tuổi thành niên Những binh lính trẻ này hầu như không bi ̣ ràng buô ̣c bởi quá khứ cá ch ma ̣ng và không liên quan đến Viê ̣t Nam, họ bị khống chế bằng những kỷ luâ ̣t tàn ba ̣o Người lính nào tỏ ra thương xót người hoă ̣c
sơ ̣ chết thì ngay lâ ̣p tức bi ̣ giết chết, giết được nhiều người sẽ được thưởng và phong chức Binh lính của Pôn Pốt thi đua phát huy sáng kiến , tìm ra các kiểu gi ết người
để tiết kiệm đạn, vì vâ ̣y, tính tàn bạo của quân đội Pôn Pốt tăng lên gấp bội
Binh lính của Pôn Pốt - Iêngxary có hai nhiệm vụ chủ yếu : Thanh trừng các lực lượng chống đối, những người có quan hê ̣ với Viê ̣t Nam , những người từng làm viê ̣c dưới chính quyền Sihanúc, Lonnon và cả những người không có ích cho xã hô ̣i như: trí thức, người làm nghê ̣ thuât hay người tàn tâ ̣t để làm trong sạch xã hội ; thực hiê ̣n xâm lấn các nước láng giềng , chĩa mũi nhọn vào Việt Nam Do đó, tầng lớp binh lính của Pôn Pốt ngày càng tăng về số lượng và tính chất tàn bạo
Về văn hóa, Pôn Pốt cho rằng những gì không phục vụ cho nông nghiệp thì
đều bị thủ tiêu , mă ̣t khác để bắt con người đoa ̣n tuyê ̣t hoàn toàn với quá khứ, với truyền thống, Pôn Pốt tiến hành thủ tiêu nền giáo dục , kể cả văn hóa truyền thống Theo ho ̣ các tầng lớp tri thức ho ̣c sinh, sinh viên, những người làm nghê ̣ thuâ ̣t không những là kẻ ăn bám mà còn là những người hiểu biết, có khả năng phán xét và chống đối la ̣i các đường lối phản động của Pôn Pốt Pôn Pốt - Iêngxary cho rằng nền nông nghiê ̣p hiê ̣n ta ̣i không cần những người có tri thức , mọi văn bằng đều trên đồng ruô ̣ng, những người biết cày bừa giỏi không cần biết đo ̣c và biết viết
Đối với văn hóa truyền thống của nhân dân Campuchia, Pôn Pốt - Iêngxary cho rằng: Văn hóa xã hô ̣i cũng là mô ̣t ngành, mô ̣t công cu ̣ và là mô ̣t sức ma ̣nh của chính quyền cũ Sức ma ̣nh này được củng cố và phát triển từ nghìn năm rồi và nó mang cả
đă ̣c trưng phản đô ̣ng của phong kiến tư sản, chủ nghĩa thực dân mới, các đặc điểm áp bức đều có Văn hóa phổ thông, văn hóa nghê ̣ thuâ ̣t từ cách ăn mă ̣c, trang sức thực chất
là của giai cấp thống trị Vì thế nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ là phải đào bới văn hóa xã hô ̣i cũ [81; 335] Với quan niê ̣m như vâ ̣y, mọi văn hóa truyền thống và tôn giáo đều bi ̣ Pôn Pốt thủ tiêu, nhằm đô ̣c tôn ngự tri ̣ đời sống tâm linh của mo ̣i người, buô ̣c mo ̣i người chỉ tin vào mô ̣t lực lượng thần bí duy nhất là Ăngca
Về đối ngoại, Pôn Pốt thực hiện đóng kín cửa với thế giới bên ngoài và xâm
lươ ̣c các nước láng giềng nhằm trở la ̣i với lãnh thổ của vương quốc Ăngco xưa Chính vì vậy , ngay sau khi giành chí nh quyền trong cả nước, Pôn Pốt đã tiến hành
Trang 21xâm chiếm các nước láng giềng như Viê ̣t Nam , Lào, Thái Lan Với Lào, Pôn Pốt thi hành chính sách hai mặt , mô ̣t mă ̣t thực hiê ̣n lấn chiếm mô ̣t số điểm ở biên giới , mă ̣t khác, tìm cách mua chuộc về k inh tế nhằm lôi kéo Lào , tránh mức tối đa việc quan
hê ̣ với Viê ̣t Nam Với Thái Lan , Pôn Pốt từng tuyên bố Campuchia dân chủ sẽ lấy lại Campuchia Krom của Việt Nam cũng như Surin và các tỉnh khác của Thái Lan
Đối với Việt Nam , tình hình diễn ra cũng vô cùng phức tạ p, ngay từ tháng 5/1975, Pôn Pốt - Iêngxary cho quân đổ bô ̣ lên đảo Phú Quốc và đảo Thổ Chu , tiếp đó là các cuô ̣c hành quân sang biên giới với c hính sách đốt sa ̣ch, giết sa ̣ch, phá sạch trên do ̣c biên giới từ Hà Tiên đến Tây Ninh Cuối năm 1975, Pôn Pốt chiếm các tỉnh khác của Việt Nam như Gia Lai , Kom Tum, Đắc Lắc Cùng với hành đô ̣ng xâm lươ ̣c biên giới, Pôn Pốt còn thực hiện chiến dịch tàn sát và đuổi Việt kiều về nước
Năm 1977, Pôn Pốt tăng cường các đợt xâm lấn vào lãnh thổ Việt Nam , đồng thời Campuchia dân chủ cũng tuyên bố cắt đứt quan hê ̣ ngoa ̣i giao với Viê ̣t Nam và công khai tuyên bố “đụng độ” giữa Campuchia d ân chủ và Viê ̣ t Nam vào ngày 31/12/1977
Vào cuối năm 1978, Pôn Pốt - Iêngxary huy đô ̣ng 19 trong tổng số 23 sư đoàn áp sát biên giới Viê ̣t Nam và tiến sâu vào nô ̣i đi ̣a uy hiếp thành phố Hồ Chí Minh Việt Nam đáp trả bằng những cuô ̣c phản kích chớp nhoáng, tiêu diệt gần như toàn bô ̣ sinh lực đi ̣ch trên lãnh thổ Viê ̣t Nam Chiến thắng của Q uân đô ̣i nhân dân viê ̣t Nam đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân Campuchia trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêngxary, giành chính quyền về tay nhân dân
1.1.4 Hoạt động của Quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Việt Nam ở Campuchia trước năm 1979
Tháng 8/1945, trong khi cách ma ̣ng hai nước Viê ̣t Nam và Lào đều giành đươ ̣c thắng lợi thì ta ̣i Cam puchia, chính quyền vẫn chưa về tay nhân dân Sau cuô ̣c khởi nghĩa Nam Kỳ (tháng 11/1945), xứ ủy và các cơ sở Đảng ở Nam bô ̣ và Campuchia đều bi ̣ thực dân Pháp và phát xít Nhâ ̣t ra sức khủng bố và bắt bớ , nhiều người hoa ̣t đô ̣ng cách ma ̣ng bi ̣ đày ra Côn Đảo , các cơ sở Đảng bị tan rã , số còn la ̣i nằm im không hoa ̣t đô ̣ng , các chỉ thị , nghị quyết của Trung ương không được triển khai thực hiê ̣n Do đó , khi thời cơ cách ma ̣ng xuất hiê ̣n , cách mạng Campuchi a không có sự lãnh đa ̣o, chỉ đạo của Đảng, các cơ sở quần chúng không được củng cố
và phát triển nên không có hoạt động gì đáng kể , vì vậy đã bỏ qua cơ hội giành chính quyền về tay giai cấp vô sản
Trang 22Campuchia ở vào vi ̣ tr í quan trọng của tuyến phòng thủ biên giới phía Tây Nam của Viê ̣t Nam , viê ̣c giúp đỡ Campuchia có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam , có thể tự cứu lấy mình , tránh các cuộc đánh chiếm bất ngờ của thực dân Từ tháng 8/1945, Viê ̣t Nam đã giao cho các cơ sở Đảng ở đi ̣a phương trực tiếp giúp đỡ các tổ chức kháng chiến của Campuchia Vùng Tây Bắc Campuchia do các cán bộ Đảng ở Thái Lan trực tiếp chỉ đạo và tổ chức lực lượng vũ tran g Viê ̣t Kiều giúp đỡ Campuchia xây dựng cơ sở và phát đô ̣ng nhân dân Khơme đấu tranh
vũ trang Ở phía Tây Nam , Ủy ban kháng chiến Nam Bộ chịu trách nhiệm chỉ đạo Quân khu 7, 8, 9 tổ chức hoa ̣t đô ̣ng giúp đỡ Campuchia Do đó, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bô ̣ đã cử mô ̣t phái viên đến Phnômpênh gă ̣p Chính phủ Sơn Ngo ̣c Thành để bàn bạc phối hợp chuẩn bị chống Pháp và bảo vệ độc lập hai nước Đồng thời cử mô ̣t số cán bô ̣ do ông Huỳnh Chí Ma ̣nh (tứ c Hai Lực) phụ trách lên PhnômPênh và mô ̣t số tỉnh móc nối la ̣i cơ sở cách ma ̣ng Tình hình lúc này hết sức khẩn chương vì thực dân Pháp đang gây hấn ở Nam Bô ̣ và đánh chiếm PhnômPênh Trước tình hình đó , Chính phủ Việt Nam đã gi úp ông Pasuôn và Kim Chuôn thành
lâ ̣p Ủy ban Cao Miên đô ̣c lâ ̣p vào cuối năm 1945 dựa vào vùng Trí Tiên Châu Đốc của Việt Nam để hoạt động , huấn luyê ̣n được 100 thanh niên Khơme về nước hoa ̣t
đô ̣ng Tuy nhiên , sau đó thực dân Pháp đã tấn công lên phía Tây Nam của Viê ̣t Nam, Ủy Ban Cao Miên chưa kịp đưa các chiến sĩ về nước do chưa có các cơ sở cách mạng nhanh chóng tan rã
Năm 1946, Viê ̣t Nam bắt đầu thành lâ ̣p Ban Hải ngoa ̣i - cơ quan đa ̣i diê ̣n của Chính phủ Trung ương Viê ̣t Nam ở Thái Lan , từ đó tổ chức mô ̣t con đường tiếp tế liên la ̣c từ Thái Lan qua Campuchia về Nam Bô ̣ (lúc này Chính phủ Thái Lan do Prathít đứng đầu có tình cảm và ủng hộ Chính phủ Việt Nam ) Giữa năm 1946, Việt Nam đã tổ chức được các đơn vi ̣ vũ trang Viê ̣t kiều và mua vũ khí từ Thái Lan về Nam Bô ̣ Mùa Thu năm 1946, các đoàn Cửu Long 1, Cửu Long 2 hành quân bí mật qua Campuchia về nước Trên do ̣c đường hành quân có tuyên truyền cho nhân dân
và xây dựng được một số cơ sở trên đất Campuchia Nhìn chung trong thời gian này, Viê ̣t Nam đã đưa được mô ̣t số lực lượng và cán bô ̣ vào đất Campuchia xây dựng cơ sở kháng chiến chống Pháp, nhưng vẫn còn gă ̣p nhiều khó khăn vì chưa ta ̣o đươ ̣c cơ sở ta ̣i đây
Bước sang năm 1947, mục tiêu và nhiệm vụ của lực lượng vũ trang ở Campuchia đươ ̣c xác đi ̣nh rõ ràng và cu ̣ thể hơn Đó là tâ ̣p trung vào xây dựng , phát triển cơ sở cách ma ̣ng , phát động p hong trào kháng chiến Khơme Isearak - mô ̣t
Trang 23phong trào của quần chúng Khơme đầu tiên trong li ̣ch sử Campuchia đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp xâm lược
Do yêu cầu phát triển của tình hình Campuchia, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ chính thức giao cho Ban Ngoại vụ Nam Bộ chịu trách nhiệm chỉ đạo làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, Ban đã xúc tiến viê ̣c củng cố chính quyền và Mă ̣t trâ ̣n Isearak từ cơ sở đến tỉnh khu Ủy ban kháng chiến Nam Bộ và các khu đã điều đô ̣ng hàng trăm cán bô ̣, quân tình nguyê ̣n lên Campuchia giúp xây dựng chính quyền từ xã đến tỉnh, khu và mở các trường , lớp đào ta ̣o cán bô ̣ cách ma ̣ng Theo báo cáo của ông Phạm Văn Bạch Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bô ̣: trong 6 tháng đầu năm
1949, đã đưa đươ ̣c 3 tiểu đoàn chi viê ̣n cho chiến trường Campuchia [7; 18]; nhờ đó, phong trào cách ma ̣ng Campuchia bước đầu được hình thành và phát triển Đến năm 1950, các khu giải phóng liên tiếp đ ược mở rộng nối liền khoảng 70.000 km, chiếm non mô ̣t nửa diê ̣n tích Phía Tây được giải phóng , lực lượng cách ma ̣ng làm chủ được 2/3 Battàombong, 3/5 Bursát, phía Đông giải phóng Binot , Saon, Salong, phía Đông Nam và Tây Nam vùng g iải phóng gồm các tỉnh Kvairieng , Kondan, Preyven, Tà Kheo [7; 18]
Bước sang năm 1950, Viê ̣t Nam tăng cường cán bô ̣ và cử Lê Đức Tho ̣, Lê Duẩn (kiêm Bí thư Xứ ủy Nam Bô ̣ ) trực tiếp chỉ đa ̣o kháng chiến Campuchia Từ đó, mọi
mă ̣t công tác lãnh đa ̣o của Campuchia được đi vào thống nhất Sau Hô ̣i nghi ̣ tháng 3/1950, ban cán sự Đảng Campuchia đươ ̣c thành lâ ̣p gồm 9 người, 7 người chính thức
và 2 dự khuyết trong đó có 1 người Khơme do ôngThanh Sơn làm Bí thư kiêm chính
ủy mặt trận, ông Bỉnh làm phu ̣ trách quân sự Ngay sau đó đã chỉ thi ̣ thành lâ ̣p Ban cán sự các khu Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam, đồng thời điều đô ̣ng mô ̣t số cán bô ̣ có năng lực phu ̣ trách các khu Sau 6 tháng thực hiện nghị quyết, công tác phát triển Đảng có những chuyển biến rõ rê ̣t, phát triển được 300 Đảng viên người Khơme tăng gấp 10 lần
so với năm 1950 [7; 20] Để thống nhất phong trào và lực lượng đẩy ma ̣nh kháng chiến Viê ̣t nam giúp Campuchia thành lâ ̣p Ủy ban dân tô ̣c giải phóng Trung ương (chính phủ cách mạng lâm thời) và mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc Campuchia (mă ̣t trâ ̣n Khơme Isarak) Từ đây phong trào cách ma ̣ng Campuchia ngày càng phát triển sâu
rô ̣ng thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân và mở rô ̣ng được nhiều vùng giải phóng
Trước tình hình cách ma ̣ng ngày càng phát triển ở các nước , Đại hô ̣i toàn quốc lần thứ 2 Đảng Cô ̣ng sản Đông Dương ho ̣p tháng 2/1951, ra nghi ̣ quyết: Củng cố Đảng bô ̣ Campuchia tiến tới xây dựng ĐNDCM Campuchia và xây dựng Đảng
bô ̣ Đảng Lao đô ̣ng Viê ̣t Nam trong lực lượng Quân tình nguyê ̣n ở Campuchia Ngày
Trang 2426/8/1951, Ban vận đô ̣ng thành lâ ̣p Đảng Campuchia Nhân dân Cách ma ̣ng chí nh thức thành lâ ̣p ĐNDCM Campuchia Ban do ông Sơn Ngo ̣c Minh làm Chủ ti ̣ch đã
vâ ̣n đô ̣ng quần chúng nhân dân tham gia cách ma ̣ng Do đó số lươ ̣ng đảng viên trong nhân dân ngày càng phát triển từ 300 người (năm 1950) đã tăng lên 1.672 đảng viên (tháng 6/1954) người Khơme với 135 chi bô ̣ xã và 150 chi bô ̣ bô ̣ đô ̣i , cơ quan [7; 30]
Để tăng cường tình đoàn kết giữa ba nước Đông Dương trong cuô ̣c kháng chiến chống thực dân Pháp , ngày 11/3/1951, Hô ̣i nghi ̣ Nhân dân ba nước Đông Dương đươ ̣c tổ chức, quyết đi ̣nh thành lâ ̣p Mă ̣t trâ ̣n liên minh 3 nước Viê ̣t - Miên - Lào
Dưới sự lãnh đa ̣o của ĐNDCM, Đảng Lao Đô ̣ng Viê ̣t Nam ở Campuchia , trong những năm 1952 - 1954, phong trào kháng chiến Khơme Issarak cùng với sự lãnh đạo của ông Sơn Ngọc Thành đã phát triển vượt bậc Đến tháng 6/1954, chính quyền Campuchia đã kiểm soát được 2 triê ̣u dân, làm chủ một vùng đất đai rộng lớn, chiếm 2/3 diê ̣n tích đất nước, thiết lâ ̣p hê ̣ thống chính quyền từ Trung ương đến cấp
xã, ấp, Mă ̣t trâ ̣n Khơme Issarak có hơn 500.000 hô ̣i viên có cơ sở rô ̣ng rãi trong cả nước và tổ chức hê ̣ thống từ Trung ương đến cơ sở
Đối với việc xây dựng các lực lượng vũ trang , thời kỳ đầu của cuộc tiến công
và nổi dậy năm 1948 - 1949, lực lượng vũ trang tâ ̣p trung ở Campuchia mới chỉ có 3.000, trong đó có hơn 400 người Khơme với 20 trung đô ̣i Đến năm 1951, sau khi
có đường lối , phương châm cu ̣ thể , lực lượng Campuchia đã phát triển lên thành 3 thứ quân Lực lượng này vừa chiến đấu vừa sát cánh bên Quân tình nguyê ̣n Viê ̣t Nam tiếp tu ̣c tiến công đi ̣ch thúc đẩy phong trào du kích phát triển rô ̣ng rãi , năm
1952 có 59 trung đội thì đến năm 1954 đã xây dựng được 6 đa ̣i đô ̣i tâ ̣p trung khu và tỉnh gồm một nửa là người Khơme, bô ̣ đô ̣i đi ̣a phương huyê ̣n có 70 trung đô ̣i và hơn 50.000 dân quân du kích [7; 37]
Cuô ̣c chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đối với ba nước Đông Dươn g những năm 1953 - 1954 đã bước vào giai đoa ̣n kết thúc Trong chiến cuộc Đông Xuân năm 1953 - 1954, sự kết hơ ̣p giữa các chiến trường Bắc Bô ̣ , Trung - Nam Bô ̣
và Miên khá chặt chẽ Đầu năm 1954, Viê ̣t Nam chi viê ̣n mô ̣t bô ̣ phâ ̣n quân c hủ lực từ vùng Ha ̣ Lào tiến vào vùng Đông Bắc Campuchia trực tiếp hỗ trợ cho phong trào tiến công nổi dâ ̣y của nhân dân đi ̣a phương , giải phóng Viêngxai , Kratie và phối
hơ ̣p với lực lượng chiến đấu Campuchia giải phóng phía Đôn g sông Mê Kông , chuẩn bi ̣ tiến tới giải phóng các tỉnh trung tâm như Preyven , Kondan
Trang 25Thắng lơ ̣i Điê ̣n Biên Phủ của Viê ̣t Nam buô ̣c Pháp phải ngồi vào bàn đám phán tại Hội nghị Giơnevơ Tại đây, các nước tham gia Hội nghị phải cam kết thừa nhâ ̣n chủ quyền, đô ̣c lâ ̣p, thống nhất của ba nước Viê ̣t Nam - Lào - Campuchia Sau khi Hiê ̣p đi ̣nh Giơnevơ được ký kết , ba nước Viê ̣t Nam , Lào và Campuchia hoàn toàn được độc lập Campuchia dưới sự lãnh đa ̣o của Sihanouk đã chủ trương xây dựng mô ̣t nước theo con đường trung lâ ̣p Viê ̣t Nam đã giúp đỡ Campuchia sắp xếp các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương , sau đó chuyển Quân tình nguyê ̣n về khu vực Nam Bô ̣
Về phía Campuchia, sau khi đi theo con đường trung lâ ̣p đã ta ̣o điều kiê ̣n cho phái đoàn MAAG (viê ̣n trợ) của Mỹ vào Campuchia (tháng 5/1955) và đặt cấp tổng
đa ̣i diê ̣n của Chính quyền Sài Gòn (tháng 6/1956), ký hiệp ước viện trợ với Trung Quốc (tháng 6/1956) Campuchia trở thành nơi tranh chấp quyết liê ̣t giữa các lực lươ ̣ng khác nhau Tháng 3/1970, dưới sự giúp đỡ của Mỹ , Lonnon, Sirik Matak đã làm cuộc đảo chính lật đổ Sihanouk , thực hiê ̣n các chính sách nhằm chia rẽ dân tô ̣c hai nước Việt Nam và Campuchia , đồng thờ i đàn áp , khủng bố những người biểu tình chống đảo chính , mô ̣t không khí sợ hãi bao trùm trong quần chúng nhân dân Tình hình ngày càng cấp bách , Bô ̣ Chính tri ̣ Viê ̣t Nam đã cử Pha ̣m Văn Đồ ng sang Bắc Kinh gă ̣p Sihanouk bàn kế hoa ̣ch tác chiến Bô ̣ Chính tri ̣ và Quân ủy Trung ương cũng chỉ đa ̣o lực lượng B 2, B3 và Quân khu 5 giúp Campuchia tổ chức và củng cố lực lượng Quân ủy Trung ương cũng đã lựa cho ̣n các cán b ộ chiến sĩ biết tiếng Khơme và hiểu biết sơ đi ̣a hình Campuchia , tổ chức thành các đô ̣i vũ trang để đưa vào Campuchia nhằm tuyên truyền và trinh sát , phát động quần chúng nhân dân chống chính quyền Lonnon ủng hô ̣ Sihanouk Tính đến tháng 6/1970, lực lượng vũ trang đã có ở Prayveng 6 đô ̣i, Kratie 7 đô ̣i, Mondoikiri 9 đô ̣i, Đông Bắc 11 đô ̣i, Kompong Chàm 4 đô ̣i Ngoài ra, Sư đoàn 9 cũng mở chiến dịch tiến công quân địch
ở Soài Riêng và Preyveng mở được một vùng giải phóng lớn trên đất Khơme , từ biên giới Viê ̣t Nam cho đến sát bờ sông Mê Kông , từ nam đường số 1 đến tây đường số 2 Đến tháng 6/1970, Quân tình nguyê ̣n Viê ̣t Nam đã giúp Campuchia đánh ba ̣i cuô ̣c phản công chiến lược gần 1 vạn quân của Mỹ và Quân đội Sài Gòn , giải phóng hoàn toàn 5 tỉnh (Ratannakiri, Strung treng , Mondolkiri, Kratie, Preahvihia), giải phóng một phần các tỉnh Soài riêng , Prayveng, Kombomcham, takeo, Kampot, trong đó có 50 huyê ̣n đươ ̣c gi ải phóng hoàn toàn , chiếm 65 huyê ̣n lỵ, thị trấn với hơn 3 triê ̣u dân [6; 23] Bước vào mùa mưa năm 1970, cách mạng Campuchia đã tiêu diê ̣t được 21.000 quân của đối phương ; kết hợp với Quân tình
Trang 26nguyê ̣n Viê ̣t Nam trong cuô ̣c phản công C hen La II (1971 - 1972) của quân đội Lonnon, quân đội 2 nước đã tiêu diê ̣t gần 2 vạn tên, đánh thiê ̣t ha ̣i nă ̣ng 3 sở chỉ huy Nhằm cứ u vãn tình hình , Mỹ đã tăng cường viện trợ cho Lonnon thực hiện Khơme hóa chiến tranh vào năm 1973 - 1975 Công tác giúp Campuchia vẫn được Viê ̣t Nam thực hiê ̣n mô ̣t cách đều đă ̣n , trên nhiều chiến trường như : Xiêm Riê ̣p , Kompongthơm, Kompongchàm, Biển Hồ và Đường 5, Đường 1 Trên đà thắng lợi , lực lượng Campuchia xiết chă ̣t vòng vây và mở cuô ̣c tấn công ồ a ̣t vào Phnompênh , Lonnon thiê ̣t ha ̣i nă ̣ng và phải cha ̣y ra nước ngoài Ngày 17/4/1975, Phnompênh đươ ̣c hoàn toàn giải phóng
Song song với viê ̣c tác chiến tiêu diê ̣t đi ̣ch , Quân tình nguyê ̣n Viê ̣t Nam còn giúp Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang và tổ chức quần chúng Giải phóng đến đâu các chuyên gia quân sự đều phái một số tổ vũ trang xuống xã , ấp tổ chức lực lượng, các đội du kích Trong năm 1970, Quân tình nguyê ̣n Viê ̣t Na m đã bàn giao cho Campuchia đươ ̣c 5d, 36c, 127b, 7a (bằng với 9.399 người) [7; 30] Đến năm 1971, tiếp tu ̣c bàn giao cho Campuchia 3 tiểu đoàn, 6 đa ̣i đô ̣i, 3 trung đô ̣i, 1 tiểu đô ̣i (bằng với 1.748 người), sang năm 1972, bàn giao tiếp 4 tiểu đoàn, 7 đa ̣i đô ̣i (bằng vớ i 2.588 người) [7; 36] Đến năm 1973, Viê ̣t Nam giúp đào ta ̣o thêm 2 trung đoàn hoàn chỉnh cho Campuchia (1 trung đoàn bô ̣ binh và 1 trung đoàn pháo binh ) Lực lượng du kích cũng phát triển mô ̣t cách nhanh chóng, năm 1970 là 16.827 người, đến năm 1971 đã tăng lên 28.663 du kích [7; 38] Ngoài ra, Viê ̣t Nam còn giúp Campuchia xây dựng hệ thống các trường , lớp đào ta ̣o , bồi dưỡng cán bô ̣ chỉ huy, cán bộ tham mưu binh chủng và các chuy ên ngành
Mă ̣t khác, công tác hâ ̣u cần cũng được Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam đảm bảo cho chiến trường Campuchia Viê ̣t Nam tổ chức các đoàn hâ ̣u cần như C10, C20, C30, C40, đoàn 340, đoàn 500, đoàn 770, với hê ̣ thống hâ ̣u cần này Việt Nam đã chi viện cho Campuchia 43.210 tấn ga ̣o, 2.968 tấn muối, 345 tấn
đa ̣n dược (năm 1971); 294 tấn (năm 1973), 3 tấn (năm 1974), 236 tấn (năm 1975) [7; 40] Hàng quân sự cũng được Việt Nam vận chuyển qua Lào v ào Campuchia từ năm 1972 - 1975 với con số lên đến 4.266 tấn súng; đồng thời nối liền các tuyến đường sông với đất liền lên các quân khu , tạo thành hành lang vận chuyển chi viện cho Campuchia [7; 40]
Tuy nhiên , sau khi giành được đô ̣c lâ ̣p vào tháng 4/1975, cuô ̣c cách ma ̣ng của nhân dân Campuchia đã bi ̣ phản bô ̣i Tâ ̣p đoàn Pôn Pốt - Iêngxary tấn công biên giới Tây Nam của Viê ̣t Nam Pôn Pốt thực hiê ̣n các cuô ̣c thanh trừng nô ̣i bô ̣ trong
Trang 27Đảng, gây ra các cuô ̣c đàn áp đẫm máu không chỉ với nhân dân Campuchia mà còn với Viê ̣t kiều Mă ̣t khác, Pôn Pốt liên tiếp đưa quân xâm nhâ ̣p vào các tỉnh Hà Tiên , Tây Ninh, đổ quân lên Phú Quốc sát ha ̣i nhân dân Viê ̣t Nam (tháng 5/1975), chiếm đảo Thổ Chu bắt đi 500 người (ngày 10/5/1975)… Hành đô ̣ng gây hấn của Pôn Pốt buô ̣c Viê ̣t Nam phải thực hiê ̣n các cuô ̣c phản công tiêu diê ̣t 3 tiểu đoàn , bắt sống
615 tên địch, thu toàn bô ̣ vũ khí [7; 8] Tại đất nước Campuchia , tình hình chính trị ngày càng căng thẳng , nhiều cán bộ , đảng viên đã lánh na ̣n sang Viê ̣t Nam và yêu cầu đươ ̣c giúp đỡ như ông Buthoong và các lãnh đạo trong chính quyền huyê ̣n
Vươnsai cùng 2.000 dân năm 1977, ở Tây Nam có ông Mia Krốt , Đông Nam có các ông Van Xum, Hum Xen “Giúp bạn là tự giúp mình” , theo yêu cầu của lực lượng cách mạng Campuchia, Viê ̣t Nam quyết đi ̣nh đưa Quân tình nguyê ̣n vào Campuchia lần thứ 3 Cùng với đó, Bô ̣ Tư lê ̣nh Quân khu 7 đã mời mô ̣t số cán bô ̣ ly khai sang Việt Nam tập trung lại và mở lớp huấn luyện để hoạt động vũ trang tuyên truyền Ngày 12/5/1978, cách mạng Campuchia đã xây dựng được đơn vị chiến đấu đầu tiên gồm 125 người lấy tên là lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Cam puchia do Hun xen làm chỉ huy [7; 13] Trong khi đó , Quân khu 5 cũng bồi dưỡng cán bộ và xây dựng lực lượng vũ trang cho Campuhia Tháng 6/1978, Quân ủy Trung ương đã thành lập B68 tổ chức Đoàn chuyên gia và quân sự giúp cách ma ̣ng Campuchia
Trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang , Quân khu 7 đã xây dựng cho Campuchia 21 tiểu đoàn bô ̣ binh , 135 tiểu đô ̣i giao cho quân khu 9 để thành lập 5 tiểu đoàn gồm 93 đô ̣i vũ trang tuyên truyền , 7 đô ̣i công tác Quân khu 5 xây dựng đươ ̣c 1 tiểu đoàn bô ̣ binh, 5 đô ̣i công tác [7; 22] Đến ngày tổng tiến công, Viê ̣t Nam giúp Campuchia xây dựng được 27 tiểu đoàn bô ̣ binh và 106 đô ̣i công tác [7; 22] Để đào ta ̣o đô ̣i ngũ cán bô ̣ chỉ huy , Quân khu 7 cũng mở lớp đào ta ̣o cho 202 hạ sĩ quan (từ ngày 3/7 đến ngày 3/8/1978) Sau đó đào ta ̣o cho Campuchia nhiều cán bô ̣ chỉ huy khác nhau : 46 cán bộ cấp tiểu đoàn , 137 cán bộ cấp đại đội , 391 cán bộ cấp trung đô ̣i [7; 22] Mă ̣t khác , để giúp Campuchia có địa bàn hoạt động cách mạng trong nước, Quân khu 5 đã đánh đi ̣ch xâm lấn và mở rô ̣ng căn cứ ở hai bên Nam - Bắc đường số 19 kéo dài đến Sơn Nhai Quân khu 7 là chiến trường trọng điểm đã giúp Campuchia loạ i khỏi vòng chiến đấu 8.000 tên [7; 23] giải phóng 3 huyê ̣n Ta nung, Mi mốt và Snun , mở rô ̣ng 1.300km2, sau đó giúp Campuchia củng cố vững chắc huyê ̣n Snun làm căn cứ cách ma ̣ng , tại đây đã ra mắt Mặt trận dân tộc đoàn kết cứu nước Campuchia (ngày 3/12/1978) Từ đây, phong trào cách ma ̣ng Campuchia ngày càng phát triển rộng khắp Từ năm 1978 đến năm 1979, Quân tình nguyê ̣n
Trang 28Viê ̣t Nam phối hợp với quân cách ma ̣ng Campuchia tiến công Pôn Pốt trên nhiều chiến trư ờng, đă ̣c biê ̣t vào ngày 06/01/1979, Quân tình nguyê ̣n Viê ̣t Nam và lực lượng cách mạng Campuchia nước tấn công vào Thủ đô Phnôm Pênh , cơ quan đầu não của Pôn Pốt , đến ngày 07/01/1979, Phnôm Pênh đươ ̣c hoàn toàn giải phóng Tuy nhiên, mô ̣t số các nhân vâ ̣t chủ chốt của Pôn Pốt - Iêngxary như Khiêu Xăm Phon cha ̣y thoát được sang Thái Lan và di chuyển đến Bắc Kinh , mô ̣t số khác như
Tà Móc ở lại trong nội địa tổ chức chống lại chính quyền cách mạng Hơn nữa , chính quyền cách mạng Campuchia lúc này chưa đủ mạnh để đảm đương mọi công việc trong một đất nước bị tàn phá đến tận gốc, nên Quân tình nguyê ̣n và chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam tiếp tu ̣c ở lại và giúp đỡ cách mạng Campuchia về mọi mặt
1.2 Lãnh đạo Quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam ở Campuchia
1.2.1 Xây dựng bộ máy lãnh đạo, chỉ huy đối với Quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam ở Campuchia
Trước nguy cơ cả dân tộc Campuchia bị diệt chủng do chế độ Pôn Pốt - Iêngxary tiến hành hàng loạt cuộc thanh trừng nội bộ diễn ra ngày càng tàn bạo và việc lực lượng Pôn Pốt liên tục đánh lén , xâm chiến biên giới Viê ̣t Nam và đáp lại
sự kêu gọi giúp đỡ của lực lượng cách ma ̣ng Campuchia Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam chủ trương tổ chức công tác chuyên gia giúp Campuchia xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang để phối hợp chiến đấu Nhằm chỉ đạo công tác giúp cách mạng Campuchia có hiê ̣u quả, tháng 4/1978, Bô ̣ Quốc phòng quyết đi ̣nh thành lâ ̣p đơn vị chuyên trách giúp Campuchia về quân sự (mang mâ ̣t danh 478), đồng thời cho phép các Quân khu 5, 7, 9 mỗi nơi thành lâ ̣p mô ̣t phòng chuyên giúp cách ma ̣ng Campuchia
Về xây dựng tổ chức Đảng, Quyết định của Ban Bí thư Số 39-QĐ/TW, ngày
15/5/1979 quy định:
Thứ nhất, Đảng bộ Đoàn 478 (chuyên gia quân sự) trực thuộc Quân uỷ Trung
ương, do Quân uỷ Trung ương chịu trách nhiệm về xây dựng Đảng bộ cả về chính trị,
tư tưởng và tổ chức (Đảng bộ không gồm đảng viên là chuyên gia quân sự ở các tỉnh, huyện và ở các lực lượng vũ trang địa phương của Campuchia)
Thứ hai, các đảng viên công tác thuộc Ban B.68 ) (đoàn chuyên gia Viê ̣t Nam ta ̣i
Campuchia), A.40 (chuyên gia kinh tế), các đoàn chuyên gia cấp tỉnh, tổ chuyên gia cấp huyện lập một đảng bộ thống nhất trực thuộc Ban Bí thư Trung ương Đảng, gọi là Đảng
bộ chuyên gia giúp Campuchia Đảng uỷ chung toàn Đảng bộ chuyên gia trước mắt sẽ
Trang 29do Ban Bí thư Trung ương chỉ định, sau sáu tháng sẽ bầu lại
Đoàn có nhiê ̣m vu ̣ giúp Campuchia xây dựng các tổ chức Đảng , chăm lo công tác tư tưởng , giáo dục chính trị , thường xuyên bồi dưỡng , nâng cao tư cách , trách nhiệm người Đảng viên góp phần nâng cao sức chiến đấu , năng lực của Đảng Cách mạng Campuchia
Về tổ chức lực lượng, các thành viên trong đoàn do Ban B.68 và Ban Tổ chức
Trung ương lựa chọn và sắp xếp Đoàn chuyên gia cấp tỉnh thuộc sự quản lý và chỉ đạo chung của Ban B.68, đồng thời chịu sự chỉ đạo về mặt công tác kinh tế của A.40 và sự chỉ đạo về mặt công tác quân sự của Đoàn 478 Các quân khu và các tỉnh Việt Nam được Trung ương phân công giúp các tỉnh ở Campuchia có nhiệm vụ giúp đỡ đoàn chuyên gia cấp tỉnh về chi viện vật chất, bổ sung nhân viên phục vụ và các phương tiện cần thiết theo yêu cầu của Ban A.40 và Ban B.68 Đoàn chuyên gia có nhiê ̣m vu ̣ phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, hướng dẫn kế hoạch hoạt động, cung cấp phương tiện vật tư, bảo đảm hậu cần Các đơn vị quân đội hoạt động trên các tỉnh ở Campuchia được Tiền phương Bộ Quốc phòng và các quân khu giao nhiệm vụ phát động quần chúng, xây dựng chính quyền cách mạng [39; 6]
Triển khai Nghi ̣ quyết của Đảng đề ra , ngày 21/4/1978, Quân ủy Trung ương
ra Quyết định số 34/QĐ-QU thành lập Ban phụ trách công tác Z (Campuchia), lấy
bí danh là Ban 10, do Trần Văn Quang - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng , Phó Tổng tham mưu trưởng làm Trưởng ban ; các ông Trần Văn Phác - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đan Thành - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần làm Ủy viên Ban 10
có nhiệm vụ:
Một là , trên cơ sở đường lối, chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng và Thường vụ Quân ủy Trung ương về công tác đối với cách mạng
Campuchia, tiến hành tổ chức , quản lý, giáo dục những anh em Campuchia có điều kiện về chính trị , sức khỏe trở thành lực lượng vũ trang cách mạng và những người
có ích cho sự nghiệp cách mạng Campuchia và tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia
Hai là , nghiên cứu đề xuất với Quân ủy Trung ương phương hướng, kế
hoạch công tác giúp đỡ lực lượng Campuchia thực hiện nhiệm vụ
Để thực hiện các nhiệm vụ trê n, Ban 10 được phép tổ chức một cơ quan giúp việc (với danh nghĩa là một đoàn, mang phiên hiệu Đoàn 478), gồm các cán bộ cao cấp, trung cấp phụ trách công tác huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị và bảo đảm hậu cần Quân ủy Trung ương yêu cầu Đoàn chuyên gia 478 phải thực hiện nghiêm
Trang 30chỉnh phương châm tôn trọng độc lập chủ quyền, đoàn kết hữu nghị, chống tư tưởng nước lớn, chống thái độ tự cao, thiếu khiêm tốn, thiếu tin tưởng ở Campuchia Phải đề cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của Campuchia
Cùng với việc hình thành Đoàn 478 giúp cách mạng Campuchia, các Quân khu 5, 7, 9 cũng được Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ giúp Campuchia xây dựng lực lượng Xác định Quân khu 7 là một địa bàn trọng điểm trong công tác xây dựng lực lượng giúp Campuchia, ngày 22/5/1978, Quân ủy Trung ương cử ông Trần Văn Quang, Trưởng ban 10 vào trực tiếp truyền đạt chủ trương giúp Campuchia Quân ủy Trung ương xác định: Nhiệm vụ giúp Campuchia của Quân khu 7 là xây dựng lực lượng vũ trang, yêu cầu nhanh nhưng phải bảo đảm thật chắc về mặt chính trị và bảo đảm được bí mật Quân ủy Trung ương nhấn mạnh: Phải xây dựng lực lượng này đúng với bản chất chính trị của một lực lượng vũ trang cách mạng chân chính, một quân đội kiểu mới theo nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó phải
đạt được ba yêu cầu: Thứ nhất, làm cho lực lượng vũ trang Campuchia nhận thức đúng kẻ thù trong và ngoài nước; thứ hai, phải có quyết tâm cách mạng, dũng cảm
chiến đấu và đoàn kết thống nhất nội bộ, hoà hợp dân tộc trong nội bộ Campuchia,
giữa lực lượng trong nước và đang ở ngoài nước; thứ ba, phải có tinh thần đoàn kết
quốc tế vô sản , đặc biệt phải giữ vững tình đoàn kết keo sơn giữa ba nước Đông Dương
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giúp cách mạng Campuchia, ngày 16/6/1978,
Bộ Chính trị ra Quyết định số 20/BCT thành lập Ban công tác Z Trung ương (Ban B.68) do ông Nguyễn Xuân Hoàng, Phó viện trưởng Viện Khoa học quân sự Việt Nam làm Trưởng ban Các ông Trần Văn Phác, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Doãn Tuế, Tổng tham mưu phó; Đan Thành, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần; Nguyễn Hữu Tài, Vụ trưởng Ban Đối ngoại Trung ương làm Phó ban Nhiệm vụ chủ yếu của Ban B.68 là:
Thứ nhất: Theo dõi, nghiên cứu tình hình Z (Campuchia) về mọi mặt, báo
cáo và đề xuất với Bộ Chính trị quyết định đường lối, chủ trương, chính sách giúp
đỡ cách mạng Campuchia
Thứ hai: Triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy
Trung ương giúp xây dựng các lực lượng vũ trang Campuchia và đề xuất với trên về phương hướng, kế hoạch công tác giúp đỡ các lực lượng Campuchia hoạt động
Thứ ba: Giúp Campuchia đào tạo cán bộ, thành lập các ban vận động cách
mạng ở từng địa phương, từng địa bàn, tiến tới thống nhất dưới sự chỉ đạo của Ban
Trang 31vận động cách mạng chung, đồng thời nghiên cứu đề xuất ý kiến giúp xây dựng các tổ chức quần chúng, các tổ chức Đảng khi có điều kiện
Thứ tư : Thực hiện chi viện vật chất cho Campuchia theo chủ trương của
Trung ương Trước mắt bảo đảm việc quản lý , nuôi dưỡng, huấn luyện, trang bị và giúp các lực lượng cách ma ̣ng Campuchia hoạt động
Để thực hiện các nhiệm vụ trên , Ban B.68 được tổ chức một bộ máy gồm: Văn phòng, Vụ Nghiên cứu tổng hợp, Vụ Tổ chức cán bộ; các tiểu ban: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần và khung cán bộ huấn luyện quân sự, chính trị cho Campuchia Thời gian đầu, bộ máy cơ quan Ban B 68 chủ yếu dựa vào bộ máy cơ quan Ban phụ trách công tác Z của Quân ủy Trung ương Sau đó, Văn phòng Ban B.68 được tách riêng thực hiện theo nhiệm vụ được giao
Nhằm tăng cường công tác chỉ đạo, chỉ huy đối với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, ngày 19/7/1978, Thường vụ Quân ủy Trung ương ra Quyết định số 69/QĐ-QUTW tổ chức tiền phương Bộ Quốc phòng Tiền phương Bộ Quốc phòng có chức năng “chỉ huy thống nhất mọi hoạt động tác chiến của các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng ở phía Nam thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo
vệ chủ quyền của Tổ quốc ở biên giới phía Tây Nam ” [36; 266] Trung tướng Lê Đức Anh được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Tiền phương Bộ Quốc phòng; Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền và Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Chỉ huy phó Bộ phận tiền phương của Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục Xây dựng kinh tế căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm phục vụ bộ phận tiền phương Bộ Quốc phòng hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định của Bộ [36; 266]
Để tăng cường hoa ̣t đô ̣ng xây dựng chính quyền cơ sở trong đất Campuchia , ngày 15/5/1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 75/CT-TW về việc tổ chức các lực lượng chuyên gia Việt Nam tại các tỉnh Campuchia, gồm: Các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam, các đoàn chuyên gia Việt Nam cấp Trung ương, cấp tỉnh và tổ chuyên gia cấp huyện; các đội công tác hoạt động theo từng thời gian về kinh tế, kỹ thuật, y tế, giáo dục, văn học, nghệ thuật [21; 120] Ban Bí thư phân công một số tỉnh của Việt Nam giúp các tỉnh của Campuchia , các Tỉnh ủy được tổ chức một tiểu Ban chuyên trách, do một Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch chuyên trách Các tỉnh Việt Nam không cử các đội công tác sang Campuchia làm nhiệm vụ phát động, xây dựng chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng Nhiệm vụ này
do các đơn vị quân đội hoạt động trên đất Campuchia được Tiền phương Bộ Quốc
Trang 32phòng và các quân khu giao nhiệm vụ phát động quần chúng, xây dựng chính quyền,
có thể tổ chức ra các đội công tác và phải bố trí thêm cán bộ chính trị, cán bộ dân vận làm nhiệm vụ được giao và phối hợp chặt chẽ với đoàn chuyên gia cấp tỉnh [20; 120] Tiếp đó, ngày 24/8/1979, Bô ̣ Chính tri ̣ ra Nghị quyết số 19-NQ/TW về viê ̣c thành
lâ ̣p Ban phụ trách cô ng tác giúp Campuchia , Đây là cơ quan giúp Campuchia về
mọi mặt trực thuộc Bộ Chính trị gồm có Lê Đức Thọ làm Trưởng ban , Lê Đức Anh làm Phó ban
Để giúp c ác quân khu trực tiếp theo dõi hoa ̣t đô ̣ng của các chuyên gia quân sự, ngày 18/7/1981, Trung ương Đảng , Bô ̣ Quốc phòng r a các quyết đi ̣nh số 227/QĐ-QP, 228/QĐ-QP, 229/QĐ-QP, giải thể Đ oàn 778, 978, 578 để thành lập các phòng chuyên gia quân sự thuộc Bộ Tư lệnh 779, 979, 579 Đến ngày 11/6/1981, Việt Nam ký Hiê ̣p đi ̣nh giúp đỡ và hợp tác quân sự giữa nước Cô ̣ng hòa
Xã hội C hủ nghĩa Viê ̣t Nam và nước Cô ̣ng hòa N hân dân Campuchia Hiê ̣p đi ̣nh thỏa thuận về sự có mặt của Quân tình nguyê ̣n Viê ̣t Nam ở Campuchia, tiếp tu ̣c làm nhiê ̣m vu ̣ quốc tế:
Quân tình nguyê ̣n Viê ̣t Nam ở Campuchia tiếp tu ̣c làm nhiê ̣m vu ̣ quốc tế giúp Campuchia; cử chuyên gia quân sự giúp đỡ các lực lượng vũ trang ở Campuchia và phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Viê ̣t Nam va Campuchia trên đất Campuchia Việt Nam tiếp nhâ ̣n cán bô ̣ Campuchia sang học tập về quân sự chính trị và chuyên môn kĩ thuật tại các trường Quân đội nhân dân Viê ̣t Nam Các chuyên gia quân sự tham gia công tác tại Cộng hòa Nhân dân Campuchia có hiệu lực kể từ ngày kí , có giá trị 5 năm và mă ̣c nhiên gia ha ̣n tiếp 3 năm theo thỏa thuâ ̣n của hai bên [20; 198]
Ngày 18/5/1981, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết số 36/QU-TW về tổ
chức Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia Căn cứ chủ trương của
Bộ Chính trị và nghị quyết của Quân ủy Trung ương, ngày 6/6/1981, Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng ra Quyết định số 185/QĐ-QP thành lập Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện
Việt Nam tại Campuchia (mang phiên hiệu Bộ Tư lệnh 719), do Thượng tướng Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia đồng thời là đa ̣i diê ̣n của Bô ̣ Quốc phòng Viê ̣t Nam bên ca ̣nh Bô ̣ Quốc phòng Campuchia, được ủy quyền của Bô ̣ trưởng Bô ̣ Quốc phòng chỉ huy , chỉ
đa ̣o các tổ chức của Tổng cu ̣c Hâ ̣u cần, Tổng cu ̣c Kỹ thuâ ̣t, các quân khu, quân chủng, binh chủng ở phía Nam Viê ̣t Nam trong nhiê ̣m vu ̣ bảo đảm chiến đấu , bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho lực lượng vũ trang hoạt động trên chiến trường Campuchia Bô ̣ Tư
Trang 33lệnh 719 đươ ̣c ủy quyền của Bô ̣ trưởng Bô ̣ Quốc Phòng chỉ đa ̣o cơ q uan chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam ở Campuchia, chỉ đạo Bộ Tư lê ̣nh các quân khu 5, 7, 9 thực hiê ̣n các công tác bảo đảm hâ ̣u cần và kỹ thuâ ̣t đối với các lực lượng của quân khu hoa ̣t đô ̣ng ở Campuchia, chỉ đạo các cơ quan chuyên gia ở Campuchia [20; 195]
Từ đây, việc lãnh đạo, chỉ huy Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ngày càng thống nhất, chặt chẽ
Đối với các chuyên gia và cán bộ được Đảng và Nhà nước Việt Nam cử sang
công tác ở Campuchia, yêu cầu khá khắt khe: Một là, hết sức gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Campuchia, ra sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; hai là,
phải lấy việc giúp cán bộ Campuchia trưởng thành nhanh, tự đảm đương được
nhiệm vụ làm mục tiêu phấn đấu của mình; ba là, hết sức tôn trọng chủ quyền và
các quyết định của Campuchia, lắng nghe ý kiến của phía Campuchia, tìm hiểu thực
tế và nắm vững đường lối, chính sách của Campuchia, vận dụng kinh nghiệm để
giúp Campuchia một cách phù hợp, tránh rập khuôn, máy móc; bốn là, luôn luôn
gương mẫu trong công tác và lối sống, hết sức đoàn kết với cán bộ và nhân dân Campuchia [41; 78-79]
Nhìn chung, thời gian này Viê ̣t Nam đã từng bước kiện toàn đoàn c huyên gia quân sự giúp Campuchia về tất cả các mă ̣t, công tác xây dựng Đảng, lực lượng tham gia và trường huấn luyê ̣n chính tri ̣ cho cán bô ̣ cấp cao của Campuchia Tất cả đều nằm dưới sự lãnh đa ̣o của Đảng và Quân ủy Trung ương
1.2.2 Lãnh đạo mọi mặt hoạt động của Quân tình nguyện, chuyên gia quân sự Viê ̣t Nam ở Campuchia
1.2.2.1 Giúp đỡ Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang
Sau khi được thành lập, Ban phụ trách công tác Z nhanh chóng cử cán bộ về các địa phương có nhân dân Campuchia lánh sang tị nạn để nắm tình hình , tuyển chọn cốt cán , bước đầu xây dựng lực lượng giúp Campuchia Trên cơ sở được chuyên gia Viê ̣t Nam giúp đỡ , ngày 12/5/1978, tại Đoàn 977 (Thủ Đức, thành phố
Hồ Chí Minh), lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mang tên “Lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia” được thành lập do Hun Xen làm
Chỉ huy trưởng Đây là đơn vị tiền thân đầu tiên của Quân đội cách mạng Campuchia (gồm 125 cán bộ, người), đánh dấu sự phát triển mới của lực lượng cách mạng Campuchia
Cùng với việc hình thành Đoàn 478 giúp cách mạng Campuchia , các quân
Trang 34khu 5,7,9 cũng được Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ giúp Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang trong đó phải đa ̣t được ba yêu cầu:
Làm cho lự c lươ ̣ng vũ trang Campuchia nhâ ̣ n thức đúng kẻ thù trong và ngoài nước; phải có quyết tâm cách mạng , dũng cảm chiến đấu và đoàn kết thống nhất nô ̣i bô ̣ , hòa hợp dân tô ̣c trong nô ̣i bô ̣ Campuchia ; phải có tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản , đă ̣c biê ̣t giữ vũng tình đoàn k ết keo sơn ba
nước Đông Dương [21; 41]
Tại Quân khu 7 cũng triển khai nhiều hoạt động giúp cách mạng Campuchia Trong hai ngày 8 và 9/6/1978, trên địa bàn Quân khu 7, Viê ̣t Nam đã giúp Campuchia thành lập 6 đội vũ trang cách mạng cứu nước (mỗi đội từ 12 đến 15 người) Các đội vũ trang này đã phối hợp với lực lượng cách mạng trong nội địa Campuchia truyên truyền giác ngộ cho nhân dân về đường lối, chủ trương của cách mạng, về tội ác diệt chủng của tập đoàn Pôn Pốt - Iêngxary, vận động thanh niên tham gia lực lượng
vũ trang cách mạng chống lại chế độ Pôn Pốt
Trước yêu cầu phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia, ngày 16/6/1978, tại suối Râm, Quân khu 7 khai giảng lớp huấn luyện quân sự giúp Campuchia Lực lượng tham gia huấn luyện gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 3 đại đội đặc công , 1 đại đội trinh sát , 1 đại đội thông tin , 1 đại đội hoả lực , 2 đại đội công binh và vận tải với thời gian huấn luyện 35 ngày
Để trực tiếp giúp Campuchia về huấn luyện, xây dựng lực lượng vũ trang, theo chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, tháng 6/1978, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định thành lập Đoàn 578 (tương đương cấp sư đoàn) Đoàn 578 có ba cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần) và 5 đại đội trực thuộc (vệ binh, thông tin, trinh sát, quân y, vận tải) Ban Chỉ huy đoàn gồm có Trung tá Trần Tiến Cung, Đoàn trưởng; Thượng
tá Trần Ngọc Quế, Chính ủy; Trung tá Đinh Trí, Đoàn phó và Trung tá Vũ Khắc Thịnh, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị [20; 197] Đoàn 578 có nhiê ̣m vu ̣ giúp đỡ xây dựng lự c lươ ̣ng vũ trang Campuchia , phối hợp với lực lượng vũ trang Campuchia phát triển về mo ̣i mă ̣t
Tháng 7/1978, Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập Đoàn 778 (tương đương cấp sư đoàn), đặt dưới sự chỉ huy, chỉ đạo trực tiếp của Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 7, với nhiệm vụ huấn luyện, tổ chức, xây dựng lực lượng giúp Campuchia Cũng trong thời gian này, Trường Hạ sĩ quan Quân khu 7 khai giảng lớp đào tạo hạ sĩ quan đầu tiên cho Campuchia gồm 202 hạ sĩ quan, chiến sĩ [21; 45] Trong 30 ngày, các học viên học các bài cơ bản về kỹ thuật, chiến thuật bộ binh; sử
Trang 35dụng các loại vũ khí có trong biên chế và công tác quản lý, chỉ huy tiểu đội, trung đội
Để hỗ trợ lực lượng yêu nước Campuchia, các lực lượng vũ trang của Viê ̣t Nam trên biên giới Tây Nam tích cực hoạt động, buộc PônPốt phải đối phó ở phía trước Từ ngày 15/5 đến 30/9/1978, hai Quân đoàn 3 và 4, hai sư đoàn của Quân khu 7, hai sư đoàn của Quân khu 5 mở đợt tiến công lớn trên hướng đường 1, đường 7, vùng giáp ranh tỉnh Tây Ninh, đường 19 loại khỏi vòng chiến đấu 6 sư đoàn của Pôn Pốt, làm suy yếu nghiêm trọng khối chủ lực, tạo điều kiện cho các lực lượng yêu nước Campuchia hoạt động.Đồng thời Viê ̣t Nam điều động các đội trinh sát luồn sâu vào trong lòng địch, hỗ trợ phong trào nổi dậy của quần chúng
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác giúp Campuchia, tháng 10/1978, Đoàn chuyên gia 478 ban hành quy định tạm thời về nhiệm vụ công tác giúp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia:
Quán triệt đường lối, chủ trương, quan điểm đoàn kết quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Campuchia , chuyên gia quân sự phải đi sâu nghiên cứu tình hình cách mạng Campuchia, cùng các cơ quan có liên quan
đề xuất với cấp trên những chủ trương, kế hoạch nhằm giúp Campuchia xây dựng lực lượng và đưa lực lượng vào hoạt động , thực hiện sự phối hợp chiến đấu và công tác giữa lực lượng vũ trang Viê ̣t Nam và Campuchia [17; 102] Ngày 11/4/1983, BCHTƯ ĐCSVN ra Nghị quyết 10/NQ - TW xác đi ̣nh: Hết sức giúp Campuchia về xây dựng lực lượng vũ trang đă ̣c biê ̣t là về đào ta ̣o cán bô ̣ , giáo dục chính trị , bảo đảm hậu cần , làm cho các lực lượng quốc phòng và an ninh của hai nước trưởng thành nhanh chóng , dân dần tự đảm đương được nhiê ̣m vu ̣ bảo
vê ̣ Tổ quốc và giữ vững an ninh [41; 129]
Được các Quân khu 5, 7, 9 giúp đỡ lực lượng vũ trang Campuchia đã có sự phát triển Đến tháng 12/1978, Viê ̣t Nam đã giúp Campuchia xây dựng được 22 tiểu đoàn bộ binh và 69 đội công tác Đây là những nhân tố vô cùng quan trọng tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia từng bước tự đảm đương nhiệm vụ chuẩn bị phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam, đánh đổ chế độ Pôn Pốt, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng để xây dựng lại đất nước
Về xây dựng bộ đội địa phương , Viê ̣t Nam giúp tỉnh Côngpông Chnăng xây dựng 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương, tỉnh Puốcxát xây dựng được 17 đại đội với tổng số quân là 3.456, người trang bị 1.827 súng [22; 14] Các đơn vị dân quân, du kích được huấn luyện 10 ngày, bộ đội địa phương được huấn luyện 2 tháng Cán bộ
Trang 36trung đội, đại đội của Campuchia đều được quân đoàn giúp đỡ tập huấn về chỉ huy
và chuyên môn Đặc biệt, quân đoàn đã mở lớp đào tạo cán bộ giúp quân đội Campuchia khoá đầu tiên với 140 học viên tham gia Ngoài ra, quân đoàn còn giúp Binh đoàn 1 lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia xây dựng, huấn luyện 7 tiểu đoàn với 1.486 quân [20; 189]
1.2.2.2 Giúp đỡ Campuchia chiến đấu đẩy lùi tàn quân Khơme Đỏ
Từ giữa tháng 01/1979, mức độ đánh phá của Pôn Pốt - Iêngxary trên các mặt trận trở lên ác liệt hơn Trên địa bàn Báttambang - Xiêm Riệp và 4 tỉnh phía đông thủ đô Phnôm Pênh , Pôn Pốt còn hơn 20.000 quân đang lẩn trốn, PônPốt lập
ra nhiều đơn vị mới phối hợp với các tổ chức phản động như “Linh hồn Khơme”,
“Voi trắng ngà xanh”, “Chính phủ liên hiệp kháng chiến” để đẩy mạnh hoạt động chống phá chính quyền cách mạng, đánh phá các vùng mới giải phóng Cùng với việc gom quân, liên kết với lực lượng Sêrêka (do Mỹ dựng lên từ năm 1970), PônPốt - Iêngxari ra sức củng cố các bàn đạp, căn cứ, tổ chức lại đường dây Đông - Tây, thành lập các mặt trận phía tây Phnôm Pênh, đường 5, Tây Nam hòng triển khai lực lượng phản kích chiếm lại các địa bàn đã mất
Trước tình hình trên , ngày 10/7/1979, Quân ủy Trung ương tổ chức ho ̣p bàn về quân tình nguyê ̣n ở Campuchia, Quân ủy chỉ rõ:
Vấn đề đặc biệt quan trọng hiện nay là phải nâng cao chất lượng các lực lươ ̣ng vũ trang của Viê ̣t Nam trên chiến trường Campuchia , phù hợp với nhiê ̣m vu ̣ bảo đảm giành thắng lợi trước mắt và lâu dài [18]
Tháng 12/1979, Tiền phương Bô ̣ quyết đi ̣nh : Tiền phương Quân khu 9 chỉ huy các lực lượng bảo vê ̣ biên giới tỉnh Cô Công và vùng ven biển Cô Công với nhiê ̣m vụ:
Giúp Campuchia vận động quần chúng nhằm phát triển thực lực cách mạng , đẩy ma ̣nh sản xuất ổn đi ̣nh về mo ̣i mă ̣t cho nhân dân Khôi phu ̣c các căn cứ , hành lang, bảo vệ an toàn các mục tiêu quan trọng , chuẩn bi ̣ sãn sàng ph òng thủ biên gi ới và bờ biển Cô Công Giúp Campuchia xây dựng và củng cố chất lươ ̣ng cách ma ̣ng Đối với việc sử dụng lực lượng cách mạng Quân khu
9 sử du ̣ng các trung đoàn 4, 5, 3 tiểu đoàn (trinh sát, đă ̣c công, công binh), sư đoàn 330, sư đoàn 8 và phối hợp với các l ực lượng dịa phương Campuchi a [21; 140]
Trên đi ̣a bàn Quân khu 9 đảm nhiê ̣m đã loa ̣i khỏi vòng chiế n đấu 3.207 tên
đi ̣ch, thu 1.872 súng các loại , 30 tấn đa ̣n , 76 máy thông tin các loại , hơn 90 tấn
Trang 37lương thực, giải phóng thêm 1.182 dân, thương vong 315 người [21; 142]
Trong 40 ngày đêm phối hợp cùng lực lượng Campuchia và các đơn vị Quân khu 9 truy quét địch trên cả hai hướng Cam Pốt và Côngpông Xom, các đơn vị của Quân đoàn 2 tiêu diệt nhiều sinh lực địch, góp phần giải phóng nhiều vùng dân cư rộng lớn ở Quân khu Đông Nam và Đặc khu Côngpông Xom Campuchia, giải phóng gần 350.000 dân [21; 89] thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch, giúp nhân dân Campuchia ổn định đời sống, củng cố chính quyền cách mạng Hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, ngày 27/2/1979, Quân đoàn 2 được lệnh trở về Viê ̣t Nam nhận nhiệm vụ mới
Trong khi Quân đoàn 2 rút về Viê ̣t Nam thì Quân đoàn 3 nhận lệnh chuyển đội hình lên phía bắc và tây bắc Campuchia Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 phát động phong trào: Giết giặc lập công, thi đua với quân dân các tỉnh phía Bắc Với tinh thần bám dân, bám địa bàn, truy quét triệt để tàn quân địch, ngay trong đợt truy quét đầu, các đơn vị của quân đoàn đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Campuchia đánh các đồn biên phòng Poipét, Concoóc, tiêu diệt nhiều tàn quân địch trên biên giới Tây Bắc Campuchia
Ngày 3/5/1979, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Quân đoàn 3 trong tháng 6/1979 phải hoàn thành nhiệm vụ truy quét địch ở địa bàn tỉnh Puốcxát rồi bàn giao cho phía Campuchia và tiến hành cơ động toàn bộ lực lượng, binh khí kỹ thuật ra phía Bắc làm lực lượng dự bị Thực hiện chỉ thị của Bộ, từ ngày 4 đến ngày 30/5/1979, Quân đoàn 3 tiếp tục tổ chức các đợt truy quét, triệt phá các cơ sở hậu cần của địch, giúp Campuchia
mở rộng vùng giải phóng và phát động nhân dân xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng Trong chiến dịch này, bộ đội Viê ̣t Nam triệt phá hoàn toàn căn cứ chiến lược Kravanh của địch, giải phóng biên giới phía tây tỉnh Puốcxát, loại khỏi chiến đấu hàng nghìn tên, thu hàng nghìn súng các loại cùng nhiều tài liệu quan trọng của PônPốt, thu hàng trăm tấn lúa gạo, hàng trăm tấn muối, hàng nghìn mét vải, hàng nghìn lít xăng dầu, hàng chục kiện thuốc chữa bệnh bàn giao cho chính quyền cách mạng tỉnh Puốcxát, giải phóng 145.000 dân Cùng với việc truy quét địch, Quân đoàn 3 còn giúp Campuchia xây dựng 1 đội du kích, thành lập chính quyền ở 6 phum, tuyên truyền giác ngộ cho 116.641 lượt người, khám chữa bệnh cho 959 người, cứu đói cho dân 115 tấn lương thực [21; 93]
Trên hướng Quân đoàn 4, sau khi cùng các đơn vị Campuchia hỗ trợ lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia giải phóng đất nước, Quân đoàn 4 tổ chức 1 lực lượng làm nhiệm vụ tiếp quản thủ đô Phnôm Pênh; đồng thời điều Sư đoàn 9
Trang 38phối hợp với Quân khu 9 truy quét địch ở Uđông, Longvéc, giải toả đường số 5 và đường sắt từ Uđông, Kravanh lên Rômia, bảo đảm giao thông đường sông từ Phnôm Pênh đi Côngpông Chnăng
Từ ngày 18 đến ngày 21/3/1979, các đơn vị của Quân đoàn 4 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn một nghìn tên địch, thu nhiều vũ khí, đạn dược, 1.200 tấn lúa, giải phóng gần 5 vạn dân Từ ngày 23 đến ngày 26/3/1979, Sư đoàn 9 tiến công tiêu diệt địch ở Longcam, Thmabăng, tây bắc Domei, tây Choen, giải phóng 11.000 dân [21; 98] Sư đoàn 5 đánh chiếm cao điểm 223, sau đó phát triển lên Domei, bắt liên lạc với Sư đoàn 9 Sư đoàn 7 đánh địch từ khu vực Knôngnam đến núi Kanđan và tây nam Khumpút, diệt và bắt nhiều địch, giải phóng 40 vạn dân Cuối tháng 3/1979, các đơn vị của Quân đoàn 4 tiếp tục truy quét tàn quân PônPôt, mở rộng vùng giải phóng Ngày 31/3/1979, chiến dịch kết thúc, Quân tình nguyê ̣n Viê ̣t Nam giải phóng gần 10 vạn dân, loại khỏi vòng chiến đấu hầu hết các sư đoàn địch , bước đầu làm phá sản âm mưu xây dựng căn cứ lâu dài của địch Từ ngày 5 đến ngày 15/4/1979, Quân đoàn 4 nhận nhiệm vụ phối hợp với Campuchia và Quân khu 9 tiến công địch ở bắc Kirirom Trong chiến dịch này, các đơn vị của quân đoàn đã loại khỏi vòng chiến đấu gần mô ̣t nghìn tên, giải phóng 12.000 dân, thu nhiều súng đạn, phương tiện chiến tranh giao cho quân đô ̣i Campuchia [21; 99]
Hướng Quân khu 7, sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong cuộc tổng tiến công, Quân khu được giao phụ trách địa bàn Báttambang - Xiêm Riệp và 4 tỉnh phía đông thủ đô Phnôm Pênh (Svâyriêng, Côngpông Chàm, Côngpông Thom, Krachiê) Ngoài
ra, ở Côngpông Chàm, địch có khoảng hơn 3.000 quân thuộc lực lượng ly khai của Boring, Hiêsonna, Chăhsbtha [13; 108] Trong chiến dịch, các đơn vị của Quân khu diệt 546 tên, bắt 1.221 tên, vận động nhân dân kêu gọi 11.124 tên ra hàng, giúp 20.000 dân thoát khỏi sự khống chế của địch Quân đô ̣i Viê ̣t Nam và Campuchia thu được 3.515 tấn thóc, 20 tấn muối, [21; 110] kịp thời cấp cho dân khắc phục nạn đói
Năm 1980, Sư đoàn 302 (Quân khu 7) sử dụng lực lượng đặc công, trinh sát luồn sâu, tiêu diệt nhiều căn cứ, kho tàng của PônPốt ở tuyến biên giới , trọng điểm
là Phumcu, Tơrôm, Anlongveng Trong chiến dịch tổng hợp mùa khô ở khu vực Lôvia từ tháng 01 đến tháng 5/1980, sư đoàn đánh 96 trận, loại khỏi chiến đấu hàng trăm tên, thu 328 súng các loại, giải phóng 233 dân [21; 110]
Trên hướng Quân khu 9, Tiền phương Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ truy quét địch từ Puốcxát đến Uđông nhằm giải phóng số dân bị PônPốt bắt
đi theo và giúp Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ chính quyền cách
Trang 39mạng Trong thời gian này, Sư đoàn 330 tăng cường cho Quân đoàn 4, sau khi hoàn thành nhiệm vụ truy quét PônPốt ở Lếch , khu vực đường sắt (nam Krako), đánh địch giải toả ở Uđông, các đơn vị của Sư đoàn tiếp tục tham gia chiến đấu cùng các đơn vị Campuchia ở phía tây thị xã Côngpông Chnăng, sau đó phát triển vào Rômía Sư đoàn 330 trong đợt tác chiến, loại khỏi chiến đấu hơn 700 tên, bắn cháy
3 xe tăng, thu 5 chiếc khác và hàng nghìn khẩu súng các loại, góp phần giải toả quốc lộ 5, giải phóng hơn 20.000 dân [21; 117]
Như vậy, từ đầu năm 1979 đến cuối năm 1980, sau khi hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc trên hướng Tây Nam, đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia , Đảng và Nhà nước Viê ̣t Nam quyết định đưa Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự cùng các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia giải phóng hoàn toàn đất nước khỏi lực lượng diệt chủng PônPốt, giành chính quyền về tay nhân dân, hồi sinh và phát triển dân tộc
Cuối năm 1980, đầu năm 1981, sau hơn một năm rút lực lượng chủ lực còn lại lên đứng chân ở biên giới giáp Thái Lan, Pôn Pốt tiến hành củng cố , bổ sung thêm quân số, trang bị cho các sư đoàn chủ lực Pôn Pốt đưa một bộ phận lực lượng (khoảng 1/3 quân chủ lực ) vào các địa bàn xung yếu của 7 tỉnh biên giới phía Tây nhằm xây dựng các “căn cứ lõm” trong dân , đồng thời đẩy mạnh hoạt động du kích
ở 12 tỉnh nội địa Pôn Pốt đưa một số lực lượng chủ lực luồn sâu ém sẵn ở một số tỉnh (vùng) Bước đầu PônPốt hình thành M ặt trận 1 (gồm các tỉnh Puốcxát, Côngpông Chnăng, Côngpông Spư, Phnôm Pênh) do Ren, Phó Tổng tham mưu trưởng chỉ huy Bước sang năm 1983, Pôn Pốt - Iêngxary âm mưu đánh chiếm và kiểm soát một vùng gắn liền với biên giới Thái Lan nhằm tạo nên hình thái “2 vùng,
2 chủ lực, 2 chính quyền” Pôn Pốt chủ trương đưa chiến tranh vào nội địa , giành dân, xây dựng lực lượng phản động ngầm hòng làm cho tình hình Campuchia mất ổn định, gây bạo loạn, cướp chính quyền ở từng khu vực, từng bước tiến tới thực hiện âm mưu cơ bản xoá bỏ Nhà nước Campuchia
Trước tình hình địch vẫn ngoan cố dựa vào sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài, tập trung lực lượng chống phá ác liệt cách mạng Campuchia, ngày 15/2/1983, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng
Campuchia ra Nghị quyết số 39/NQ-TW “Về điều chỉnh tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang (1983 - 1986)” Nghị quyết xác định ba mục tiêu chiến lược của
cách mạng Campuchia:
Tiếp tục làm cho PônPốt tan rã, suy tàn hơn nữa; tiếp tục xây dựng thực lực
Trang 40cách mạng Campuchia mạnh hơn lên cả về số lượng và chất lượng; bảo đảm đoàn kết liên minh chiến lược, chiến đấu Campuchia - Việt Nam trên một thế vững chắc hơn và mạnh hơn [91; 194]
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tiếp tục giúp Campuchia xây dựng các phương án tác chiến đối phó với các tình huống có thể xảy ra, chủ động đánh địch, tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng Các đơn vị Quân tình nguyện
và chuyên gia quân sự thuộc các Mặt trận 479, 579, 779, 979, đẩy mạnh hoạt động giúp cách mạng và nhân dân Campuchia tiếp tục truy quét tàn quân Pôn Pốt, kể cả ở vùng biên giới và trong nội địa, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng
Từ ngày 01 đến ngày 08/02/1983, Trung đoàn 16, Trung đoàn 174 (Sư đoàn 5) tiến công đánh chiếm căn cứ Phân khu 205 (lực lượng Sêrêka) ở Nông Chăn Vào lúc 12 giờ ngày 01/02, Quân tình nguyện làm chủ toàn bộ Phân khu và liên tiếp những ngày sau đó tổ chức truy kích và đánh địch phản kích Qua 7 ngày chiến đấu, Quân tình nguyện và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tiêu diệt 272 tên địch, đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn, thu 102 súng và nhiều đạn dược, quân trang, quân dụng Phối hợp với trận tiến công căn cứ Nông Chăn, ngày 02/02/1983, một phân đội thuộc Tiểu đoàn 13, Trung đoàn 429, Sư đoàn 302 (gồm 14 người) tập kích quân địch ở Núi Cóc, diệt 25 tên, thu một số vũ khí [21; 195]
Đến ngày 12/3/1983, Trung đoàn 812 (Sư đoàn 309) được tăng cường Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 31) tiến công căn cứ Trung đoàn 16 (Sư đoàn 415 Pôn Pốt) ở Comriêng Sau khi làm chủ trận địa, trung đoàn chốt giữ thêm ba ngày, truy quét địch phản kích, phá hủy toàn bộ căn cứ, buộc địch phải rút chạy sang biên giới Thái Lan Ngày 8/4/1983, Trung đoàn 250 được tăng cường Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 812) cùng một bộ phận binh chủng do sư đoàn bổ sung, truy quét tàn quân của Sư đoàn
221 Pôn Pốt ở khu vực núi Tà Đạt (nằm ở phía tây Sămlốt, huyện Pailin), diệt 56 tên, thu 17 súng và hai máy nổ [21; 195]
Căn cứ tình hình thực tế, tháng 6/1983, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị cho Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia:
Phải tiếp tục tăng cường hoạt động chiến đấu giữ vững địa bàn được giao; tích cực, chủ động trinh sát bám nắm các mục tiêu địch vùng giáp biên, kiên quyết tấn công phá kho tàng, không để địch xây dựng căn cứ lõm trong địa bàn đóng quân; diệt nhiều địch, thu vũ khí và phương tiện chiến tranh, bẻ gãy không cho