1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh yên bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2014

119 690 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 801,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lị

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ VĂN ĐIN

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH

LỊCH SỬ TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ VĂN ĐIN

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn tốt

nghiệp với đề tài: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát

huy giá trị các di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2014 Tôi xin cam đoan

đây là kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc và khoa học của bản thân tôi dựa trên những nguồn tài liệu đáng tin cậy và có tham khảo các bài viết của các tác giả đi trước

Hà Nội, ngày 30/11/2015

Học viên

Lê Văn Đin

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn với đề tài: “ Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo

công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2014” Không chỉ là công sức của riêng tôi, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản

thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, lớp cao học (Khóa 2013 – 2015) cùng cơ quan, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin gủi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Lê Văn Thịnh – người đã nhiệt tình chỉ bảo và hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện để tôi hoàn thành luận văn của mình

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có kế thừa một số các thành quả của một số những người đi trước

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn của tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn

Hà Nội, tháng 12/2015

Học viên

Lê Văn Đin

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

Chương 1:CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2003 8

1.1 Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở tỉnh Yên Bái 8

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 8

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 14

1.1.3 Thực trạng công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử ở Yên Bái trước năm 1998 15

1.2 Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2003 21

1.2.1 Chủ trương của Đảng và sự lãnh đạo của Đảng bộ Yên Bái 21

1.2.2 Quá trình chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ Yên Bái 28

Tiểu kết chương 1 36

Trang 6

Chương 2: CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ YÊN BÁI TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM

2014 38

2.1 Chủ trương của Đảng và sự lãnh đạo của Đảng bộ 38

2.1.1 Chủ trương của Đảng 38

2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Yên Bái 48

2.2 Đảng bộ tỉnh Yên Bái chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử từ năm 2004 đến năm 2014 52

2.2.1 Chỉ đạo công tác điều tra, xếp hạng, bảo tồn, tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử 52

2.2.2 Chỉ đạo công tác tuyên truyền, xây dựng cơ sở hạ tầng phát huy giá trị các di tích 69

Tiểu kết Chương 2 73

Chương 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 75

3.1 Một vài nhận xét 75

3.1.1 Ưu điểm 75

3.1.2 Hạn chế 79

3.2 Một số kinh nghiêm chủ yếu 81

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 107

Trang 7

để không ngừng hoàn thiện mình Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô cùng quý giá của mỗi dân tộc, đất nước, và của cả nhân loại, là nơi gìn giữ những giá trị văn hóa tôt đẹp của loài loài người Chính vì vây, việc giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử văn hóa quả thực không phải là điều đơn giản Trong những năm qua công tác bảo tồn, tu bổ, tôn tạo di tích, nhằm phát huy các giá trị văn hóa được các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm

Yên Bái là tỉnh có nhiều dân tộc anh em với sự đa dạng về bản sắc văn hóa, tiếp giáp và là đầu mối giao thông giữa các tỉnh Tây Bắc và Việt Bắc Đất đai khá phong phú và tốt tươi, có sự đa dạng về khí hậu, là điều kiện phát triển kinh tế chính trị văn hóa của tỉnh Là vùng đất có bề dày văn hóa lịch sử,

có một hệ thống di tích lịch sử ở khắp các địa phương trong tỉnh.Hệ thống di tích lịch sử này vừa là niềm tự hào, vừa là một tài sản vô cùng quý giá của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Yên Bái

Hệ thống di tích lịch sử không chỉ phục vụ đời sống tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng của nhân dân địa phương mà còn là một động lực phát triển kinh

tế xã hội của tỉnh Yên Bái đặc biệt là ngành kinh tế du lịch Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc gin giữ giá trị của hệ thống di tích trên toàn tỉnh Nên Đảng bộ tỉnh Yên Bái rất quan tâm đến công tác bảo tồn, phục hồi

và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của tỉnh.Ngoài ra các văn bản có

Trang 8

ủy có thêm luận cứ khoa học trong xác định chủ trương, biện pháp trong công tác khôi phục giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa trong toàn tỉnh ở những giai đoạn tiếp theo

Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn quyết định chọn vấn đề

“Đảng Bộ, tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di

tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2014” làm luận văn Thạc sỹ Lịch sử của

mình, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Với mục đích làm rõ thực trạng công tác bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Yên Bái, từ đó rút ra những bài học trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa di tích

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hóa là vấn đề đang được Đảng, Nhà nước các cấp các ngành các địa phương quan tâm, vấn đề này cũng được nhiều nhà khoa học đặc biệt quan tâm

Trang 9

3

Những công trình đề tài nghiên cứu về lý luận chung về vấn đề bảo tồn

và phát huy di tích lịch sử văn hóa: Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức

(1993) Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa Hà Nội, nghiên

cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề bảo tồn di tích lịch sử ở nước ta;

Dương Văn Sáu (2000), Di tích lịch sử Văn hóa, Danh thắng cảnh Việt Nam,

Nhà xuất Bản Đại học Quốc gia Hà Nội trình bày các địa danh lịch sử - văn

hóa, danh thắng của Việt Nam; Nguyễn Đình Thanh, Lê Minh Lý (2008), Di

sản văn hóa bảo tồn và Phát triển, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,

trình bày hiện trạng bảo tồn và phát huy ở một số di sản văn hóa tiêu biểu ở

Việt Nam; Đặc biệt là Nguyễn Văn Quang (2004), Tiền sử và Sơ sử Yên Bái,

Nxb Khoa học và Xã hội đây là cuốn sách trình bày hệ thống di tích lịch sử thời kỳ tiền sử và sơ sử của tỉnh Yên Bái, tác giả đã đi sâu nghiên cứu khảo sát di tích đồ đá cũ trên các đồi gò, các di tích sơ kì đá mới trong các hang động đá vôi, các di tích hậu kì đá mới ở thềm cổ sông Hồng Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra trên vùng đất Yên Bái có một số di tích khảo cổ đặc biệt quan trọng- nơi tàng chữ tư liệu vật chất phong phú đa dạng độc đáo có khả năng bảo tồn, nghiên cứu, thăm quan và phát huy tác dụng thực tiễn cao Tỉnh Ủy –

Hội đông nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái (2003), Tỉnh Yên Bái một

thế kỷ (1900- 2000) Xí nghiệp in Bộ Công Nghiệp Hà Nội, đây là cuốn sách

với nội dung trình bày lịch sử Yên Bái trong một thế kỷ từ 1900 đến năm

2000

Ngoài ra có một số các bài đăng trên các tạp chí, Lưu Trần Tiêu (2002)

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam Hà Văn Tấn (2005) Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

Phạm Minh Châu (2011) Sức sống cho sự tồn tại của di sản Việt Nam; Nguyễn Thế Hùng (2013) Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2014; Nguyễn Quốc

Trang 10

Tuy nhiên vẫn chưa có một công trình cụ thể nào viết về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích tỉnh Yên Bái, một cách chuyên sâu trực tiếp vấn

đề: “Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các

di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2014” dưới góc độ lịch sử Đảng cộng sản

Việt Nam

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ chủ trương, giải pháp và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái đối với công tác bảo tồn và Phát huy giá trị các di tích trên địa bàn tỉnh từ năm 1998 đến năm 2014 Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét và đúc rút kinh nghiệm nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, giải pháp trong công tác bảo tồn phát huy giá trị các di tích trong giai đoạn tiếp theo

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp và hệ thống hóa nguồn tài liệu liên quan đến đề tài

- Nêu và phân tích những nhân tố tác động đến chủ trương, giải pháp và quá trình chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Yên Bái đối trên địa bàn tỉnh

- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh, đồng thời đúc rút những kinh nghiệm chủ yếu có ý nghĩa tham khảo cho hiện tại

Trang 11

5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu Những chủ trương, giải pháp và sự chỉ đạo

công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Yên Bái

từ năm 1998 đến năm 2014

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác

bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Yên Bái

Do tỉnh Yên Bái có rất nhiều các di tích lịch sử nên luận văn chỉ đề cập đến một số các di tích lớn như: Di tích lịch sử danh Thắng Hồ Thác Bà huyện Yên Bình; di tích lịch sử đền Đông Cuông; đền Nhược Sơn huyện Văn Yên; Khu mộ Nguyễn Thái Học; Lễ đài sân vận động Bến Âu Lâu, Thành Phố Yên Bái, Ruộng bậc thang huyện Mù Cang Chải, khu khảo cổ học Thác Y Đại Cại Lục Yên …

Về không gian trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Về thời gian từ năm 1998 - năm thực hiện Nghị Quyết Trung ương V

(tháng 6 năm 1998) khóa VIII đến năm 2014

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liêu mà luân văn sử dụng là:

- Các văn kiên của Đảng; các hội nghị Trung ương Đảng, chương trình của Chính Phủ, của Bộ văn hóa thông tin và Du lịch về bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử;

- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Yên Bái, các Chương trình của Ủy ban Nhân dân tỉnh Yên Bái, các Báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái

Trang 12

6

- Các sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử nói chung và với công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử tại tỉnh Yên Bái nói riêng

5.2.Phương pháp nghiên cứu

Trên cở sở của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa, luận văn sử dụng phương pháp Lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết hợp giữa hai phương pháp ấy Đồng thời luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác, như phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đánh giá chính xác những chủ trương, biện pháp công tác bảo tồn

và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Yên Bái

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, lập bảng nhằm trình bày những kết quả đã đạt được trong quá trình tỉnh Yên Bái thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2014, qua

đó góp phần nghiên cứu lịch sử tỉnh Yên Bái nói chung, và Đảng bộ tỉnh Yên Bái nói riêng

- Từ thực tiễn lịch sử, luận văn khái quát một số ưu điểm, hạn chế và đúc rút những kinh nghiệm chủ yếu về công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các trường văn hóa, phục vụ công tác nghiên cứu và quảng bá cho tiềm năng du lịch của tỉnh Yên Bái

Trang 13

7

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liêu tham khảo, phụ lục, Luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1.Chủ trương và sự chỉ đạo bảo tồn, phát huy giá trị các di tích

lịch sử của Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 1998 đến năm 2003

Chương 2.Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của

Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 2004 đến năm 2014

Chương 3 Một số nhận xét và kinh nghiệm

Trang 14

8

Chương 1

CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO BẢO TỒN, PHÁT HUY

GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI

TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2003 1.1 Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở tỉnh Yên Bái

1.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Yên Bái

Yên Bái nằm ở vị trí địa lý 21018’ đến 22017’ vĩ độ Bắc và 103056’-

1050 06’ kinh Đông Toàn tỉnh có tổng diện tích tự nhiên 6882,92 km2, chiều

từ Đông sang Tây dài 120km, từ Bắc xuống Nam là 100km, trải dọc đôi bờ sông Thao, thuộc khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc với Trung du Bắc Bộ; Đông Bắc giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang; Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ; Tây Nam giáp tỉnh Sơn La và Phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai Từ

xa xưa, Yên Bái có một vị trí trọng yếu về quân sự kinh tế của nước ta Tỉnh Yên Bái có diện tích tự nhiên là 6.887, 77km2

với 1 thành phố Yên Bái, 1 thị

xã Nghĩa Lộ và 7 huyện là: Lục Yên, Văn Yên, Mù Cang Chải, Trấn Yên, Yên Bình,Văn Chấn và Trạm Tấu Với 159 xã 10 thị trấn và 11 phường.[1, tr 43]

Yên Bái có địa hình cấu tạo khá đa dạng và phức tạp (đồng bằng phù sa ven sông Thao, đồng bằng phù sa cổ lượn sóng, đồi tháp đỉnh tròn, đồi bát úp dốc thoải, bồn địa thung lũng, núi cao rãnh sâu, cao nguyên đá vôi dốc đứng)

Do độ dốc lớn (trung bình 40 – 500, nhiều nơi 60 – 700, vùng thấp 25 – 400

lại chia cắt mạnh, cao dần từ đông sang tây và từ nam lên bắc) Nên Yên Bái có

độ cao trung bình so với mực nước biển là 600m

Địa hình của Yên Bái có thể chia như sau:Vùng thấp: nằm ở tả ngạn và lưu vực sông Hồng, lưu vực sông Chảy mang nhiều đặc điểm của vùng trung

Trang 15

9

du do các đỉnh núi phẳng, nằm sàn sàn như bát úp chạy dài liên tiếp tạo ra các thung lũng bằng phẳng và cánh đồng chạy dọc theo triền sông

Vùng cao: Nằm ở hưu ngạn sông Hồng và cao nguyên giữa sông Hồng

và sông Đà, có nhiều dãy núi cao chạy liên tục theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, nhìn xa như một bức tường thành che kín cả bầu trời phía tây, tạo nên khung cảnh khá hùng vĩ đồ sộ

Dãy Hoàng Liên Sơn khi đến Xà Phình, Pú Luông tạo ra các đỉnh Pú Song Sung (2986m), Lũng Cung (2913m), Xu Phin (2814m) Núi ở đây sườn rất dốc, bị các thung lũng hẹp chia cắt sâu tạo ra biên độ chênh lệch tới hàng ngàn mét Ở phía đông nam, dãy Hoàng Liên Sơn kết thúc một cách đột ngột

từ Nghĩa Lộ đến đèo Lũng Lô, nơi có đường Yên Bái – Sơn La chạy qua để lại một vùng đồi và núi thoải tỏa rộng từ hữu ngạn sông Hồng tới tả ngạn Sông Đà, tạo ra vô số thung lũng sông và những bồn địa phù xa bồi đắp khá rộng ở Tú Lệ, Gia Hội và nhất là đồng bằng Nghĩa Lộ (Mường Lò rộng 2300ha lớn thứ nhì Tây Bắc) Dãy núi Lùng Búng với các đỉnh Thảm, Khe Cao, Khe Địa đã tách cao nguyên Ngòi Thia, Ngòi Vần qua đèo Khe Đạo, cao 900m nối liền Nghĩa Lộ với Yên Bái Vùng cao còn có tả ngạn sông Hồng với dãy núi Con Voi (1400m) cùng nhiều đỉnh núi như núi Bon, Mỏ Vẹt hạ dần độ cao hướng về đông nam Ngoài ra còn có vùng núi đá vôi Lục Yên nối liền với dãy Tây Côn Lĩnh của Hà Giang

Những đặc điểm địa hình khiến cho Yên Bái có các loại rừng: Nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới trên núi cao Trong khu vực rừng á nhiệt đới của tỉnh có nhiều loại cây gỗ kim (pơmu, thông, sa mộc, sam mộc ), xen lẫn cây lá rộng thuộc họ sồi, dẻ, đỗ quyên Ở độ cao trên 2000m, rừng hỗn giao giảm dần, pơ mu mọc thành rừng kín, cao tới 40- 50m đường kính thân có cây tới 1.5m Cao hơn nữa là các cánh rừng thông xen kẽ các tầng cây bụi nhỏ rồi đến trúc lùn, cây họ cói, cây họ hoa hồng, cây họ thạch Nam.Độ cao hạ dần

Trang 16

10

khí hậu ấm áp hơn làm cho lớp phủ thực vật rừng có điều kiện phát triển Bên cạnh các loại gỗ quý như: nghiến, táu, lát hoa, chò chỉ, pơ mu; cây thuốc quý như đẳng sâm, sơn tra, hà thủ ô… động vật quý hiếm như hổ, báo, cầy hương, lợn rừng, vượn, khỉ chăn, tê tê…

Xen kẽ các khu rừng lớn là các mặt bằng với nhiều bãi cỏ rộng có khả năng phát triển chăn nuôi đại gia súc hoặc mở mang du lịch sinh thái dịch vụ

Tuy nhiên các loại rừng kể trên nay chỉ còn trong các khu vực núi thuộc huyện Văn Yên, Lục Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải

Đặc trưng khí hậu Yên Bái: là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều nhiệt độ cao Do đó, tổng lượng bức xạ tới 100-140Kcal/cm2

và cân bằng bức xạ luôn dương Hàng năm có từ 1200- 2000 giờ nắng, mùa hè gấp đôi mùa đông.Tổng nhiệt độ từ 8000 – 85000C ở vùng núi cao giảm xuống

70000C.Nhiệt độ trung bình ít biến động trong năm (từ 18- 24 0C), cao nhất từ 37- 390C thấp nhất từ 2 -40C.Gió thịnh hành là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam Mưa nhiều nhưng phân bố không đều, lượng mưa trung bình từ 1800mm – 2000mm/năm, cao nhất đến 2204mm, thấp nhất là 1106mm Một

số tiểu vùng khí hậu vào tiết xuân thường có mưa dầm triền miên

Bên cạnh nền độ ẩm cao trên phần lãnh thổ Yên Bái còn có một vùng khô hạn Độ ẩm quanh năm của tỉnh là 85- 87% trung bình cao nhất là 97% thấp nhất là 67%

Bên cạnh những thuận lợi kể trên, địa phương cũng chịu nhiều ảnh hưởng do thời tiết gây ra Mùa đông nhiều đợt gió lạnh buốt tràn về, đầu mùa

hè những đợt gió tây nóng tràn sang gây tổn hại đến sức khỏe con người, súc vật, cây trồng

Chế độ thủy văn: Đặc điểm địa hình và khí hậu như trình bày ở trên đã tạo cho Yên Bái một hệ thống sông ngòi khá dày đặc với hai trục sông lớn:

Trang 17

11

sông Hồng và sông Chảy cũng như hướng núi hai con sông đều bắt nguồn từ phía bắc, chảy vào Yên Bái theo hướng tây bắc- đông nam, tạo lên hệ sinh thái thung lũng sông rất rõ rệt, chi phối sâu sắc môi trường tự nhiên ở khu vực này

Sông Hồng dài 1149 km chảy theo hướng tây bắc - đông nam do vận động tạo sơn của dãy Hymalaya, bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào Lào Cai, qua hết Yên Bái cắt đôi vùng đất, chia tỉnh thành hai khu vực: Khu vực đông

và khu vực tây Đoạn sông Hồng ở Yên Bái dài khoảng 100km, phía thượng lưu sông hẹp độ dốc cao, nhiều dãy núi chạy ra giáp bờ sông, càng về xuôi, lòng sông càng mở rộng dần, tạo nên các giải đồng bằng hẹp ở vùng trên và

mở rộng dần ở phía hạ lưu Do thung lũng càng xuống càng được mở rộng nên dòng chảy quanh co khúc khuỷu hơn, tạo nên một số khúc vòng lớn, ôm lấy một số vùng bằng phẳng trù phú Chính những vùng này đã trở thành địa bàn cư trú rất thuận lợi cho các cư dân cổ Đoạn sông Hồng chảy trên đất Yên Bái có nhiều suối lớn nhỏ đổ vào Đáng kể nhất là Ngòi Hóp, Ngòi Thia, Ngòi Lâu, Ngòi Vần Đa phần những con ngòi này nằm ở hữu ngạn sông Hồng Trong đó lớn nhất là Ngòi Thia có độ dài 160km, bắt nguồn từ núi Phu Sa Phìn cao 2874 m Ngòi Thia có vai trò quan trọng góp phần mở rộng địa bàn sinh tụ của con người Lưu lượng sông Hồng bình quân từ 4000 – 5000m3/giây và có độ chênh lệch lớn giữa mùa khô và mùa mưa

Sông Chảy bắt nguồn từ Hà Giang, có hướng dòng chảy gần như song song với sông Hồng, nhập với sông Lô ở Đoan Hùng (Phú Thọ) Sông Chảy

có độ dài chảy trong tỉnh Yên Bái là khoảng 85km Tuy không dài bằng sông Hồng, song sông Chảy lại chảy qua một miền núi đá vôi cao hơn, độ dốc lớn hơn, lòng sông hẹp hơn ở phần thượng nguồn nên dòng chảy có phần xiết hơn, tới vùng Đại Đồng núi bỗng lùi xa, tạo nên một dải đồng bằng mầu mỡ, trù phú khí hậu thoáng đãng, một địa bàn sinh tụ nhiều thời Nay vùng này đã

Trang 18

12

trở thành hồ Thác Bà, cảnh quan đã thay đổi Sông Chảy có nhiều suối chảy vào, đặc biệt là các suối Đại Cại (Tân Lĩnh), Ngòi Biệc, Ngòi Úc, Ngòi Lẫu, Suối Tân Hương… trong đó Ngòi Biệc là lớn hơn cả

Khoáng sản: Được hình thành trên nền trầm tích cổ, Yên Bái là một địa

bàn chứa khá nhiều loại khoáng sản, từ quý hiếm đến thông dụng Theo bản

đồ bản đồ khoáng sản, ở Yên Bái có trên 200 điểm mỏ, trong đó có 170 điểm

đã được khảo sát, đang được khai thác hoặc chuẩn bị khai thác và trên 30 điểm thuộc loại mỏ cổ, hầu hết đã chấm dứt khai thác (Sở Khoa học công nghệ Yên Bái 1998) Đặc điểm chính của khoáng sản tỉnh Yên Bái là phân bố rải rác, có nhiều chủng loại mỏ đá 47 điểm, mỏ sắt 37 điểm, mỏ đồng 5 điểm,

mỏ trì kẽm 10 điểm có trữ lượng không nhiều.Tuy nhiên có những mỏ lại có hàm lượng khá cao

Đặc biệt mỏ đá ở Yên Bái khá phong phú về chủng loại và có chất lượng khá cao Cao cấp nhất là loại đá quý và bán quý như Rubi (còn gọi là Hồng Ngọc), ngọc, ngọc bích….Những loại đá này tập trung ở vùng Lục Yên, Yên Bình, và dọc theo lưu vực sông Chảy

Các mỏ sắt tập trung nhiều ở phía tây của tỉnh như các huyện Trấn Yên, Văn Yên, Văn Chấn và Mù Cang Chải Các mỏ đồng đều nằm ở phía tây huyện Văn Yên, Trấn Yên, các mỏ kẽm nằm ở Mù Cang Chải

Nhìn chung các mỏ đá phân bố tập trung ở phía đông, còn các mỏ kim loại tập trung ở phía tây tỉnh Ngoài ra phải kể đến nguồn đá cuội sông suối rất dồi dào có mặt ở khắp nơi trong tỉnh mà tập trung chủ yếu theo dọc bờ sông Hồng và sông Chảy và hàng trăm suối lớn nhỏ thuộc lưu vực của hai sông này

Động vật, thực vật : Dù địa hình và khí hậu Yên Bái đa dạng và phức tạp, song nhìn chung đây là vùng nhiệt đới gió mùa, thảm thực vật và động

Trang 19

Vành đai thực vật vùng á nhiệt đới ở độ cao từ 600 – 700m đến 1700m Đây là những dãy núi khá cao thuộc dãy núi Con Voi, vùng cao Trạm Tấu, Văn Chấn, Mù Cang Chải Thành phần thực vật ở đây đơn giản hơn, phổ biến

là các loại cây thấp, cây bụi, họ dương xỉ, họ lan, họ ráy Cây gỗ có sồi, giẻ, sau sau Đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống, canh tác, khai thác phổ biến ở vành đai này

Vành đai thực vật cận nhiệt đới, ở độ cao từ 1700m trở lên bao gồm các vùng núi cao hiểm trở phía tây, tây bắc, điển hình là dãy núi Hoàng Liên Sơn, quần thể thực vật ở đây mang đặc tính miền ôn đới, rừng có cả cây lá rộng và cây lá kim nhu sồi, giẻ, pơmu… kết cấu rừng ít tầng (từ 1 đến 2 tầng)

Ngoài các kiểu rừng trên Yên Bái còn có xuất hiện một số kiểu rừng đặc biệt, như rừng nhiệt đới trên núi đá vôi, rừng tre nứa trên đồi gò

Nhìn chung chỉ có vùng thấp của vành đai nhiệt đới, vùng rừng kiểu địa bàn đặc biệt là điều kiện đặc biệt thuận lợi cho sự sinh tồn và phát triển của con người

Động vật: phát triển trên nền thực vật rất phong phú, quần thể động vật

ở đây cũng trở nên rất đa dạng, những chủng loại động vật cũng được phân bố theo vành đai khí hậu, và vành đai thực vật khác nhau.[52,tr.17- 28]

Trang 20

14

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Về kinh tế nhìn chung Yên Bái là một tỉnh nghèo, chậm phát triển, kinh

tế lúa nước là chủ đạo, diện tích ruộng ít lại kém màu mỡ, bị chia cắt manh mún, thời gian sinh trưởng dài, năng xuất thấp Một bộ phậm dân cư nhất là miềm núi, và dân tộc thiểu số còn đói Nông nghiệp nương rẫy đây khá phát triển, song những năm gần đây đã được hạn chế để bảo vệ rừng, nhờ công cuộc đổi mới nhiều giống lúa ngắn ngày, năng xuất cao gieo trồng nên đời sống nhân dân được cải thiện, từ chỗ thiếu đói lương thực, nay đã no đủ và dư dật Rừng Yên Bái trước tốt tươi, rậm rạp, nhiều tầng mang đặc trưng rõ của rừng nhiệt đới, thứ sinh, đến nay đã cạn kiệt, nền kinh tế rừng ngày càng chiếm vị trí thấp, cây công nghiệp chủ yếu là cây chè, nghề chè đang trở thành nghề kinh tế mũi nhọn của tỉnh Có thể nói đặc điểm của nền kinh tế Yên Bái là nông nghiệp đa canh Kinh tế vườn đồi theo hình thức trang trại đang có xu hướng phát triển mạnh ở Yên Bái

Nhìn chung Yên Bái là một tỉnh nghèo, trải qua hơn một thập kỷ đổi mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã có một tiến bộ, xong vẫn trong tình trạng chậm phát triển Đời sống kinh tế và văn hóa còn có sự chênh lệch khá rõ rệt giữa các vùng thấp và vùng cao, giữa đô thị vùng sâu và vùng xa [52, tr 31] Dân số: Theo số liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có tới 30 dân tộc sinh sống, trong đó có 7 dân tộc có dân số trên 10.000 người, 2 dân tộc có từ 2.000 - 5.000 người, 3 dân tộc có từ 500 -2.000 người

Năm 2013, tổng dân số toàn tỉnh là 773.854 người Mật độ dân số trung bình là 112 người/km2

tập trung ở một số khu đô thị như thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ và các thị trấn huyện lỵ

Sự phân bố các cộng đồng dân tộc trên địa bàn tỉnh có những đặc trưng sau:

Trang 21

15

Vùng thung lũng sông Hồng chiếm 41% dân số toàn tỉnh, trong đó: người Kinh 43%, người Tày chiếm 33%, người Dao chiếm 10%, người Hmông chiếm 1,3% so với dân số toàn vùng

Vùng thung lũng sông Chảy chiếm 28% dân số toàn tỉnh Trong đó người Kinh chiếm 43%, người Tày chiếm 11%, người Dao chiếm 13%, người Nùng chiếm 7% so với dân số toàn vùng

Vùng ba huyện phía Tây (Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn) chiếm 31% dân số toàn tỉnh Trong đó: người Kinh là 33%; người Thái 19,2%, Tày 11,8%, Hmông 24,1%; người Mường 5,2% và người Dao 5,1% so với dân số toàn vùng [18]

Yên Bái với điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội, đã tạo nên cho cộng đồng và các dân tộc trong tỉnh với những truyền thống và bản sắc riêng

đã hình thành nên một nền văn hóa rất đa dạng và phong phú, có nhiều nét độc đáo riêng

1.1.3 Thực trạng công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử ở

Yên Bái trước năm 1998

Từ rất xa xưa, Yên Bái là một bộ phận của Tổ quốc Thời vua Hùng Yên Bái thuộc Tân Hưng, thơi Lý thuộc Châu Đăng, thời Trần trong lộ Quy Hóa, thời Lê đến thời Nguyễn nằm trong phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa

Vào cuối thế kỷ XIX, sau khi xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành “Bình định” nước ta, chúng đặt Yên Bái thuộc các Đạo quan binh (1891

- 1900) Ngày 11 tháng 4 năm 1900, thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái gồm có phủ Trấn Yên, hai châu Văn Chấn, Văn Bàn và thị xã tỉnh lỵ đặt tại làng Yên Bái Từ năm 1910 – 1920, Pháp chuyển châu Lục Yên (tỉnh Tuyên Quang) và châu Than Uyên (tỉnh Lai Châu) vào tỉnh Yên Bái Từ đó cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, địa dư và đơn vị hành chính của tỉnh Yên

Trang 22

16

Bái không thay đổi Tháng 5 năm 1955 châu Văn Chấn, Than Uyên chuyển thuộc khu tự trị Thái – Mèo; một phần thuộc huyện Than Uyên và các xã Nậm Có, Khau Phạ (Văn Chấn) được tách ra thành lập châu Mù Cang Chải Tháng 6 năm 1956, huyện Yên Bình (tỉnh Tuyên Quang) sát nhập vào tỉnh Yên Bái Tháng 10 năm 1962 Quốc hội đổi tên khu tự trị Thái – Mèo thành khu tự trị Tây Bắc.Tháng 12 năm 1962 tỉnh Nghĩa Lộ (thuộc khu tự trị Tây Bắc) chính thức được thành lập gồm các huyện Văn Chấn, Than Uyên, Phù Yên Tháng 1 năm 1976 hợp nhất 3 tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ (trừ hai huyện Bắc Yên và Phù Yên chuyển thuộc tỉnh Sơn La) và Lào Cai thành tỉnh Hoàng Liên Sơn Tháng 10 năm 1991 tỉnh Hoàng Liên Sơn chia thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai [3,tr.12]

Yên Bái có nhiều danh thắng và di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu

ấn lịch sử và giá trị tâm linh, quá trình nghiên cứu về hệ thống di tích của tỉnh Yên Bái được Đảng và Nhà nước quan tâm Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thành công, miền Bắc hoàn toàn giải phóng và đi lên con đường chủ nghĩa xã hội Phòng Bảo tồn bảo tàng thuộc Ty Văn hóa Yên Bái được thành lập khá sớm (từ năm 1957), công tác bảo tồn giá trị di tích ngày càng được quan tâm Năm 1960 là mốc đánh dấu sự mở đầu hoạt động khảo cổ học Yên Bái, đó là việc phát hiện thạp Đào Thịnh, năm 1962 nhân dân lại phát hiện trống đồng Yên Bái, trong trống đồng có nhiều hiện vật đồng Do giá trị đặc biệt của của di tích, các nhà nghiên cứu ở Trung ương bắt đầu để ý đến Yên Bái

Năm 1963 – 1964 thực hiện chủ trương xây dựng nhà máy thủy điện Thác Bà, nhà nước đã tổ chức nhiều đoàn khảo cổ học khảo sát nghiên cứu vùng sông Chảy Năm 1972 trước khi đóng nước hồ Thác Bà Viện Khảo cổ học cho khảo sát lại vùng này, và đã phát hiện thêm một số các di tích, di tích

Trang 23

Sau Đại Hội Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn Lần thứ VI, Mở đầu cho công cuộc đổi mới, được tiến hàng từ ngày 10- 13 tháng 10 năm 1986, Đại hội đã nhất trí với chủ trương đổi mới của Đảng Bên cạnh đó Đại hội còn bàn bạc và thông qua Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị,

xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng, xây dựng đảng trong năm năm 1986 –

1990 Để thực hiện phương hướng trên, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã

đề ra 6 nhiệm vụ lớn trong đó: là ổn định phát triển sản xuất, trước tiên khai thác mạnh mẽ tiềm năng sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp; thực hiện tốt chính sách công bằng xã hội, ổn định và cải thiện một bước đời sống vật chất

và văn hóa của nhân dân đáp ứng tốt về nhu cầu chữa bệnh, đi lại và học hành

và hưởng thụ văn hóa.[4,tr 79] Trong năm năm 1986 – 1990 công tác bảo tồn được Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn được chú trọng quan tâm do vậy trong thời gian này hai di tích lịch sử quốc gia được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử quốc gia

Do vậy quá trình bảo tồn, khôi phục và phát huy các giá trị di tích trong thời gian này có bươc phát triển Từ năm 1986 đến năm 1990 toàn tỉnh Yên bái mới có hai di tích được công nhận là là di tích lịch sử văn hóa Di tích

Lễ đài Sân vận động phường Hồng Hà thành Phố Yên Bái, được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch),công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo quyết đinh 1288/VH-QĐ; 16/11/1988; Di tích lịch sử Khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ cuộc khởi nghĩa Yên Bái 2/1930 phường Nguyễn Thái Học thành phố Yên Bái, theo Quyết định số

Trang 24

xã hội và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 Đề ra phương hướng nhiệm vụ của công cuộc đổi mới toàn diện trong chặng đường tiếp

theo Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội, cùng với việc xác định rõ nội dung và tính chất của thời đại, làm nổi

bật nội dung cơ bản: quan niệm tổng quát về xã hội chủ nghĩa mà chúng ta cần xây dựng và những phương hướng cơ bản để xây dụng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời kỳ mới Cương lĩnh chỉ rõ: xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội mà nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lục lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hưu về tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc con ngươi được giải phóng khỏi áp bức, bóc lôt, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân, các dân tộc trong nước bình đẳng giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảovệ tổ quốc [4,tr.31]

Ngày 12 tháng 8 năm 1991 Quốc hội chia lại tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai Ngày 01 tháng 10 năm 1991 tỉnh Yên Bái chính thức đi vào hoạt động.Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái nhiệm kỳ 1991 –

1995 mở đầu giai đoạn mới trong quá trình phát triển của tỉnh

Trong giai đoạn này ngành Văn hóa Thông tin nói chungđứng trước nhiều vấn đề bức xúc Hệ thống di tích lịch sử và danh thắng do nhiều nguyên nhân khác nhau đang ở tình trạng xuống cấp trầm trọng, Chính phủ đã có quyết định 25/QĐ- TTg về các chính sách đầu tư cho văn hóa, trong đó các di

Trang 25

19

tích được đầu tư tu bổ, tôn tạo bằng nguồn ngân sách Nhà nước, (đối với các

di tích Cách mạng được đầu tư 100% kinh phí) Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để ngành Văn hóa Thông tin xây dựng chương trình chống xuống cấp

và tôn tạo các di tích lịch sử -văn hóa ở Việt Nam Sau khoán 10 trong nông nghiệp đời sống nông dân được cải thiện song ngành văn hóa thông tin lại gặp nhiều khó khăn trong hoạt động: không có kinh phí chi cho hoạt động văn hóa thông tin ở cấp xã, phường, cán bộ làm công tác văn hóa thông tin ở cấp xã, phường, không có thiết chế văn hóa ở các cấp vừa thiếu vừa lạc hậu…đã làm cho các hoạt động văn hóa thông tin, ở cơ sở nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng

xa, giảm sút nhanh chóng, nhu cầu hưởng thụ văn hóa thông tin của đồng bào rất thấp Đây là vấn đề bức xúc nhất đối với ngành, yếu tố quyết định cho việc hình thành chương trình phát triển đời sống văn hóa thông tin cơ sở vùng cao, vùng sâu, vùng xa [17, tr 2]

Trước bối cảnh trên chương trình mục tiêu về văn hóa của Bộ văn hóa

và Thông tin đã được Chính phủ phê duyệt Ngày 24 tháng 3 năm 1993 Hội đồng thẩm định quốc gia đã thẩm định 3 chương trình Quốc gia của Bộ Văn hóa Thông tin, đến ngày 16 tháng 8 năm 1994 tại văn bản số: 4739/KG-TW, Chính phủ cho phép Bộ Văn hóa Thông tin triển khai ba chương trình mục tiêu quốc gia

Một là chương trình chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa ở Việt Nam

Hai là chương trình phát triển điện ảnh Việt Nam

Ba là chương trình xây dựng phát triển văn hóa vùng cao

Đến năm 1996 thực hiện sắp xếp lại chương trình mục tiêu quốc gia Ba chương trình của Bộ Văn hóa Thông tin được ghép lại thành một chương trình, có tên gọi là: “Chương trình văn hóa” tại Quyết định số 19/QĐ-TTg

Trang 26

Để thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa, của Bộ Văn hóa Thông tin Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái hoạt động bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa thu được những kết quả nhất định Trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1997,

đã củng cố xây dựng đời sống văn hóa thông tin, ở vùng sâu, vùng xa, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được nâng lên, các chính sách của Đảng

và Nhà nước được chuyển đến kịp thời, làm cho dân tin, Đảng tin vào thắng lợi của đường lối đổi mới, bộ mặt văn hóa ở nông thôn được cải thiện Hệ thống di tích của tỉnh cũng được khảo sát, khôi phục trùng tu, tôn tạo công nhận là di tích lịch sử văn hóa Trong hơn 10 năm đổi mới, tính đến năm 97 trên toàn tỉnh có 5 di tích cấp quốc gia được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận

Nhưng bên cạnh đó trong giai đoạn này vẫn còn những tồn tại: Do nguồn ngân sách của Nhà nước hàng năm cấp cho chống xuống cấp di tích có hạn nên nhiều di tích chưa được tu bổ, từ năm 1994 đến năm 2000 thông qua chương trình mục tiêu về văn hóa, Nhà nước đã đầu tư 161,108 tỷ đồng cho

hỗ trợ tu bổ chống xuống cấp, nhưng đối với toàn tỉnh Yên Bái chỉ được hỗ trợ 17 triệu đồng vào năm 1996.[17.tr9] Do vây,các di tích chưa được đầu tư một cách toàn diện Hơn nữa quá trình sát nhập và tách tỉnh Yên Bái do vậy công tác bảo tồn và phục hồi các di tích không được chú trọng, công tác quản

Trang 27

21

lý, và phân cấp quản lý, đầu tư, tu bổ di tích cũng như quy chế tu bổ, khai thác

di tích còn lúng túng Các hiện tượng đào bới, trục vớt cổ vật trong giai đoạn này vẫn sảy ra thường xuyên trên địa bàn tỉnh dẫn đến hiện tượng phá hoại di tích, chảy máu cổ vật

Nhìn chung, từ thời điểm từ năm 1997 trở về trước, ở tỉnh Yên Bái nói riêng và cả nước nói chung, thì công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn rất hạn chế Tính đến năm 1997, toàn tỉnh Yên Bái mới có 5 di tích lịch sử lịch sử văn hóa được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

Thế nhưng sau Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa VIII (7/1998), công tác bảo tồn phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Yên Bái cũng có bước phát triển mới, công tác lập hồ sơ xếp hạng di tích được sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh Yên Bái Đảng bộ chỉ đạo cho sở văn hóa thông tin khảo sát, kiểm kê hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh lập hồ sơ khoa học xác định giá trị di tích để bảo tồn giá trị di tích lịch sử văn hóa Nhưng để lập được một bộ hồ sơ, đảm bảo tính chính xác khoa học, thỏa mãn yêu cầu chuyên môn phải thực hiện qua nhiều bước Do vậy rất cần nhiều thời gian và kinh phí Trong khi đó tỉnh Yên bái là một tỉnh Trung du miền núi địa hình rộng lớn, các di tích lịch sử lại phân tán ở các vùng xa xôi, đi lại khó khăn, trong khi đó kinh phí hỗ trợ còn eo hẹp Đây cũng là nguyên nhân công tác bảo tồn phát huy giá trị di tích lịch sử trươc năm 1997 còn hạn chế

1.2 Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2003

1.2.1 Chủ trương của Đảng và sự lãnh đạo của Đảng bộ Yên Bái

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta xác định rõ “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của

Trang 28

22

di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” Với tầm nhìn xa trông rộng về giá trị và tầm quan trọng của di sản văn hóa đối với một dân tộc một vĩ nhân trong khi đất nước còn biết bao nhiêu việc cấp bách cần phải giải quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã kí Sắc lệnh số 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam : “Cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu, hoặc những nơi thờ tự khác, cũng như cung điện thành quách cùng các Lăng mộ… Cấm phá hủy các bia kí, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử…”[75, tr 3-7]

Nhận thức được giá trị của di tích lịch sử - văn hóa trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Đặc biệt là từ năm 1994 đến nay Chính phủ đã giao cho ngành Văn hóa thực hiện thực hiện chương trình mục tiêu về văn hóa tại văn bản số 4739/KG- TW ngày 26 tháng 8 năm 1994, Chính phủ cho phép bộ văn hóa triển khai ba chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa ở Việt Nam; chương trình phát triển điện ảnh; chương trình xây dựng và phát triển văn hóa, thông tin cơ sở vùng cao, vùng sâu, vùng xa Cùng với sự đầu tư của nhà nước, chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa của Đảng và nhà nước đã huy động được một nguồn lực không nhỏ

Tại Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa VIII (7/1998) lần

đầu tiên Đảng ta đưa ra Nghị quyết riêng về Xây dựng và phát triển nền văn

hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã

thể hiện sự phát triển cả về nhận thức và tư duy lý luận về văn hóa, lãnh đạo văn hóa của Đảng Đó là sự kết tinh của sự kế thừa và phát triển Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, về phương hướng lãnh đạo văn hóa, quản lý văn hóa Nghị quyết đã khẳng định “Di sản văn hóa là tài sản

Trang 29

23

vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy nhũng giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa vi vật thể [32,tr 63]

Ngày 12/8/1998 BCH Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 38- CT/TW “Về việc tổ chức thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 5BCH trung ương Đảng khóa VIII”.Ngày 17/9/1998, Chính phủ ra “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng (khóa VIII) về“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”

Chương trình đề cập tới Đề án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa như sau:

Một là, xây dựng phương án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, bao gồm cả di sản văn hóa dân gian và truyền thống, chú trọng các di sản văn hóa Quốc gia được UNESSCO công nhận, di sản cách mạng tiêu biểu

và di sản cảnh quan thiên nhiên môi trường

Hai là, tiến hành tổng điều tra di sản văn hóa, từng bước quy hoạch có phương thức bảo tồn và biện pháp quản lý

Ba là, có chương trình phiên dịch giới thiệu kịp thời kho tàng văn hóa Hán Nôm

Bốn là, tiếp thục triển khai chương trình văn hóa với 4 mục tiêu: chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử; phát triển điện ảnh Việt Nam; phát triển văn hóa thông tin cơ sở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; điều tra sưu tầm, nghiên cứu và phát huy các vốn văn hóa dân tộc (phi vật thể) [17.tr13]

Để thực hiện quản lý Nhà nước về di sản văn hóa xác định thẩm quyền

và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương đối với

Trang 30

24

di sản văn hóa, cũng như quyền và nghĩa vụ tổ chức, cá nhân trong việc bảo

vệ và phát huy di sản văn hóa nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật Đặc biệt sau ngày 29 tháng 6 năm 2001, kỳ họp thứ 9 Quốc

hội khóa X Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật di

sản văn hóa năm (2001) luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2002 với

các điều khoản cụ thể rõ, ràng phạm vi điều chỉnh, của bộ Luật bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể, quy định về kiểm kê sưu tầm, bảo tồn, quản lý bảo

vệ phát huy giá trị các di tích

Ngày 18 tháng 12 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 05/2002/CT-TTg về việc tăng cường các biện pháp quản lý bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đào bới, trục vớt trái phép cổ vật Để tăng cường bảo vệ và quản lý di tích, cổ vật, và các di chỉ khảo cổ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ tướng cơ quan ngang Bộ, Thủ tướng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tập trung chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện ngay một

số công việc sau: Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra việc bảo vệ, trùng

tu, tôn tạo và phát huy các di tích; phối hợp với Bộ Thương mại, Tổng cục hải quan bồi dưỡng nghiệp vụ giám định cổ vật cho cán bộ quản lý thị trường và hải quan cửa khẩu; Chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa nhằm nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa tinh thần của các di sản văn hóa, nâng cao tinh thần trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa, coi việc bảo vệ di sản văn hóa là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của các ngành, các cấp, của mọi tổ chức, đơn vị và mọi công dân; Chỉ đạo cơ quan Văn hóa - Thông tin ở địa phương phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an, hải quan cửa khẩu, quản lý thị trường bám sát thị trường, tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn

và xử lý kịp thời các hành vi, vi phạm pháp luật trong việc bảo vệ di sản văn

Trang 31

Những quan điểm trên của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ phương hướng mang tính chiến lược, có tính định hướng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, là cở sở cho cho Đảng bộ các tỉnh nói chung và Đảng bộ tỉnh Yên Bái nói riêng đẩy mạnh công tác chỉ đạo việc bảo tồn phát huy giá trị di tích trên địa bàn tỉnh

Quán triệt sâu sắc các quan điểm tinh thần Nghị quyết TW 5 (khóa VIII): Quan điểm một : Văn hóa là tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu vùa là động lực thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế xã hội; Quan điểm hai là: Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; Quan điểm 3: Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Quan điểm bốn: Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ chí thức giữ vai trò quan trọng; Quan điểm năm là: Văn hóa là mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý trí cách mạng và sự kiên trì thận trọng

Công tác chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết, đã được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, các ban ngành, cấp ủy, chính quyền, địa phương, được quan tâm lãnh đạo, được cụ thể hóa bằng một

số các chương trình đề án phát triển văn hóa Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các ban ngành, cấp ủy, chính quyền, địa phương, thường xuyên quan tâm lãnh đạo thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII), thể hiện trong hướng dẫn chương trình hành động, kết luận chỉ đạo thực hiện Trung Ương 5

Trang 32

26

Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.Đặc biệt một số chỉ tiêu, mục tiêu về văn hóa, được Đảng bộ tỉnh đưa vào văn kiện, đó là phương hướng nhiệm vụ giai đoạn sau

Ngày 04 tháng 05 năm 1996 Đại hội Đại biểu lần thứ XIV, của Đảng

bộ tỉnh Yên Bái được khai mạc với tư tưởng chỉ đạo Tiếp tục lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2000) Đại hội phân tích đánh giá khách quan toàn diện tình hình mọi mặt của tỉnh từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIV xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phát triển toàn diện về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đại hội tập trung phân tích đánh giá khách quan toàn diện tình hình về mọi mặt của tỉnh

từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, nhất là nhiệm kỳ 5 năm vừa qua Căn cứ vào tình hình của đất nước và Nghị quyết đại hội lần thứ VIII “giai đoạn từ nay đến năm 2000 là rất quan trọng của thời kì phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa” (văn kiện đai hội lần VIII) Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái

đã xác định mục tiêu tổng quát của nhiệm kì (1996 - 2000) của Đảng bộ và nhân dân là: Khai thác mọi tiềm năng và thế mạnh sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong, tranh thủ khai thác nguồn lực từ bên ngoài, để phát triển đạt tấc độ tăng trưởng cao, kết hợp hài hòa với mục tiêu kinh tế với mục tiêu tiến bộ xã hội Đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện các trương trình văn hóa xã hội – giáo dục và đào tạo

Trang 33

27

Cùng với sự phát triển kinh tế, sự nghiệp văn hóa cũng được coi trọng

và có nhiều tiến bộ, thực hiện tốt các điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân, xây dựng đời sống văn hóa trong nhân dân, đồng thời bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong tỉnh.Phấn đấu đến năm 2000 đưa tỉnh Yên Bái

ra khỏi đói nghèo và trở thành một tỉnh phát triển của khu vực miền núi

Tháng 6 năm 2000 tỉnh Yên Bái đã triển khai cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trong toàn Đảng bộ nhân dân các dân tộc

Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương

Đảng (Khóa VIII), về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, tiên

tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Tỉnh Ủy Yên Bái ra chỉ thị số 08 CT/TU ngày

01 tháng 7 năm 2002 “Về tăng cường sự lãnh đạo thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Bước đầu của cuộc vận động đã nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về trách nhiệm của mỗi người trong việc xây dựng đời sống kinh tế- văn hóa - xã hội ở cơ sở Các làng văn hóa, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa bước đầu duy trì tốt các tiêu chí, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, góp phần tích cực vào việc xóa đói giảm nghèo, ở nông thôn, đô thị, an ninh trật tự được giữ vững tình làng nghĩa xóm đoàn kết các dân tộc được tăng cường, một số các tập quán lạc hậu được xóa bỏ, nhiều giá trị truyền thống được bảo tồn và phát

huy Để phong trào “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn

hóa” thực sự trở thành một cuộc vận động lớn trong đời sống nhân dân, tạo

sự chuyển biến tích cực trong cán bộ, Đảng viên, góp phần đưa nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV trở thành hiện thực Tỉnh Ủy Yên Bái yêu cầu các cấp Ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, các chi, Đảng bộ tập trung làm tốt các nội dung sau:

Trang 34

28

Củng cố kiện toàn ban chỉ đạo, các ngành các thành viên ban chỉ đạo, căn cứ vào kế hoạch của Trung ương, của tỉnh, chỉ đạo các ngành dọc tích cực hưởng ứng, tham gia các phong trào làm tốt công tác thi đua Thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị 27CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VII) và Quyết định 39

của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, về thực hiện “Nếp sống văn minh trong

việc cưới, việc tang và lễ hội” Và Quyết định số 48-QĐ/ UB của Ủy ban

nhân dân tỉnh Yên Bái về xây dựng “Đơn vị có nếp sống văn hóa”

Các cấp Ủy, từ tỉnh đến các chi bộ, đảng bộ cơ sở, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị địa phương, tăng cường chỉ đạo, gương mẫu đi đầu trong việc vận

động và thực hiện “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn

hóa” Chọn lọc những phong trào mũi nhọn tạo sự chuyển biến về đời sống

vật chất, tinh thần cho nhân dân Đưa các nội dung phong trào của cuộc vận động vào chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội Quan điểm chỉ đạo; Đoàn kết xây dựng tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức lối sống lành mạnh; Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, các phong tục tập quán lạc hậu, các giá trị truyền thống được bảo tồn và phát huy.[28,tr 129]

Cuộc vận động “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn

hóa” là chủ trương lớn của Đảng, đồng thời là phương thức hoạt động đem lại

hiệu quả xã hội cao đã được thực tiễn kiểm định Để tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) của Đảng góp phần thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh

1.2.2 Quá trình chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích

lịch sử của Đảng bộ Yên Bái

1 2.2.1 Chỉ đạo công tác điều tra, xếp hạng, bảo tồn, tu bổ và tôn tạo

các di tích lịch sử 1998 đến năm 2003

Trang 35

29

Tháng 6 năm 1991 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng họp tại Hà Nội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 Ngày 12 tháng 8 năm 1991 Quốc hội ra Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai Sau khi tách tỉnh, thực trạng đời sống kinh

tế - xã hội còn nhiều khó khăn Nhất là trong lĩnh vực văn hóa - thông tin ở vùng cao vùng sâu vùng xa, vùng căn cứ cách mạng và vùng kháng chiến trước đây, hệ thống cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn thiếu thốn, các di sản văn hóa dân tộc, các di tích lịch sử văn hóa ở địa bàn tỉnh xuống cấp và mai một dân trí thấp thiếu thông tin thường xuyên, mức hưởng thụ văn hóa rất thấp so với mặt bằng chung của cả nước Trước tình hình đó, Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng bộ tỉnh Yên Bái, đã tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển kinh tế vùng cao

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), tỉnh Ủy Yên Bái đã chỉ đạo triển khai học tập quán triệt nghị quyết, đến các ban ngành trong tỉnh, các huyện thị xã Dưới sự lãnh, chỉ đạo của Tỉnh ủy – Hội đồng nhân dân –

Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, Sở Văn hóa Thông tin đã tham mưu các văn bản, chỉ thị, quyết định, hướng dẫn tổ chức thực hiện kiểm tra đôn đốc, phối kết hợp tích cực với các ban nghành của tỉnh, huyện chỉ đạo có hiệu quả

phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; Bảo tồn, phát

huy di sản văn hóa, kiểm tra bám sát cơ sở chỉ đạo xã hội hóa văn hóa, có những chính sách nhằm phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin của tỉnh Tập trung nghiên cứu nền văn hóa địa phương, đánh giá thực trạng, nhất là tư tưởng đạo đức, lối sống và từ đó đề xuất các nhiệm vụ phát triển văn hóa phù hợp với địa phương, tạo sức mạnh, đẩy mạnh sự phát triển Văn hóa thông tin của tỉnh

Trang 36

án “ Bảo tồn phát huy, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái”;

Đề án “Tìm hiểu Văn hóa vật thể, Phi vật thể tỉnh Yên Bái góp phần phát triển kinh tế du lịch văn hóa” Xây dựng các đề án quy hoạch về quảng cáo, tượng đài nội thất bảo tàng tỉnh… Tổ chức tổng điều tra thống kê di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên toàn tỉnh Từ đó xây dựng kế hoạch bảo tồn, phát triển lâu dài Tham mưu tổ chức ngày hội văn hóa các dân tộc Yên Bái theo định kỳ (2 năm 1 lần) Tiếp tục tổ chức hội thảo đánh giá sâu giá trị của vùng khảo cổ học Hắc Y – Đại Cại, báo cáo tỉnh lập dự án khai quật, thỏa thuận với Văn hóa- Thông tin tổ chức khai quật di tích khảo cổ học gắn với giới thiệu quảng bá trưng bày và du lịch văn hóa

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã đề ra Quyết định số 152/2002/QĐ - UB ngày 04 tháng 6 năm 2002 về ban hành quy chế quản lý sử dụng tiềm năng và bảo vệ môi trường vùng Hồ Thác Bà Trên

cơ sở căn cứ vào Quyết định trên, Sở Văn hóa Thông tin phối hợp với Sở khoa học CN và Môi trường đã đề ra Hướng dẫn liên ngành (số 151/HDLN – SVHTT- SKHCNMT ngày 04 tháng 10 năm 2002), thực hiện Quy chế quản

lý sử dụng tiềm năng và bảo vệ môi trường vùng Hồ Thác Bà Những quy định cụ thể trong quản lý khu di tích lịch sử - danh thắng Hồ Thác Bà; Phạm

vi bảo vệ gồm toàn bộ khu vực I của di tích lịch sử danh thắng Hồ Thác Bà đã được nhà nước công nhận di tích lịch sử danh thắng cấp Quốc gia (rộng 230km2) bao gồm toàn bộ phần mặt nước và các đảo hồ, là khu vực bảo vệ nguyên trạng; Các hoạt động kinh tế, văn hóa du lịch quốc phòng trên vùng di tích Hồ Thác Bà phải tuân thủ các Quy định về quản lý, sử dụng và bảo vệ di

Trang 37

31

tích lịch sử - danh lam thắng cảnh của Luật Di sản văn hóa và chịu sự giám sát của cơ quan Văn hóa (Bảo tàng tỉnh là cơ quan thuộc Sở Văn hóa Thông tin là cơ quan chuyên môn quản lý di tích); Các tổ chức, cá nhân sử dụng đất ven hồ, các đảo trên hồ vào các mục đích khác nhau phải thực hiện đúng luật

Di sản văn hóa, phải thông báo cho Ban quản lý khu di tích và đảm bảo không làm vỡ cảnh quan Hồ Thác Bà; Các hoạt động khai thác du lịch văn hóa Hồ Thác Bà phải chịu sự hướng dẫn chuyên môn của ngành Văn hóa Thông tin

về bảo vệ và sử dụng di tích, các khu vui chơi, giải trí phải có nội dung cụ thể đảm bảo vui chơi lành mạnh giữ trật tự an ninh [108, Tr 3]

Thực hiện Chỉ thị 05/2002/CT-TTG, ngày 18 tháng 2 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp quản lý bảo vệ cổ vật trong di tích, và ngăn chặn đào bới trục vớt cổ vật trái phép di chỉ khảo cổ học

Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định số 286/QĐ-UB ngày

04 tháng 06 năm 2002 về việc thành lập Ban chỉ đạo tăng cường quản lý bảo

vệ và ngăn chặn đào bới cổ vật Nhằm tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra việc bảo vệ, trung tu, tôn tạo và phát huy các di tích; Chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa nhằm nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa tinh thần của các di sản văn hóa, nâng cao tinh thần trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa, coi việc bảo vệ di sản văn hóa là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của các ngành, các cấp, của mọi tổ chức, đơn vị và mọi công nhân; cơ quan Văn hóa - Thông tin ở địa phương phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an, hải quan cửa khẩu, quản lý thị trường bám sát thị trường, tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi, vi phạm pháp luật trong việc bảo vệ di sản văn hóa; kiến nghị các biện pháp để tham mưu

Trang 38

Để phục hồi, trùng tu, tôn tạo, nhằm phát huy giá trị của các di tích, Sở Văn hóa Thông tin đã quy định các nguồn vốn chống xuông cấp, di tích bao gồm : Kinh phí nhà nước đầu tư hàng năm, đóng góp của tập thể, cá nhân có hảo tâm; vận động nhân dân địa phương tự đóng góp Nhưng trong giai đoạn

từ năm 1998 đến năm 2003 toàn tỉnh Yên Bái mới công nhận được 7 di tích trong đó có 6 di tích lịch sử quốc gia, 1 di tích do tỉnh công nhận, phần lớn là các di tích cách mạng

Năm 2000 Bảo tàng tỉnh Yên Bái đi khảo sát thực tế về hệ thống di tích lịch sử trên toàn tỉnh Kết quả tổng kiểm kê cho thấy toàn tỉnh có 620 di tích lịch sử vật thể Phần lớn các di tích vẫn chưa được Nhà nước chú trọng quan tâm Công tác tu bổ và tôn tạo do nguồn vốn xã hội hóa từ địa phương, trên toàn tỉnh tính đến tháng 9 năm 2003, số di tích được nhà nước tu bổ tôn tạo trong thời kỳ 1998- 2003 là 6 lượt di tích; Số di tích kiểm kê trong kì là 10 di tích; trưng bày của Bảo tàng (chủ đề, lưu động) trong kỳ là 1780 buổi Toàn tỉnh có 32 lễ hội được thống kê, 20 lễ hội hàng năm được tổ chức và có hướng

Trang 39

33

dẫn chỉ đạo Các trò chơi dân gian nhạc cụ dân tộc được khôi phục phát triển Ngày hội văn hóa dân tộc được tổ chức lồng ghép trong các ngày kỷ niệm lớn, làng vui chơi, làng ca hát các dân tộc thiểu số như Thái, Tày, Dao, Mông, Nùng, Kinh được tổ chức phát sóng truyền hình toàn quốc giới thiệu các vùng quê Yên Bái Các hoạt động tích cực đó đã góp phần bảo tồn văn hóa các dân tộc Yên Bái [61,tr 55]

1.2.2.2 Chỉ đạo công tác tuyên truyền, xây dựng cơ sở hạ tầng phát

huy giá trị các di tích 1998 đến năm 2003

Công tác quảng bá các hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh đóng vai trò hết sức tích cực trong phát triển ngành du lịch nó giúp cho du khách hiểu một cách chính xác kịp thời về giá trị phong tục tập quán văn hóa của các dân tộc tỉnh Yên Bái Tuy nhiên công tác tuyên truyền quảng bá trên địa bàn tỉnh còn chưa được quan tâm đúng mức do kinh phí cấp cho các hoạt động này càng khó khăn

Các hình thức quảng bá, trên mạng internet, qua đài, báo địa phương, thông qua các cuộc hội chợ, các tọa đàm, hội thảo, các tạp chí, sách báo Song việc tuyên truyền tiềm năng du lịch, giới thiệu về đất nước phong tục tập quán, con người Yên Bái còn sơ sài chưa lôi cuốn

Để tăng cường hơn nưa công tác Marketing, quảng bá hệ thống di tích gắn liền với phát triển tiềm năng du lịch, tỉnh Yên Bái cần tăng cường đầu tư tuyên truyền băng các loại hình sách tập gấp, bản đồ về các tua du lịch, phim giới thiêu về các tiềm năng danh thắng du lịch của tỉnh, và cần phải thiết lập trung tâm thông tin du lịch tại trung tâm thành phố Yên Bái

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân đã chỉ đạo công tác tuyên truyền, hệ thống các tuyến tua du lịch, gắn liền với các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh

Trang 40

Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Đại hội lần thứ

XV Đảng bộ tỉnh Yên Bái tiến hành từ ngày 01- 03 /02/2001 đã thành công

với chủ đề “Phát huy mọi nguồn lực tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa xây dựng tỉnh Yên Bái trở thành tỉnh phát triển trong khu vực miền núi Bắc Bộ” Tháng 04 năm 2001 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

IX thành công tốt đẹp, mở ra một thời kỳ mới phát triển đất nước trong thập

kỷ đầu của thế kỷ XXI Trong điều kiện đó được sự lãnh đạo của Trung ương, Tỉnh ủy đã tranh thủ thời cơ, vượt qua mọi thử thách, nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối đúng đắn của Đảng, với tinh thần đoàn kết quyết tâm cao,

Ngày đăng: 28/06/2016, 17:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngọc Bái; Hà Lâm Kỳ; Phùng Quốc Hiển; Hoàng Xuân Lộc; Hoàng Thị Hạnh; Tạ Xuân Hiếu; Nguyễn Văn Quý; Hà Lâm Kỳ; Mai Hiên; Dương Soái; Nguyễn Mạnh Hùng; Hoàng Thị Thu Hương… (2006),Yên Bái Đất Và người trên thành phố phát triển, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yên Bái Đất Và người trên thành phố phát triển
Tác giả: Ngọc Bái; Hà Lâm Kỳ; Phùng Quốc Hiển; Hoàng Xuân Lộc; Hoàng Thị Hạnh; Tạ Xuân Hiếu; Nguyễn Văn Quý; Hà Lâm Kỳ; Mai Hiên; Dương Soái; Nguyễn Mạnh Hùng; Hoàng Thị Thu Hương…
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2006
3. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái (2007),Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái tập I (1930- 1975), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái tập I (1930- 1975)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội – 2007
Năm: 2007
4. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái, (2007) Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái tập II (1975- 2000), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái tập II (1975- 2000)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội – 2007
5. Ban tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003),Tài liệu Hội nghị tư tưởng – Văn Hóa toàn quốc triển khai nhiệm vụ công tác năm 2003, Thành phố Hồ Chí Minh, ( 2/ 2003). Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị tư tưởng – Văn Hóa toàn quốc triển khai nhiệm vụ công tác năm 2003
Tác giả: Ban tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 2003
6. Ban chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc
7. Ban chấp hành Trung ương, Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 24 tháng 01 năm 2003, Chỉ thị của Ban Bí thư tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị Quyết Trung Ương 5 (khóa VIII) về công tác Văn học Nghệ thuật trong tình hình mới.Lưu tạiPhòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị của Ban Bí thư tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị Quyết Trung Ương 5 (khóa VIII) về công tác Văn học Nghệ thuật trong tình hình mới
9. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Báo cáo số 82/BVHTTDL-VHDT ngày 09 tháng 01 năm 2013, Đánh giá nhiệm vụ: Bảo tồn phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số (Thực hiện Nghị quyết Trung Ương 5 khóa VIII). Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhiệm vụ: Bảo tồn phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số (Thực hiện Nghị quyết Trung Ương 5 khóa VIII)
10. Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch, Quyết định số 91/ 2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm 2008, Phê duyệt phát triển tổng thể phát triển du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020, kèm theo Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 của Tổng Cục Du Lịch, Hà Nội Năm 2008. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt phát triển tổng thể phát triển du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020, kèm theo Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020
11. Bộ Văn hóa -Thông tin, Kế hoạch số 1556/VHTT- KHTC, ngày 13 tháng 5 năm 2004 Về viêc thỏa thuận chủ trương lập dự án bảo tồn Di tích Căng và đồn Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về viêc thỏa thuận chủ trương lập dự án bảo tồn Di tích Căng và đồn Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái
12. Bộ Văn hóa và Thông tin, Chỉ thị số 41/CT- BVHTT, ngày 31 tháng 3 năm 2004 chỉ thị của Bộ trưởng Văn hóa – Thông Tin, Về tiếp tục thực hiện chỉ thị của thủ tướng chính phủ về công tác văn hóa, thông tin vùng dân tộc thiểu số, miền núi đến năm 2010. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiếp tục thực hiện chỉ thị của thủ tướng chính phủ về công tác văn hóa, thông tin vùng dân tộc thiểu số, miền núi đến năm 2010
13. Bộ Văn hóa và Thông tin, Quyết định số 456/QĐ- BVHTT, ngày 20 tháng 02 năm 2004 Quyết định của Bộ trưởng Văn hóa – Thông Tin, Về việc công nhận Ban vận động thành lập hội Di sản Văn hóa Việt Nam. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc công nhận Ban vận động thành lập hội Di sản Văn hóa Việt Nam
14. Bộ Văn hóa và Thông tin, Quyết định số 1706/QĐ-BVHTT, ngày 24 tháng 7 năm 2001 Quyết định của Bộ trưởng Văn hóa - Thông Tin, Việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020
15. Bộ Văn hóa và Thông tin, số 505 /VHTT- TCCB, ngày 24 tháng 02 năm 2004, của Bộ trưởng Văn hóa – Thông Tin Về việc thành lập hội di sản văn hóa Việt Nam. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thành lập hội di sản văn hóa Việt Nam
16. Bộ Văn hóa Thông tin Cục Di sản Văn hóa, số 802/ DSVH- DT ngày 01 tháng 12 năm 2004, Về việc lựa chon Bảo Vật Quốc gia. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc lựa chon Bảo Vật Quốc gia
17. Bộ Văn hóa Thông tin, Báo cáo sơ kết chương trình mục tiêu về văn hóa từ năm 1994 – 2000, Hà Nội ngày 01 tháng 8 năm 2002. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết chương trình mục tiêu về văn hóa từ năm 1994 – 2000, Hà Nội ngày 01 tháng 8 năm 2002
20. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế văn hóa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế văn hóa xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
22. Nguyễn Đăng Duy (2005), Một số vấn đề văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nxb Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Lao động Hà Nội
Năm: 2005
23. Đào Thùy Dương (2013), Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử (1997 - 2012), Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử (1997 - 2012)
Tác giả: Đào Thùy Dương
Năm: 2013
24. Đảng Cộng sản (1998) Nghị Quyết Trung Ương 5 khóa VIII (7/1998), Về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Lưu tại Phòng lưu trữ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1991

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w