Đề cương ôn tập môn ngữ văn lớp 6 cùng những gợi ý, ví dụ sinh động sẽ giúp các em học sinh có 1 bài thi tốt kết thúc học kỳ I môn ngữ văn lớp 6. Chúc các em học tập tốt và có kỳ thi đạt kết quả cao nhất .......
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN HỌC KÌ I
KHỐI LỚP 6 NĂM HỌC : 2012-2013 A/ PHẦN VĂN BẢN
I/ Đặc điểm tiêu biểu của các thể loại truyện dân gian:
-Là truyện kể về các
sự kiện và nhân vật
lịch sử thời quá khứ
-Là truyện kể về cuộc đời của các nhân vật quen thuộc
-Là truyện kể mượn chuyện loài vật, đồ vật, cây cốihoặc chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người
-Là truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống
-Có chi tiết tưởng
tượng ,kì ảo
-Có chi tiết tưởng tượng kì ảo
-Có ý nghĩa ẩn dụ, ngụ
ý
-Có yếu tố gây cười
-Có cốt lõi sự thật lịch
sử, cơ sở lịch sử
-Thể hiện thái độ và
cách đánh giá của
nhan dân đối với nhân
dân và nhân vật lịch sử
được kể
-Thể hiện niềm tin và ước mơ của nhân dân
về chiến thắng cuối cùng của cái thiện, cái tốt, cái lẽ phải
-Nêu lên bài học để khuyên dạy người đời
-Nhằm gây cười, mua vui, phê phán, châm biếm những thói hư tật xấu trong xã hội, hướng con người đến cái tốt
-Người kể, người nghe
tin câu chuyện có
thật
-Người kể, người nghe không tin câu chuyện
có thật
II/ Hệ thống kiến thức các văn bản ở các thể loại truyện dân gian:
Thể
loại
Truyền
cháu Tiên
Ngợi ca nguồn gốc cao quí của dân tộc và ý nguyện đoàn kết gắn bó của dân tộc ta
Bánh chưng bánh giầy
-Giải thích nguồn gốc của bánh chưng,bánh giầy, vừa phản ánh thành tựu văn minh nông nghiệp
-Suy tôn tài năng, phẩm chất con người trong việc xây dựng đất nước
Thánh Gióng - Ca ngợi hình tượng người anh hùng đánh giặc, tiêu biểu
cho sự trỗi dậy của truyền thống yêu nước, đoàn kết, tinh thần anh dũng, kiên cường của dân tộc ta
- Ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước; thể hiện quan niệm
và ước mơ của nhân dân ta ngay từ buổi đầu lịch sử về người anh hùng cứu nước chống ngoại xâm
Trang 2Sơn Tinh, Thủy Tinh
- Giải thích hiện tượng mưa bão, lũ lụt xảy ra ở đồng bằng Bắc Bộ thuở các vua Hùng dựng nước
- Đồng thời, truyện thể hiện sức mạnh, ước mơ chế ngự thiên tai, bảo vệ cuộc sống của người Việt cổ; suy tôn, ca ngợi công lao dựng nước của các vua Hùng
Sự tích Hồ Gươm
Giải thích tên gọi Hồ Hoàn Kiếm, ca ngợi cuộc kháng chiến chính nghĩa chống giặc Minh do Lê Lợi lãnh đạo đã chiến thắng vẻ vang và ý nguyện đoàn kết, khát vọng hoà bình của dân tộc ta
Cổ tích
Thạch Sanh
-Truyện kể về người dũng sĩ diệt chằn tinh, diệt đại bàng cứu người bị hại, vạch mặt kẻ vong ân bội nghĩa và chống quân xâm lược
- Thể hiện ước mơ, niềm tin về đạo đức, về công lý xã hội và
lý tưởng nhân đạo, yêu hòa bình của nhân dân ta
Em bé thông minh
Đề cao trí khôn dân gian, kinh nghiệm đời sống dân gian; tạo
ra tiếng cười (kiểu nhân vật thông minh)
Cây bút thần (Truyện cổ tích
T Quốc)
-Khẳng định tài năng, nghệ thuật chân chính phải thuộc về nhân dân, phục vụ nhân dân, chống lại cái ác
-Ước mơ và niềm tin của nhân dân về công lí xã hội và khả năng kì diệu của con người
Truyện
ngụ
ngôn
Ếch ngồi đáy giếng
Ngụ ý phê phán những người hiểu biết cạn hẹp mà lại huênh hoang.Khuyên nhủ chúng ta phải biết mở rộng tầm nhìn, không chủ quan kiêu ngạo
Thầy bói xem voi
Khuyên con người khi tìm hiểu về một sự vật, hiện tượng phải xem xét chúng một cách toàn diện
Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng
Nêu bài học về vai trò của mỗi thành viên trong cộng đồng không thể sống đơn độc, tách biệt mà cần đoàn kết, tư, gắn
bó để cùng tồn tại và phát triển
Truyện
cười
Treo biển
Tạo tiếng cười hài hước, vui vẻ, phê phán những người thiếu chủ kiến khi hành động và nêu lên bài học về sự cần thiết phải tiếp thu ý kiến có chọn lọc
Lợn cưới, áo mới
Chế giễu, phê phán những người có tính hay khoe của-một tính xấu khá phổ biến trong xã hội
III/ Nội dung tóm tắt của các văn bản:
Trang 3Con Rồng cháu Tiên
Bánh chưng bánh giầy
Thánh Gióng
Sơn Tinh,
Thủy Tinh
Sự tích Hồ
Gươm
Thạch Sanh
Em bé thông
minh
Cây bút thần
(Truyện cổ tích
T Quốc)
Ếch ngồi đáy
giếng
Thầy bói xem voi
Trang 4Chân, Tay, Tai,
Mắt, Miệng
Treo biển
B/ PHẦN TIẾNG VIỆT
I Từ và cấu tạo từ tiếng Việt:
1.Từ là gì?
-Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu.
- Từ đơn là từ chỉ có một tiếng, VD: Bàn, ghế, tủ, sách…
- Từ phức là từ có 2 tiếng trở lên, từ phức gồm có:
+ Từ ghép: Ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa, VD: Bàn ghế, bánh chưng, ăn ở, mệt mỏi…
+ Từ láy: Có quan hệ láy âm giữa các tiếng với nhau, VD: ầm ầm, sạch sành sanh, trồng trọt,…
2.Mô hình:
II Từ mượn:
1 Từ thuần việt: là những từ do nhân dân ta tự sáng tạo ra.
2 Từ mượn: (vay mượn hay từ ngoại lai) Là những từ của ngôn ngữ nước ngoài được nhập vào ngôn ngữ của ta để biểu thị những sự vật, hiện tượng, đặc điểm,…mà tiếng ta chưa có từ thật thích hợp để biểu thị
- Bộ phận từ mượn quan trọng nhất trong tiếng Việt là từ mượn tiếng Hán(gồm từ gốc Hán
và từ Hán việt)
- Ngoài ra còn mượn từ của một số ngôn ngữ khác Anh, Pháp,…
3.Cách viết các từ mượn:
+Đối với từ mượn đã được Việt hoá hoàn toàn thì viết như tiếng Việt:sơ mi, gan, điện…
+Đối với từ mượn chưa được Việt hoá thì dùng gạch nối để nối các tiếng với nhau.(Sin-ga-po, Ma-lai-xi-a…)
3.Nguyên tắc mượn từ: Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Giữ gìn bản sắc dân tộc.Không mược từ một cách tuỳ tiện
Mô hình:
III Nghĩa của từ:
1 Nghĩa của từ :là nội dung mà từ biểu thị
Phân loại từ theo nguồn gốc
Từ mượn các ngôn từ khác
Từ mượn tiếng Hán
Từ gốc Hán Từ Hán Việt
Cấu tạo từ
Trang 52 Các giải thích nghĩa của từ: 2 cách.
- Trình bày khái niệm mà từ biểu thị, VD: Tập quán: là thói quen của………
- Đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích
VD: Lẫm liệt: Hùng dũng, oai nghiêm;Nao núng: Lung lay, không vững lòng nay ở mình nữa
IV Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ:
1 Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa (ví dụ: Toán học, Văn học, Vật lí học…từ có một nghĩa); chân, mắt, mũi…từ có nhiều nghĩa)
2 Từ nhiều nghĩa là kết quả của hiện tượng chuyển nghĩa
- Nghĩa gốc: Là nghĩa xuất hiện từ đầu, làm cơ sở để hình thành các nghĩa khác
- Nghĩa chuyển là nghĩa được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc
VD :Giàu hai con mắt, có hai bàn tay (nghĩa gốc)
Gốc bàng to quá, có những cái mắt to hơn cả gáo dừa.(nghĩa chuyển)
* Lưu ý : Trong một số trường hợp, từ có thể được hiểu theo cả nghĩa gốc và nghĩa chuyển.
VD : cơm
hối lộ
Ăn điểm
nắng
roi
V Lỗi dùng từ:
1 Lỗi lặp từ.
Ví dụ:
(1) Truyện dân gian thường có nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo nên em rất thích đọc
truyện dân gian.
(2) Bạn Lan là một lớp trưởng gương mẫu nên cả lớp ai cũng đều rất lấy làm quý mến bạn Lan.(từ gạch chân là từ lặp nên loại bỏ để viết lại cho đúng)
=>Lan là một lớp trưởng gương mẫu nên cả lớp đều quý mến
2.Lỗi lẫn lộn các từ gần âm.
Ví dụ:
(1) Ngày mai, chúng em sẽ đi thăm quan Viện bảo tàng của tỉnh.
(2) Ông hoạ sĩ già nhấp nháy bộ ria mép quen thuộc.
(3) Tiếng Việt có khả năng tả linh động mọi trạng thái tình cảm của con người.
(4) Có một số bạn còn bàng quang với lớp.
(5) Vùng này còn khá nhiều thủ tục như: ma chay, cưới xin đều cỗ bàn linh đình; ốm
không đi bệnh mà ở nhà cúng bái,…
Những từ gạch chân là từ lặp, nên thay bằng các từ sau: (1)tham quan, (2)mấp máy,
(3)sinh động, (4)bàng quan,(5) hủ tục.
3.Lỗi dùng từ không đúng nghĩa.
Ví dụ:
(1) Mặc dù còn một số yếu điểm, nhưng so với năm học cũ, lớp 6B đã tiến bộ vượt bậc (2) Trong cuộc họp lớp, Lan đã được các bạn nhất trí đề bạt làm lớp trưởng.
(3) Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã được tận mắt chứng thực cảnh nhà tan cửa nát của
những người nông dân
(4) Làm sai thì cần thực thà nhận lỗi, không nên bao biện.
(5) Chúng ta có nhiệm vụ giữ gìn những cái tinh tú của văn hoá dân tộc.
=>Sửa lại bằng những từ sau : (1) điểm yếu hoặc nhược điểm,(2) bầu hoặc chọn,
(3)chứng kiến, (4) thành khẩn và nguỵ biện, (5) tinh tuý
*Bài tập SGK :Bài 1b,c/68,Bài 1/75.Bài 2/ 78,Bài 3a/76.
IV Từ loại và cụm từ.
1.Danh từ:
a.Nghĩa khái quát: Là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm…
b.Đặc điểm ngữ pháp của danh từ:
Trang 6-Khả năng kết hợp:Danh từ có thể kết hợp với từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ này, nọ,
ấy, kia,…và một số từ khác ở sau để tạo thành cụm danh từ.
-Chức vụ ngữ pháp của danh từ:
+Điển hình là làm chủ ngữ: Công nhân này// đang làm việc.
+Khi làm vị ngữ phải có từ là đi kèm :Tôi// là người Việt Nam.
-Các loại danh từ: Xem mô hình danh từ sau:
+Danh từ đơn vị:nêu tên đơn vị dùng để tính đếm, đo lường sự vật
+Danh từ chỉ sự vật: nêu tên từng loại hoặc từng cá thể người, vật, hiện tượng, khái niệm… Danh từ chung : là tên gọi một loại sự vật : (VD: trường, lớp, nhà, xe,…
Danh từ riêng:tên riêng của từng người, từng vật, từng địa phương (VD: Hồ Chí Minh, An Giang, Việt Nam….)
-Cách viết hoa danh từ riêng (Quy tắc viết hoa ) ghi nhớ sgk T-109
2 Cụm danh từ:
a.Nghĩa khái quát:Là tổ hợp từ do danh từ với một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành
b.Đặc điểm ngữ nghĩa của cụm danh từ: nghĩa của cụm danh từ đầy đủ hơn một danh từ (công nhân/chú công nhân kia)
c.Chức vụ ngữ pháp của cụm danh từ: giống như danh từ
*Mô hình cụm danh từ đầy đủ:
3.Số từ và lượng từ:
* Số từ: Là những từ chỉ số lượng và thứ tự của sự vật
-Khi biểu thị số lượng sự vật, số từ thường đứng trước danh từ (ví dụ: hai con gà, ba học
sinh…)
-Khi biểu thị số thứ tự, số từ đứng sau danh từ (ví dụ: Canh bốn canh năm vừa chợp mắt; Tôi //
là con thứ nhất.)
Lưu ý: Phân biệt số từ với danh từ đơn vị (số từ không trực tiếp kết hợp với chỉ từ, trong khi đó
danh từ đơn vị có thể trực tiết kết hợp được với số từ ở phía trước và chỉ từ ở phía sau)
Ví dụ: không thể nói: một đôi con trâu, mà có thế nói là:một đôi gà kia
* Lượng từ: Là những từ chỉ lượng ít hay nhiều của sự vật
Lượng từ được chia thành hai nhóm:
Danh từ
Danh từ chỉ đơn
vị
Danh từ chỉ sự vật
Đơn vị tự nhiên Đơn vị quy ước
Danh từ chung Danh từ riêng
Chính xác
Ước chừng
Trang 7+ Lượng từ chỉ ý nghĩa toàn thể: tất cả, tất thảy, cả,…
+ Lượng từ chỉ ý nghĩa tập hợp hay phân phối: những, mỗi, mọi, từng, các,…
*Phân biệt số từ và lượng từ:
- Số từ chỉ số lượng cụ thể và số thứ tự (một, hai, ba, bốn, nhất, nhì…)
- Lượng từ chỉ lượng ít hay nhiều (không cụ thể: Những, mấy, tất cả, dăm, vài…)
4 Chỉ từ:
* Chỉ từ là những từ dùng để trỏ vào sự vật, nhằm xác định vị trí (định vị) của sự vật trong không gian hoặc thời gian
* Hoạt động của chỉ từ trong câu:
+ Làm phụ ngữ S
2 ở sau trung tâm cụm danh từ (theo dõi chỉ từ “kia” ở mô hình cụm danh từ trên)
+ Làm chủ ngữ hoặc trạng ngữ trong câu
Ví dụ: Chỉ từ (đó) làm chủ ngữ và định vị sự vật trong không gian
(Đó // là quê hương của tôi.)
C V
Ví dụ: Chỉ từ (ấy) làm trạng ngữ và định sự vật trong thời gian
(Năm ấy, tôi// vừa tròn ba tuổi.)
TN C V
5 Động từ:
- Động từ là những từ chỉ hành động, trạng thái của sự vật
- Động từ thường kết hợp với các từ đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, đừng, chớ… để tạo thành
cụm động từ
- Chức vụ ngữ pháp của động từ:
+ Chức vụ điển hình là làm vị ngữ.
+ Khi làm chủ ngữ, động từ thường mất hết khả năng kết hợp với các từ đã, sẽ, đang, hãy….
-Động từ chia làm hai loại:
+Động từ tình thái (thường đòi hỏi có động từ khác đi kèm:
+Động từ chỉ hành động, trạng thái : động từ chỉ hành động (đi, đững, nằm, hát…) và động từ trạng thái(yêu, ghét, hờn, giận…, vỡ, gãy, nát…)
6.Cụm động từ:
*Cụm động từ là tổ hợp từ do động từ một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành (đang học bài,…) Đt
*Cụm động từ có ý nghĩa đầy đủ và có cấu tạo phức tạp hơn một động từ
*Chức vụ ngữ pháp của cụm động từ:giống như động từ
-Làm vị ngữ
-Làm chủ ngữ: không có phụ ngữ trước (ví dụ:Đi // là hành động quả quyết.)
-Cụm động từ có cấu tạo đầy đủ gồm ba phần: Xem SGK/148
*Mô hình sau:
7.Tính từ và cụm tính từ:
- Tính từ là những từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hành động, trạng thái
- Các loại tính từ: Tính từ chỉ đặc điểm tuyệt đối: trắng bóc, đỏ chót… (không kết hợp với
các từ chỉ mức độ,), tính từ chỉ đặc điểm tương đối: đỏ, xanh, vàng… (kết hợp được với từ chỉ mức độ)
- Tính từ và cụm tính từ có thể làm vị ngữ, chủ ngữ trong câu Khả năng làm vị ngữ của tính
từ hạn chế hơn động từ
Ví dụ: Vàng // là màu của lá
tt
- Cụm tính từ ở dạng đầy đủ nhất gồm 3 phần: (Có thể vắng phụ trước, phụ sau nhưng phần
TT không thể vắng mặt)
+ Phụ ngữ ở phần trước;
Trang 8+ Phần trung tõm;
+ Phần sau
-Cấu tạo mụ hỡnh :
C/TẬP LÀM VĂN
I, CÁC B ƯỚC LÀM MỘT BÀI VĂN TỰ SỰ
Bớc 1: Tìm hiểu đề
Tìm hiểu đề là đọc kĩ đề bài , xác định các từ ngữ quan trọng, từ đó nắm vững yêu cầu của đề bài
Bớc 2: Lập ý
Lập ý là xác định nội dung sẽ viết theo yêu cầu của đề, cụ thể là xác định nhân vật, sự việc, diễn biến, kết quả và ý nghĩa câu chuyện
Bớc 3: Lập dàn ý
Sắp xếp việc gì kể trớc, việc gì kể sau để ngời đọc theo dõi đợc câu chuyện, hiểu đợc ý
định của ngời viết
*Dàn bài
- Mở bài: Giới thiệu về nhân vật, sự việc
- Thân bài: Kể diễn biến sự việc
- Kết bài: Kể kết cục câu chuyện
Bớc 4: Viết bài
Bớc 5: Sửa bài
II/ CÁC BÀI VIẾT THAM KHẢO:
*Đề bài: Trong vai Lạc Long Quân, hãy kể lại câu chuyện Con Rồng cháu Tiên
*Bài viết Thuở ấy, đã lâu lắm rồi, có lẽ đến hơn 4000 năm về trớc, lúc đất nớc ta vẫn còn hoang sơ lắm Trên đất chủ yếu là núi đồi, cỏ cây hoa lá chứ cha có con ngời đông đúc
nh bây giờ Trên trời, dới nớc, mỗi vùng đất đều do các vị thần tiên cai quản, trông nom
Là con trai của thần Long Nữ, vị thần đợc thần trời giao cho cai quản vùng sông nớc Lạc Việt, cha mẹ đặt tên cho ta là Lạc Long Quân Đợc cha mẹ chỉ dạy đủ điều từ thủơ
ấu thơ, lại thêm sức lực vốn có của giống rồng, ta đã luyện đợc rất nhiều phép lạ Thủơ
ấy, khi ta còn trẻ, ta thờng hay xin phép Đức Long Vơng lên trần gian thăm thú, giúp dân diệt trừ bọn yêu tinh, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cách ăn ở Trần gian nhiều cảnh đẹp khiến ta gắn bó nh đang sống dới thủy cung
Một hôm, đang thoả chí ngao du sơn thuỷ, ta say hứng quá chân lên tận vùng núi cao phơng Bắc Bỗng ta gặp một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần Hỏi ra mới biết nàng là
Âu Cơ, con gái Thần Nông Nghe nói vùng Lạc Việt có nhiều hoa thơm, cỏ lạ, nàng xin phép cha dạo bớc đến thăm Ta cùng Âu Cơ mến cảnh hợp ngời, đem lòng yêu thơng rồi thề ớc nguyện cùng chung sống trọn đời
Ít lâu sau, Âu Cơ có mang Kỳ lạ thay! Đến ngày sinh nở, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng Rồi trăm trứng nở ra trăm con đều đẹp đẽ, hồng hào chẳng cần bú mớm mà
tự lớn lên nh thổi Vợ chồng ta hết sức vui mừng, hết lòng chăm chút cho đàn con nhỏ Sống ở trần thế đã lâu, ta cũng thấy nóng lòng ở thuỷ cung, cha mẹ đã già, công việc không biết ai gánh vác Trăn trở nhiều lần, ta nghĩ: "Âu Cơ vốn thuộc dòng tiên hợp với non cao, ta lại là giống rồng quen sông nơi biển cả; tính tình, tập quán hẳn có nhiều cái khác nhau nên một cuộc biệt ly trong nauy mai khó là tránh khỏi Ta bèn gọi trăm con cùng Âu Cơ và nói:
Trang 9- Ta và vàng tuy sống cha lâu nhng nghĩa tình đến sông cạn đá mòn cũng không thay đổi Ta nghĩ, ta là giống rồng, nàng là giống tiên, vậy khó mà tính kế dài lâu đ ợc Nay vì đại nghiệp và vì sự mu sinh của trăm con, ta sẽ đa 50 con xuống biển, nàng đa 50 con lên núi, chia nhau ra mà cai quản các phơng hễ có việc gì thì báo cho nhau để mà
t-ơng trợ
Âu Cơ nghe thấy hợp tình cũng đành nghe theo, cuộc chia ly ngậm ngùi, da diết
Ta đa 50 con xuống vùng đồng thấp dạy các con nghề biển mà an c lập nghiệp Âu Cơ đa các con lên núi cao, lập con trởng làm vua, lấy hiệu là Hùng Vơng, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt nớc hiệu là Văn Lang, truyền đời nối ngôi đều lấy hiệu Hùng Vơng, không hề thay đổi
Sau đó rất lâu, ta và Âu Cơ không gặp lại nhau nhng tình nghĩa vẫn không phai Hơn thế, nghĩa "đồng bào" trong trăm con ta cũng không thay đổi Bởi thế cho nên đến tận ngày nay, trên đất nớc ta dẫu có tới trên 50 dân tộc, nhng đều là anh em ruột thịt một nhà
*Đề bài: Trong vai Thánh Gióng, hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng
*Bài viết Các cháu có biết ta là ai không? Ta chính là Thánh Gióng, ngời năm xa đã một mình
đánh thắng lũ giặc Ân hung ác Bây giờ ta sẽ kể cho các cháu nghe về cuộc đời của ta lúc bấy giờ nhé!
Các cháu ạ! Ta vốn là sứ thần của Ngọc Hoàng sai xuống giúp đỡ dân làng đánh
đuổi quân xâm lợc đang nhăm nhe xâm chiếm nớc ta Muốn đợc sống cùng với nhân dân, Ngọc Hoàng ra lệnh cho ta đầu thai xuống một gia đình lão nông hiếm muộn đờng con cái Một ngày đẹp trời ta thấy bà lão phúc hậu vào rừng, ta liền hoá thành một vết chân to và bà lão đã tò mò ớm thử vậy là ta đầu thai vào bà cụ Khỏi phải nói hai ông bà
đã vô cùng mừng rỡ khi chờ mãi, sau mời hai tháng ta mới ra đời Ông bà càng vui hơn khi thấy ta rất khôi ngô tuấn tú Hai ông bà chăm sóc yêu thơng ta hết lòng, ông bà ngày ngày mong ta khôn lớn nh những đứa trẻ khác ấy vậy mà mãi đến tận năm ba tuổi ta vẫn chẳng biết cời, nói cũng chẳng biết đi Các cụ rất buồn, thấy vậy ta rất thơng nhng vì sứ mệnh mà Ngọc Hoàng đã trao cho nên ta vẫn phải im lặng
Thế rồi giặc Ân đến xâm lợc nớc ta, chúng kéo đến đông và mạnh khiến ai ai cũng lo
sợ Nhìn khuôn mặt lo âu của dân làng và cha mẹ, ta biết rằng đã đến lúc ta phải ra tay giúp đỡ họ Một hôm, đang nằm trên giờng nghe thấy sứ giả đi qua rao tìm ngời giỏi cứu nớc, thấy mẹ đang ngồi buồn rầu lo lắng, ta liền cất tiếng bảo mẹ:
- Mẹ ơi! Mẹ đừng buồn nữa, mẹ hãy ra mời sứ giả vào đây cho con nói chuyện
Nghe ta cất tiếng nói mẹ vô cùng ngạc nhiên, mừng rỡ và mẹ ta càng ngạc nhiên hơn khi ta đòi gặp sứ giả vì đó không phải là chuyện đùa, đọc thấy nỗi lo của mẹ ta vội trấn
an mẹ:
- Mẹ đừng lo lắng gì cả cứ ra mời sứ giả vào đây!
Nửa tin nửa ngờ nhng mẹ ta vẫn vội vã ra mới sứ giả vào Sứ giả bớc vào căn nhà nhỏ tuềnh toàng của cha mẹ ta, ông ta vô cùng ngạc nhiên nhìn thấy ta lúc này vẫn chỉ
là thằng bé nằm ở trên giờng, sứ giả có vẻ không tin tởng lắm nhng khi nghe ta nói:
"Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta
sẽ phá tan lũ giặc này" Nghe những lời nói đầy quả quyết của ta sứ giả hiểu rằng ta không phải là một đứa trẻ bình thờng, sứ giả vội vã trở về tâu với vua và vua cũng vui mừng truyền thợ giỏi ở khắp nơi đến làm gấp những thứ ta cần Ai ai cũng phấn khởi khi thấy vua đã tìm đợc ngời tài
Trang 10Còn ta khi sứ giả đi rồi ta liền vùng dậy và vơn vai mấy cái đã thành ngời lớn Ta bảo mẹ nấu cho ta nồi cơm ăn cho no để chuẩn bị đi đánh giặc Mâm cơm vừa bng lên ta
ăn một loáng đã hết nhẵn mà chẳng thấy no gì cả, mẹ lại đi nấu nồi khác cho đến khi nhà không còn gì để ăn Ta ăn vào bao nhiêu thì lớn nh thổi bấy nhiêu, đến nỗi quần áo phải thay liên tục Mẹ ta thấy ta ăn ba nhiêu cũng cha no trong khi gạo thì đã hết, bà cụ liền chạy nhờ bà con hàng xóm Bà con đều vui lòng giúp mẹ ta vì biết ta là ngời sẽ đi
đánh giặc cứu dân làng Mọi ngời đến nhà ta nờm nợp, ngời có gạo góp gạo, ngời có rau, cà góp rau cà, tóm lại ai có gì góp nấy Mọi ngời còn đến giúp mẹ ta thổi cơm cho ta
ăn, ta ăn bao nhiêu lại to lớn lừng lững bấy nhiêu Những ngày đó làng ta ai cũng khấp khởi vui mừng vì mong đợi ta nhanh chóng đi giết giặc, cứu nớc
Một ngày, dân làng nhận đợc tin giặc đã kéo đến chân núi Trâu Làng ta lại đợc một phen khiếp sợ, trẻ con kêu khóc, ngời lớn thì lo âu, các cụ già thì trầm ngâm, ai ai cũng khiếp sợ Mọi ngời nhìn ta nh cầu cứu Ta rất hiểu tâm trạng của họ và đúng lúc đó sứ giả đem những thứ ta cần đến Lúc này, ta vùng đứng dậy, vơn vai một cái đã biến thành một tráng sĩ cao lớn phi thờng, thế nên tất cả những thứ sứ giả vừa mang đến chẳng còn vừa với ta nữa Thấy vậy, mọi ngời lại tức tốc đi tìm thợ về rèn ngựa sắt, áo giáp sắt cho ta, họ làm ra chiếc nào lại cho ta thử chiếc ấy và ta chỉ khẽ bẻ đã gẫy, mãi sau mới có những thứ vừa với sức ta Mọi thứ đã đợc chuẩn bị sẵn sàng, ta liền mặc áo giáp sắt, tay cầm roi sắt, nhảy lên mình ngựa, oai phong lẫm liệt Ta nhớ hôm đó bà con
ra tiễn ta rất đông mọi ngời nhìn ta đầy tin tởng, khắp nơi vang lên lời chúc chiến thắng
và ta còn nhìn thấy cả những giọt nớc mắt tự hào, yêu thơng của cha mẹ ta Từ biệt bà con xóm giềng, cha mẹ những ngời đã yêu thơng, nuôi nấng, ta thầm hứa sẽ chiến đấu hết lòng để không phụ công của bà con dân làng, cha mẹ
Sau phút chia tay, một mình một ngựa ta lao thẳng vào trận đánh Ngựa đi đến đâu phun lửa rừng rực đến đó, lũ giặc vô cùng khiếp sợ Chúng đổ rạp và tan xác dới roi sắt của ta và ngọn lửa của con chiến mã Cả bãi chiến trờng đầy thây quân giặc Đúng lúc thế trận đang lên nh vũ bão thì cây roi sắt trong tay ta gẫy gập, ta liền nhổ lấy những khóm tre quanh mình quật liên tiếp vào lũ giặc Lũ giặc lại đợc một phen khiếp sợ, rơi vào thế hỗn loạn và chẳng mấy chốc bỏ chạy tan tác khắp nơi Những tên may mắn sống sót vội vã thoát thân bỏ chạy vào hẻm núi sâu, tìm cách trở về nớc Làng quê sạch bóng quân thù Tiếng reo vui của dân làng vang lên rộn rã
Nhìn trăm họ hạnh phúc ta vô cùng sung sớng, vậy là sứ mệnh Ngọc Hoàng giao cho ta đã hoàn thành, chợt nhớ đến cha mẹ già ta cũng muốn về thăm nhng lời Ngọc Hoàng dặn dò khi hoàn thành sứ mệnh phải trở về trời khiến ta chẳng dám trái lệnh Nhìn đất nớc, dân làng một lần cuối ta thúc ngựa phi lên đỉnh núi, cởi bỏ áo giáp sắt, rồi cả ngời và ngựa lẳng lặng bay về trời Ta ra đi nhng trong lòng đầy tiếc nuối vì không
đ-ợc sống cùng những ngời dân hiền lành tốt bụng Dẫu vậy, ta cũng hài lòng vì từ đây ai
ai cũng đợc sống trong cảnh thanh bình, hạnh phúc
Sau đó, vua đã phong cho ta là Phù Đổng Thiên Vơng Ta cảm thấy rất vui khi đợc nhận danh hiệu đó, bởi ta đã đem đến sự bình yên và hạnh phúc cho mọi ngời Đó chính là điều quý giá nhất đối với ta, nó còn quý hơn cả ngọc ngà châu báu mà nhà vua hứa ban tặng cho ta sau khi đánh thắng quân giặc
*Đề bài: Tởng tợng và kể lại cuộc gặp gỡ với một nhân vật trong truyền thuyết mà
em đã học.
*Bài viết
Năm nay tôi học lớp 6 và môn học tôi thích nhất là môn văn vì ở đó tôi đợc đọc nhiều câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, truyện cời vô cùng thú vị Nhắc đến truyện truyền thuyết tôi lại nhớ ra một lần nh thế này…
Lần ấy, tôi mải mê đọc những truyện truyền thuyết và đến lúc mệt quá rồi tôi vẫn