1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải

96 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tình hình TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải. Tổng hợp những lý luận cơ bản về TTSP nói chung và TTSP gạch đất sét nung nói riêng. Thực trạng tình hình TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải. Xác định một số yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải. Đề xuất một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải.

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, quá trình CNH – HĐH và đô thịhoá đất nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với đó là nhu cầu về nguyên vật liệucho xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp và các công trình xây dựng dân dụngnói chung ngày càng tăng Trong các loại nguyên vật liệu thì gạch đất sét nung làloại vật liệu không thể thiếu trong các công trình xây dựng vì gạch là loại vật liệutạo nên hình dáng cấu trúc ban đầu cho các công trình đồng thời nó còn tạo nên sựbền vững cho các công trình đó

Tiêu thụ sản phẩm (SP) là khâu quan trọng trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của một doanh nghiệp (DN), là cầu nối trung gian một bên là sản xuất, phânphối và một bên là tiêu dùng Trước kia, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh Hoạt động tiêu thụ sản phẩm(TTSP) của các doanh nghiệp Nhà nước trong thời kỳ này là giao nộp sản phẩmcho các đơn vị theo địa chỉ và giá cả do Nhà nước quy định Do đó không tạo rađộng lực thúc đẩy hoạt động tiêu thụ cũng như sản xuất kinh doanh (SXKD) củadoanh nghiệp Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được xác định

là đơn vị tự chủ, họ phải tự lập kế hoạch cho quá trình sản xuất kinh doanh củamình Tiêu thụ sản phẩm là hoạt động có ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh vì vậy tiêu thụ sản phẩm đã trở thành một trong nhữngkhâu quan trọng mà các DN phải đặc biệt quan tâm Trong tình trạng cạnh tranhngày càng gay gắt như hiện nay các DN buộc phải năng động sáng tạo tìm ra cácbiện pháp tốt, phù hợp đẩy mạnh TTSP của DN, như vậy mới đảm bảo cho sự tồntại

Trong thực tế, không ít những SP của một số DN rất tốt nhưng tiêu thụ lại rấtchậm, thậm chí không tiêu thụ được do không biết cách tổ chức TTSP Do vậy,

Trang 2

TTSP là công việc vô cùng khó khăn đòi hỏi các DN phải suy nghĩ và tìm ra các biệnpháp phù hợp, khoa học để đẩy mạnh việc TTSP của DN mình

Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải có ngành nghề là SXKD cácloại gạch đất sét nung Là một đơn vị kinh tế tự chủ do đó việc kinh doanh củaCông ty đòi hỏi phải có công tác tiêu thụ thất tốt để bán được nhiều hàng hoá vàthu được lợi nhuận cao, nhưng cũng đòi hỏi Công ty phải đảm bảo chất lượng SPcủa mình để ngày càng nâng cao vị thế trên thị trường Từ sau khi cổ phần hoá năm

2005 đến nay, Công ty đã đạt được nhiều thành tựu và cố gắng vươn lên giành vịthế trên thị trường Tuy nhiên, Công ty vẫn gặp nhiều khó khăn đặc biệt trong côngtác TTSP Vậy những thành tựu mà Công ty đã đạt được là gì và những khó khăntrong công tác TTSP mà Công ty đang gặp phải là gì? Xuất phát từ lý luận và thực

tế của Công ty, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình tiêu

thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu tình hình TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư vàxây dựng Tiền Hải, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TTSPgạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Tổng hợp những lý luận cơ bản về TTSP nói chung và TTSP gạch đất sétnung nói riêng

- Thực trạng tình hình TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư

và xây dựng Tiền Hải

- Xác định một số yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động TTSP gạch đất sétnung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải

- Đề xuất một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động TTSP gạch đất sét nung củaCông ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải

Trang 3

1.2.3 Một số câu hỏi nghiên cứu đặt ra

- Thực trạng tình hình TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư

và xây dựng Tiền Hải mấy năm qua (2006 – 2008) như thế nào? (Số lượng, thịtrường, giá cả, kênh phân phối,…)

- Việc TTSP gạch đất sét nung của Công ty còn những bất cập gì? Tại sao lại

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư

và xây dựng Tiền Hải

Trang 4

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài

2.1.1 Một số lý luận cơ bản về thị trường

2.1.1.1 Khái niệm thị trường

Thị trường là một khái niệm được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác khau, tuynhiên nó luôn gắn với sản xuất hàng hoá Đã có nhiều lĩnh vực đề cập đến kháiniệm thị trường:

- Theo quan điểm kinh tế vĩ mô: Thị trường là nơi chứa đựng tổng cung vàtổng cầu

- Theo quan điểm kinh tế cho rằng: Thị trường gồm tất cả các người mua,người bán có hoạt động trao đổi với nhau các hàng hoá hay dịch vụ nhằm thoả mãnnhu cầu cho nhau

- Theo kinh tế chính trị: Thị trường là biểu hiện của sự phân công lao động

xã hội

- Theo Marketing phát triển định nghĩa thị trường như sau: Thị trường baogồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể,sẵn sang và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó(Nguyễn Nguyên Cự, 2005)

Hay “Thị trường là tập hợp tất cả những người mua thật sự hay người muatiềm tàng đối với một sản phẩm” (Quách Thị Bửu Châu và cộng sự, 2006)

Theo Trần Hữu Cường (2008), Thị trường là một khu vực hoặc một vị trí (cảthực và ảo) nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng và họ có sự giao tiếp vớinhau, nơi mà điều kiện cung và cầu hoạt động, làm cho hàng hoá được chuyển dịchtới vị trí yêu cầu

2.1.1.2 Chức năng của thị trường

* Chức năng thừa nhận: Trách nhiệm của các DN là phải nghiên cứu thịtrường để cho ra đời các loại sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với thị hiếu tiêu dùng

Trang 5

Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào việc sản phẩm hay dịch vụ của các DN có đượcthị trường thừa nhận hay không Nói cách khác sản phẩm, dịch vụ được thị trườngthừa nhận là điều kiện chúng thực hiện được giá trị của mình Thị trường thừa nhậncác nội dung sau:

- Thị trường thừa nhận chủng loại và cơ cấu chủng loại hàng hoá

- Thị trường thừa nhận khối lượng sản phẩm hàng hoá

- Thị trường thừa nhận giá cả

- Thị trường thừa nhận phương thức trao đổi đối với một loại hàng hoá haydịch vụ cụ thể nào đó

* Chức năng thực hiện: Thông qua chức năng này hàng hoá và dịch vụ sẽhoàn thành quá trình chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ Quá trìnhtrao đổi hay mua bán là quá trình chủ yếu diễn ra trên thị trường Thông qua quátrình này sản phẩm hay dịch vụ bằng quan hệ cung cầu sẽ hình thành nên giá cả, cơ

sở để thanh toán và điều kiện để thoả mãn nhu cầu Kết thúc một quá trình muabán, chức năng thực hiện của thị trường đã được hoàn thành

* Chức năng điều tiết kích thích: Lợi nhuận là mục đích cao nhất của quátrình sản xuất Lợi nhuận kinh doanh chỉ hình thành thông qua hoạt động thịtrường, vì vậy thị trường vừa là môi trường vừa là động lực để điều tiết kích thíchcác hoạt động sản xuất kinh doanh của DN - sự điều tiết và kích thích sản xuất thểhiện ở các khía cạnh:

- Dựa vào nhu cầu các loại sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường, các DN cóthể điều chỉnh các yếu tố sản xuất từ ngành này sang ngành khác, từ sản phẩm nàysang sản phẩm khác để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn

- Sự thay đổi nhu cầu và cơ cấu nhu cầu bắt buộc các DN phải thay đổiphương hướng kinh doanh cho phù hợp hơn

- Thị trường sẽ ra tạo động lực cạnh tranh Những DN mạnh sẽ phải phát huylợi thế của mình để phát triển, các DN yếu sẽ phải tìm cách đổi mới, vươn lên đểtồn tại nếu không muốn phá sản

Trang 6

- Thị trường có vai trò quan trọng trong điều tiết cung - cầu thông qua hệthống giá cả DN muốn tồn tại phải tính toán các nguồn lực, tiết kiệm chi phí để cómức giá phù hợp.

* Chức năng thông tin: Trên thị trường sẽ hình thành nên hệ thống thông tin

đa chiều Hệ thống thông tin Marketing là hệ thống hoạt động thường xuyên của sựtương tác giữa con người, thiết bị và phương tiện kỹ thuật dùng để thu thập, phântích, đánh giá và truyền đi những thông tin chính xác kịp thời và cần thiết để ngườiphu trách lĩnh vực Marketing sử dụng chúng với mục tiêu lập, tổ chức thực hiện,điều chỉnh kế hoạch Marketing và kiểm tra hiệu quả của hoạt động Marketing.Chức năng này bao gồm:

- Tổ chức hệ thống phương tiện thông tin phù hợp với điều kiện thị trường vànăng lực của DN

- Tổ chức thu thập thông tin

- Tổ chức phân tích thông tin đã thu thập được

- Đánh giá kết quả thông tin và truyền thông

Bốn chức năng trên của thị trường có quan hệ mật thiết với nhau, mỗi hiệntượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thực hiện bốn chức năng này, mỗi chứcnăng đều có tầm quan trọng của nó, tuy nhiên cũng phải thấy rõ khi thực hiện đượcchức năng thứ nhất thì các chức năng khác mới phát huy được tác dụng

2.1.2 Một số lý luận cơ bản về TTSP

2.1.2.1 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm

Trong nền kinh tế thị trường đối với bất kỳ DN nào thì TTSP cũng là quantrọng nhất Nó là cầu nối trung gian giữa người sản xuất với người tiêu dùng.Thông qua quá trình này SP hàng hóa dịch vụ được chuyển từ hình thái hiện vậtsang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn của DN được hoàn thành đồng thờitính hữu ích của hàng hóa được thừa nhận

Tiêu thụ SP hàng hóa dịch vụ là quá trình đưa hàng hóa đến tay người tiêudùng thông qua hình thức mua bán (Nguyễn Tấn Bình, 2000)

Trang 7

Tiêu thụ SP là giai đoạn cuối cùng của quá trình SXKD, là yếu tố quyết địnhđến sự tồn tại và phát triển của DN bởi có tiêu thụ được thì mới thực hiện được quátrình tái sản xuất.

2.1.2.2 Vai trò của TTSP

Hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành qua nhiều khâu kế tiếp nhau,mỗi khâu có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời với các khâu khác Các khẩucủa hoạt động sản xuất kinh doanh được ví như một mắt xích trong cả một hệ thốngmắt xích nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đựơc trơn tru Mắt xíchnày được gắn liền với mắt xích kia tạo ra sự chuyển động liên tục và cái này là tiền

đề, bổ trợ cho cái kia TTSP là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, song nólại rất quan trọng, cũng có khi giữ vai trò quyết định các vấn đề trong quá trình tồntại và phát triển của DN

Trong giai đoạn sản xuất hàng hoá giản đơn, quan hệ hàng hoá và tiền tệchưa hình thành rõ nét thì khi đó chưa có lưu thông hàng hoá mà chỉ có hình thức

sơ khai của nó là trao đổi sản phẩm Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngườithì hình thức trao đổi hàng hoá đã phát triển lên hình thức cao hơn Đó là lưu thônghàng hoá gắng liền với nó là quan hệ hàng hoá, tiền tệ ra đời

TTSP là khâu quyết định sự thành bại của DN Lợi nhuận trong sản xuất kinhdoanh thu đựơc thông qua việc bán hàng do đó tiêu thụ là khâu quan trọng chi phốicác khâu nghiệp vụ khác Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN đòi hỏi phảiđược diễn ra liên tục và nhịp nhàng giữa các chu kỳ kinh doanh khác Hiệu quảkinh doanh đựơc đánh giá bởi nhiều nhân tố trong đó có tốc độ quay vòng vốn Tốc

độ quay vòng vốn lại phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tiêu thụ lại là tấm gương đểphản chiếu tình hình kinh doanh của các DN

TTSP là khâu hết sức quan trọng đối với bản thân mỗi DN và đối với toàn bộnền kinh tế quốc dân Thông qua tiêu thụ, tính hữu ích của sản phẩm mới được xácnhận một cách hoàn toàn Có tiêu thụ đựơc hàng hoá thì mới thu hồi được vốn cónghĩa là tăng nhanh số lượng tiêu thụ là tăng nhanh vòng quay của vốn và lãi suất

Trang 8

phải trả cho việc vay vốn Sau quá trình tiêu thụ DN không những thu tổng số tiềnliên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện được giá trị laođộng thặng dư, thể hiện được ở mức thu nhập thuần tuý của bản thân DN và củaNhà nước Thông qua tiêu thụ, lợi nhuận của DN được thực hiện đó là nguồn cơbản nhằm bổ sung vào nguồn vốn tự có của DN, giúp DN hình thành các quỹ củamình… Ngoài ra, TTSP tốt sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xãhội Bới vì tổ chức tốt quá trình TTSP tức là chủ động tạo ra nhu cầu, kích thíchtiêu dùng từ đó có sự tác động trở lại quá trình tái sản xuất, và cứ như thế nhằmthúc đẩy nhanh sự phát triển của xã hội.

Đối với các DN sản xuất, tiêu thụ có vị trí quan trọng quyết định tới toàn bộhoạt động của DN Bởi vì hiệu quả kinh doanh của DN được đánh giá thông quakhối lượng hàng hoá được bán ra trên thị trường Nếu tiêu thụ bị đình trệ thì mọihoạt động khác cũng bị đình trệ theo Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiệnnay, nâng cao khối lượng hàng hoá bán ra trên thị trường có nghĩa là DN đã nângcao được khả năng cạnh tranh trên thị trường, quyết định sự sồng còn của DN đồngthời cân đối cung cầu trên thị trường va quyết định quá trình tái sản xuất của DN

Hoạt động TTSP cũng thể hiện mục tiêu của DN là hướng tới khách hàng.Hoạt động này tạo ra nhu cầu mà thực chất là nhu cầu về Sản phẩm hàng hoá mộtcách có hệ thống và tìm cách làm tăng ý thức về nhu cầu đó Chính hoạt động nàyđòi hỏi các DN phải có tầm hiểu biết và nhanh nhạy với thị trường, đặc biệt là cóđội ngũ kinh doanh giỏi

- Bán được hàng và thu tiền

- Tăng doanh thu và lợi nhuận cho DN

Trang 9

- Tăng thị phần cho DN

- Tăng khả năng cạnh tranh và tài sản vô hình cho DN

- Phục vụ khách hàng

2.1.2.4 Ý nghĩa của việc TTSP

TTSP hàng hoá là quá trình sản phẩm được vận động từ nơi sản xuất tới nơitiêu dùng Đặc điểm lớn nhất của sản phẩm ở mỗi DN là nó được sản xuất ra vàđem đi bán nhằm thực hiện những mục tiêu hiệu quả đã định trước đó là:

* Mục tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó là chỉ tiêu quantrọng phản ánh hiệu quả của sản xuất kinh doanh Có lợi nhuận thì mới tái sản xuất

mở rộng được mà lợi nhuận là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng (doanh thutiêu thụ) và tổng chi phí mà DN đã bỏ ra trong quá trình sản xuất

Công tác TTSP tốt sẽ thu được lợi nhuận nhiều và không tiêu thụ được hoặctiêu thụ được ít thị lợi nhuận sẽ thấp, có thể hoà vốn hoặc lỗ Đẩy mạnh công tácTTSP là tăng nhanh vòng quay của vốn kinh doanh qua đó có khả năng tiết kiệmvốn tăng lợi nhuận cho DN

* Mục tiêu vị thế của DN

Vị thế của DN trên thị trường biểu hiện ở phần trăm doanh số hoặc số lượnghàng hoá được bán ra so với số lượng hàng hoá của toàn bộ thị trường, con số nàycàng lớn thì vị thế của DN càng lớn Do đó TTSP có ý nghĩa quyết định đến vị thếcủa DN trên thị trường Tuy nhiên, để có được vị thế lớn trên thương trường trongđiều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay là rất khó khăn, nó đòi hỏi DN phải hếtsức có gắng tận dụng mọi thời cơ, cơ hội và vị thế của mình để dành lấy thị trường

có như vậy mới đảm bảo chiến thắng trong cạnh tranh

* Mục tiêu an toàn

Hàng hoá là những vật phẩm được sản xuất ra để bán Đối với các DN, sảnphẩm sau khi được sản xuất ra phải đem đi bán trên thị trường để thu tiền về thì DNmới có khả năng tái sản xuất và quá trình kinh doanh mới diễn ra liên tục được

Trang 10

Nếu không bán được hàng thì sẽ ứ đọng vốn và thua lỗ kéo dài sẽ dẫn tới phá sản.

Vì vậy, TTSP sẽ giúp cho quá trình kinh doanh được diễn ra liên tục và có hiệu quảnhằm đảm bảo an toàn cho kinh doanh của DN

* Mục tiêu đảm bảo tái sản xuất liên tục

Quá trình tái sản xuất đảm bảo gồm bốn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi,tiêu dùng Quá trình này chỉ diễn ra liên tục khi các khâu của nó diễn ra trôi chảy,nhẹ nhàng TTSP nằm trong khâu phân phối và trao đổi do đó nó là một bộ phậnhữu cơ của quá trình tái sản xuất Mặt khác, khi tái sản xuất diễn ra liên tục lại giúpcho các hoạt động tiêu thụ diễn ra liên tục, tạo ưu thế trong cạnh tranh và mở rộngthị trường

2.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến TTSP

a Các yếu tố thuộc môi trường ngành

- Khách hàng: Để đẩy mạnh được quá trình TTSP, DN cần thiết phải hiểuđược các nhu cầu khách hàng hiện có hoặc tiềm ẩn, tâm lý hay hành vi tiêu dùngcủa họ đều có thể khêu gợi, đáp ứng thoả mãn, thu hút họ

- Nhà cung cấp nguyên vật liệu: Đây là các công ty chuyên cung cấp các dầuvào cho DN và cho đối thủ cạnh tranh Do đó để đảm bảo cho quá trình sản xuấtcũng như tiêu thụ được diễn ra đúng tiến độ DN cần phải thiết lập mối quan hệ tốtvới họ

- Đối thủ cạnh tranh: Để có thể tồn tại, mở rộng thị trường sản phẩm DN cầnphải nghiên cứu, phát hiện chiến lược của dối thủ cạnh tranh, đánh giá các mặtmạnh, yếu của họ, đánh giá cách họ phản ứng với mỗi hành động xúc tiến tiêu thụcủa ta để có những quyết định cần thiết

- Mối đe doạ xâm nhập: Khi có các đối thủ cạnh tranh mới xâm nhập sẽ xuấthiện nguy có chia rẽ thị trường, cạnh tranh trở nên ác liệt hơn Do đó với tư cách làmột DN tồn tại lâu hơn trên thị trường, DN cần phân tích điểm mạnh yếu của đốithủ mới tham gia thị trường từ đó có chiến lược đối phó để bảo vệ thị trường, tạohàng rào cản trở xâm nhập

Trang 11

- Sản phẩm thay thế: Công ty cần phải phân tích về sản phẩm thay thế thôngthường, thay thế hoàn toàn trên cơ sở đó thấy được nguy cơ hay cơ hội có phản ứngkịp thời, hợp lý (Dương Thế Hữu, 2005).

b Các yếu tố bên trong DN

Mỗi DN đều có tiềm năng riêng nhất định, nó phản ánh thế lực của DN trongquá trình xây dựng các chiến lược, kế hoạch TTSP, cần phải đánh giá tiềm năng đómột cách chính xác để phục vụ cho việc khai thác thời cơ Một chiến lược khôngđược xây dựng trên cơ sở tiềm năng đã đánh giá thì sẽ bị thất bại và kéo theo sau

đó là các chi phí phát sinh vô ích

- Uy tín của DN: Đây là tài sản vô hình, nó không dễ gì mà có trong thờigian ngắn Uy tín của DN sẽ giúp cho việc TTSP tốt hơn Vì vậy các DN phải có sự

cố gắng vươn lên trong sản xuất kinh doanh để tạo lập uy tín và củng cố uy tín củamình

- Sản phẩm và chất lượng sản phẩm của DN: Điều quan trọng đầu tiên đốivới người tiêu dùng cũng như đối với nhà sản xuất là chất lượng sản phẩm Chấtlượng sản phẩm có thể đưa DN tới đỉnh cao của danh lợi hoặc nó có thể đưa DNđến bờ vực của sự phá sản, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của DN Nó có thểgiúp doanh nghệip thu hút thêm khách hàng giành thắng lợi trong cạnh tranh

- Giá cả sản phẩm: Giá cả là thông số ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu trênthị trường Giá cả được sử dụng như một vũ khí cạnh tranh nhưng nếu lạm dụng vũkhí giá cả nhiều khi không thúc đẩy được tiêu thụ hàng hoá mà còn thiệt hại tới lợinhuận, bởi theo quan niệm của người tiêu dùng giá cả thể hiện chất lượng Vì vậynhiều khi đặt giá thấp không phải là thúc đẩy được tiêu thụ

- Hoạt động của người bán hàng và người đại lý chiếm vị trí quan trọng,trung tâm trong hoạt động tiêu thụ vì họ là người trực tiếp thực hiện việc bán hàng,thu tiền về Doanh thu của DN cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của

họ Người bán hàng có ảnh hưởng quan trọng nhất và trực tiếp nhất đến hành vimua hàng của khách hàng vì người bán hàng cùng một lúc thực hiện các hoạt động

Trang 12

quảng cáo, tiếp thị, thuyết phục khách hàng Do đó, hoạt động của người bán hàngtốt không những thúc đẩy được tiêu thụ mà còn tạo ra chữ tín đối với khách hàng,

có tác động trở lại làm tăng mức tiêu thụ (Dương Thế Hữu, 2005)

2.1.2.6 Sản phẩm

Sản phẩm được hiểu là một hệ thống thống nhất các yếu tố có liên hệ chặtchẽ với nhau nhằm thỏa mãn động bộ nhu cầu của khách hàng bao gồm SP vật chất(hiện vật), bao bì, nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ, cách thức bán hàng…(NguyễnXuân Giang, 2005)

Theo quan điểm cổ điển, SP là tổng hợp các đặc tính vật lý, hóa học, có thểquan sát, được tập hợp trong một hình thức đồng bộ nhất là vật mang giá trị sửdụng Trong nền sản xuất hàng hóa, SP chứa đựng các thuộc tính của hàng hóa Nó

là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng Nói cách khác, SP với

tư cách là một hàng hóa nó không chỉ là sự tổng hợp các đặc tính hóa học vật lý,các đặc tính sử dụng mà còn là vật mang giá trị trao đổi hay giá trị (Trương ĐìnhChiến, 2000)

Sản phẩm hàng hóa là “cái gì đó” nhằm thỏa mãn nhu cầu về mong muốncủa con người và được thực hiện thông qua quá trình trao đổi trên thị trường(Nguyễn Nguyên Cự, 2005).“Cái gì đó” ở đây bao gồm cả yếu tố vật chất và phivật chất, đồng thời ngay cả trong SP hàng hóa vật chất cũng chứa đựng các yếu tốphi vật chất trong nó

- Chu kỳ sống của SP

Chu kỳ sống của SP là thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh số tiêu thụ kể

từ khi sản phẩm được tung ra thị trường cho đến khi nó phải rút lui khỏi thị trường(Nguyễn Nguyên Cự, 2005)

Chu kỳ sống của SP có bốn giai đoạn:

+ Giai đoạn tung SP ra thị trường: Đây là giai đoạn mở đầu của việc đưahàng háo ra bán chính thức trên thị trường Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng đốivới công ty, thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớn vào giai đoạn này

Trang 13

+ Giai đoạn phát triển: Đây là giai đoạn ăn nên làm ra của doanh nghiệp,công ty nào cũng mong muốn thời gian của giai đoạn này càng dài càng tốt Tronggiai đoạn này mức tiêu thụ tăng nhanh, lợi nhuận tăng nhưng đồng thời xuất hiệnnhiều đối thủ cạnh tranh.

+ Giai đoạn chín muồi: Đây là giai đoạn sản phẩm hàng hóa tiêu thụ chậm lại

có nghĩa là chúng tràn đầy trên các kênh phân phối, đồng thời sự cạnh tranh sẽ trởnên gay gắt giữa các hãng độc lập do sức ép của việc TTSP Sự cạnh tranh có thểdiễn ra theo các chiều hướng như: hạ giá, khuyến mãi, tăng cường quảng cáo, kíchthích các trung gian… tình hình đó dẫn đến sự giảm sút về lợi nhuận

+ Giai đoạn suy thoái: Là giai đoạn mức tiêu thụ và lợi nhuận giảm sútnghiêm trọng Sự suy giảm đó có thể diễn ra nhanh, chậm, thậm chí đến số không.Cũng có khi sự suy giảm đó diễn ra rồi chững lại ở đó một thời gian

2.1.2.7 Giá cả sản phẩm

Trong nghiên cứu kinh tế, giá được hiểu là “sự biểu hiện bằng tiền của giá trịhàng hóa” Trong kinh doanh và quản trị giá, giá cả được mô tả đơn giản và cụ thểhơn “giá là khoản tiền phải trả cho một thứ gì đó” (Nguyễn Xuân Giang,2005)

Thông thường giá là một yếu tố rất nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh nóichung và hoạt động mua bán nói riêng, bởi giá liên quan đến lợi ích có tính mâuthuẫn giữa người mua và người bán

Giá là số tiền biểu hiện giá trị của một sự chuyển đổi nào đó: giá mua thểhiện sự chuyển đổi lúc đầu vào, giá bán thê hiện sự chuyển đổi lúc đầu ra (NguyễnPhú Giang, 2005)

Đối với người bán, giá cả là khoản tiền trù tính có thể nhận được từ phíangười mua sau khi chuyển cho họ quyền sở hữu hay sử dụng hàng hóa và dịch vụ

đó Còn đối với người mua thì giá cả luôn là chỉ số đầu tiên để đánh giá phần đượcvới chi phí mà họ bỏ ra để có được quyền sở hữu hay sử dụng hàng hóa đó.(Nguyễn Nguyên Cự, 2005)

Trang 14

Phương pháp định giá:

- Phương pháp định giá theo giá thành

Giá bán = Chi phí bình quân 1 đơn vị SP + Lãi dự kiến

Lãi dự kiến: có thể xác định theo giá thành SP hoặc theo doanh số bán

Phương pháp này rất thích hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi lẽ:

+ Đơn giản,dễ tính vì chi phí sản xuất và tiêu thụ là những đại lượng màdoanh nghiệp có thể kiểm soát được

+ Khi nhiều doanh nghiệp trong ngành sử dụng phương pháp này thì giá của

họ sẽ tương tự như nhau, khả năng cạnh tranh về giá thấp

+ Việc định giá theo phương pháp này, nhiều người cảm nhận nó đảm bảo sựcông bằng cho cả người mua và người bán

Tuy nhiên phương pháp này trong nhiều trường hợp nó tỏ ra không hợp lý vì

bỏ qua sự ảnh hưởng của nhu cầu và nhận thức của khách hàng về giá

- Phương pháp định giá theo lợi nhuận mục tiêu

Cơ sở của phương pháp này là đảm bảo chi phí và tỷ suất lơi nhuận mục tiêutrên vốn đầu tư, đồng thời cho phép xem xét tới các mức giá khác nhau và ảnhhưởng có thể có của chúng đến khối lượng tiêu thụ và lợi nhuận Đặc biệt người tacòn có thể dự báo được khoảng thời gian để đạt được điểm hoà vốn và sau đó kinhdoanh có lãi

Tuy nhiên, phương pháp này chưa tính đến giá của đối thủ cạnh tranh và họmạo hiểm vì chưa tính đến độ co giãn của cầu theo giá.

Giá bán theo lợi

`- Định giá theo cạnh tranh

Khi định giá cho sản phẩm của mình các doanh nghiệp phải dựa vào giá củađối thủ cạnh tranh để quyết định, ít quan tâm đến chi phí và nhu cầu

Trang 15

Theo phương pháp này, mức giá của doanh nghiệp đưa ra có thể ngang bằng,thấp hay cao hơn giá của đối thủ cạnh tranh Điều đó phụ thuộc vào vị thế củadoanh nghiệp cũng như tương quan giữa chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệpkinh doanh.

Một số nguyên tắc có tính chỉ dẫn cho cách định giá này:

+ Trong khu vực kinh doanh độc quyền nhóm bán thì các doanh nghiệpthường chào chung một giá

+ Các doanh nghiệp nhỏ quyết định giá của mình theo các doanh nghiệp “dẫnđầu” chứ không phải dựa vào nhu cầu hay chi phí của doanh nghiệp

+ Giá bán của doanh nghiệp có thể cao hơn giá của đối thủ nếu doanh nghiệp cóthể tạo ra sự khác biệt về sản phẩm được khách hàng chấp nhận, hoặc có thể nhỏ hơn.Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, khoảng cách giữa hai giá không quá lớn tránh ảnhhưởng đến những khách hàng nhạy cảm về giá, tránh khuynh hướng tạo ra cạnh tranh

về giá giữa các doanh nghiệp, tránh vi phạm pháp luật quy định cho giá cả

Phương pháp này thường dùng trong trường hợp khó xác định chi phí, phảnứng cạnh tranh không chắc chắn

2.1.2.8 Kênh phân phối sản phẩm

Kênh phân phối là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinhdoanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vậnchuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng

Có thể nói đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt độngnhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất.Tất cả những người tham gia vào trong kênh phân phối được gọi là các thành viêncủa kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là nhữngtrung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thựchiện các chức năng khác nhau:

- Nhà bán buôn: Là những trung gian bán hàng hóa, dịch vụ cho các trunggian khác như các nhà bán lẻ hoặc những nhà sử dụng công nghiệp

Trang 16

- Nhà bán lẻ: Là những trung gian bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp chongười tiêu dùng cuối cùng.

- Đại lý và môi giới: Là những trung gian có quyền hợp pháp thay mặt chonhà sản xuất cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác Trung gian này

có thể đại diện cho nhà sản xuất nhưng không sở hữu sản phẩm mà họ có nhiệm vụđưa người mua và người bán đến với nhau

- Nhà phân phối: Là chỉ chung những người trung gian thực hiện chức năngphân phối trên thị trường

Các loại kênh phân phối:

Kênh không cấp Kênh 1 cấp Kênh 2 cấp Kênh 3 cấp

Sơ đồ 2.1 Mô hình kênh phân phối

- Kênh không cấp còn gọi là kênh trực tiếp: Ở kênh này, nhà sản xuất bánhàng trực tiếp cho người tiêu dùng, không qua trung gian

- Kênh 1 cấp: có một trung gian là các nhà bán lẻ

- Kênh 2 cấp: Có hai trung gian là nhà bán buôn và nhà bán lẻ

- Kênh 3 cấp: Có ba cấp trung gian là đại lý đến nhà phân phối và nhà bán lẻ

Khách hàng tiêu dùng

Nhà bán lẻ

Đại lýNhà bán buôn

Nhà SXNhà SX

Nhà SXNhà SX

Trang 17

2.2 Cơ sở thực tiễn nghiên cứu đề tài

2.2.1 Một vài nét về thị trường gạch đất sét nung ở Việt Nam

Như chúng ta đã biết, vật liệu xây ở nước ta từ xưa đến nay chủ yếu là gạchđất sét nung Hầu hết từ Bắc đến Nam đều sử dụng loại gạch này, gạch được sửdụng vào nhiều công trình như xây dựng nhà ở, nhà làm việc, các công trình kiên

cố hóa kênh mương, các công trình cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùngxa… Cùng với yêu cầu về số lượng không ngừng tăng lên thì yêu cầu về chất lượngcũng khắt khe hơn Và đó là lý do thúc đẩy hoạt động SXKD, tiếp thu cải tiến côngnghệ của các DN trong ngành Theo thống kê của Hội vật liệu xây dựng Việt Nam,tại Việt Nam, VLXD chủ yếu là gạch đất sét nung, chiếm tới 91,5% tổng lượnggạch xây được sử dụng Trong số này, gạch sản xuất bằng công nghệ lò nungTuynel mới chiếm khoảng 40%, số còn lại được sản xuất chủ yếu bằng phươngpháp thủ công Cũng theo thống kê của hội này, nhu cầu TTSP gạch đất sét nungcủa nước ta tăng lên rất nhanh: năm 2000 là khoảng 19 tỷ viên, năm 2005 khoảng

31 tỷ viên (Nguyễn Thành Luân, 2006), và năm 2008 là 42 tỷ viên (TheoTTXVN,2008) Hiện có nhiều Công ty sản xuất và kinh doanh sản phẩm gạch đấtsét nung công nghệ Tuynel với số lượng sản xuất ngày càng nhiều Tính trên cảnước đã có khoảng gần 200 Công ty, nhà máy, xí nghiệp sản xuất gạch đất sét nungcông nghệ Tuynel đã và đang hình thành như: Hạ Long 1 – Viglacera, Thạch Bàn,Giếng Đáy, Bình Định, Bình Dương, Long Thành Đồng Nai, An Lộc, Kiên Giang,Côn Sơn, Dacom,… với tổng công suất trên 24 tỷ viên/năm

Khi mà thu nhập và trình độ dân trí không ngừng tăng lên thì đòi hỏi về chấtlượng SP cũng tăng lên rất nhanh Không giống trước đây, các công trình chủ yếu

sử dụng sản phẩm của các lò gạch thủ công thì hiện nay thị trường đòi hỏi những

SP đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn khi sử dụng, cùng với nó là kiểudáng, kích thước, mẫu mã đa dạng để đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ của công trình Do

đó, các DN luôn chú trọng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng SP của đơn vịmình Cuộc cạnh tranh giành giật thị trường giữa các hãng hiện nay đang diễn ra rất

Trang 18

gay gắt mạnh mẽ Chính vì thế việc tạo ra lợi thế cạnh tranh với các đối thủ là điều

mà các nhà sản xuất kinh doanh gạch đất sét nung luôn quan tâm

2.2.2 Một số nghiên cứu trước đây về tiêu thụ sản phẩm gạch

1 Nguyễn Thành Luân (2006), ‘Phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm gạchđất sét nung tại Công ty Cổ phần Hạ Long 1 – Viglacera’, Luận văn tốt nghiệp đạihọc Nghiên cứu đã trình bày về cơ sở lý luận tiêu thụ sản phẩm và thực tiễn tiêuthụ sản phẩm gạch đất sét nung của Công ty Cổ phần Hạ Long 1 – Viglacera

Về phân tích hoạt động TTSP gạch đất sét nung của Công ty, nghiên cứu tậptrung đi vào tìm hiểu tình hình tiêu thụ của một số sản phẩm gạch đất sét nung củaCông ty sản xuất theo công nghệ lò đứng và lò Tuynel về số lượng sản xuất, sảnlượng tiêu thụ, thị trường tiêu thụ, giá bán sản phẩm, hệ số tiêu thụ,…

Nghiên cứu cũng tập trung phân tích các hoạt động tiêu thụ sản phẩm gạch đấtsét nung của Công ty như hoạt động nghiên cứu dự báo thị trường, tổ chức thực hiệnchiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược chiêu thị,…

2 Dương Thế Hữu (2005), ‘Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnhhoạt động tiêu thụ sản phẩm ở Công ty gạch ốp lát Thái Bình’, Luận văn tốt nghiệpđại học Nghiên cứu tập trung vào thực trạng hệ thống kênh phân phối sản phẩmcủa Công ty và tiêu thụ sản phẩm trên các khu vực thị trường và theo kênh tiêu thụnhư số đại lý ở các khu vực thị trường, doanh thu từ các khu vực thị trường, sảnlượng tiêu thụ qua các kênh phân phối,…

Nghiên cứu cũng đã làm rõ các hoạt động tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩmcủa Công ty như thực trạng về giá cả, phân phối, các hoạt động hỗ trợ bán hàng…

Hai nghiên cứu trên đã đánh giá được kết quả trong hoạt động tiêu thụ sảnphẩm, những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại hạn chế Tuy nhiên, lạichưa đánh giá được hiệu quả trong tiêu thụ sản phẩm, cũng như chưa phân tích đểthấy những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong hoạt động TTSP củaCông ty trong thời gian qua cũng như trong tương lai Đây chính là những vấn đề

mà nghiên cứu của tôi bổ sung

Trang 19

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của công ty

3.1.1 Vị trí địa lý của công ty

Nằm trên quốc lộ 39B, km 0 + 700 từ Thị trấn Tiền Hải đi khu nghỉ mátĐồng Châu, Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải thuộc địa bàn quản lýcủa thị trấn Tiền Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Với vị trí nằm trên khu trungtâm của thị trấn, gần với khu công nghiệp Tiền Hải nên Công ty có điều kiện thuậnlợi để phát triển sản xuất, trao đổi buôn bán với các huyện và tỉnh khác Lợi thế nàytạo ra sức mạnh cạnh tranh lớn cho Công ty Đồng thời, do nằm trên một địa bàn cótốc độ phát triển kinh tế cao, thu nhập của người dân không ngừng tăng lên, cáccông trình xây dựng lớn nhỏ đang mọc lên như nấm, giao thông khá phát triển Đây

là một điều kiện thuận lợi cho Công ty trong việc TTSP, thúc đẩy sản xuất pháttriển

3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải tiền thân là Công ty xây lắpTiền Hải được thành lập theo quyết định số 444 ngày 18/09/1985 của UBND tỉnhThái Bình thực hiện nghị định số 388 ngày 20/11/1991 của Chính phủ nhằm sắpxếp ổn định lại các DN Nhà nước Công ty xây lắp Tiền Hải được thành lập lại DNNhà nước theo thông báo của Bộ xây dựng số 364 ngày 7/01/1992, được UBNDtỉnh ra Quyết định số 08 ngày 7/01/1993 và được trọng tài kinh tế cấp giấy phépkinh doanh số 106763 ngày 04/03/1993 Năm 2005 thực hiện Nghị định số187/2004 của Chính phủ ngày 16/11/2004, ngày 04/05/2005 UBND tỉnh Thái Bình

ra quyết định số 979 chuyển Công ty xây lắp Tiền Hải là DN Nhà nước thành Công

ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải, được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh TháiBình cấp giấy phép đăng ký kinh doanh số 0803000249 ngày 29/11/2005 Công ty

có tên giao dịch là “Tien Hai construction and investment join stock company”

Trang 20

Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là sản xuất các sản phẩm gốm sứ,vật liệu chịu lửa; mua bán vật liệu xây dựng; xây dựng các công trình dân dụng,công nghiệp, giao thông thuỷ lợi; lắp đặt trang thiết bị cho các công trình xây dựng

tư vấn đấu thầu, tư vấn thẩm định thiết kế công trình, theo dõi giám sát thi công Từtháng 04/2000 được sự cho phép của UBND và Sở xây dựng tỉnh Thái Bình, Công

ty xây lắp Tiền Hải đã mạnh dạn đầu tư xây dựng hai nhà máy sản xuất gạch đất sétnung với công suất thiết kế là 30.000.000 viên/năm Tổng số vốn đầu tư cho xâydựng công trình ban đầu là 20 tỷ đồng Toàn bộ dây chuyền công nghệ sản xuấtgạch đất sét nung được nhập từ Nga Ngày 08/04/2001 dây chuyền được xây dựngxong và chính thức đi vào chạy thử thành công Có thể nói Công ty cổ phần đầu tư

và xây dựng Tiền Hải là một DN được hình thành trong cơ chế thị trường có sựcạnh tranh gay gắt Tuy nhiên sau 8 năm sản xuất kinh doanh cho thấy rằng Công

ty đã phát triển và đứng vững trên thị trường, sản phẩm của Công ty có mặt trên thịtrường trong và ngoài tỉnh Thái Bình góp phần tạo việc làm cho nhiều lao động tạiđịa phương

3.1.3 Tình hình lao động của Công ty

Lao động là một trong những nguồn lực không thể thiếu trong bất kỳ hoạtđộng SXKD nào, đặc biệt với doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất như Công

ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải Xuất phát từ ngành nghề đăng ký SXKD

là sản xuất và bán các SP vật liệu xây dựng đất sét nung, cụ thể là gạch đất sét nung

và quy mô SXKD của Công ty cũng không lớn nên yêu cầu về số lượng lao động làkhá nhỏ Đồng thời, trong lĩnh vực sản xuất thì yêu cầu về số lượng lao động cótrình độ chuyên môn cao cũng không quá khắt khe Cụ thể số lượng lao động củaCông ty qua 3 năm 2006 – 2008 thể hiện như sau:

Tổng số lao động của Công ty qua 3 năm (2006 – 2008) không có sự biếnđộng lớn, năm 2006 là 364 người, năm 2007 giảm xuống chỉ còn 350 người, đếnnăm 2007 số lượng lao động của Công ty là 366 người, tốc độ tăng bình quân qua3năm là 0,27% Cụ thể, xét theo tính chất lao động, công nhân sản xuất chiếm tỷ lệ

Trang 21

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng lao động của Công ty qua 3 năm 2006 - 2008

Chỉ tiêu

SL (người)

CC (%)

SL (người)

CC (%)

SL (người)

CC (%) 07/06 08/07 BQ

Trang 22

cao nhất do đặc thù của Công ty đòi hỏi nhiều lao động chân tay như công nhânbốc xếp, công nhân vận chuyển nhưng lao động sản xuất của Công ty những nămqua lại có xu hướng giảm, bình quân qua 3 năm giảm 0,5% Nguyên nhân do trênđịa bàn có nhiều công ty mới thành lập, đây là lý do nhiều công nhân có kinhnghiệm và tay nghề bỏ Công ty qua các công ty khác làm ( họ bị hấp dẫn về thunhập) Số lượng nhân viên phục vụ của Công ty đựơc duy trì ở mức ổn định với 12người nên không có sự biến động gì Đồng thời, cán bộ quản lý cũng có sự biếnđộng, trung bình qua 3 năm cán bộ quản lý của Công ty tăng 4,53%, lý do của sựbiến động này là những năm gần đây sản xuất của Công ty đã đi vào ổn định, sảnlượng sản xuất ngày càng tăng do đó đòi hỏi những cán bộ có trình độ để quản lý,giám sát công việc.

Cùng với sự biến động về số lượng lao động thì chất lượng lao động cũng có

sự thay đổi Cụ thể ở 2 nhóm đại học, cao đẳng và công nhân kỹ thuật và lao độngphổ thông số lượng lao động có trình độ đại học và cao đẳng tăng lên do nhu cầu

số lượng cán bộ quản lý của Công ty tăng, còn số lượng lao động phổ thông vàcông nhân kỹ thuật giảm đi đã được phân tích ở trên Nhìn chung, qua 3 năm sốlượng lao động có trình độ đại học tăng bình quân 8,01%, còn lao động phổ thông

và công nhân kỹ thuật giảm bình quân 0,3%

Ngoài ra, khi phân theo thời gian ký kết hợp đồng lao động thì số lượng laođộng có thời gian ký kết hợp đồng dài hạn có xu hướng tăng lên và số lao động cóthời gian ký kết hợp đồng ngắn hạn có xu hướng giảm là do số lao động hợp đồngngắn hạn sau thời gian kiểm tra tay nghề đã được Công ty ký kết hợp đồng dài hạn

3.1.4 Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty

Cũng như lao động, vốn là yếu tố không thể thiếu được trong quá trìnhSXKD của bất kỳ DN nào Duy trì được cơ cấu vốn hợp lý đảm bảo cho Công typhản ứng nhanh nhạy được với các biến động của thị trường về mặt tài chính và giá

cả Đây là yếu tố rất quan trọng giúp DN tồn tại, đứng vững trong sự cạnh tranhkhốc liệt của kinh tế thị trường Là một DN có quy mô nhỏ nên tổng nguồn vốn của

Trang 23

Công ty cũng không lớn, cụ thể: năm 2006 là 42.522,74 triệu đồng, năm 2007 là42.154,33 triệu đồng và năm 2008 là 54.211,88 triệu đồng, trung bình qua 3 nămnguồn vốn của Công ty tăng 12.91% Nguyên nhân là do Công ty mở rộng sảnxuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nên nhu cầu về vốn của Công ty tăng do đóCông ty vay thêm từ các DN khác và từ ngân hàng.

Về mặt tài sản của Công ty, tài sản cố định và đầu tư dài hạn luôn chiếm tỷ lệcao và luôn duy trì ở mức trên 60% tổng số tài sản Tài sản cố định của Công ty tậptrung chủ yếu vào các dây chuyền sản xuất, qua 3 năm nghiên cứu tài sản cố định

và đầu tư dài hạn tăng bình quân 11,16% Với một cơ cấu tài sản như vậy sẽ đảmbảo cho DN phát triển một cách vững chắc về sau Tài sản lưu động và đầu tư ngắnhạn chiếm khoảng trên 30% tổng số tài sản, trong đó hàng tồn kho thường chiếm tỷtrọng cao nhất Năm 2006, hàng tồn kho chiếm tới 74,46%, năm 2007 chiếm66,53% và năm 2008 là 70,87% Bình quân qua 3 năm giá trị hàng tồn kho tăng13,83%, đây là khó khăn trong tiêu thụ Công ty cần tìm giải pháp khắc phục.Trong tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, biến động lớn nhất là các khoản phảithu, đó là các khoản hàng bán chịu chưa đòi được hoặc các công trình xây dựngchưa thanh toán được Bình quân qua 3 năm nghiên cứu số phải thu tăng 37,24%,điều này cho thấy Công ty chưa khắc phục được tình trạng bị các đơn vị khácchiếm dụng vốn trong khi vốn vẫn phải đi vay từ ngân hàng và các đơn vị khác vàchịu lãi suất

Về nguồn hình thành tài sản, vốn chủ sở hữu của Công ty chiếm tỷ lệ caotrên dưới 60% và trong 3 năm qua không ngừng tăng lên, bình quân qua 3 năm tăng13,45% Với nguồn vốn chủ sở hữu này giúp Công ty ít chịu ảnh hưởng bởi các tácđộng tài chính, đảm bảo cho quá trình SXKD phát triển tốt Trong nguồn hìnhthành tài sản thì nợ phải trả của Công ty cũng có xu hướng tăng lên, bình quân qua

3 năm nợ phải trả của Công ty tăng bình quân 12,04% Trong đó nợ dài hạn tăngmạnh nhất, bình quân tăng 32,71% nguyên nhân năm 2007 Công ty vay của Ngânhàng để đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất gạch Nem tách Nợ ngắn hạn cũng có

Trang 24

Bảng 3.2 Tình hình tài sản và vốn của Công ty qua 3 năm 2006 – 2008

SL(Tr.đ)

CC(%)

SL(Tr.đ)

CC(%)

SL(Tr.đ)

CC(%)

Trang 25

xu hướng tăng nguyên nhân do Công ty chưa thanh toán cho các nhà cung cấpnguyên vật liệu và một mặt do các khoản khách hàng trả tiền hàng trước choCông ty.

3.1.5 Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty

Do mới đi vào SXKD từ năm 2001 và hai dây chuyền sản xuất gạch theocông nghệ lò Tuynel của Công ty mới được đầu tư nâng cấp để tăng năng suấtnên các tài sản của Công ty vẫn còn giá trị lớn Nắm bắt được nhu cầu thị trường,Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải mạnh dạn đầu tư công nghệ sảnxuất gạch đất sét nung lò Tuynel được coi là tiên tiến nhất ở Việt Nam hiện nay.Tính đến ngày 31/12/2008 tổng giá trị hai dây chuyền của Công ty là 31.250triệu đồng trong đó máy móc thiết bị là 24.450 triệu đồng với công suất hiện tại

là 45.000.000 viên/năm, nhà xưởng trị giá 6.800 triệu đồng, hệ thống nhà xưởngđược thiết kế một cách hợp lý và khoa học phục vụ sản xuất một cách tốt nhất

Các phương tiện vận chuyển hàng hoá được Công ty trang bị khá đầy đủvới 8 xe chở hàng có công suất 6 tấn/xe Ngoài số xe vận chuyển tự mua sắmCông ty còn hợp đồng vận chuyển với tư nhân nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng Ngoài ra, Công ty còn mua sắmcác trang thiết bị, các đồ dùng văn phòng cho các phòng ban nhu máy vi tính,máy in, máy fax, điện thoại… tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý củacác phòng ban và Công ty Tuy nhiên, Công ty vẫn chưa sử dụng hết công suấtcủa các thiết bị do các yếu tố không thuận lợi quy định, đặc biệt là thị trường tiêuthụ Tuy nhiên, với những cơ sở vật chất kỹ thuật khá đồng bộ và hiện đại nhưvậy sẽ cho phép Công ty thoả mãn được ở mức cao nhất nhu cầu của thị trườngtrong mọi lúc và mọi điều kiện

3.1.6 Bộ máy tổ chức quản lý

Là một DN được hình thành trong cơ chế thị trường, Công ty đã thiết lậpđược một bộ máy tổ chức quản lý có cơ cấu gọn nhẹ nhưng lại thực hiện đầy đủcác chức năng với hiệu quả cao Sơ đồ 3.1 sẽ cho ta thấy toàn bộ bộ máy tổ chứcquản lý của Công ty

Trang 26

*Giám đốc: Là người quản lý mọi mặt hoạt động của Công ty và chịutrách nhiệm về các quyết định của mình và của phó Giám đốc có liên quan đếnviệc thực hiện các công việc được Giám đốc phân công Đồng thời, Giám đốccông ty chỉ đạo trực tiếp toàn bộ các phòng ban, phân xưởng trong công ty Giámđốc cũng là người trực tiếp tham gia các quan hệ đối ngoại của công ty với cácbên có liên quan.

*Phó Giám đốc: Là người tham mưu, giúp việc cho Giám đốc trong mọihoạt động của công ty và thay mặt cho Giám đốc chỉ đạo trực tiếp mọi hoạt độngSXKD của công ty Phó Giám đốc là do Giám đốc chỉ định

*Phòng tổ chức - hành chính: tham mưu cho Ban Giám đốc trong lĩnh vựcquản lý nhân sự thực hiện theo Bộ luật Lao động Soạn thảo các văn bản có liênquan về lao động để hướng dẫn cho các đơn vị thực hiện Quản lý và bảo quản

hồ sơ nhân sự toàn công ty Phối hợp với các phòng ban chức năng nghiệp vụ vàcác đơn vị để kiểm tra, đánh giá năng lực thực tế của cán bộ công nhân viên, để

đề xuất việc sắp xếp, bố trí, điều phối cán bộ công nhân viên toàn công ty

*Phòng Tài chính - kế toán:

- Tham mưu cho Ban Giám đốc trong công tác quản lý sử dụng và điềutiết nguồn vốn của công ty để đạt hiệu quả cao nhất Thực hiện nguyên tắc hoạtđộng tài chính, kế toán theo luật định

- Lập kế hoạch tài chính năm kế hoạch và lập kế hoạch vây vốn lưu độngtại ngân hàng

- Kiểm tra hướng dẫn các hoạt động tài chính, kế toán theo khuôn khổpháp lệnh kế toán, chế độ tài chính và các quy định nội bộ để thống nhất toàncông ty Quản lý hệ thống kho toàn công ty

- Kiểm tra, đôn đốc và trực tiếp chủ trì trong việc thanh lý hợp đồng cácloại với khách hàng, đối chiếu thu hồi công nợ Theo dõi tài sản các loại của toàncông ty, kiểm tra xác định đơn giá sửa chữa, mua sắm tài sản các loại của công ty

- Tổng hợp và phân tích các hoạt động kinh tế của Công ty hàng quý và

Trang 27

hàng năm, từ đó phát hiện kịp thời các đơn vị SXKD không hiệu quả có thể dẫnđến thua lỗ để đề xuất biến pháp khắc phục và xử lý kịp thời.

*Phòng Kinh doanh:

- Thực hiện và chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát, kiểm tratoàn bộ quá trình SXKD của công ty từ tiếp nhận hợp đồng, đơn đặt hàng từ phíakhách hàng đến việc tổ chức triển khai thực hiện

- Kiến nghị thưởng phạt đối với từng cá nhân trong phòng về mặt thựchiện tiến độ doanh thu và năng suất lao động Phát hiện kịp thời các nhân viêntiêu thụ làm việc không hiệu quả đề xuất biện pháp khắc phục và xử lý kịp thời

Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải là một trong bốn doanhnghiệp sản xuất gạch đất sét nung theo công nghệ lò Tuynel trên địa bàn huyệnTiền Hải Đây cũng là DN đi đầu trên địa bàn sản xuất loại gạch này, do đó cùngvới nhiều năm kinh nghiệm và từng bước tạo lập uy tín hiện nay Công ty đang cókhối lượng sản xuất và tiêu thụ mạnh nhất trên huyện Tiền Hải Sản phẩm củaCông ty được khách hàng tin dùng và được đánh giá là SP có chất lượng tốt, mẫu

mã đa dạng phù hợp với nhu cầu thị trường Tuy nhiên, trong thời gian gần đâymột vài SP của Công ty đang gặp khó khăn trong việc tiêu thụ Từ những lý dotrên tôi đã chọn Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải làm điểm nghiêncứu

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Phòng

kỹ thuật

Phòng tài chính

kế toán

Trang 28

Những số liệu này là những số liệu có sẵn được sử dụng trong nghiên cứubao gồm các sách, báo, tạp chí, nghị quyết, các công trình đã được xuất bản.Ngoài ra tôi còn tham khảo các kết quả nghiên cứu đã được công bố của cácnghiên cứu sinh Những tài liệu này được thu thập bằng cách sao chép, đọc, tríchdẫn tài liệu tham khảo.

3.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho việc tính toán các chỉ tiêuphân tích để thực hiện nội dung nghiên cứu đề tài Số liệu sơ cấp được thu thập

từ các báo cáo như báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tổng kết, báocáo kế hoạch… Những báo cáo này lấy từ các phòng ban của công ty như phòngkinh doanh, phòng kế toán, phòng tổ chức hành chính…

Bên cạnh đó chúng tôi còn tiến hành điều tra trực tiếp một số khách hàng

là những DN đang thi công các công trình xây dựng và các khách hàng mua SPtrực tiếp của Công ty trên cơ sở xác định các mẫu điều tra có tính chất đại diện

Phương pháp điều tra

- Chọn điểm điều tra: Chúng tôi tập trung điều tra tình hình TTSP gạch đấtsét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải trên địa bàn huyệnTiền Hải vì đây là thị trường tiêu thụ chính của Công ty, ở đây Công ty có lượngtiêu thụ lớn nhất Cụ thể, chúng tôi tiến hành điều tra ở 20 công trình xây dựngđang sử dụng Sản phẩm của công ty

- Nội dung phiếu điều tra:

+ Các thông tin: Họ tên chủ công trình, giới tính, trình độ văn hoá, têncông trình đang thi công, địa chỉ…

+ Tình hình chung về: Khối lượng mua, giá mua, phương thức thanh toán,chính sách của công ty đối với họ khi mua sản phẩm, những thuận lợi, khó khăntrong quá trình họ mua sản phẩm… Đánh giá của khách hàng về chất lượng, mẫu

mã, giá cả SP, phương thức phục vụ của Công ty

Trang 29

3.2.3 Phương pháp phân tích

3.2.3.1 Phương pháp thống kê kinh tế

Đây là phương pháp phổ biến nhất trong nghiên cứu các hiện tượng kinh

tế xã hội Thực chất là tổ chức điều tra thu thập số liệu trên cơ sở khách quan sốlớn đảm bảo yêu cầu chính xác, đầy đủ và kịp thời

Sau khi thu thập số liệu, tiến hành phân tổ thống kê và tổng hợp thống kê,tính toán các loại số tuyệt đối, tương đối, số bình quân, các chỉ số Trên cơ sở đó

mô tả quy mô và sự biến động của các hiện tượng các quá trình cũng như các đặctrưng của chúng

3.2.3.2 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Là phương pháp tham khảo ý kiến chuyên môn của cán bộ lãnh đạo công

ty như giám đốc, phó giám đốc; cán bộ phòng kinh doanh; cán bộ kỹ thuật củacông ty để có thêm kiến thức và kinh nghiệm bổ ích trong việc đánh giá nhìnnhận hiện tượng

3.2.3.3 Phương pháp so sánh

So sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đãđược lượng hoá có cùng một nội dung, tính chất tương tự để xác định xu hướngmức độ biến động của chỉ tiêu Trên cơ sở đó đánh giá được mặt phát triển hayyếu kém, hiệu quả hay không hiệu quả để tìm ra giải pháp trong từng trường hợp

Thông qua việc quan sát và tìm hiểu thực tế các số liệu thứ cấp và sơ cấpcủa công ty, chúng tôi tiến hành so sánh giữa các loại hình tổ chức và các chỉtiêu qua các năm nghiên cứu

3.2.3.4 Phương pháp SWOT

Phân tích SWOT là phương pháp xác định các điểm mạnh (ưu điểm), cácđiểm yếu (nhược điểm) và đồng thời các cơ hội và thách thức mà công ty phảiđối mặt

Trang 30

Đây là phương pháp phân tích một hiện tượng dưới quan điểm hệ thống từbên trong (S, W) ra bên ngoài (O, T) hay đồng thời kết hợp cả trong và ngoài Làcông cụ sử dụng nhiều trong phân tích các hiện tượng dưới dạng định tính

Mạnh (Strengs): Khả năng bên trong hay chúng ta có cái gì?

Yếu (Weaknesses): Sự thiếu khả năng bên trong hay chúng ta thiếu cái gì?

Cơ hội (Opportunities): Những điểm tích cực từ hoàn cảnh bên trong haychúng ta có thể nhận được cái gì?

Thách thức (Threats): Những điểm tiêu cực từ bên ngoài hay chúng ta cóthể mất cái gì?

Tạo ra lợi thế cạnh tranh W - Yếu

Khả năng xuất hiện vấn đề

3.3 Một số chỉ tiêu nghiên cứu

*Số lượng sản phẩm tiêu thụ trong năm (trong kỳ):

Lượng tồn khocuối nămDùng chỉ tiêu này có thể tính toán một cách cụ thể khối lượng Sản phẩmhàng hoá hiện đang tiêu thụ, nắm bắt được chính xác đối với nhu cầu từng chủngloại hàng hoá ở mỗi thị trường khác nhau trong từng thời kỳ để từ đó có kếhoạch sản xuất từng sản phẩm một cách hợp lý nhất nhằm giảm tối đa lượng tồnkho, tăng hiệu quả sử dụng vốn của DN Tuy nhiên, chỉ tiêu này không tổng hợp,không so sánh được

*Giá trị Sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ trong kỳ:

Gi = Qi x Pi

Trang 31

Trong đó: Gi: Giá trị hàng hoá i tiêu thụ trong kỳ

Qi: Sản lượng hàng hoá i tiêu thụ trong kỳ

Pi: Giá của hàng hoá i tiêu thụ trong kỳĐây là chỉ tiêu biểu hiện khối lượng tiêu thụ dưới hình thức giá trị, chỉ tiêunày phản ánh kết quả tiêu thụ tính theo giá cố định hoặc giá quy ước Thông qua

DN nắm bắt nhu cầu thị hiếu của khách hàng và khả năng đáp ứng hàng bán Nócho phép so sánh kết quả đạt được của từng mặt hàng trong quá trình tiêu thụ

*Hệ số tiêu thụ trong năm:

Chỉ tiêu này cho biết mức độ hoàn thành kế hoạch TTSP của DN trongnăm hoặc trong kỳ

Hệ số tiêu thụ =

Khối lượng sản phẩm tiêu thụ thực tế trong

nămKhối lượng sản phẩm cần tiêu thụ trong năm

Kết quả tiêu thụ càng cao khi hệ số tiêu thụ càng gần 1

*Hệ thống chỉ tiêu về kết quả và hiệu qủa hoạt động sản xuất kinh doanh:+ Doanh thu, chi phí, lợi nhuận

+ Lợi nhuận/ 1000 viên tiêu thụ, Lợi nhuận/ lao động

Trang 32

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Quy trình sản xuất và kết quả sản xuất sản phẩm gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải

4.1.1 Quy trình sản xuất gạch đất sét nung của công ty

Gạch đất sét nung là vật liệu không thể thiếu trong các công trình xây dựng,

từ các công trình nhỏ quy mô gia đình đến các công trình quốc gia thì gạch là nềntảng đầu tiên để tạo nên hình dáng của các công trình Để ra được một viên gạchphải qua rất nhiều khâu cho dù sử dụng công nghệ nào, từ thủ công đến công nghệsản xuất tiên tiến nhất hiện nay là công nghệ lò Tuynel

Do nhược điểm của công nghệ sản xuất gạch thủ công truyền thống và đểđáp ứng nhu cầu thị trường, từ tháng 4 năm 2001 công ty cổ phần đầu tư và xâydựng Tiền Hải mạnh dạn đầu tư 2 dây truyền sản xuất gạch Tuynel hiện đại vớicông suất thiết kế 30.000.000 viên/năm Để có một sản phẩm cuối cùng Công ty cổphần đầu tư và xây dựng Tiền Hải đi theo một quy trình chặt chẽ như sau:

Đất sét sau khi mua về được đưa vào ủ với thời gian từ 3 đến 6 tháng để đảmbảo cho đất đã được phong hoá và trở thành nguyên liệu Nguyên liệu được đưavào máy nạp liệu và chuyển lên máy cán thô để loại bỏ những tạp chất trongnguyên liệu như gạch, sỏi to Tiếp đó, nguyên liệu được đưa đến máy nhào hai trục,tại đây nguyên liệu được trộn thêm than đá với tỷ lệ 135kg than đá với 1,8 khối đấtsét Nguyên liệu mới được đưa tới máy cán mịn, máy nhào một trục, qua buồng hútchân không để viên gạch mộc sau khi ra ngoài đã được hút bớt nước

Tiếp theo giai đoạn tạo hình sản phẩm, viên gạch mộc được chuyển ra phơitrong nhà kính từ 3 – 5 ngày, sau khi phơi viên gạch mộc đảm bảo độ ẩm từ 10 –14% Sau đó viên gạch mộc được xếp lên xe goòng và đưa vào lò sấy, sau khi sấy

độ ẩm trong viên mộc chỉ còn 6 – 8% Viên mộc sau khi sấy được chuyển vào lònung Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình sản xuất vì nó quyết định rấtnhiều đến chất lượng gạch

Trang 33

Sơ đồ 4.1 : Quy trình sản xuất gạch đất sét nung bằng công nghệ lò Tuynel

Nguyên liệuMáy nạp liệuMáy cán thô

Phơi gạch trong nhà kínhMáy đùn ép, tạo hình Sản phẩm

Sấy gạch trong hầm sấy Tuynel

Buồng hút chân không

Xếp gạch lên xe goòng

Thành phẩm

Máy nhào hai trụcMáy cán mịnMáy nhào một trục

Nung gạch trong lò gạch Tuynel

Than đá

Trang 34

Lò Tuynel có dạng đường hầm thẳng, có chế độ làm việc liên tục, sử dụngcác dạng nhiên liệu khác nhau, hiện nay Công ty đang sử dụng than để nung Sảnphẩm Sản phẩm nung được đặt trên các toa xe goòng chuyển động ngược chiềuvới chiều chuyển động của khí nóng Lò có kích cỡ rất khác nhau, dài từ 94-150 m,

lò sấy dài 58 – 62m, ống khói cao 25m Lò có những bộ phận hồi lưu và trộn khí,tránh sự phân lớp khí làm nhiệt độ lò không đồng đều Lò được chia làm 3 vùng:vùng đốt nóng, vùng nung và vùng làm nguội Không khí lạnh dần được đốt nónglên sau khi làm nguội sản phẩm và được chuyển sang vùng nung tham gia quá trìnhcháy Lượng khói thải từ lò nung được tận dụng đưa sang lò Tuynel sấy mộc nhằmtiết kiệm than Điều này khiến cho lượng bụi thải ra rất ít và nhiệt thải ra ở mức tốithiểu Nhiệt độ của khí thải khi ra khỏi lò sấy chỉ còn 40 – 500C không ảnh hưởngtới sức khoẻ người lao động Khói lò được thải ra ngoài qua ống khói nhờ quạt hút

Sự tuần hoàn của khí thải cho phép tạo ra chế độ nhiệt và chế độ ẩm dịu hơn, làmcho nhiệt độ đồng đều trên tiết diện lò, giảm tác động có hại của không khí lạnh lọtvào Trong quá trình nung, nhiệt độ trong lò luôn đảm bảo từ 850 – 10500C và thờigian nung từ 4 – 5h(La Thu, 2008)

4.1.2 Kết quả sản xuất gạch đất sét nung của công ty

4.1.2.1 Chủng loại Sản phẩm gạch đất sét nung của công ty

Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được rấtnhiều thành tựu to lớn: tốc độ phát triển kinh tế không ngừng tăng lên, đời sốngnhân dân từng bước được cải thiện, quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá diễn ramạnh mẽ, rộng khắp mọi nơi Chính vì lý do đó mà nhu cầu xây dựng cơ bản củanhân dân tăng lên nhanh chóng, làm cho Việt Nam trở thành một thị trường tiêu thụVLXD nói chung và việt liệu đất sét nung nói riêng hết sức rộng lớn Với một lợiích kinh tế vô cùng to lớn như vậy, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đãtận dụng cơ hội thành lập các DN để SXKD vật liệu đất sét nung Lợi dụng sự rộnglớn, đa dạng, phức tạp của thị trường, nhiều DN, cá nhân đã sản xuất và tung ra thị

Trang 35

Bảng 4.1 Chủng loại sản phẩm gạch đất sét nung của Công ty

Tên sản phẩm Mã hiệu Kích thước sản phẩm

2 Gạch Tuynel 4 lỗ

A1 sẫm

TH2 200mm x 90mm x 90mm

A1 hồng A2 Phế phẩm

3 Gạch Nem tách

A1 sẫm

TH5 200mm x 130mm x 40mm

A1 hồng A2 Phế phẩm

4 Gạch Lá nem

A1 sẫm

LN1 280mm x 280mm x 30mm

A1 hồng A2 Phế phẩm

Nguồn: Phòng kinh doanh

Trang 36

trường các loại sản phẩm vật liệu đất sét nung không đáp ứng được các yêu cầu kỹthuật, làm giảm tuổi thọ của các công trình, gây lãng phí tiền bạc của Nhà nước vàcủa nhân dân thậm chí còn gây ra những tai nạn vô cùng nghiêm trọng Nhận biếtđược thực tế đó, Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải đã mạnh dạn đầu tưxây dựng hai nhà máy sản xuất gạch theo công nghệ tiên tiến cung cấp ra thị trườngcác sản phẩm vật liệu đất sét nung với kiểu dáng, mẫu mã, kích thước khác nhau,chất lượng tốt đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu củanước ta và đặc biệt là giá cả phù hợp với khách hàng, góp phần đặt nền móng vữngchắc cho nhiều công trình xây dựng lớn nhỏ trong và ngoài tỉnh Thái Bình.

Tuy mới đi vào sản xuất được gần 10 năm, nhưng Công ty luôn chú trọngtìm hiểu nhu cầu thị trường để đưa ra các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường

và loại bỏ các sản phẩm thị trường không có nhu cầu Khi mới đưa vào sản xuấtcông ty đã sản xuất 9 loại gạch gồm gạch xây dựng các loại, gạch chống nóng, gạch

Lá nem,… Nhưng hiện nay do nhu cầu của thị trường về một số sản phẩm khôngcòn nên Công ty chỉ chú trọng sản xuất một số loại sản phẩm như: Gạch xây dựngbao gồm gạch Tuynel 2 lỗ TH1, gạch Tuynel 4 lỗ TH2; gạch trang trí là gạch Nemtách, gạch Lá nem LN1 có độ rỗng từ 10 – 70%, độ hút nước dưới 16%, đạt chấtlượng cao, màu sắc tự nhiên được khách hàng trong và ngoài tỉnh ưa chuộng Vớimột vị trí thuận lợi nằm ngay trung tâm thị trấn và chất lượng sản phẩm khôngngừng nâng cao, đây là yếu tố thuận lợi cho việc TTSP, từ đó doanh thu và lợinhuận sau thuế của Công ty không ngừng tăng lên, uy tín của DN được củng cốvững chắc trên thị trường

4.1.2.2 Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất sản phẩm gạch đất sét nung của Công ty

Với một DN SXKD, nắm bắt được năng lực thực sự của mình, những yêucầu của khách hàng và thị trường là chìa khoá để mở cánh cửa thành công Một câuhỏi đựơc đặt ra ở đây là: Làm thế nào để có SP cung ứng ra thị trường một cáchđầy đủ cả về số lượng và chất lượng và phù hợp nhất về thời gian và không gian,vừa đủ để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, vừa phù hợp với khả năng sản xuất

Trang 37

của Công ty để hạn chế số lượng SP tồn kho quá lớn? Thông qua quá trình phântích, đánh giá tình hình TTSP của Công ty trong năm đã qua cũng như dự báo vềthị trường, về doanh số bán hàng trong thời gian tới bộ phận kế hoạch đưa ra kếhoạch sản xuất và TTSP trình lên Giám đốc công ty phê duyệt Và cuối cùng thôngqua tất cả các phân tích, đánh giá đó Công ty đưa ra một kế hoạch sản xuất phùhợp, thúc đẩy, đảm bảo việc hoàn thành kế hoạch đó.

Qua số liệu bảng 4.2 chúng ta có thể thấy: Trong 4 loại SP mà Công ty đãsản xuất trong 3 năm vừa qua thì hai sản phẩm gạch Tuynel 2 lỗ TH1 và gạchTuynel 4 lỗ TH2 là hai SP chủ đạo của Công ty Gạch Tuynel 2 lỗ TH1chiếmkhoảng 2/3 sản lượng, gạch Tuynel 4 lỗ TH2 chiếm khoảng 1/4 sản lượng gạch sảnxuất của Công ty Xét về mặt tổng số thì chỉ có năm 2007 sản xuất của Công tyvượt kế hoạch đề ra, năm 2007 thực hiện so với kế hoạch đề ra đạt 100,10% tức làtăng 0,10% tương ứng tăng 37.510 viên Còn năm 2006 và 2008 không đạt kếhoạch đề ra, năm 2006 thực hiện so với kế hoạch chỉ đạt 99,12%, năm 2008 thựchiện so với kế hoạch đạt 99,23% Xét cụ thể từng loại SP:

Gạch Tuynel 2 lỗ trong 3 năm thì chỉ có năm 2006 là không đạt kế hoạch đề

ra, chỉ đạt 99,55% nhưng năm 2007 và 2008 thì luôn đạt và vượt kế hoạch đề ra.Năm 2007 đạt 100,09% và năm 2008 đạt 100,00% so với kế hoạch đề ra Nhưngsản lượng kế hoạch của 2 năm này lại thấp hơn so với sản lượng kế hoạch của năm

2006 Nguyên nhân có thể được giải thích là do năm 2006 đặt kế hoạch sản lượngcao và không đạt được kế hoạch đề ra nên năm 2007 và 2008 Công ty hạ mức kếhoạch để phù hợp với khả năng sản xuất

Với gạch Tuynel 4 lỗ thì chỉ có năm 2007 là đạt kế hoạch đề ra, thực hiện sovới kế hoạch đạt 100,67% tức là tăng 0,67% tương ứng tăng 52.210 viên, nhưngnăm 2006 và 2008 lại không đạt kế hoạch đề ra Năm 2006 thực hiện so với kếhoạch chỉ đạt 99,94% và năm 2008 đạt 99,38%

Trang 38

Bảng 4.2 Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất SP gạch của Công ty

Tên SP

KH (v) TH (v) TH/KH (%) KH (v) TH (v) TH/KH (%) KH (v) TH (v) TH/KH (%) 07/06 08/07 BQ

Trang 39

Gạch Nem tách thì cả 3 năm đều không đạt kế hoạch đề ra, mặc dù năm 2006sản lượng kế hoạch đặt ra là khá thấp nhưng cũng không đạt kế hoạch, thực hiện sovới kế hoạch chỉ đạt 99,17% Sang năm 2007 là thời điểm Công ty tiến hành nângcấp dây chuyền sản xuất loại gạch này nên đặt ra kế hoạch cho mức sản lượng rấtcao nhưng thực tế thực hiện cũng không đạt kế hoạch đề ra, thực hiện so với kếhoạch chỉ đạt 97,02% Nguyên nhân của thực trạng này do đầu năm khi mới nângcấp dây chuyền sản lượng sảnxuất ra nhiều nhưng lượng tiêu thụ lại tăng chậm nênđến giữa và cuối năm sản lượng sản xuất loại gạch này chững lại do đó không hoànthành kế hoạch đề ra Do lượng tồn kho của năm 2007 chuyển sang nhiều nên kếhoạch đề ra cho loại gạch này năm 2008 giảm đi nhưng khi thực hiện cũng vẫnkhông đạt kế hoạch đề ra, kế hoạch so với thực hiện chỉ đạt 87,16% một con số kháthấp Qua tìm hiểu nguyên nhân chúng tôi được biết năm 2008 là năm có điều kiệnthời tiết không thuận lợi: có đến khoảng 50 ngày trong năm mưa to, đặc biệt đợtmưa to kéo dài vào tháng 11 làm cho nhà máy sản xuất bị ngập úng khiến hoạtđộng sản xuất bị ngừng trệ,công nhân phải nghỉ việc, gạch phơi chưa đạt tiêu chuẩn

để đưa vào lò sấy nên không thể đưa vào lò nung được Bên cạnh đó lượng tiêu thụcủa loại gạch này cũng giảm nên Công ty cũng giảm sản lượng sản xuất do đó sảnlượng sản xuất thực tế không đạt kế hoạch đề ra

Trong các loại gạch chỉ có gạch Lá nem qua 3 năm luôn đạt và vượt kếhoạch đề ra Năm 2006, thực hiện so với kế hoạch đạt 102,37%, năm 2007 là101,88% và năm 2008 là 102.76% Nguyên nhân trong 3 năm qua nhu cầu thịtrường về loại gạch này không ngừng tăng lên, sản lượng tiêu thụ qua các năm đềutăng nhưng Công ty vẫn thận trọng chỉ tăng kế hoạch sản lượng trong khả năng sảnxuất, không tăng mức quá cao để tránh tình trạng như gạch Nem tách

Khi so sánh sản lượng các loại gạch thực tế sản xuất của các năm cho thấychỉ có gạch Tuynel 2 lỗ có xu hướng giảm, bình quân qua 3 năm giảm 0,71% còncác loại gạch khác lại tăng làm cho tổng sản lượng gạch thực tế sản xuất qua 3 năm

có xu hướng tăng, bình quân tăng 6,73%

Trang 40

4.2 Tình hình TTSP gạch đất sét nung của Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải

4.2.1 Tình hình chung về TTSP gạch đất sét nung của Công ty

Để tìm hiểu tình hình tiêu thụ các loại gạch đất sét nung của Công ty chúngtôi thu thập số liệu qua bảng 4.3

Qua bảng 4.3 cho thấy, tổng lượng gạch tiêu thụ của Công ty qua 3 năm tăngbình quân 7,57% trong đó gạch Tuynel 2 lỗ luôn là lượng tiêu thụ chủ yếu và chiếm

tỷ trọng cao Năm 2006 lượng gạch Tuynel 2 lỗ tiêu thụ được là 24.500.000 viênchiếm 67,49% tổng lượng gạch tiêu thụ được, sang đến năm 2007 lượng gạchTuynel tiêu thụ được là 24.800.000 viên chiếm 62,94%, năm 2008 tiêu thụ được25.000.000 viên chiếm 59,52% tổng lượng gạch tiêu thụ được của Công ty trong cảnăm Xét về lượng tuyệt đối thì gạch Tuynel 2 lỗ tiêu thụ được có xu hướng tăng từ24.500.000 viên năm 2006 lên 25.000.000 viên năm 2008 nhưng xét về cơ cấu thìlại có xu hướng giảm từ 67,49% năm 2006 xuống 59,52% năm 2008 Nguyên nhân

là do Công ty cắt giảm sản lượng sản xuất của loại gạch này trong tổng lượng gạchsản xuất để chuyển sang các loại gạch khác có cùng chi phí nhưng giá bán cao hơn,đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho Công ty

Lượng gạch Tuynel 4 lỗ tiêu thụ trong năm 2006 là 8.500.000 viên chiếm23,42% tống lượng gạch tiêu thụ, đến năm 2007 là 8.200.000 viên chiếm 20,81%

và năm 2008 là 10.270.000 viên chiếm 24,45% tổng lượng gạch tiêu thụ cả năm.Xét về cơ cấu loại gạch Tuynel 4 lỗ chiếm tỷ trọng không lớn, chỉ chiếm khoảnghơn 20% trong tổng lượng tiêu thụ của Công ty nhưng có xu hướng ngày càng tăng,bình quân qua 3 năm lượng tiêu thụ của loại gạch này tăng 9,92% Nguyên nhân là

do nhu cầu thị trường về loại gạch này tăng, giá bán cao nên Công ty tăng sảnlượng sản xuất loại gạch này

Lượng tiêu thụ gạch Nem tách xét về cơ cấu thì chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ,khoảng trên dưới 5% trong tổng lượng tiêu thụ, bình quân qua 3 năm lượng tiêu thụ

Ngày đăng: 28/06/2016, 16:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng lao động của Công ty qua 3 năm 2006 - 2008 - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng lao động của Công ty qua 3 năm 2006 - 2008 (Trang 22)
Bảng 3.2 Tình hình tài sản và vốn của Công ty qua 3 năm 2006 – 2008 - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 3.2 Tình hình tài sản và vốn của Công ty qua 3 năm 2006 – 2008 (Trang 26)
Sơ đồ 3.1: Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty (Trang 30)
Sơ đồ 4.1 : Quy trình sản xuất gạch đất sét nung bằng công nghệ lò Tuynel - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất gạch đất sét nung bằng công nghệ lò Tuynel (Trang 36)
Bảng 4.1 Chủng loại sản phẩm gạch đất sét nung của Công ty - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 4.1 Chủng loại sản phẩm gạch đất sét nung của Công ty (Trang 38)
Bảng 4.2 Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất SP gạch của Công ty - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 4.2 Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất SP gạch của Công ty (Trang 41)
Bảng 4.3 Tổng khối lượng gạch đất sét nung tiêu thụ của Công ty - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 4.3 Tổng khối lượng gạch đất sét nung tiêu thụ của Công ty (Trang 44)
Bảng 4.4 Tình hình tiêu thụ gạch đất sét nung ở một số khu vực của Công ty - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 4.4 Tình hình tiêu thụ gạch đất sét nung ở một số khu vực của Công ty (Trang 47)
Đồ thị 4.1: Khối lượng gạch Tuynel 2 lỗ tiêu thụ qua các tháng trong 3 năm - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
th ị 4.1: Khối lượng gạch Tuynel 2 lỗ tiêu thụ qua các tháng trong 3 năm (Trang 49)
Đồ thị 4.2: Khối lượng gạch Tuynel 4 lỗ TH2 tiêu thụ qua các tháng trong 3 - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
th ị 4.2: Khối lượng gạch Tuynel 4 lỗ TH2 tiêu thụ qua các tháng trong 3 (Trang 50)
Đồ thị 4.3: Khối lượng gạch Nem tách TH5 tiêu thụ qua các tháng trong 3 năm - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
th ị 4.3: Khối lượng gạch Nem tách TH5 tiêu thụ qua các tháng trong 3 năm (Trang 51)
Bảng 4.5  Doanh thu tiêu thụ các loại gạch đất sét nung của Công ty qua 3 năm 2006 – 2008 - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 4.5 Doanh thu tiêu thụ các loại gạch đất sét nung của Công ty qua 3 năm 2006 – 2008 (Trang 54)
Bảng 4.6 Hệ số tiêu thụ SP gạch đất sét nung của Công ty qua 3 năm - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 4.6 Hệ số tiêu thụ SP gạch đất sét nung của Công ty qua 3 năm (Trang 56)
Bảng 4.7 Kết quả và hiệu quả trong việc tiêu thụ gạch đất sét nung của Công ty qua 3 năm - Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gạch đất sét nung ở Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tiền Hải
Bảng 4.7 Kết quả và hiệu quả trong việc tiêu thụ gạch đất sét nung của Công ty qua 3 năm (Trang 58)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w