để tiếp cận được rõ hơn về các chính sách, dự án chương trình của Đảng và Nhà nước thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, vậy nên tôi quyết định chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả chi tiêu
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, nền kinh tế các nước ngày càng phát triển,đời sống của mọi người dân được cải thiện không ngừng được nâng cao, xã hội đạt được những thành tựu to lớn Tuy nhiên, bên khía cạnh đó, vấn đề nghèo đói đang còn tồn tại hầu hết ở các quốc gia,nghèo đói là vấn đề toàn cầu quan tâm, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương, là một vấn đề lớn nhức nhối trên toàn cầu Vì vậy các nước đã và đang có những chính sách dự án để đẩy lùi nạn nghèo đói này, trong số đó có nước Việt Nam
Được biết, Đảng ta đã xác định xoá đói giảm nghèo là một trong những chương trình kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt vừa cơ bản lâu dài Xóa đói giảm nghèo là một trong những chương trình dự án chi tiêu công của quốc gia
Chi tiêu công cho công tác xoá đói giảm nghèo là việc chi dùng vốn đầu tư để đầu tư phát triển các ngành kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng và kết cấu hạ tầng xã hội, từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người nghèo để giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo đói, giúp phát triển đồng đều mọi vùng miền, thực hiện công bằng xã hội Hằng năm, nhà nước ta đã bỏ ra một khoản chi công lớn để thực hiện đẩy lùi vấn
đề nghèo đói tồn tại việc thực hiện các dự án này, đã làm đẩy lùi nghèo đói, tỷ lệ nghèo đói đã giảm xuống hẳn và có những thành tựu đáng kể trong những năm qua Vấn đề đói nghèo đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Để người nghèo thoát nghèo là mục tiêu, nhiệm vụ chính trị - xã hội Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề đói nghèo Nhưng việc triển khai thực hiện còn một số hạn chế do sự thiếu thông tin cũng như nhận thức chưa đầy đủ về tình trạng nghèo đói hiện nay
Trong những năm qua, nước Việt Nam đã có những thành tựu trong việc xóa đói giảm nghèo tạo được sự đồng thuận trong xã hội và được cộng đồng quốc tế ghi nhận
và đánh giá cao Để tìm hiểu sâu hơn hiệu quả của việc chi tiêu cho xóa đói giảm nghèo ở nước ta như thế nào? Đạt được những thành tựu, hiệu quả ra sao? Những điểm hạn chế còn tồn tại trong xóa đói giảm nghèo để đưa ra giải pháp khắc phục.Và
Trang 2để tiếp cận được rõ hơn về các chính sách, dự án chương trình của Đảng và Nhà nước
thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, vậy nên tôi quyết định chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả chi tiêu công xóa đói giảm nghèo ở nước ta từ năm 2008 đến nay”
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “ Đánh giá hiệu quả chi tiêu công cho xóa đói giảm
nghèo ở nước ta từ năm 2008 đến nay” giúp phân tích những khía cạnh, những vấn đề
quan trọng trong việc chi tiêu của Nhà nước để xóa đói giảm nghèo Từ đó rút ra và đi sâu vào việc phân tích hiệu quả của việc chi tiêu đó để xóa đói giảm nghèo ở nước ta, những kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém còn tồn tại Nghiên cứu đề tài để biết được những chính sách hợp lý để đạt được hiệu quả đã đặt ra, những chính sách giải quyết có hiệu quả nhất vấn đề xoá đói giảm nghèo đó là chính sách chi tiêu công hợp lí của nhà nước cho công tác xoá giảm nghèo nói trên
Tìm hiểu về thực trạng nghèo đói và xóa đói giảm nghèo,từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần giảm tỉ lệ hộ nghèo đói Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghèo đói
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng nghiên cứu: dự án chi tiêu công cho xóa đói giảm nghèo của nước ta
từ năm 2008 đến nay
*Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu dự án xóa đói giảm nghèo thời gian từ năm
2008 đến nay; lí luận về chi tiêu công, xóa đói giảm nghèo, công tác triển khai chi tiêu của Nhà nước cho xóa đói giảm nghèo ở nước ta và các hiệu quả đạt được chi tiêu công trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
4 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu từ sách, mạng Internet, từ nghị quyết 30a của chính phủ, từ các bài báo liên quan từ đó sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá số liệu
từ năm 2008 đến nay
Trang 3NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHI TIÊU CÔNG
CHO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1 Lý luận chung về chi tiêu công cho xóa đói giảm nghèo
1.1 Khái niệm về nghèo đói
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu không thỏa mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp…
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống nhỏ hơn mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống
Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TT của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7
năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Từ ngày 01/01/2009 chuẩn nghèo quốc gia sẽ được tăng lên 300.000 đồng/người và 390.000 đồng/người
1.2 Quan điểm xóa đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời chủ động tạo các nguồn lực cho các hoạt động trợ giúp người nghèo đói Xoá đói giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của toàn xã hội,
mà trước hết là bổn phận của chính người nghèo, phụ thuộc vào sự vận động tự giác của bản thân người nghèo, cộng đồng nghèo Triển khai có hiệu quả các chương trình,
dự án xoá đói giảm nghèo bằng các nguồn tài chính trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức trong và ngoài nước
1.3 Mục tiêu của chi tiêu công cho xóa đói giảm nghèo
Mỗi dự án, mỗi chương trình trong chi tiêu chung đều gắn liền với những mục tiêu nhất đinh Dự án chi tiêu công cho công tác xóa đói giảm nghèo cũng vậy, nó có
Trang 4mục tiêu là: tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng
Phải xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói của những hộ nghèo, nâng cao mức sống xã hội
Rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo,rút ngắn sự chênh lệch các thành viên trong cộng đồng và tạo được sự công bằng trong xã hội
Giáo dục được ý thức cộng đồng về sức quan trọng của dự án cho đất nước nói chung và cho những hộ nghèo, dân nghèo nói riêng
Mục tiêu giảm nghèo,tỷ lệ hộ nghèo giảm, cải thiện đời sống của nhóm hộ nghèo Các xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu giúp họ vươn lên và thoát khỏi cảnh đói nghèo
Trang 5CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG, ĐÁNH GIÁ CHI TIÊU CÔNG
CHO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
2.1 Thực trạng chi tiêu công cho xóa đói giảm nghèo và các chương trình hỗ trợ
2.1.1 Thực trạng chi tiêu công cho xóa đói giảm nghèo
Theo Bộ Tài chính, từ 2005 đến 2012 hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để thực hiện chính sách giảm nghèo là khoảng 734.000 tỷ đồng (bình quân trên 90.000 tỷ đồng/năm), chiếm trên 12% tổng chi ngân sách nhà nước, đó là chưa tính đến nguồn vốn tín dụng mỗi năm 20 nghìn tỷ đồng cho vay ưu đãi và Nhà nước hỗ trợ lãi suất khoảng 7 – 8 nghìn tỷ đồng nữa
Nguồn lực này được bố trí để thực hiện rất nhiều chính sách hỗ trợ, đầu tư trực tiếp Như chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, chương trình 135 và chương trình hỗ trợ các huyện nghèo, chương trình bố trí dân cư, hỗ trợ nhà ở, khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi… và ưu đãi về tín dụng.Trong đó từ 2006
- 2012, ngân sách nhà nước đã bố trí kinh phí thực hiện khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi khoảng 44.896 tỷ đồng giai đoạn 2006 – 2010, trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh đã được đầu
tư với kinh phí trên 1.222 tỷ đồng Trong đó, Chương trình 135 giai đoạn II đã đầu tư 506,4 tỷ đồng với 4 hợp phần; dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đầu tư 337,6 tỷ đồng xây dựng 520 công trình Công tác duy tu bảo dưỡng công trình sau đầu tư được thực hiện
từ năm 2008 đến nay với kinh phí đã giao là 14,6 tỷ đồng Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất xây dựng 589 mô hình được xây dựng và phổ biến nhân rộng trên lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Dự án đào tạo cán bộ xã bản và nhóm cộng đồng đã đầu
tư gần 23,7 tỷ đồng để được 526 lớp đào tạo và bồi dưỡng, tập huấn thăm quan học tập kinh nghiệm cho 28.150 lượt học viên là cán bộ xã, bản Hai năm 2011 - 2012, ngân sách đã bố trí hỗ trợ khoảng 9.167 tỷ đồng kinh phí hỗ trợ chi phí học tập và miễn giảm học phí Từ 2009 - 2012, hỗ trợ 4.254,3 tỷ đồng cho hộ nghèo vay làm nhà ở
2.1.2 Các chương trình hỗ trợ
Nhà nước trợ giúp người nghèo biết cách tự thoát nghèo và tránh tái nghèo khi gặp rủi ro Các chương trình hỗ trợ có hai dạng: một là cung cấp tiền mặt( đối với người dân thuộc hộ nghèo ở xã khu vực II,xã biên giới, xã bãi ngang, hải đảo vùng khó
Trang 6khăn,hộ nghèo ở xã khu vực III vùng khó khăn), còn dạng kia là chi trả cho những dịch vụ hay hàng hóa đặc biệt – trợ cấp bằng hiện vật Trong số các chương trình cấp tiền mặt, các chương trình lớn là: trợ cấp cho các gia đình đông con, cung cấp tiền mặt cho những người nghèo bị tàn tật, mù và già cả Chương trình trợ giúp bằng hiện vật lớn nhất đó chính là: trợ cấp y tế nhằm giúp cho các chi tiêu về y tế cho người nghèo Không những hỗ trợ về vật chất trực tiếp là trợ cấp kinh phí mà việc tạo việc làm cho người nghèo bằng cách hướng dẫn người nghèo sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế theo điều kiện cụ thể của họ chính là điều kiện xoá đói giảm nghèo thành công nhanh và bền vững Như là:
-Chính sách hỗ trợ thông qua khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất
để trồng rừng sản xuất: Hộ gia đình nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng được hưởng tiền khoán chăm sóc, bảo vệ rừng 200.000 đồng/ha/năm; Hộ gia đình được giao rừng sản xuất và giao đất để trồng rừng sản xuất theo quy hoạch, được hưởng các chính sách sau: Được hưởng toàn bộ sản phẩm trên diện tích rừng sản xuất được giao và trồng; Được hỗ trợ lần đầu giống cây lâm nghiệp theo quy trình trồng rừng sản xuất từ 02-05 triệu đồng/ha…
-Chính sách hỗ trợ sản xuất: Bố trí kinh phí cho rà soát, xây dựng quy hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng huyện, xã, nhất là những nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên bị thiên tai Đối với vùng còn đất có khả năng khai hoang, phục hóa hoặc tạo ruộng bậc thang để sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ 10 triệu đồng/ha khai hoang; 05 triệu đồng/ha phục hóa; 10 triệu đồng/ha ruộng bậc thang Hỗ trợ một lần toàn bộ tiền mua giống, phân bón cho việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; ưu tiên hỗ trợ trồng lúa lai, ngô lai; Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại ngân hàng thương mại nhà nước để phát triển sản xuất nông nghiệp, đầu tư cơ sở chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản
-Tăng cường, hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dịch vụ bảo
vệ thực vật, thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm cho các huyện nghèo để xây dựng các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư thành những trung tâm chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ và dịch vụ thúc đẩy phát triển sản xuất trên địa bàn Bố trí kinh phí khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cao gấp 2 lần so với mức bình quân
Trang 7chung các huyện khác; hỗ trợ 100% giống, vật tư cho xây dựng mô hình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; người dân tham gia đào tạo, huấn luyện được cấp tài liệu, hỗ trợ 100% tiền ăn ở, đi lại và 10.000 đồng/ngày/người; mỗi thôn, bản được bố trí ít nhất một suất trợ cấp khuyến nông (gồm cả khuyến nông, lâm, ngư) cơ sở
Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại đầu tư sản xuất, chế biến, kinh doanh trên địa bàn huyện nghèo
Hỗ trợ mỗi huyện 100 triệu đồng/năm để xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, nhất là nông, lâm, thủy đặc sản của địa phương; thông tin thị trường cho nông dân
Khuyến khích, tạo điều kiện và có chính sách ưu đãi thu hút các tổ chức, nhà khoa học trực tiếp nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ ở địa bàn, nhất là việc tuyển chọn, chuyển giao giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất ở các huyện nghèo
-Chính sách xuất khẩu lao động: hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo ngoại ngữ, bồi dưỡng văn hóa, đào tạo định hướng (bao gồm cả ăn, ở, đi lại, trang cấp ban đầu, chi phí làm thủ tục và cho vay vốn ưu đãi) … để lao động các huyện nghèo tham gia xuất khẩu lao động; phấn đấu mỗi năm đưa khoảng 7.500 – 8.000 lao động ở các huyện nghèo đi làm việc ở ngoài nước (bình quân 10 lao động/xã)
-Chính sách về giáo dục nâng cao dân trí: nâng cao số lượng trẻ em nghèo được đến trường, phát triển trình độ giáo dục cho người nghèo bằng cách thực hiện các chương trình hỗ trợ như : cho vay vốn ưu đãi sinh viên ĐH, CĐ thuộc diện hộ nghèo, khó khăn, cấp học bổng cho các học sinh, sinh viên nghèo hiếu học ; miễn giảm học phí cho học sinh thuộc diện hộ nghèo, hoàn cảnh khó khăn Năm 2007, 5 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí, năm học 2007-2008 có hơn 750.000 học sinh, sinh viên đã được vay vốn học tập gần 5.169 tỷ đồng
-Chính sách hỗ trợ pháp lí: bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo , bảo đảm công lý và bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao nhận thức và kiến thức về các vấn đề mà pháp luật và các quy định, tham gia phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và thực hành cơ sở dân chủ
-Chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả thôn bản xã huyện: Đẩy nhanh thực hiện quy hoạch các điểm dân cư ở những nơi có điều kiện và những nơi thường xảy ra thiên
Trang 8tai; nâng cao hiệu quả đầu tư Sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển trong cân đối ngân sách hàng năm (bao gồm vốn cân đối ngân sách địa phương và hỗ trợ từ ngân sách trung ương)
Các chính sách trên tác động về mặt kinh tế(như tín dụng ưu đãi,chính sách hỗ trợ đất sản xuất ,các dự án nông, lâm, khuyến ngư phát triển các nghành nghề ) và cung cấp hàng hóa công(Chính sách trợ giúp y tế ; chính sách hỗ trợ giáo dục ; chính sách về nước sạch và nhà ở ; chính sách hỗ trợ pháp lí) đã có những hiệu quả nhất định của dự án
2.2 Đánh giá chung về dự án
2.2.1 Kết quả đạt được
Chi tiêu công cho xóa đói giảm nghèo từ năm 2008 đến nay đã đạt được những kết quả nhất định
Kết quả giảm nghèo của cả nước và từng địa phương cơ bản đạt được mục tiêu
đề ra Bình quân số hộ nghèo giảm 2% mỗi năm; các huyện nghèo, xã nghèo giảm bình quân trên 5% một năm
Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (2011) và 9,6% (2012), thực hiện năm 2013 là 7,8%
Theo báo cáo "Đánh giá nghèo Việt Nam 2012" của Ngân hàng Thế giới, dựa trên chuẩn nghèo mới (tương đương 653.000 đồng/người/tháng hoặc 2,25 USD/người/ngày), tỷ lệ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% xuống còn 20,7% trong
20 năm qua và là nước có điều kiện sống tốt Tình trạng nghèo chủ yếu tập trung ở vùng cao, gồm miền núi Đông Bắc và Tây Bắc và một số khu vực ở Tây Nguyên
Tỷ lệ đói nghèo ở nước ta đã giảm một cách tích cực Tính đến năm 2012, đã có
500 nghìn lượt hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở, 542 triệu lượt người được hỗ trợ bảo hiểm xã hội Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện Thông qua thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn giảm từ 47% (năm 2006) xuống còn 28,8% (năm 2010), thu nhập bình quân đầu người
là 4,2 triệu đồng/người/năm
Tỷ lệ các xã có đường giao thông cho xe cơ giới từ trung tâm xã đến thôn, bản lên tới 80,7% 2,2 triệu hộ được hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi; xây dựng được 6.834
mô hình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 9Sau những năm thực hiện, tỷ lệ hộ nghèo ở 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a
đã giảm từ 58,33% (năm 2010) xuống còn 43,89% (năm 2012), bình quân giảm trên 7%/năm Các địa phương đã hỗ trợ 1.340 lao động ở các huyện nghèo đi xuất khẩu lao động, nâng tổng số lao động xuất khẩu lao động năm 2008-2012 lên gần 8.500 người Các địa phương còn tổ chức đào tạo nghề cho hơn 10.000 lao động nghèo để tạo việc làm tại chỗ, ngoài địa bàn hoặc tham gia xuất khẩu lao động 225 nghìn hộ được vay vốn với tổng số tiền 1.122 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi để chăn nuôi gia cầm, gia súc, phát triển ngành nghề
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được thành tựu ấn tượng về giáo dục và y tế Tỷ
lệ nhập học ở bậc tiểu học của người nghèo là trên 90% và ở bậc trung học cơ sở là 70% Trình độ học vấn tăng và sự đa dạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp, cơ hội làm việc ở công trường, nhà máy cũng đóng góp tích cực cho công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Các số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh chóng ở những vùng mà
tỷ lệ ban đầu là cao nhất Tuy nhiên, ngay cả ở những vùng cao nguyên nghèo nhất, một số tỉnh cũng đang giảm nghèo tốt hơn và bắt đầu theo kịp các tỉnh giàu hơn ở vùng đồng bằng Điều đó là do đối với các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chính phủ đã có những chính sách ưu tiên như Chương trình 135, ổn định dân
di cư tự do, chính sách trợ giá, trợ cước, Chương trình 173, Chương trình 186 Những chính sách đó đã giúp người nghèo, người dân tộc xóa đói, giảm nghèo, lĩnh hội được các thành quả của quá trình phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng Tuy chưa theo kịp tốc độ của vùng đồng bằng, vùng đô thị, song đời sống của người dân nơi đây đã có những thay đổi tích cực, kết cấu hạ tầng phát triển, thị trường hàng hóa đã bắt đầu hình thành, dần dần thay thế nền kinh tế tự cung, tự cấp trước đây
Tỷ lệ nghèo ở nông thôn và thành thị giảm rõ rệt và có xu hướng thu hẹp trong những năm qua, mức độ nghèo đói trầm trọng đã được giảm dần
Mức sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên rõ rệt Kết cấu hạ tầng không ngừng được hoàn thiện phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dần, đặc biệt là người dân
ở những vùng khó khăn
2.2.2 Hạn chế còn tồn tại
Bên những thành tựu, kết quả đạt được của việc xóa đói giảm nghèo của nước ta thì
Trang 10vẫn còn tồn đọng những hạn chế yếu kém chưa khắc phục được ảnh hưởng đến công tác xóa đói giảm nghèo và những định hướng mục tiêu của đất nước Cụ thể như sau:
- Thành tựu xóa đói giảm nghèo đạt được lớn nhưng nhìn chung kết quả giảm nghèo vẫn chưa thật sự vững chắc, bền vững
- Hiện tượng tái nghèo: khi chính sách thực hiện, một số hộ đã thoát nghèo nhưng trong một thời gian ngắn lại bị tái nghèo Mà nguyên nhân chủ yếu là do người dân chưa được hưởng đầy đủ các chính sách trợ cấp của Nhà nước và bị tác động bởi các yếu tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh… đặc biệt là ở những huyện miền núi, vùng cao, biên giới đặc biệt khó khăn
-Khoảng cách giàu nghèo đang còn lớn, chênh lệch giữa các nhóm thu nhập, giữa các nhóm giàu và nhóm nghèo có xu hướng gia tăng
-Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng, miền và đang có xu hướng chậm lại Bất bình đẳng trong thu nhập giữa các vùng
-Việc dạy nghề chưa thực sự gắn với nhu cầu; việc cho vay tín dụng ưu đãi chưa gắn với hỗ trợ và hướng dẫn về sản xuất, khuyến nông một cách hiệu quả
-Chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và chống tái mù chữ còn thấp, dẫn đến mặt bằng học vấn của người dân chưa được nâng lên như mong muốn
- Sai đối tượng, tham ô: hàng loạt chính sách được ban hành chưa thật sự đúng đối tượng nghiên cứu chưa được kỹ càng nên khi áp dụng chính sách vào thực tế gặp nhiều khó khăn, và có những khoản lãng phí Hơn nữa,khi trợ cấp,các khoản trợ cấp đi
từ trung ương đến địa phương và các khâu trung gian thì có sự tham ô và đánh nhầm đối tượng, người đáng hưởng thì không được hưởng và ngược lại Ước tính tỷ lệ rò rỉ của Quốc gia theo các năm trung bình khoảng 10% Một số chương trình phân bổ tiền sai, như trong chương trình 135, Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị xử lý gần 39,6 tỷ đồng Đáng lưu ý là trong khi rất nhiều địa phương mong mỏi nhận được sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước để thoát nghèo thì vẫn có trên 2,347 tỷ đồng tiền thừa, không dùng đến, phải nộp trả ngân sách Nhà nước Trong khi đó, có khoảng 4,9 tỷ đồng đã bị các địa phương chi sai đối tượng
- Bệnh thành tích đã khiến một số địa phương khống chế tỷ lệ nghèo thấp hơn so với thực tế, dẫn đến một số người nghèo chưa tiếp cận được các chính sách, gây ra những hiểu biết sai lệch về chính sách của Nhà nước, gây ra phản ánh thực tế tỷ lệ nghèo không chính xác