Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tàiNghiên cứu xoay quanh vấn đề án tử hình ở Việt Nam, trên cở sở tínhnhân đạo của việc áp dụng án tử hình theo quy định của bộ Luật hình sự 2015.N
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT - -
NIÊN LUẬN
VẤN ĐỀ ÁP DỤNG ÁN TỬ HÌNH Ở VIỆT NAM VÀ TÍNH NHÂN ĐẠO TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:
TS Hà Lệ Thủy Đặng Thị Thanh Nhàn
Mã sinh viên: 13a5011250 Lớp: Luật K37D
Huế,6/2016
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4 Phương pháp nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của đề tài 5
5 Bố cục của đề tài 5
B PHẦN NỘI DUNG 6
1.1 Khái niệm 6
1.2 Quy định của pháp luật trong việc áp dụng hình phạt tử hình và vấn đề tương quan của hình phạt tử hình và tính nhân đạo 8
1.2.1 Quy định của pháp luật 8
1.2.2 Tính tương quan giữa nguyên tắc nhân đạo và vấn đề áp dụng án tử hình ở Việt Nam 10
2.1 Đặc điểm và mục đích của án tử hình và tính nhân đạo trong Bộ luật hình sự 2015 12
2.1.1 Đặc điểm của án tử hình trong Bộ luật hình sự 2015 12
2.1.2 Đặc điểm về tính nhân đạo trong việc áp dụng án tử hình theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 14
2.1.3 Mục đích của việc áp dụng án tử hình và tính nhân đạo trong Bộ luật hình sự 2015 15
2.1.3.1 Mục đích của hình phạt tử hình 15
2.1.3.2 Mục đích của quy định nguyên tắc nhân đạo 16
2.2 Nguyên nhân của việc áp dụng nguyên tắc nhân đạo cho hình phạt tử hình 16
2.3 Thực trạng áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới 18
2.3.1 Thực trạng áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam 18
Trang 32.3.1.1 Thực trạng áp dụng hình phat tử hình ở Việt Nam thời kì phong kiến( giai đoạn trước năm 1945) 182.3.1.2 Hình phạt tử hình trong luật hình sự thời kì thuộc địa 232.3.1.3 Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam thời kì 1945 – 1985 242.3.1.4 Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam giai đoạn năm
1985 và Bộ luật hình sự 1999 242.3.1.5 Thự trạng áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự Việt Nam 2015 272.3.2 Thực trạng áp dụng hình phạt tử hình trong luật hình sự thế giới .302.3.2.1 Hình phạt tử hình trong luật hình sự thế giới thời kì cổ đại 302.3.2.2 Hình phạt tử hình trong luật hình sự thế giới thời kỳ trung đại 322.3.2.3 Hình phạt tử hình trong luật hình sự thế giới thời kỳ cận đại 342.3.2.4 HÌnh phạt tử hình trong luật hình sự thế giới hiện đại 35
CHƯƠNG III THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ XỬ LÝ, KIẾN NGHỊ VÀ
DỰ BÁO VỀ TÌNH HÌNH ÁP DỤNG ĐỂ TIẾN TỚI XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG NHỮNG NĂM TỚI ĐÂY 40
3.1 Thực tiễn áp dụng và xử lý hình phạt tử hình theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999 403.2 Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện về việc áp dụng hình phạt tử hình trong bộ luật hình sự 2015 443.3 Dự báo về tình hình áp dụng án tử hình để tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình trong những năm tới đây 46
C PHẦN KẾT LUẬN 49
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Cuộc sống của con người, lợi ích của con người và hạnh phúc của concon người là thước đo của mọi giá trị cuộc sống và cũng là điều mà Đảng vànhà nước ta luôn hướng đến và đề cao Một nhà nước của dân do dân và vìdân đó là điiều mà đất nước ta luôn bảo vệ và xây dựng nó ở chế độ nhà nước
đó thì lợi ích của con người luôn đặt lên hàng đầu trong mọi suy nghĩ hànhđộng và trong mọi trường hợp, người dân không chỉ là đối tượng được nhànước bảo vệ mà người dân còn là chủ là người quyết định sự sống còn khôngchỉ là của riêng bản thân mình mà còn cho cả dân tộc Ở nhà nước đó sựnghiêm minh của pháp luật luôn được đề cao, nhưng pháp luật lại luôn vì conngười và hướng đến mục đích cao cả nhất là đem lại lợi ích và công lý chocon người do đó pháp luật luôn mang tính nhân đạo sâu sắc nghiêm minh mà
thấu tình đạt lý Tuy nhiên trong luật hình sự Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn
tại hình phạt tử hình khiến cho rất nhiều ý kiến hoài nghi về tính toàn diệntrong nguyên tắc nhân đạo, nhiều tranh cãi và khuynh hướng khác nhau liênquan đến vấn đề mang tính nhạy cảm này
Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là cácnước Châu Âu đều muốn hạn chế và tiến tới xóa bỏ án tử hình đối với mọi tộiphạm, ngoài ra làn sóng đấu tranh của tổ chức nhân đạo, dân chủ uy tín trênthế giới đòi hỏi tất cả các quốc gia phải xóa bỏ án tử hình diễn ra ngày càngmạnh mẽ, buộc các quốc gia phải còn áp dụng hình phạt tử hình phải thựchiện nghiêm túc và khách quan việc đánh giá hiệu quả thực sự của việc ápdụng án tử hình Hơn nữa trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc ViệtNam tham gia vào các cam kết quốc tế, buộc chúng ta phải chỉnh sửa cácchính sách pháp luật sao cho phù hợp với xu thế chung của nhân loại trong đó
có việc mở rộng tự do dân chủ và cắt giảm hình phạt tử hình đối với một sốloại tội phạm Việc cắt giảm một số án tử hình trong luật hình sự năm 1999cũng như lấy nguyên tắc nhân đạo làm nguyên tắc cơ bản của luật hình sự,điều đó đã mang lại một cái nhìn khác đối với các quốc gia trên thế giới, cái
Trang 5nhìn đầy tính nhân đạo trong pháp luật Việt Nam Hơn nữa còn mang đếnniềm tin vào vào cuộc sống, tạo ra một phép màu khi sinh ra lần thứ hai mộtcon người giúp cho họ và gia đình họ mở ra một trang mới trong trong cuộcsống này, là cơ hội để chuộc lại và suy ngẫm ăn năn về những lỗi lầm mà họ
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Đây là một đề tài có rất nhiều người quan tâm đến, nó là một vấn đềphức tạp ta thấy nó rất quen thuộc nhưng mà nó rất mới lạ cũ mà như mới Đềtài vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn và có rất nhiều ý kiến khácnhau về việc áp dụng hình thức tử hình và tính nhân đạo của nó
Song song với nhiều ý kiến tiêu cựa thì luôn có những ý kiến trái chiều,
do đó nó luôn là tâm điểm nghiên cứu cho nhiều đè tài nghiên cứu của cácgiáo sư tiến sĩ các nhà khoa học nghiên cứu và mỗi người có một ý kiến khácnhau… Một số người thì cho rằng muốn bảo vệ tính nghiêm minh của phápluật, muốn giữ vững công lí thì nên duy trì hình phạt tử hình, việc áp dụnghình phạt tử hình nhằm trừng trị thích đáng những kẻ phạm tội đặc biệtnghiêm trọng thông qua đó còn có tác dụng răn đe cảnh báo cho người dân đểngười dân không thực hiện những hành vi phạm tội nữa
Riêng đối với cá nhân tôi lại có những suy nghĩ và cách tiếp cận kháctrong bài niên luận này sẽ có cái nhìn nhân tổng quan vì áp dụng hình phạt tửhình thông qua việc đan xen đối chiếu so sánh vấn đề áp dụng án tử hình vàtính nhân đạo gtrong Bộ Luật Hình Sự 2015
Trang 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu xoay quanh vấn đề án tử hình ở Việt Nam, trên cở sở tínhnhân đạo của việc áp dụng án tử hình theo quy định của bộ Luật hình sự 2015.Nghiên cứu về vấn đề có nên tiếp tục áp dụng án tử hình hay tiến hành giảmviệc áp dụng án tử hình đối với các tội phạm và tiến tới xóa bỏ chúng
4 Phương pháp nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Việc nghiên cứu đề tài dựa trênphương pháp luận, thế giới quan của Chủ Nghĩa Mac- Leenin và tư tưởng HồChí Minh.Đề tài có sự đan xen của các phương pháp nghiên cứu cụ thể khácnhất là phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, quy nạp, diễn giải và bình luậnnhằm giải quyết những vấn đề mà đề tài niên luận đặt ra
Mục đích nghiên cứu của đề tài: nghiêm cứu một cách sâu sắc hơn vềviệc áp dụng hình phạt tử hình trong pháp luật Việt Nam để từ đó có cái nhìnnhiều chiều phiến diện hơn nhằm hướng tới những giá trị nhân sinh và nhânđạo sâu sắc trong việc chỉ quy định hình phạt tử hình giới hạn trong một số tộiphạm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình này trong pháp luật của Việt Nam
5 Bố cục của đề tài
Đề tài gồm 3 phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung
Chương 2 Vấn đề áp dụng án tử hình ở Việt Nam
Chương 3 Những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng thực tiễn xử lý,kiến nghị và dự báo về tình hình áp dụng để tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hìnhtrong những năm tới đây
- Phần kết luận
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG 1.1 Khái niệm
- Khái niệm hình phạt tử hình: tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất donhà nước áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng để loại trừngười đó vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội
- Hình phạt tử hình là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan Nó
là phương tiện để bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiệntồn tại của nó Tội phạm đe dọa sự tồn tại của xã hội nên xã hội phải phản ứngmột cách tự nhiên là trừng trị người phạm tội Hình phạt tử hình còn mangtính lịch sử, tính giai cấp Sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với sự pháttriển của lịch sử loài người Nó là sản phẩm của xã hội phát triển đến một giaiđoạn nhất định mà ở đó xuất hiện nhà nước và pháp luật Nó là công cụ màNhà nước sử dụng để bảo vệ và củng cố địa vị thống trị của mình
Theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 tại Điều
35 có quy định tử hình là hình phạt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặcbiệt nghiêm trọng
Theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 tai khoản 1 Điều 40 có quyđịnh: tử hình là hình phạt đặc biêt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệtnghiêm trọng thuộc trong nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâmphạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy tham nhũng và một số tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định
- tại sao phải áp dụng hình phạt tử hình
Việc đưa ra hình phạt tử hình trong bộ luật Hình Sự 1999 sửa đổi bổsung 2009 và tiếp tục duy trì hình phạt tử hình trong bộ luật Hình Sự 2015nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đang diễn ra một cáchmạnh mẽ trên mọi lĩnh vực trong tình hình phát triển đa dạng và phức tạp củađất nước
Như vậy hình phạt tử hình được áp dụng khi người phạm tội phạm tộiđặc biệt nghiêm trọng mà mọi hình phạt ngoại trừ tử hình đề không đủ khả
Trang 8năng bảo đảm việc bảo vệ công lý và công bằng xã hội Công lý đòi hỏi mọichủ thể phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình
Hơn nữa tromg giai đoạn hiện nay giai đoạn mà Việt Nam từng bướckhẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, ngày càng phát triển phù hợpvới xu hường toàn cầu hóa, xây dụng xã hội chủ nghĩa kéo theo đó lquyềncòn người luôn được đề cao bảo vệ và đảm bảo tuyệt đối trên mọi phươngdiện nên chăng việc tiếp tục duy trì hình phạt tử hình có quá nghiêm khắ, hìnhphạt tử hình phải chăng nó có vi phạm tính nhân đạo và quyền của con ngườitrong xã hội hiện nay không
- Khái niệm nhân đạo : Trong quá trình phát triển của nhân loại, nhânđạo luôn là niềm khát vọng cháy bỏng của mỗi con người Nó có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng đối với sự phát triển của xã hội nóichung và của mỗi con ngườinói riêng Càng ngày nhân đạo càng được khẳng định đầyđủ hơn trong cácmối quan hệ xã hội ở mọi lĩnh vực Trong lĩnh vực pháp luật, nhân đạođượcthể hiện đầy đủ nhất, mạnh mẽ nhất, trở thành nền tảng tư tưởng, nguyên tắccủanó.Vấn đề nhân đạo là vấn đề con người và được hiểu là “ cái đức yêuthương con người,trên cở sở tôn trọng phẩm giá, quyền và lợi ích con người”,
“ là đạo đức thể hiện tìnhthương yêu với ý thức tôn trọng giá trị phẩm chấtcủa con người”.Nhân đạo là một phạm trù lịch sử cụ thể Là một giá trị xã hộiđược sản sinh trong quátrình đấu tranh chống cái ác của loài người, đặc biệttrong thời kỳ đấu tranh vì tự do, bình đẳng, nhân đạo chỉ xuất hiện khi xã hộiphân chia giai cấp, Nhà nước và pháp luậtra đời Tương ứng với một hình tháikinh tế - xã hội, có một kiểu quan niệm thống trị vềnhân đạo trong xã hội Nộidung, bản chất và quan niệm thống trị đó do các điều kiệnkinh tế, văn hóa xãhội của các xã hội tương ứng quyết định.Nhân đạo không chỉ là một phạm trùlịch sử cụ thể mà còn là một phạm trù mang tínhgiai cấp Trong các xã hộikhác nhau và thậm chí ngay cả trong một xã hội nhất định đãkhông có vàkhông thể có sự nhận thức và quan niệm thống nhất về nhân đạo Tưtưởng,tình cảm, thái độ đối xử của con người trong xã hội bao giờ cũng xuất phát từlợiích giai cấp, tầng lớp mà họ làm thành viên Nhân đạo còn mang cả tính
Trang 9nhân loại thể hiện ở các quan niệm truyền thống của xã hộiloại người được rút
ra từ những quy tắc tối thiểu của đời sống xã hội, những quy tắc từ bao thế kỉvẫn được nhắc đi nhắc lại
- Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam: nguyên tắc nhânđạo là nguyên tắc quan trọng của pháp luật Hình sự nhằm đảm bảo tính nhânvăn, bảo vệ những quyền tối thiểu của con người dù trong bất kỳ hoàn cảnhnào
Nguyên tắc này thể hiện bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thể hiện tưtưởng vì con người của định hướng đi lên nhà nước xã hội chủ nghĩaNguyêntắc này thể hiện ở việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội chủ yếunhằm cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội Hình phạt khônggây đau đớn về thể xác của người phạm tội Bộ luật hình sự có nhiều quy địnhtạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo, có cơ hội để sớm hòa nhập vàocộng đồng như: quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt , ántreo và một số hình phạt không tước quyền tự do như hình phạt cảnh cáo, phạttiền,…
Được quy đinh trong Điều 3 của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung
2009 và Bộ luật hình sự 2015
1.2 Quy định của pháp luật trong việc áp dụng hình phạt tử hình và vấn đề tương quan của hình phạt tử hình và tính nhân đạo.
1.2.1 Quy định của pháp luật
Theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 Điều Tửhình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêmtrọng
Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệtnghiêm trọng
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạmtội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khiphạm tội hoặc khi bị xét xử
Trang 10Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi condưới 36 tháng tuổi Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tùchung thân.
Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tửhình chuyển thành tù chung thân
Theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 Điều 40
Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặcbiệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia,xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một
số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạmtội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử
Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trongcác trường hợp sau đây:
+ Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
+ Người đủ 75 tuổi trở lên;
+ Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà saukhi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ
và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lýtội phạm hoặc lập công lớn
Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người
bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tùchung thân
Trang 11đã có hiệu lực pháp luật, do một toà án có thẩm quyền phán quyết.
- Khi việc tước mạng sống của con người cấu thành tội diệt chủng, cầnhiểu rằng không một quy định nào của điều này cho phép bất kỳ quốc giathành viên nào của Công ước này, bằng bất kỳ cách nào, được giảm nhẹ bất
kỳ nghĩa vụ nào mà họ phải thực hiện theo quy định của Công ước về ngănngừa và trừng trị tội diệt chủng
- Bất kỳ người nào bị kết án tử hình đều có quyền xin ân giảm hoặc xinthay đổi mức hình phạt Việc ân xá, ân giảm hoặc chuyển đổi hình phạt tửhình có thể được áp dụng đối với mọi trường hợp
- Không được phép tuyên án tử hình với người phạm tội dưới 18 tuổi vàkhông được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai
- Không một quy định nào trong điều này có thể được viện dẫn để trìhoãn hoặc ngăn cản việc xoá bỏ hình phạt tử hình tại bất kỳ quốc gia thànhviên nào của Công ước
1.2.2 Tính tương quan giữa nguyên tắc nhân đạo và vấn đề áp dụng
án tử hình ở Việt Nam.
Tính nhân đạo là cơ sở là nền móng cho sự ra đời của pháp luật, phápluật được hình thành dựa trên sự đối nhân xử thế giữa con người với conngười giữa nhà nước với con người nhà nước sử dụng các quy định của phápluật để điều chỉnh các quan hệ xã hội và khi thực hiện vấn đề đó pháp luật
Trang 12luôn đặt lợi ích và quyền lợi của con người lên đầu luôn hướng đến mục tiêu
là người dân được hạnh phúc sống trong một xã hội văn minh lành mạnh vàcông bằng… Cho dù pháp luật có tính nghiêm minh và chặt chẽ tuy nhiên vẫn
sẽ luôn đan xen vào trong đó là những tính nhân đạo cảm thông biết tha thứcho con người những cơ hội những trang sách mới của cuộc sống để có thểhòa nhập vào xã hội và làm thật nhiều việc có ích để bù đắp và chuộc lạinhững lỗi lầm mà họ đã gây ra
Thứ nhất, đều là những hiện tượng thuộc phạm trù ý thức xã hội bị quyđịnh bởi tồn tạixã hội mà trong đó quan hệ sản xuất là nhân tố chi phối cơbản Điều đó lý giải vì sao pháp luật ngày nay càng ngày càng có tính nhânđạo sâu sắc Vấn đề là ở chỗ, pháp luậttrước đây được xây dựng trên nền tảngcủa cơ sở kinh tế hạ tầng thấp kém, do vậy tínhnhân đạo được thể hiện trongpháp luật cũng thấp hơn ngày nay
Thứ hai, tồn tại trong một xã hội nhất định với tính cách là những nhân
tố quan trọngđiều chỉnh các quan hệ xã hội, cả nhân đạo và pháp luật đều gắnliền với lợi ích màtrước hết là lợi ích của giai cấp thống trị về kinh tế và chínhtrị trong xã hội đó
Thứ ba, bởi là những phương tiện quan trọng điều chỉnh hành vi của conngười trong xãhội có giai cấp, cả nhân đạo lẫn pháp luật tồn tại, hoạt độngtrong sự tác động, bổ sungcho nhau nhằm duy trì và củng cố trật tự xã hội.Thứ tư, pháp luật là phương tiện ghi nhận và thực hiện nhân đạo cóhiệu quả nhất Phápluật ra đời còn là nhằm chuyển tải, chuẩn mực hóa quanniệm nhân đạo chung của xãhội Qua pháp luật, các quan niệm, quan điểm tưtưởng nhân đạo đi vào đời sống xã hộimột cách đầy đủ và mạnh mẽ.Trong bốicảnh toàn cầu hóa hiện nay, nhiều giá trị nhân đạo đã mang tính toàn cầuhóa bắt buộc chung
Điều này được thể hiện trong các điều ước quốc tế về nhân quyền.Tuynhiên hiện nay vẫn còn có những giá trị nhân đạo ở các quốc gia còn khácnhau Điềunày chúng ta có thể giải thích được khi mà cơ sở kinh tế hạ tầng
Trang 13mà yếu tố cốt lõi quyếtđịnh là lực lượng sản xuất của các quốc gia là rất khácnhau.
Chương II Vấn đề áp dụng án tử hình ở Việt Nam và tính nhân đạotrong Bộ luật hình sự 2015
2.1 Đặc điểm và mục đích của án tử hình và tính nhân đạo trong Bộ luật hình sự 2015
2.1.1 Đặc điểm của án tử hình trong Bộ luật hình sự 2015
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nướcnhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạtđược quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định” Được quy định trongĐiều 30 Bộ luật hình sự 2015
Hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hìnhphạt của pháp luật hình sự Việt Nam, được áp dụng đối với những tội phạmđặc biệt nguy hiểm Trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam, hình phạt từhình cùng với các hình phạt khác trong pháp luật hình sự đã góp phần quantrọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ vững ổn địnhchính trị, phát triển kinh tế xã hội của đất nước qua các thời kỳ Tuy nhiêntrong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập với cộng đồng quốc tế, nhất là khichúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền, thì việc nghiên cứu về mặt lýluận và thực tiễn của việc loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi hệ thống hình phạtcủa pháp luật hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng
Ở mỗi quố gia lại có nhưng quy định khác nhau về hình phạt tử hình và
ở mỗi quốc gia thì hình phạt tử hình có những đặc điểm khác nhau, ở ViệtNam hình phạt tử hình cũng có những đặc điểm đặc thù riêng biệt không chỉphù hợp với tình hình xã hội mà còn phù hợp với sự phát tiển của đất nước Trong Luật Hình sự Việt Nam, tử hình là loại hình phạt đặc biệt vànghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bịkết án và chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặcbiệt cao cho xã hội Hình phạt tử hình được quy định trong Bộ luật Hình sự và
Trang 14do Tòa án quyết định Từ định nghĩa này cho thấy hình phạt tử hình có nhữngđặnc điểm sau:
Thứ nhất, hình phạt tử hình là hình phạt cuối cùng thể hiện sự nghiêm
khắc nhất của pháp luật đối với người phạm tội, tước đoạt đi mạng sống củangười phạm tội mà không một hình phạt nào trong hệ thống hình phạt có khảnăng này
Hình phạt tử hình tước bỏ quyền được sống - quyền năng tự nhiên,thiêng liêng, cao quý nhất của con người
Áp dụng tử hình đối với người phạm tội là nhà nước loại bỏ hoàn toàn sựtồn tại của họ trong đời sống xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng
Nhìn nhận một cách chính xác hơn thì cũng không có một hình phạt nàonghiêm khắc hơn hình phạt tử hình, sự tàn khốc và triệt tiêu khả năng tồn tạicủa con người khiến cho hình phạt tử hình trở thành khung hình phạt ít được
áp dụng
Thứ hai, Chính vì sự tàn khốc, khắc nghiệt của hình phạt tử hình mà
nhiều nước trên thế giới và kể cả Việt Nam cũng coi tử hình là hình phạt đặcbiệt, nó chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc mộttrong nhóm các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạngcon người, các tội phạm về ma túy, tham những và một số tội phạm đặc biệtnghiêm trọng khác do Bộ luật hình sự 2015 quy định Chỉ khi hành vi phạmtội gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, người phạm tội ở vào các trường hợpđược BLHS dự liệu trước, cùng với bản án có hiệu lực của Tòa án, việc ápdụng tử hình mới có giá trị pháp lý thực tế Và chỉ Tòa án có thẩm quyền mới
có quyền quyết định áp dụng hình phạt tử hình Đây cũng chính là đòi hỏi củanguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, phản ánh tính nghiêm minh của phápluật trong việc phòng ngừa tội phạm chung
Thứ ba, hình phạt tử hình không đặt ra mục đích cải tạo, giáo dục người
bị kết án, và hình phạt tử hình có tính không thể thay đổi
Khi áp dụng án tử hình với người phạm tội cơ quan có thẩm quyền đềucho rằng hành vi của người phạm tội thể hiện rõ học là những đối tượng không
Trang 15thể cải tạo, không thể giáo dục và vì thế họ sẽ phải chết Khi quyền sống của họ
bị tước đi họ không bao giờ còn tồn tại trên đời để có thể cải tạo giáo dục Xuấtphát từ điểm này chúng ta có thể thấy hình phạt tử hình luôn có tính chất thayđổi Bởi nếu là 1 tội phạm khác khi đang trong quá trình chịu án mà được minhoan rằng mình vô tội thì họ sẽ được trả tự do để hòa nhập vào cuộc sống bìnhthường và có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bồi thường thiệt hại oan sai.Nhưng nếu đối với tội tử hình thì sao một khi đã thi hành án coi như người đó
đã hết cơ hội được sống và nêu như trong quá trình kháng cáo họ được minhoan là vô tội thì pháp luật nào có thể làm cho một con người đã chết đi có thểsống lại được để tiếp tục cuộc sống quý giá của họ
Tuy nhiên, tử hình vẫn đạt được mục đích phòng ngừa riêng của nó khiloại bỏ khả năng phạm tội mới của người bị kết án Và mục đích phòng ngừachung khi có tác dụng răn đe mạnh mẽ, ngăn ngừa những cá nhân không vữngvàng trong xã hội đi vào con đường phạm tội
2.1.2 Đặc điểm về tính nhân đạo trong việc áp dụng án tử hình theo quy định của Bộ luật hình sự 2015
Nguyên tắc nhân đạo là một trong nhưng nguyên tắc cơ bản của Bộ luậthình sự Việt Nam, việc áp dụng án tử hình tuy tước đi quyền sống của ngườiphạm tội nhưng để bảo vệ lợi ích của cả cộng đồng, loại trừ nguy cơ đe dọacộng đồng Bên cạnh đó, việc áp dụng hình phạt tử hình chỉ được áp dụng vớimột số loại tội danh, và loại trừ đối tượng bị tử hình là người dưới, phụ nữ cóthai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lênkhi phạm tội và xét xử
Đặc điểm về tính nhân đạo gồm
Thứ nhất: Nguyên tắc nhân đạo thể hiện truyền thống nhân đạo của dântộc ta, đề cao việc bảo vệ tính mạc sức khỏe và nhân phẩm con người
Nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi trước hết là việc phải bảo đảm bảo vệ cóhiệu quả, hài hòa các lợi ích khác nhau, tôn trọng nhân phẩm danh dự của cánhân Và việc nghiêm cấm các hành vi đày đọa, hành hạ về thân thể, các hành
vi xâm phạm nhân phẩm danh dự đối với những người chấp hành án hình sự
Trang 16Thứ hai: nguyên tắc nhân đạo thể hiện ở sự giảm, miễn hoặc tạm đìnhchỉ thi hành án phạt tù.
Bộ luật hình sự 2015 có quy định:
Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trongcác trường hợp sau đây:
a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
b) Người đủ 75 tuổi trở lên;
c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà saukhi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ
và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lýtội phạm hoặc lập công lớn
2.1.3 Mục đích của việc áp dụng án tử hình và tính nhân đạo trong
Bộ luật hình sự 2015
2.1.3.1 Mục đích của hình phạt tử hình
Mục đích của hình phạt tử hình là sự phản ánh rõ nét bản chất xã hội,bản chất giai cấp của hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng.Trước đây, nếu các nhà làm luật quan niệm người phạm tội là kẻ đã gây ra tội
ác và ác giả ác báo, phải trừng trị thích đáng thì sẽ dẫn đến việc lạm dụnghình phạt tử hình Các hình thức thi hành hình phạt tử hình trong trường hợp
đó cũng dã man, tàn khốc hơn, thể hiện mục đích “ trả thù” người phạm tội.Dần dần các quan điểm tiến bộ, nhân đạo về hình phạt tử hình đã thay thế nêntuy vẫn duy trì ở đa số các nước nhưng hình phạt tử hình chỉ được áp dụngđối với người phạm tội như là biện pháp cuối cùng và nghiêm khắc nhất để “trừng trị” họ
Theo quy định tại Điều 31 Bộ luật hình sự 2015 về mục đích của hìnhphạt
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạmtội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộcsống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mạikhác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
Trang 17Tuy nhiên, đối với hình phạt tử hình thì không đặt ra mục đích cải tạo,giáo dục người bị kết án Vì họ không còn cơ hội để sửa chữa, khắc phụcnhững hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra Không có cơ hội cải tạo,giáo dục họ trở thành người tốt.
Sự nghiêm khắc và triệt để của hình phạt tử hình cho thấy mục đíchphòng ngừa riêng, ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới Bởi các nhà làmluật xét thấy rằng người phạm tội bị kết án tử hình là những người không thểcải tạo, giáo dục, không còn khả năng tái hòa nhập với xã hội Việc loại bỏhoàn toàn khả năng tái phạm với mức độ nguy hiểm cao là cần thiết hơn cả.Tuy nhiên, có thể thấy tác dụng răn đe, phòng ngừa chung của hình phạt tửhình trong việc ngăn ngừa các thành viên khác trong xã hội không phạm tội,tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm
2.1.3.2 Mục đích của quy định nguyên tắc nhân đạo.
Mục đích của quy định nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự là nhằmbảo đảm cho con người những lợi ích tối thiểu, bảo đảm quyền bất khả xâmphạm về danh dự, nhân phẩm và tính mạng Nguyên tắc nhân đạo trong luậthình sự là cách thể chế hóa quan điểm chính sách vì con người của nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan điểm bao dung coi giáo dụcthuyết phục nhân cách trong con người là chủ yếu
2.2 Nguyên nhân của việc áp dụng nguyên tắc nhân đạo cho hình phạt tử hình.
Vì mục đích tối thượng và quan trọng của hình phạt tử hình là nhằm đạtđến sự công bằng trong xã hội dân chủ và ngăn chặn những hành vi tương tự
có thể xảy ra Hình phạt tử hình là sự trừng trị kẻ phạm tội nhằm mục đích răn
đe trước hết là người phạm tội sau đó là các tội phạm khác Mặc dù khi nhắcđến việc tử hình thì ta luôn cảm thấy nó mâu thuẫn với nguyên tắc nhân đạobởi vì tử hình là việc tước đi mạng sống của con người tước đi quyền đượchạnh phúc quyền được tồn tại, còn nguyên tăc nhân đạo là việc thể hiện sự tôntrọng con người luôn đặt những quyền và lợi ích của con người lên trước.Nhưng hai phạm trù này thực ra nó không mâu thuẫn với nhau nó luôn gắn bó
Trang 18và đi liền với nhau trong những quy định của pháp luật Việc quy định việc ápdụng án tử hình đề cao tính răn đe, cảnh cáo thức tỉnh con người không viphạm pháp luật không vi phạm đạo đức và mất đi nhân tính của mình thì bêncạnh đó cùng với việc thừa nhận việc thực hiện hình phạt tử hình thì tính nhânđạo đã làm dịu đi sự nghiêm khắc và cứng nhắc của nó khi đề cập đến việchạn chế hình phạt tử hình đối với một số trường hợp theo quy định tại Điều 31
Bộ luật hình sự 2015 tại khoản 2 và khoản 3 như:
2 Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạmtội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử
3 Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trongcác trường hợp sau đây:
a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
b) Người đủ 75 tuổi trở lên;
c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà saukhi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ
và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lýtội phạm hoặc lập công lớn
Hơn nữa về cách thức thi hành án tử hình cũng thể hiện nguyên tắc nhânđạo của Đảng và nhà nước ta Theo Luật thi hành án Hình sự năm 2010, thìcách thức thi hành án tử hình mới được áp dụng là hình thức “tiêm thuốcđộc” hiểu bản chất của biện pháp thi hành hình phạt tử hình này là tiêm vàongười tử tội một liều thuốc độc Sở dĩ nhiều nước lựa chọn cách tử hình này
vì không tạo ra những cảnh man rợ như đầu rơi, máu chảy, phạm nhân gàothét vì đau đớn Các chuyên gia y học thế giới thường nhận xét về biện pháp
tử hình này là cách "chết nhẹ nhàng", "chết không đau đớn" Một số chuyêngia y học còn so sánh cách thi hành hình phạt tử tội này giống như người tựsát, uống thuốc ngủ hoặc uống thuốc độc chết
Tiêm thuốc độc để thi hành án tử hình là một vấn đề mới ở nước ta Hyvọng việc áp dụng thành công biện pháp tử hình mới này sẽ góp phần thể hiện
Trang 19chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòngchống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.Theo đó thực chất hai phạm trù khái niệm này bề ngoài có vẻ đối trọngnhau nhưng thực chất lại không hề có sự mâu thuẫn lẫn nhau mà trái lạinguyên tắc nhân đạo luôn làm tiền đề, định hướng, chi phối đến việc áp dụnghình phạt tử hình, khiến cho việc áp dụng nó trở nên bị hạn chế Do đó hiệnnay, cần tiếp tục vận dụng lý luận của nguyên tắc nhân đạo nhằm bảo vệ chocác quyền con người trong đó có quyền sống mà có thể bị hình phạt tử hìnhcướp đi.
2.3 Thực trạng áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới.
Lê Sơ thì các hình phạt được quy định rõ trong bộ Quốc Triều Hình Luật –dân gian quen gọi là Bộ Luật Hồng Đức, Bộ luật tiêu biểu cho pháp luậtphong kiến Việt Nam Ngoài ra còn có Bộ Hoàng Việt Luật Lệ của nhàNguyễn Cả hai hệ thống hình phạt đều thể hiện tính dã man tàn bạo, khôngchỉ đày đọa về thể xác mà cả tinh thần Hình phạt được áp dụng với mọi loại
vi phạm pháp luật không chỉ là chế tài hình sự mà còn áp dụng với cả vi phạmpháp luật dân sự, hành chính hay hôn nhân gia đình Điển hình của hai hệthống hình phạt là việc quy định về hình phạt ngũ hình cụ thể như sau:
Thứ nhất: Xuy(phạt roi) là hình phạt đánh bằng roi mây nhỏ vào môngngười bị trừng phạt làm cho họ thấy xấu hổ nhục nhã để tự sữa lỗi lầm củamình Hình phạt này là nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt Chúng được chia
Trang 20làm năm bậc từ 10 đến 50 roi Trong Quốc Triều hình luật suy có thể được ápdụng độc lập ( ví dụ Điều 573, 640,…), cũng có thể là hình phạt áp dụng kèmtheo hình phạt tiền, biếm ( ví dụ Điều 295, Điều 374,…) Cả QTHL và HVLLthì xuy đều được áp dụng cho cả nam và nữ, tuy nhiên QTHL thì thường ápdụng cho nữ giới.
Thứ hai là Trượng (đánh bằng gậy) là hình phạt nghiêm khắc hơn hìnhphạt bằng roi Trong HVLL quy định 2 roi thì bằng một trượng, ai phạm tộinặng hơn 50 roi thì người ta bỏ roi mà xử bằng trượng Cả QTHL và HVLLđều quy định phạt bằng trượng có 5 bậc từ 60 đến 100, mỗi bậc là 10 trượng.Trong QTHL hình phạt này chỉ áp dụng đối với nam giới phạm tội ( ví dụ ởđiều 570, điều 640,…), nhưng cũng có thể là hình phạt áp dụng kèm theo cáctội lưu, tội đồ và tội biếm Còn HVLL thì nữ giới phạm tội vẫn bị đánh bằngtrượng (tuy phạm vi áp dụng có hạn chế ) cụ thể điều 19 quyển 2 còn dự liệuđánh trượng đối với nữ phạm nhân, nếu là tội thông gian từ bị bắt lột áo, tộikhác thì cho mặc áo mỏng Tuy nhiên nữ phạm nhân thì được miễn thích chữ.Nếu đàn bà phạm tội đồ hay tội lưu thì đánh hẳn 100 trượng, còn dư tội thìcho chuộc Điều này cho thấy việc quy định rõ đối tượng bị áp dụng trượngthể hiện rõ tính nhân đạo ưu việt hơn của QTHL so với HVLL
Thứ ba là Đồ (khổ sai) Đối với QTHL thì đồ là hình phạt được quy định
áp dụng kèm theo Xuy, Trượng, hoặc thích chữ, đeo xiềng Đồ có 3 bậc: bậcthứ nhất là dịch đinh và dịch phụ (cả nam và nữ đều phải làm việc nặngnhọc), nam phạm tội phạt 80 trượng, nữ phạm tội phạt 50 roi Bậc thứ hai làtượng phường binh (lính quét dọn chuồng voi) và suy thất tùy (đàn bà làmđầy tớ trong nhà nấu cơm), nam phạm tội thì bị đánh 80 trượng, thích vào cổhai chữ, nữ phạm tội bị đánh 50 roi, thích vào cổ hai chữ và đều phải làmnhững công việc trên Bậc thứ ba là chúng điền binh ( làm lính đồn điền) vàthung thất tì (đàn bà làm đầy tớ giã gạo), nam phạm tội bị đánh them 80trượng, thích vào cổ bốn chữ, đeo xiềng, nữ phạm tội bị đánh 50 roi, khắc vào
cổ bốn chữ và đều phải làm những công việc trên Còn đối với HVLL thì Đồ(làm việc nặng nhọc) là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội hơi
Trang 21nặng Người phạm tội bị gửi về quản thúc tại trấn nơi họ ở, đồng thời người bị
áp dụng hình phạt này làm những công việc nặng nhọc với thời hạn từ 1-3năm Đồ được chia làm năm bậc, mỗi bậc là 10 trượng và đồ là nửa năm.Đồng thời tùy theo thời hạn bị áp dụng là ngắn hay dài mà mỗi bậc lại ápdụng them một phụ hình với mức phạt 60 trượng đến 100 trượng Việc ápdụng hình phạt này được coi là một sự tiến bộ hơn hẳn so với hình phạt khổsai (năm bậc) Các phạm nhân không bị giam giữ tại trại tạm giam sau khilàm việc, do đó tránh được cho họ cảnh lao tù và giúp họ có điều kiện để hoànlương vì họ vẫn được tiếp xúc với xã hội
Thứ tư là Lưu (đi đày) là hình phạt đày đi nơi xa Loại hình phạt nàyđứng hang thứ tư trong thang hình phạt cổ Trong QTHL thì lưu được áp dụngkèm theo Xuy, Trượng, Thích chữ hoặc đeo xiềng Lưu có 3 bậc là Châu gần,Châu ngoài và Châu xa tùy theo tội mà tăng giảm Như ở bậc Châu xa thìđánh 100 trượng, thích vào mặt 10 chữ, bắt đeo xiềng 3 vòng, đày đi làm việcCao Bằng Còn trong HVLL thì hình phạt Lưu được chép đúng như luật nhàThanh và chia làm ba bậc, Phạm nhân phải đày đi nơi xa 2000 dặm, 2500 dặmhoặc 3000 dặm là những khoảng cách giữa nơi sinh sống và nơi phạm tội phảichấp hành hình phạt Ví dụ như nếu tỉnh của nạn nhân cư trú là Quảng Nam
mà bị phạt lưu 2000 dặm thì nơi mà người phạm tội phải đi đày là Biên Hòa.Các phạm nhân được tự do làm việc tuy nhiên người dân xưa thường khiếp sợhình phạt này vì đối với họ xa quê là một cực hình và nhiều trường hợp người
đi đày không trở về quê hương được nữa
Thứ năm là Tử (tội chết) là hình phạt được quy định áp dụng độc lập vàđược chia làm ba bậc tùy theo mức nặng nhẹ là: bậc thứ nhất là thắt cổ (giảo),chém (trảm), bậc thứ hai là chém bêu đầu (trảm kiều), bậc thứ ba là lăng trì(róc thịt cho chết dần) Như vậy, theo QTHL thì chỉ có tử là hình phạt có khảnăng được áp dụng độc lập Còn theo HVLL thì tử là hình phạt nghiêm khắcnhất trong hệ thống ngũ hình Hình phạt tử hình có hai bậc là giảo( thắt cổ) vàtrảm (chém đầu) Những phạm nhân bị xử tội giảo hay tội trảm mà hành hìnhngay thì gọi là giảo quyết và trảm quyết Điều đặc biệt ở HVLL là không quy
Trang 22định hình thức xử tử bằng lăng trì, điều này phù hợp với phần giải thích trong
bộ luật “ Chết lăng trì là một hình phạt ghê khiếp nhất trong các hình phạt…Ngày nay vĩnh viễn bỏ nhục hình ấy, vĩnh viễn bỏ chỉ còn giữ lại hình phạtghê khiếp ngoài hết thấy mọi ghê khiếp này là bằng cách chém kẻ bất trung,bất hiếu thôi” Tuy nhiên tại một số điều luật quy định về tội phạm trongHVLL lại quy định hình phạt tử hình bằng hình thức lăng trì (Điều 223,253,254,…) Việc quy định hình phạt bằng hình thức lăng trì là một sự mâuthuẫn với phần giải thích của bộ luật và điều này tạo ra sự hạn chế nghiêmtrọng trong lịch sử lập pháp hình sự của thời nhà Nguyễn So với QTHL thìHVLL quy định hình phạt tử hình nghiêm khắc hơn nhiều, nếu QTHL khôngquy định chế định “Tộc tru” (giết cả họ) thì trong HVLL đã chính thức quyđịnh chế định này tại Điều 223 (mưu đại nghịch)
Những hình phạt dã man tàn bạo không chỉ lấy đi tính mạng của ngườiphạm tội mà còn hạ thấp danh dự, nhân phẩm của họ Có những tội phạm bịgông cùm, dải đi khắp thàng để dân chúng ném, chửi Những hình phạt trêncòn đánh vào tâm lý của người dân Tính dã man, tàn bạo còn thể hiện dấu ấncủa hình phạt suốt đời như là thích chữ,…Các hình phạt ngoài ngũ hình baogồm biếm tước, phạt tiền, thích chữ, đeo xiềng và tịch thu tài sản trong đóbiếm tước và phạt tiền được quy định vừa có thể áp dụng độc lập, vừa có thể
6, Đại bất kính; 7, Bất hiếu; 8, Bất mục; 9, Bất nghĩa; 10, Nội loạn
Ngoài ra hình phạt tử hình còn được quy định nhằm bảo vệ các quan hệ
xã hội phong kiến khắc như Điều 52 QTHL quy định: “ Người trèo qua tường
Trang 23điện bị xử tội chém, trèo qua tường cấm xử tội giáo” hoặc Điều 55 quy định “Những người vào trong cung điện làm việc hết giờ mà không ra khỏi khu vựcngoại điện thì xử tội Lưu, ở lại trong cung bị xử tội Giáo, ở lại nơi vua nằm bị
xử tội chém” Thậm chí, Điều 480 QTHL còn quy định” Nô tì đánh chủ nhàthì xử tội giáo; đánh què bị thương thì phải tội chém”
Theo quy định của HVLL thì hình phạt tử hình quy định chủ yếu nhằmbảo vệ các quan hệ xã hội phong kiến quan trọng Điều 1( Mưu phản đạinghịch) Quyển 12 – HVLL quy định:
Phàm kẻ mưu phản không làm lợi cho đất nước, mưu hại xã tắc và đạinghịch không có lợi đối với vua, mưu phá hủy tôn miếu, sơn lăng và cungtuyết
Chỉ nhúng tay vào âm mưu mà không chia cầm đầu hay tong phạm đã,hay chưa làm đều bị xử bằng lăng trì( chém ngay)
Và được quy định tại một số quy định khác của Bộ luật này,
Qua đó có thể hiểu được rằng hình phạt tử hình trong giai đoạn phongkiến là một hình phạt phổ biến, có những quy định tiến bộ về thi hành hìnhphạt tử hình về việc áp dụng hình phạt với phụ nữ có những quy định giảmnhẹ hơn so với đàn ông và được miễn tử hình trong một số trường hợp, hơnnữa còn có quy định là không được tử hình trong các dịp lễ tết,…
Tuy nhiên, vấn đề thi hành hình phạt tử hình lại không được pháp luậtphong kiến quy định cụ thể rõ rang Vì vậy, việc thi hành hình phạt tử hìnhtrên thực tế phụ thuoccj rất nhiều vào các quan lại xét xử Phần lớn, sau khixét xử hình phạt sẽ được thi hành ngay Thậm chí, sau khi tuyên tử hình bằngmiệng thì hình phạt tử hình đã được thi hành Đôi khi, thi hành án tử hìnhđược thực hiện do một câu nói của nhà vua mà không cần qua thủ tục điều tra,xét hỏi Do đó việc thi hành hình phạt tử hình oan xảy ra rất nhiều Việc thựchiện hình phạt tử hình được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng
đa số đều rất tàn khốc, dã man, gây sự đau đớn về thể chất và tinh thần khi thihành đối với phạm nhân( như hỏa thiêu, bỏ vạc dầu, lăng trì, voi đày- ngụa
xé, chém ngang đầu, chém ngang lưng,…)
Trang 24Như vậy hình phạt tử hình ở giai đoạn này cón tùy tiện và thiếu kháchquan
2.3.1.2 Hình phạt tử hình trong luật hình sự thời kì thuộc địa
Ngày 01.9.1858, Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu thời kỳ chiếmđóng Việt Nam Sau đó, thực dân Pháp nhanh chóng chiếm đóng ba tỉnh miềnĐông Nam kỳ và ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, đánh ra đất Bắc, đã mở đầu chothời kỳ thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị lên đất nước ta
Trong giai đoạn này, thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để trị”,chia đất nước ta ra làm ba kỳ với ba chế độ chính trị và pháp luật khác nhau:
- Nam kỳ là đất thuộc địa, áp dụng pháp luật hình sự của Pháp (Hình luậtCanh Cải) chém đầu đối với tất cả các hành vi chống lại thực dân Pháp, trừmột số trường hợp khác áp dụng Bộ luật Gia Long
- Bắc kỳ là đất “nửa thuộc địa”, pháp luật áp dụng là Luật hình An Namvẫn chém đầu đối với tất cả các hành vi chống lại thực dân Pháp; mọi sự biểu
lộ ý định lôi kéo nhân dân hay xâm phạm tính mạng nhà vua đều bị xử tử
- Trung kỳ pháp luật áp dụng là Bộ Hoàng Việt hình luật: tử hình đượcquy định trong hệ thống hình phạt chính, áp dụng với các tội đại hình
2.3.1.3 Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam thời kì 1945 – 1985
Sau ngày 02.9.1945, chúng ta bắt đầu chín năm kháng chiến chống Pháp,
30 kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới TâyNam … đến năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nhà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam mới được ra đời
Trong giai đoạn này, nhà nước ta ban hành nhiều văn bản pháp luật hình
sự như sắc luật, sắc lệnh, pháp lệnh, thông tư … hình phạt tử hình chủ yếuđược áp dụng đối với Việt gian, địa chủ chống chính sách cải cách ruộng đất,các tội xâm phạm an ninh quốc gia
2.3.1.4 Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam giai đoạn năm
1985 và Bộ luật hình sự 1999
a, Thự trạng áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự 1985
Trang 25Trong Bộ luật Hình sự này, điều kiện, phạm vi, đối tượng áp dụng hìnhphạt tử hình được quy định rõ tại Điều 27 Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉđược áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.Không áp dụng hình phạt này với người chưa thành niên phạm tội, đối vớiphụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử Tử hình được hoãn thi hànhđối với phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Trong Phần các tội phạm, Bộ luật Hình sự năm 1985, hình phạt tử hìnhđược quy định trong 29 điều luật, chiếm 14,89% trên tổng số 195 điều luật vềtội phạm Ngày 28/12/1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luậtHình sự năm 1985 đã quy định thêm 4 hành vi phạm tội về ma túy trong Điều96a, có mức hình phạt cao nhất là tử hình Ngày 12/8/1991, Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã quy định hình phạt tử hìnhđối với các tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134); Tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 157); Tội nhận hối lộ (Điều226) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày22/12/1992 đã quy định hình phạt tử hình đối với Tội buôn lậu hoặc vậnchuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 97) Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 10/5/1997 đã bổ sungthêm 06 điều luật quy định các tội: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảochiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134a); Tội lạm dụng chức vụ, quyềnhạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 185e); Tội cưỡng bức, lôikéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m) vào danh mục cáctội phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình Đồng thời, nhà làm luật cũng táchĐiều 96a ra thành 4 điều luật mới (các điều 185b, 185c, 185d, 185đ) và giữnguyên hình phạt tử hình đối với các tội này Điều 112 quy định tội hiếp dâmcũng được tách ra thành hai tội: Tội hiếp dâm và Tội hiếp dâm trẻ em (Điều112a) và cũng vẫn giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này
Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 1985, sau 4 lần sửa đổi, bổ sung đã quyđịnh hình phạt tử hình trong 44 điều luật về tội phạm, chiếm tỷ lệ 20,37% trêntổng số 216 điều luật về tội phạm