• Đánh giá giá trị du lịch của vùng bằng phương pháp chi phí du lịch theo vùng.• Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao giá trị cảnh quan tại Vườn quốc gia Bạch Mã.. Giá trị kinh tế chất lư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ CẢNH QUAN TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH
Lớp: K46 – KTTN MT
Niên khóa: 2012-2016
Huế, tháng 5 năm 2016
Trang 2Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình củacác giảng viên khoa Kinh tế và Phát triển Em xin bày tỏ lòng biết ơn về sự giúp đỡnày.
Trước hết, em xin chân thành cám ơn các thầy cô hiện đang giảng dạy tại trườngĐại học Kinh tế Huế, các thầy cô trong khoa Kinh Tế và Phát Triển, đặc biệt là ThầyPGS.Ts Bùi Đức Tính người đã trực tiếp hướng dẫn em trong đợt thực tập này và cũnggiúp em hoàn thành tốt bài báo cáo thực tập mà nhà trường đã đề ra
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo Trung tâm giáo dục môitrường và dịch vụ vườn quốc gia Bạch Mã, anh Lê Doãn Anh phó giám đốc Trungtâm, cùng toàn thể các anh chị cán bộ, nhân viên trong cơ quan đã tạo mọi điều kiện vàtận tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập
Tuy đã hết sức cố gắng nhưng trình độ cũng như năng lực bản thân còn hạn chếnên trong bài báo cáo của em chắc chắn không tránh khỏi sai sót, kính mong các thầygiáo, cô giáo góp ý để nội dung nghiên cứu này hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!!!
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- TEV: Total Economic Value – tổng giá trị kinh tế
- UV: Use Value – giá trị sử dụng
- NUV: Non Use Value – giá trị phi sử dụng
- DUV: Direct Use Value – giá trị sử dụng trực tiếp
- IUV: Indirect Use Value – giá trị sử dụng gián tiếp
- OV: Option Value – Giá trị lựa chọn
- BV: Bequest Value - giá trị tùy thuộc hay giá trị để lại
- EV: Existence Value – giá trị tồn tại
- TCM: Travel Cost Method – Phương pháp chi phí du lịch
- ZTCM: Zone Travel Cost Method – Phương pháp chi phí du lịch theo vùng
- ITCM: Individual Travel Cost Method – Phương pháp chi phí du lịch cá nhân
- WTP: Willingness To Pay – Mức sẵn lòng chi trả
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang 6TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài đượctrình bày trong ba chương:
Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương II: Áp dụng phương pháp chi phí du lịch để xác định giá trị cảnh quantại VQG Bạch Mã
Chương III: Định hướng và Giải pháp
Trang 7PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết đề tài
Môi trường tự nhiên là một thành tố quan trọng của hệ thống kinh tế và nếukhông có môi trường tự nhiên thì hệ thống kinh tế sẽ không thể hoạt động và thực hiệnđược các chức năng đó Do vậy, ta cần quan tâm đến môi trường tự nhiên như là mộttài sản, một tài nguyên không thể thiếu
Con người vẫn luôn coi môi trường là tạo hóa của nhân loại hay thiên nhiên bantặng nên người ta khai thác và sử dụng nó không tính toán, mà không hề biết điều đógây hại đến môi trường Một trong những nguyên nhân của điều này là do hàng hóamôi trường không được định giá trên thị trường
Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Do vậy, một trongnhững nguồn tài nguyên quan trọng của quốc gia là rừng nhiệt đới, nó mang lại chochúng ta tổng giá trị kinh tế cao bao gồm cả giá trị sử dụng và không sử dụng Đặcbiệt, nó còn cung cấp những cảnh quan cực kì phong phú và quý giá phục vụ cho pháttriển du lịch sinh thái đáp ứng nhu cầu con người
Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thức được điều này, bởi giá trị giải trí củarừng tự nhiên thường bị ẩn sau nhiều giá trị trực tiếp khác Do vậy nghiên cứu đánh giágiá trị cảnh quan du lịch của rừng tự nhiên là điều cần thiết, đặc biệt là ở các nước pháttriển, nơi rừng tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng do chưa đánh giá đúng mức
Và vườn Quốc gia Bạch Mã là khu vườn quốc gia nổi tiếng ở Việt Nam cũng nhưtrên thế giới với các mẫu động thực vật đặc hữu của Việt Nam có trong sách Đỏ củathế giới Bạch Mã từ lâu đã nổi tiếng là một khu du lịch nghỉ mát cực kì lý tưởng vì tạiđây có khí hậu rất mát mẻ của rừng, của núi non, của những khu biệt thự, nhữngđường mòn thiên nhiên Vì vậy, việc xác định giá trị thực của vườn là rất cần thiết đểkhai thác hợp lí tiềm năng du lịch kết hợp với mục tiêu bảo tồn
Đó chính là lí do tôi lựa chọn đề tài này:
Định giá giá trị cảnh quan tại vườn quốc gia Bạch Mã bằng phương pháp chi phí du lịch.
2 Mục tiêu của đề tài:
Trang 8• Đánh giá giá trị du lịch của vùng bằng phương pháp chi phí du lịch theo vùng.
• Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao giá trị cảnh quan tại Vườn quốc gia Bạch Mã
3 Phạm vi ngiên cứu:
Phạm vi không gian: VQG Bạch Mã
Phạm vi thời gian: điều tra, phỏng vấn khách du lịch vào tháng 3 năm 2016, sửdụng số liệu về lượng du khách đến Bạch Mã từ năm 2013
4 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu từ bảng hỏi
Đây là phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp bằng cách phỏng vấn các đối tượngđược chọn ngẫu nhiên nhằm đảm bảo tính thực tiễn và khách quan của số liệu thuđược Là phương pháp duy nhất để biết được ý kiến, những thông tin cần thiết củakhách tham quan
- Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp được sử dụng để tham khảo ý kiến của các cán bộ tại trungtâm du khách, cũng như trung tâm hành chính ở Vườn quốc gia Bạch Mã
Trang 9Ở đây sử dụng phương pháp chi phí du lịch, cụ thể là phương pháp chi phí dulịch theo vùng (Zonal travel cost method – ZTCM) Phương pháp này được giải thích
rõ ở Chương 1về cơ sở lí luận của phương pháp chi phí du lịch
Trang 10PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH (TCM) VÀ TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ.
1.1 Cơ sở lí luận của phương pháp chi phi du lịch (TCM)
1.1.1 Cảnh quan môi trường
1.1.1.1 Khái niệm
Cảnh quan môi trường là một thuật ngữ dùng để nói một cách rộng rãi đến trạngthái môi trường tự nhiên Khái niệm này bao gồm cả khái niệm về chất lượng môitrường xung quanh, và cũng bao hàm các khái niệm như chất lượng cảnh quan và chấtlượng thẩm mỹ của môi trường (PGs.Ts Nguyễn Thế Chinh)
Giá trị cảnh quan môi trường phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng môi trường.Một giả thiết cơ bản là chất lượng môi trường được thể hiện ở chất lượng của các dịch
vụ giải trí mà môi trường cung cấp Việc đánh giá chất lượng môi trường với đúng giátrị của nó có vai trò rất quan trọng (PGs.Ts Nguyễn Thế Chinh)
Đã qua một thời gian rất lâu, toàn xã hội vẫn nhìn nhận hàng hóa môi trườngkhông đúng với giá trị thực của nó (tổng giá trị kinh tế), giá trị đó đã bị coi thấp đi hay
bị bỏ qua hoàn toàn Chúng vẫn không được đo lường và không được lượng giá, vì thế
đã bị khai thác một cách không hiệu quả Đó là một sự thất bại thị trường Các hànghóa như sông, hồ, không khí sạch không được định giá bởi vì chúng không được muabán trên thi trường như các loại hàng hóa có giá khác: thịt, tôm, cá, sữa… Việc tínhđúng, tính đủ giá trị của chất lượng môi trường sẽ mang lại hiệu quả rất lớn khôngnhững về giá trị kinh tế mà còn về giá trị môi trường, giúp cho việc phục hồi, tăngcường và bảo tồn chất lượng tài nguyên tự nhiên và các hệ sinh thái Chúng ta sẽnghiên cứu cụ thể về chất lượng môi trường cũng như cách tính toán cụ thể
Trang 111.1.1.2 Giá trị kinh tế chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế
Các nhà kinh tế học phân loại giá trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng vớimôi trường tự nhiên, xem xét mối quan hệ giữa chủ thể, (con người) người định ra giátrị và khách thể - vật được đánh giá Môi trường có thể cung cấp những hàng hóa trựctiếp như tôm, cá, thịt, củi, những nguồn nguyên vật liệu đầu vào của quá trình sảnxuất, các dịch vụ sinh thái như hạn chế bão lũ, chống xói mòn, điều hòa khí hậu Nóicách khác, môi trường cung cấp cho con người và hệ thống kinh tế những giá trị và khi
sử dụng chúng, bằng cách này hay cách khác thì con người sẽ thu về những lợi íchnhất định Trên nguyên tắc đó, để đo lường tổng giá trị kinh tế, các nhà kinh tế học bắtđầu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng
- Giá trị sử dụng (UV) là những giá trị bắt nguồn từ lợi ích của xã hội do sử dụng hoặc
có tiềm năng sử dụng một tài nguyên môi trường nhất định hay các dịch vụ của nó.Nói cách khác, giá trị sử dụng được hình thành từ việc thực sự sử dụng môi trường.Trên thực tế, nó bao gồm: Giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp
+ Giá trị sử dụng trực tiếp (DUV): là giá trị trực tiếp mà chúng ta thu được khi sử dụngmột nguồn tài nguyên thiên nhiên nào đó Ví dụ khi chúng ta chặt gỗ để lấy củi haycâu cá để tồn tại, đó chính là giá trị sử dụng trực tiếp mà con người thu được
+ Giá trị sử dụng gián tiếp (IUV): Xét trong một mặt nào đó thì đây chính là giá trị màchức năng của những hệ sinh thái tạo ra Những chức năng đó phục vụ cho con người,
vì thế nó cần phải được lượng giá Ví dụ: một khu rừng, ngoài chức năng cung cấp gỗ,
nó còn có chức năng bảo vệ chống xói mòn, giữ nước, điều hòa khí hậu,…Tất cảnhững chức năng này trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho lợi ích kinh tế và lợi ích củacon người
- Giá trị phi sử dụng (NUV): là giá trị không gắn liền với việc trực tiếp hay gián tiếp sửdụng một hàng hóa dịch vụ Giá trị này có được trong trường hợp cá nhân có thểkhông sử dụng hàng hóa dịch vụ đó, nhưng người ta vẫn nhận thức được rằng mình cóđược lợi ích (hay sự thỏa mãn) khi biết được hàng hóa này đang tồn tại, đang đượcngười khác sử dụng, hoặc các thế hệ tương lai, con cháu của anh ta có thể sử dụnghàng hóa dịch vụ này Từ việc nhận thức mình có được lợi ích đó, anh ta sẵn lòng trảtiền cho hàng hóa dịch vụ môi trường này
Trang 12+ Giá trị cơ hội (OV) là giá trị sử dụng (trực tiếp và gián tiếp) trong tương lai.
+ Giá trị tồn tại (EV) là những giá trị có được nhờ duy trì của hệ sinh thái của thế hệtrước để lại cũng như việc chúng ta phải đầu tư, duy trì nó để mang lại giá trị chotương lai
+ Giá trị tùy thuộc (giá trị để lại) (BV): Giá trị này cũng phụ thuộc vào tính đặc trưng vềsinh thái của hệ sinh thái mà quan điểm của người đánh giá đưa ra, trong đó nó liênquan chặt chẽ đến tính đặc thù, đặc trưng của từng hệ sinh thái Việc lượng hóa các giátrị này hết sức khó khăn và nó cũng phụ thuộc vào cách tiếp cận của từng chuyên gia.Như vậy dựa trên việc tính toán giá trị kinh tế của hệ sinh thái trên quan điểm tổnghợp người ta đã đưa ra giá trị TEV Đây là cơ sở cho các nhà kinh tế học môi trường đưa
ra các phương pháp tiếp cận, đánh giá nhằm lượng hóa các giá trị của môi trường, phục vụcho việc hoạch định chính sách, duy trì, bảo tồn, đảm bảo tính bền vững
Dưới đây là một ví dụ về tổng giá trị kinh tế của một khu rừng nhiệt đới, để giúpchúng ta có thể hình dung rõ hơn về các hợp phẩm của TEV
Rừng nhiệt đới: + Giá trị sử dụng trực tiếp là gỗ, sản phẩm phi gỗ, củi, hoa quả,
du lịch sinh thái
+ Giá trị sử dụng gián tiếp là các dịch vụ của hệ sinh thái, lưutrữ cacbon, điều hòa khí hâu,
+ Giá trị cơ hội: gỗ, điều hòa khí hậu…
+ Giá trị để lại: đa dạng sinh học,
+ Giá trị tồn tại: là giá trị để lại cho mai sau như bảo tồn hệ sinh thái,…
Trang 131.1.1.3 Ý nghĩa của việc định giá môi trường
Định giá môi trường (hay ảnh hưởng của môi trường) là xác định giá trị tiền tệcủa những cải thiện (lợi ích) hoặc những thiệt hại (chi phí) về môi trường do hoạt độngsản xuất hoặc tiêu dùng gây nên
Định giá môi trường được tiến hành bởi các lí do sau đây:
Thứ nhất, định giá môi trường giúp lượng hóa thành tiền các tác động môitrường, việc lượng hóa các tác động của các quyết định lớn dựa trên tiêu chí tài chínhhay kinh tế sẽ có trọng lượng hơn trong việc thuyết phục các nhà hoạch định chínhsách Từ đó giúp họ có được các quyết định tốt và công bằng hơn
Thứ hai, đối với một quyết định dựa trên phân tích lợi ích - chi phí, định giá kinh
tế các lợi ích và chi phí sẽ giúp giảm đi những quyết định thuần túy định tính
Thứ ba, định giá kinh tế có thể cung cấp dấu hiệu hoạt động kinh tế đúng hơn.Cần nhận biết giá trị cận biên của hàng hóa môi trường nhằm xác định khối lượng sửdụng tối ưu
Thứ tư, định giá môi trường giúp hạch toán tài khoản tài nguyên quốc gia đầy đủhơn thông qua việc lượng hóa các dịch vụ mà môi trường cung cấp cho con người.Những dịch vụ này thường không được tính đến trong tài khoản quốc gia vì chúngkhông có giá hay không có thị trường Tuy nhiên khi những dịch vụ này mất đi, xã hộibuộc chi tiêu bảo vệ để thay thế chúng
Thứ năm, nếu không định giá được các ảnh hưởng môi trường của dự án thì việcphân tích kinh tế dự án không đầy đủ
Như vậy việc định giá chất lượng môi trường có ý nghĩa rất lớn trong việc bảotồn, duy trì và phát triển các nguồn tài nguyên và các hệ sinh thái Một khi được thựchiện một cách cẩn thận và đầy đủ, với hiểu biết về giới hạn của định giá môi trường,việc xác định giá trị kinh tế có thể tạo ra nền tảng khá an toàn cho các chính sách đểthuyết phục việc sử dụng môi trường cẩn thận hơn
Trang 141.1.1.4 Phương pháp định giá môi trường
Để đánh giá giá trị hàng hóa môi trường, hiện nay các nhà kinh tế môi trường dựatrên cơ sở lí thuyết nền tảng kinh tế học và những vấn đề môi trường Qua đó đã đưa ranhững kĩ thuật đánh giá có cơ sở khoa học thực tiễn được áp dụng và phổ biến khá rộngrãi trên thế giới Như đã trình bày trong phần tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môitrường, tổng giá trị kinh tế có hai phần: Giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng
- Phương pháp định giá trực tiếp: để định giá cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng
- Phương pháp định giá gián tiếp: để định giá các giá trị sử dụng
a Phương pháp định giá trực tiếp
Đây là phương pháp trực tiếp hỏi cá nhân để họ phát biểu sở thích của mình vềcác thay đổi môi trường Từ đó có thể biết giá sẵn lòng trả của họ cho hàng hóa dịch
vụ môi trường
b Phương pháp định giá gián tiếp
Đây là phương pháp quan sát hành vi hay lựa chọn của cá nhân để suy ra giá sẵnlòng trả của người ta cho hàng hóa dịch vụ môi trường Và phương pháp chi phí duhành là một trong những phương pháp thuộc phương pháp định giá gián tiếp
c Phương pháp chuyển giao giá trị (VT)
Phương pháp này dùng để chuyển giá trị định giá (bằng các phương pháp trên)của một nghiên cứu đã thực hiện ở điểm nghiên cứu đến một điểm chính sách nhằmtiết kiệm thời gian và tiền bạc thông qua một số cách thức chuyển giao giá trị Vớiđiều kiện điểm nghiên cứu và điểm chính sách có các điều kiện tương tự nhau
1.1.2 Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method TCM)
1.1.2.1 Khái niệm
Là phương pháp dựa trên cơ sở những điểm du lịch có sức hấp dẫn đối với dukhách, những điểm có chất lượng môi trường tốt Và để đánh giá chất lượng môitrường đó, người ta dựa vào khách du lịch để đánh giá, chính vì vậy đối với phương
Trang 15đánh giá Vậy khi sử dụng phương pháp này, phương pháp đánh giá chất lượng môitrường là phương pháp đánh giá gián tiếp
Phương pháp này được sử dụng hữu ích trong việc đánh giá chất lượng của các khuvực thiên nhiên cung cấp giải trí, nơi mà mọi người thường lui tới để tổ chức các hoạtđộng giải trí vui chơi Giả thiết cơ bản là chất lượng môi trường được thể hiện ở chấtlượng các dịch vụ giải trí mà môi trường cung cấp giả thiết này Nếu xét về cầu thì:
Nhu cầu giải trí = Nhu cầu về khu vực thiên nhiên
Chúng ta sẽ phỏng vấn khách tham quan để biết chắc nơi cư trú của họ, thông tincần thiết về nhân khẩu học và thái độ, quan điểm Tần số của chuyến thăm đến địađiểm này hay địa điểm khác, các thông tin về chuyến đi có trong ý định, chiều dàichuyến đi, các chi phí liên quan,… Dựa trên các dữ liệu này, những chi phí của chuyếntham quan có thể được tính toán và liên hệ với những nhân tố (hệ số) liên quan để xemxét tần số của các chuyến tham quan Từ đó thiết lập mối quan hệ về hàm cầu (có thể
là cho toàn bộ giá trị giải trí, hoặc cho các thuộc tính riêng lẻ)
Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến ở các nước đang phát triển, trong
đó có Việt Nam Như:
- Sử dụng phương pháp chi phí du hành (TCM) phân tích giá trị giải trí của cụm đảo san hôHòn Mun, tỉnh Khánh Hòa của tác giả Trần Võ Hùng Sơn, Phạm Khánh Nam
- Ước lượng lợi ích du lịch của Vườn quốc gia Bạch Mã bằng phương pháp chi phí duhành cá nhân (ITCM) của tác giả Lê Thanh An
Trang 16Có hai phương pháp: Chi phí du hành khu vực (ZTCM) và chi phí du hành cánhân (ITCM).
1.1.2.2 Giới thiệu phương pháp chi phí du lịch theo vùng (ZTCM)
Dưới dạng toán học thì đường cầu về chuyến đi cho một khu vực vui chơi giải trí
từ vùng j sẽ xác định như sau:
Vj = F(TCij, Xi)
Trong đó: Vj: Số chuyến tham quan đến địa điểm j
TCij: Các chi phí cuộc viếng thăm từ vùng i đến địa điểm j Xi: Các biến kinh tế xã hội khác (thu nhập, độ tuổi, giới tính,
…) của dân cư vùng i, cần thiết để giải thích biến V
Như vậy ta phải xác định các biến:
- TCij: Tổng chi phí du lịch của chuyến tham quan
Để đơn giản cho phân tích, ở đây ta tách tổng chi phí du lịch làm hai bộ phận:Tổng chi phí du lịch/ vùng = chi phí du hành trung bình vùng (chưa có chi phívào cổng) + mức phí vào cổng
- Vj: Số chuyến tham quan đến địa điểm j
Số chuyến tham quan đến địa điểm j = Tổng số chuyến tham quan của tất cả cácvùng đến địa điểm này
Số chuyến tham quan/ vùng = Số chuyến tham quan/1000 dân của vùng đó x Dân
số của vùng (1000 người)
Mô hình chi phí du lịch theo vùng ZTCM vẫn được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam
và cũng được áp dụng để tính giá trị cảnh quan của VQG Bạch Mã Ở phần tiếp theo,
lí do áp dụng ZTCM trong đề tài sẽ được giải thích
Trang 171.1.2.3 Giới thiệu phương pháp chi phí du lịch cá nhân (ITCM)
Mô hình đơn địa điểm mô tả cầu giải trí cho một địa điểm của một người trongsuốt một mùa (có thể là 12 tháng)
Số lượng cầu là số chuyến tham quan
Giá là chi phí trên một chuyến tham quan
- r = f(tcr)
r: Số chuyến du lịch trong một mùa
tcr: chi phí của một chuyến tham quan
Thặng dư tiêu dùng được tính:
Cách tiếp cận pương pháp du lịch cá nhân chỉ phù hợp cho các khu du lịch mà
du khách đến nhiều lần trong năm như công viên hay vườn bách thảo…
1.1.3 Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch (TCM)
Trong phần này sẽ nêu các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch theovùng
- Bước 1: Xác định lợi ích hay giá trị cần đánh giá
Thông tường lợi ích cần đánh giá là giá trị của một địa điểm du lịch hay mộtđiểm giải trí nào đó
Trang 18- Bước 2: Thu nhập dữ liệu và xác định vùng xuất phát của du khách
Dữ liệu cần thu nhập gồm: nơi xuất phát của du khách , chi phí du hành trungbình vùng (khi chưa có phí vào cổng, gồm chi phí đi lại và chi phí thời gian), tổng sốchuyến tham quan/ vùng (khi chưa có phí vào cổng), và dân số của vùng (1000 người).+ Nơi xuất phát của nhiều nhóm du khách có thể được thu nhập qua khảo sát thực tế điểmnghiên cứu và được tập hợp lại thành các vùng xuất phát khác nhau Có thể xác định đượccác vùng này bằng cách vẽ các vòng tròn đồng tâm, trong đó khu vui chơi giải trí là tâmvòng tròn này Hoặc nơi xuất phát được phân theo địa giới hành chính
+ Chi phí du hành trung bình vùng, tổng số chuyến tham quan/ vùng có thể được thuthập thông qua phỏng vấn trực tiếp khách tham quan tại địa điểm du lịch
+ Dữ liệu về dân số của vùng có thể lấy từ các số liệu thống kê
Bước 3: TÍnh tỉ lệ số chuyến tham quan/1000 dân: V/1000
Tổng số chuyến tham quan
Số chuyến tham quan/ 1000 dân =
(khi chưa có phí vào cổng) Dân số của vùng (1000 người)
Bước 4: Thiết lập các giả thiết
Bước 5: Hồi quy hàm số chi phí du hành
Giả sử đã tính được chi phí du lịch gồm các khoản mục chi phí đã nêu ở phầnbản chất chi phí du lịch
Bước 6: Xây dựng hàm cầu giải trí và biểu diễn trên đồ thị bằng đường cầu
Trang 19Phương trình hàm cầu giải trí có dạng:
Trong trường hợp phân tích cho thêm mức phí vào cổng thì có thể biểu diễn trên
đồ thị bằng đường cầu với trục tung là tổng số chuyến tham quan mỗi vùng và trụchoành là các mức phí vào cổng
Bươc 7: Tính thặng dư tiêu dùng cho 1000 dân cho mỗi vùng: CSi/1000, Cs chomỗi vùng, và tổng CS
Bước 8: Tính lợi ích giải trí của điểm tham quan (hay thăng dư tiêu dùng: CS chođịa điểm)
Dựa trên số người tham gia điều tra và số người tham quan địa điểm để tínhthặng dư tiêu dùng cho địa điểm
1.1.4 Những ưu nhược điểm của phương pháp TCM
1.1.4.1 Ưu điểm
Rất thuận lợi để đánh giá môi trường ở nơi có lượng khách du lịch đông
Đây là phương pháp dựa trên đường cầu, xét về mặt kĩ thuật hiện nay rất phùhợp với các nhà kinh tế, về sử dụng các biện pháp kinh tế như xã hội học, mô hình,…đều có sẵn Mặt khác nó giúp cho chúng ta có cái nhìn tương đối dễ hiểu, dễ tiếp cận
1.1.4.2 Nhược điểm
Kinh nghiệm của bản thân khi sử dụng phương pháp này cho thấy khi đánh giá
sử dụng TCM, yếu tố thời gian có vai trò hết sức quan trọng Và rất khó để xác địnhđược thời gian thực sự du khách phải bỏ ra để thỏa mãn nhu cầu
Trang 20Cũng có trường hợp xảy ra, trong quá trình nghiên cứu, vì do đây là địa điểmquá xa với trung tâm thành phố, hơn nữa địa điểm này quá rộng mà thời gian du lịchhạn hẹp, nên việc phỏng vấn du khách cũng gặp không ít khó khăn.
Vấn đề lớn nhất của phương pháp này là do nó chỉ lấy mẫu người sử dụng địađiểm đó Điều này ít nhiều làm lệch đi ước lượng giá sẵn lòng trả, bởi vì người không
sử dụng có thể không sẵn lòng gánh chịu chi phí du hành
Và khó để tính được lợi ích môi trường của địa điểm mà người sử dụng khôngđược hưởng thụ Do đó công việc đo lường sự thay đổi chất lượng môi trường là cókhó khăn Và người ta muốn đo lường ở đây là giá trị thay đổi chất lượng môi trườngtại địa điểm Và phương pháp TCM đại diện cho giá sẵn lòng chi trả cho một mức chấtlượng môi trường
1.2 Cơ sở thực tiễn
Phần dưới đây tóm tắt kết quả và ý nghĩa của một công trình nghiên cứu tương tự
mà tác giả đã làm liên quan đến Vườn quốc gia Bạch Mã Ở nghiên cứu này tác giả LêThanh An cũng đã sử dụng phương pháp chi phí du lịch, cụ thể là phương pháp chi phí
du lịch cá nhân về “ Ước lượng lọi ích du lịch của Vườn quốc gia Bạch Mã bằngphương pháp chi phí du hành cá nhân”
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là nhằm tìm hiểu giá trị du lịch của Vườnquốc gia Bạch Mã, qua đó đưa ra các khuyến nghị cho công tác quản lí và bảo tồn cóhiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá của Vườn
Nghiên cứu này tác giả cũng đã ước lượng được mô hình hồi quy hàm cầu dulịch cá nhân, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hoạt động quản lí vàbảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như thúc đẩy cầu du lịch tại Vườnquốc gia Ngoài ra các kết quả nghiên cứu cũng góp phần trong việc xác định tổng giátrị tài nguyên của VQG Bạch Mã, cũng như góp phần so sánh giá trị với các nguồn tàinguyên môi trường khác
Trang 21CHƯƠNG 2: ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ DU LỊCH TAI VƯỜN QUỐC GIA
BẠCH MÃ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH
Giới thiệu chung về VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế
Hình 2.1: Vị trí địa lí VQG Bạch Mã
Trang 22Là một phần của dãy Trường Sơn Bắc, Vườn quốc gia Bạch Mã nằm trên địaphận huyện Phú Lộc và Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế với các đỉnh núi cao trên1.000m chạy theo hướng từ Tây sang Đông, thấp dần ra đến biển Đông (đỉnh Bạch Mãcao 1450m) Vườn quốc gia Bạch Mã thành lập theo quyết định của Chủ tịch hội đồng
Bộ trưởng số 214-CT ngày 15 tháng 7 năm 1991với diện tích 22.031 ha, năm 2008,VQG Bạch Mã được điều chỉnh mở rộng với tổng diện tích là 37.487 ha, hiện nayVQG thuộc sự quản lí của Tổng cục lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, nhằm bảo tồn các hệ sinh thái của vùng chuyển tiếp khí hậu giữa miền bắc vàmiền nam, bảo tồn các loại động, thực vật quý hiếm tiêu biểu của vườn (Trĩ Sao, Gàlôi lam mào trắng, Gà lôi lam mào đen, Voọc chà vá chân nâu, Sao la, Trầm hương,kim giao…), bảo vệ các cảnh quan tự nhiên trong vườn, phục hồi lại những khu rừng
đã bị tàn phá VQG Bạch Mã được công nhận là một trong những trung tâm đa dạngsinh học của khu vực Đông Dương
Đỉnh cao nhất của Vườn là đỉnh Bạch Mã với độ cao 1450 m so với mực nướcbiển và chỉ cách bờ biển 18 km Từ những năm 30, khu vực Bạch Mã đã nổi tiếng làmột khu nghỉ mát lý tưởng để tránh cái nóng bức của khu vực đồng bằng lân cận vàocác tháng hè Đây thực sự là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá mà thiên nhiên
đã ban tặng cho thế hệ hôm nay và mai sau
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
a Vị trí địa lí
Vườn Quốc gia Bạch Mã (VQGBM) thuộc địa giới hành chính hai tỉnh ThừaThiên Huế và Quảng Nam, bao gồm 12 xã và thị trấn: xã Lộc Điền, Lộc Trì, Lộc Hòa,Xuân Lộc và thị trấn Phú Lộc (huyện Phú Lộc - tỉnh Thừa Thiên Huế); xã Hương Phú,Hương Lộc, Thượng Lộ, Thượng Long và Thượng Nhật (huyện Nam Đông - tỉnhThừa Thiên Huế); xã A Ting, Sông Kôn (huyện Đông Giang - tỉnh Quảng Nam) Tọa
độ địa lý:
Từ 15059' đến 16016' vĩ độ Bắc
Trang 23- Phía Bắc giáp Công ty lâm nghiệp Phú Lộc.
- Phía Nam giáp xã A Ting, Tà Lu huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam
- Phía Đông giáp xã Hòa Bắc huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng
- Phía Tây giáp thị trấn Khe Tre tỉnh Thừa Thiên Huế
b Đia hình và thổ nhưỡng
Về địa hình, Bạch Mã là phần cuối của dãy Trường Sơn Bắc, có nhiều dãy núicao chia cắt và thấp dần ra biển Núi ở đây có nhiều đỉnh cao thường được gọi là độngnhư động Truồi, cao 1154m, động Nôm cao 1186m, động Đlip cao 1200m và cao nhất
là động Bạch Mã cao 1450m Độ dốc bình quân toàn khu vực là 25, những nơi dốcbiến động từ 45 đến 60
Hình 2.2: Bản đồ VQG Bạch Mã
Trang 24Về địa chất, thổ nhưỡng, hầu hết toàn bộ núi Bạch Mã nền địa chất cơ bản là đágranit thuộc nguyên đại đệ nhất Đất Feralit vàng đến vàng đỏ phát triển từ đá granit.Tầng đất từ mỏng đến trung bình, riêng ở đai cao trên 900m, do nhiệt độ thấp, quátrình phân huỷ thấp nên tầng thảm mục dày hơn.
c Khí hậu, thủy văn
Do có địa hình là đồi núi xen kẽ với đồng bằng và vị trí nằm sát biển nên các tiểuvùng ở Bạch Mã mặc dù nằm sát nhau nhưng lại có sự khác biệt nhau về khí hậu Tuynhiên toàn vùng có thể phân thành hai mùa rõ rệt:
o Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 với lượng mưa trung bình 3000 mm, có khilên đến 8000 mm Nhiệt độ trung bình dưới 20°C và độ ẩm trung bình là 90%
o Mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình là 25°C và độ ẩm từ70% - 80% Độ ẩm ở đỉnh núi Bạch Mã thường rất lớn nên làm tăng thêm cảm giácmát lạnh cho du khách tham quan
Một điều thú vị là nhiệt độ tối thiểu tại khu nghỉ mát Bạch Mã không xuống quá4°C vào mùa đông và không vượt quá 26°C vào mùa hè Vào các buổi chiều thường
có mưa dông và mây mù đậu trên các đỉnh núi cao
Cũng do nằm trong khu vực có lượng mưa lớn, rừng còn tương đối nguyên vẹnnên nguồn nước ở Bạch Mã khá dồi dào, ở độ cao trên 900 m cũng có rất nhiều suối vàthác có nước chảy quanh năm Tuy nhiên tại độ cao này, do nhiệt độ thấp nên nước rấtlạnh, chỉ có thể tắm vào buổi sáng trong khoảng từ 10 – 12 giờ Đây cũng là nơi điềuhoà nguồn nước cho các con sông lớn trong vùng như sông Truồi, sông Cuđê và nhất
là sông Tả Trạch là đầu nguồn của dòng sông Hương xứ Huế thơ mộng
d Tài nguyên rừng
* Thảm thực vật:
Thảm thực vực là nền cơ bản, điều kiện, môi trường sống cho muôn loài động thực vật trên cạn và dưới nước phân bố, sinh tồn và phát triển Qua kết quả của nhiều
Trang 25• Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa cây lá rộng, thứ sinh bị tác động mạnh, ưuthế các loài như: Ràng rang (Ormosia dasycarpa), Lá nến (Macaranga denticulate),Thành ngạnh (Cratoxylon formosum), Vạng (Endospermum chinense), Ba bét(Mallotus paniculatus),…
• Trảng cây bụi thứ sinh, thường xanh cây lá rộng, ưu thế các loài như: Sim(Rhodomyrtus tomentosa), Thành ngạnh (Cratoxylon formosum), Ba bét (Mallotuspaniculatus), Cỏ lào (Eupatorium odoratum), Mắc cở (Mimosa pudica),…
• Trảng cỏ nhiệt đới thứ sinh, ưu thế các loài như: Lau (Saccharum spontaneum), Cỏtranh (Imperata cylindrical),…
+ Kiểu 2: Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa đai núi thấp trên 900m Gồm có 3quần xã của các trạng thái là rừng nghèo và rừng non phục hồi
• Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa ít bị tác động từ (900 -1.292m), các loài ưuthế như: Tùng Bạch Mã (Dacrydium elatum), Dẻ Cau (Lithocarpus fenestratus), Giổi(Michelia foveolata), Sồi (Quercus thorelii), Thích Bắc bộ (Acer tonkinensis), Gòđồng nách (Gordnia axillaris), Hồi lá nhỏ (Illicium parviflorum),…
• Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa bị tác động mạnh (1.292-1.400m), các loài
ưu thế như: Kháo rè (Phoebe tavoyana), Sổ dã (Saurauia roxburghii), Thích Bắc bộ(Acer tonkinensis), Gò đồng nách (Gordnia axillaris), Đỗ quyên (Rhododendronsimsii),…
• Trảng cỏ cây bụi thứ sinh, thường xanh nhiệt đới (trên 1.400m), chiếm diện tíchkhông đáng kể, các loài cây ưu thế như: Kháo rè (Phoebe tavoyana), Sim(Rhodomyrtus tomentosa), các loài họ Hòa thảo Poaceae,…
- Các kiểu thảm thực vật nhân tạo
Gồm diện tích trồng cây lâm nghiệp của các Lâm trường trước khi quy hoạchthành lập Vườn Quốc gia, diện tích này không đáng kể, chủ yếu các loài như Thôngnhựa (Pinus merkusii), Trầm (Aquilaria crassna), Keo tai tượng (Acacia maginum),…
Trang 26* Động thực vật:
- Về động vật
Về hệ động vật, theo các điều tra nghiên cứu chưa đầy đủ nhưng đã ghi nhậnđược 1.715 loài (chiếm 7% tổng số loài trong cả nước) thuộc 52 bộ, 258 họ, 1.080giống; số loài gấp 1,7 lần so với năm 2001 Hệ động vật ở đây rất đa dạng, có nhiềuloài đặc hữu và quý hiếm Thống kê chi tiết ở bảng sau:
Bảng 2.1: Thống kê số lượng các loài động vật VQG Bạch Mã
Nguồn: Trung tâm DLST và GDMT VQG Bạch Mã
Qua kiểm kê, có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa được đưavào Sách Đỏ Việt Nam cần phải có giải pháp ưu tiên bảo tồn như sau:
+ Theo Sách Đỏ Việt Nam, Vườn có 69 loài được liệt kê cần phải được bảo vệ, điển hìnhcác loài như: Voọc vá chân nâu (Pygathrix nemaeus nemaeus), Sói lửa (Cuon alpinus),Cầy mực (Arctictis binturong), Báo hoa mai (Panthera pardus), Sao la (Pseudoryxnghetinhensis), Mang Lớn Megamuntiacus vuquangensis, Mang Trường SơnCaninmuntiacus truongsonensis, Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Bồ câunâu (Columba punicea), Trăn mốc (Python molurus), Rắn ráo (Ptyas korros), Rùa hộptrán vàng (Cuora galbinifrons), Rùa đầu to (Platysternon megacephalum), Cá chìnhhoa (Anguilla marmorata),…
+ Có 15 loài đặc hữu, chủ yếu tập trung vào lớp Chim chiếm đến 13 loài điển hình cócác loài Gà lôi trắng (Lophura nycthemera), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi),
Gà so Trung bộ (Arborophila merlini), Gà so họng hung (Arborophila rufoguralis),Rắn lục sừng (Trimeresurus cornutus), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons),…
Trang 27Bảng 2.2: Thống kê số lượng loài động vật đặc hữu và có tên
trong Sách Đỏ Việt Nam
lượng loài
Số lượng loài trong Sách Đỏ
Số lượng loài đặc hữu
Trang 28Bảng 2.3: Thống kê số lượng các loài thực vật VQG Bạch Mã
Nguồn: Từ Trung tâm DLST và GDMT VQG Bạch Mã
Qua kết quả kiểm kê, có nhiều loài thực vật đặc hữu, quý hiếm được ghi vàoSách Đỏ Việt Nam cần được ưu tiên bảo tồn:
+ Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) có 73 loài cần phải được bảo vệ, bao gồm các loàiđiển hình như: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Trầm hương (Aquilaria crassna), Gụ lau(Sindora tonkinensis), Gụ mật (Sindora siamensis), Kiền kiền (Hopea pierrei), Kimtuyến (Anoectochilus roxburghii), Bảy lá một hoa (Paris polyphylla),…
+ Đặc hữu có 204 loài, bao gồm các loài điển hình như: Kim giao (Nageia fleuryi), Chânchim Pà Cò (Schefflera pacoensis), Cà na mũi nhọn (Canarium subulatum), Hoànglinh Bắc bộ (Peltophorum dasyrrachis), Song đinh Việt Nam (Diplopanaxvietnamensis), Côm lá hẹp (Elaeocarpus angustifolius), Đỗ quyên vân cẩm(Rhododendron fortunei), Bọt ếch Bạch Mã (Glochidion bachmaensis), Cà đuối Trung
bộ (Cryptocarya annamensis), Mã tiền núi Đinh (Strychnos dinhensis),…
+ Có 5 loài mới cho khoa học, được phát hiện đầu tiên và đặt tên Bạch Mã gồm:
• Chìa vôi Bạch Mã (Cissus bachmaensis Gagnep.)
• Côm Bạch Mã (Elaeocarpus bachmaensis Gagnep.)
• Lá nón Bạch Mã (Licuala bachmaensis Henderson, N.K.Ban & N.Q.Dung)
• Mây Bạch Mã (Calamus bachmaensis Henderson, N.K.Ban & N.Q.Dung)
• Bọt ếch Bạch Mã (Glochidion bachmaensis Thin)
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
VQG Bạch Mã và vùng đệm nằm trên địa phận hành chính của các huyện Phú
Trang 29vùng đệm Trong tổng số 20.381 lao động, có khoảng 10.000 lao động thuộc khu vựcvùng đệm chiếm chủ yếu là người Kinh (60.959 người), ngoài ra còn có 3 dân tộcKatu (1.359 người), Mường (23 người) và Vân Kiều (433 người)
Đa số dân cư sống trong vùng đệm là người Kinh và sống ở đây từ rất lâu đời Từnhững ngày đầu mới thống nhất đất nước, theo chính sách xây dựng các vùng kinh tếmới, người dân các nơi trong tỉnh đã đến khai hoang đất đai và thành lập nhiều xómlàng trù phú cho đến tận bây giờ Nhiều xã mới đã hình thành và dân số trong vùng đệmngày càng tăng lên Phía Nam và Tây Nam của vùng đệm, ở những nơi xa xôi hẻo lánh
là vùng sinh sống của một tộc người thiểu số - người Katu Tộc người này trước đâysống ở những vùng rừng núi hoang vu hiểm trở của hai huyện Hiên và Giằng, và trêncác triền núi cao của huyện A Lưới Dần dần, họ chuyển xuống định cư ở những vùngthấp hơn Ngoài ra, còn có một bộ phận nhỏ người Vân Kiều đang sinh sống ở phíaĐông Bắc của vườn thuộc phạm vi vùng đệm Cộng đồng người dân tộc này di cư từtỉnh Quảng Trị vào cuối năm 1993 và hiện nay đã định cư lâu dài tại đây, trở thành mộtbàn làng độc lập nhưng không tách rời với các cộng đồng người Kinh sống xung quanh.Nhìn chung, đời sống kinh tế của người dân nơi đây còn gặp rất nhiều khó khăn, nghềnghiệp chủ yếu là làm nông nghiệp và khai thác tài nguyên rừng (gỗ, củi, săn bắt chim, thú,hái, lượm) Một số lao động làm nghề khai thác sạn, chăn nuôi và bán gỗ Bình quân lươngthực đầu người trong một năm là 238,8 kg, chi tiêu hàng ngày bình quân là 2.747đồng/người Toàn vùng đệm có khoảng 20% hộ khá, 44% hộ trung bình và 36% hộ nghèo
Thực trạng về hoạt động du lịch
2.1.1.3 Tiềm năng du lịch
Từ năm 1930, người Pháp đã xây dựng khu nghỉ mát ở đây, với 139 biệt thự và một
số công trình kiến trúc như hệ thống đường nhựa 19km nối từ quốc lộ 1A vào khu trungtâm, công trình chợ, bưu điện, hồ bơi… Ngoài giá trị to lớn về mặt khoa học, vườn quốc giaBạch Mã còn có những thế mạnh trong việc tổ chức du lịch sinh thái như sau:
- Có tính đa dạng sinh học cao: Bạch Mã là nơi giao lưu của hệ động, thực vật 2 miềnBắc và Nam, số lượng cá thể các loài động thực vật khá phong phú Đặc biệt là nơi hội
tụ của nhiều loài chim Việt Nam, đáng lưu ý hơn là các loài chim quý như trĩ sao, gàlôi Giá trị du lịch sinh thái cao nhất của khu vực Bạch Mã là cảnh quan thiên nhiên và
Trang 30khí hậu trong lành Do nơi đây có địa hình núi cao lại gần biển nên nhiệt độ bình quânbiến động vào mùa hè chỉ từ 180C đến 230C Khí hậu ở trung tâm Bạch Mã được cácchuyên gia nước ngoài đánh giá là một trong những vùng khí hậu dễ chịu nhất củanhững nơi nghỉ trên vùng núi Đông Dương.
- Có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp như: Hải Vọng Đài, Đỗ Quyên, thác Bạc, Ngũ Hồ,khu rừng Chò Chai Đỉnh núi Bạch Mã có độ cao 1450m (tương đương với cao nguyên
Đà Lạt, khí hậu mát mẻ, dễ chịu về mùa hè, nhiều loài hoa đẹp phát triển tốt, có đairừng á nhiệt đới ở độ cao trên 900m, loài cây đặc hữu là Tùng Bạch Mã rất thích hợpcho việc nghỉ ngơi giải trí ở phân khu dịch vụ du lịch)
- Có thể kế thừa, tái tạo công trình kiến trúc cũ: Các công trình kiến trúc cũ có thể phụchồi, tôn tạo phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi tham quan, du lịch và học tập cho nhiều đốitượng trong xã hội
2.1.1.4 Thực trạng du lịch
a Lượng khách du lịch tới VQG Bạch Mã
Từ năm 2010 đến cuối năm 2012, do VQG đóng cửa để xây dựng các tuyếnđường mòn lên đỉnh, nên đến tháng 3 năm 2013 mới đi vào hoạt động du lịch trở lại
Vì vậy lượng khách du lịch đến Bạch Mã sẽ được tổng hợp từ năm 2013 đến cuối
2015 qua bảng dưới đây:
Bảng 2.4: Lượng khách du lịch đến VQG Bạch Mã qua các năm
Nguồn: Trung tâm DLST và GDMT VQG Bạch Mã
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ lượng khách du lịch tơi VQG Bạch Mã
qua các năm 2013 - 2015
Trang 31Qua biểu đồ thể hiện lượng khách du lịch tới VQG Bạch Mã từ năm 2013 đếnnăm 2015 ta có thể đưa ra nhũng nhận xét sau:
Năm 2013, là năm mà Bạch Mã đi vào hoạt động trở lại sau 3 năm ngừng hoạtđộng để sửa chữa đường sá đi lên đỉnh, vì vậy 3 năm trở lại đây lượng khách cũng tăngnhiều hơn so với những năm trước đây, nhưng so vơi khách nội địa thì khách quốc tếtăng không đáng kể
b Các hoạt động của khách du lịch
Khách đến thăm quan du lịch hoặc nghiên cứu về VQG Bạch Mã trước hết sẽvào khu văn phòng và Trung tâm giáo dục môi trường và du lịch sinh thái tại cổngvườn Tại đây du khách sẽ được đón tiếp chu đáo và được nghe giới thiệu về lịch sử,văn hoá, giá trị đa dạng sinh học và tiềm năng du lịch sinh thái của VQG Khách sẽđược hướng dẫn tham quan, xem phòng trưng bày và lĩnh hội các thông tin về giáo dụcmôi trường trong phạm vi vườn Khách có thể được phát các tờ giới thiệu về VQGBạch Mã
Nếu du khách có nhu cầu về ăn uống và nghỉ ngơi tại khu văn phòng hoặc khunghỉ mát sẽ được Ban dịch vụ du lịch đáp ứng Ở đây có những nhà khách phục vụ chocác đoàn nghiên cứu, tham quan tập thể hoặc gia đình hay cá nhân tuỳ theo nhu cầucủa khách
Đến với Bạch Mã du khách sẽ có dịp thưởng thức một chuỗi các đường mòn độcđáo chỉ dành cho những người yêu thích thiên nhiên hoang dã - những người thíchthưởng thức và biết trân trọng những cảnh đẹp thiên nhiên đặc trưng nơi đây
Những tuyến đường mòn chính của VQG Bạch Mã:
- Đường mòn Trĩ Sao: Đi xuyên qua cánh rừng nhiệt đới du khách sẽ đến với thác TrĩSao tuyệt đẹp Đường mòn này là một trong những tuyến thám hiểm ở Bạch Mã Tạithác Trĩ Sao - như tên gọi của nó, có rất nhiều chim Trĩ Sao đang sinh sống
- Đường mòn thác Đỗ Quyên: Những phong cảnh nên thơ từ đỉnh của thác nước hùng vĩnày là nét thu hút đặc sắc cho du khách đến Bạch Mã Du khách có thể nhận thấy sự thay