Trong nửa năm mùa lạnh, những vùng chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc có tốc độ gió trung bình cao hơn trung bình năm như khu vực Đông Lạng Sơn, sườn phía Đông của các dãy núi cao,
Trang 1TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG GIÓ TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM
TS Tạ Văn Đa
Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường
1 Quy luật và đặc điểm chung trong phân bố tốc độ gió trên lãnh thổ Việt Nam
Hai nhân tố chính ảnh hưởng đến sự phân bố tốc độ gió là hoàn lưu và địa hình
a Chế độ gió mùa trên lãnh thổ Việt Nam
b Đặc điểm địa hình của lãnh thổ Việt Nam
Tốc độ gió phân bố theo quy luật càng lên cao gió thổi càng mạnh Ở các vùng núi thì tại sườn đón gió, gió có tốc độ mạnh; ngược lại phía sườn khuất gió yếu Trong các thung lũng hẹp và lòng chảo trũng gió rất yếu Tuy nhiên các thung lũng sông có hướng song song với hướng gió thịnh hành lại là nơi hút gió Trên các đèo vắt qua các khối núi lớn thường là con đường thuận lợi cho gió lùa qua
Ngoài khơi gió thổi mạnh và giảm dần khi vào đất liền Bờ biển và duyên hải là nơi trực tiếp đón gió từ biển thổi vào Tuy nhiên cường độ gió ở mỗi nơi còn tuỳ thuộc hướng của bờ biển đối với hướng gió thịnh hành và hình thế địa hình của vùng đất liền
kế tiếp phía trong
Trên các hải đảo phía Đông lãnh thổ, gió thổi rất mạnh Tại các đảo phía Nam
do gần xích đạo gió thổi có tốc độ nhỏ rõ rệt so với các đảo phía Đông
2 Phân bố tốc độ gió tại mặt đất trên lãnh thổ
Số liệu quan trắc trong 10 năm gần đây cho thấy tốc độ gió ở Việt Nam nhỏ (xem hình 1a) Trên phần lớn lãnh thổ tốc độ trung bình năm không vượt quá 3m/s Vùng núi phía Bắc Bắc Bộ có tốc độ gió không mạnh Trên các núi cao gần biên giới gió trung bình trong năm chỉ 2 ÷ 3m/s Các vùng núi thấp và trung du Bắc Bộ gió chỉ
dưới 2m/s Lạng Sơn là nơi có gió khá nhất so với các vùng núi thấp khác của Bắc Bộ
Vùng Tây Bắc Bắc Bộ gió rất yếu Trong các thung lũng và lòng chảo gió chưa tới 1m/s Tuy nhiên, tại khu vực này có nhiều vị trí trên các đèo cao hoặc ở những nơi thấp hơn giữa các dãy núi xuất hiện gió địa hình có tốc độ đáng kể Gió trên các núi cao của Hoàng Liên Sơn rất mạnh, trung bình năm có thể tới 4 ÷ 5m/s, nhất là tại các triền phía Đông của dãy núi này
Ở đồng bằng Bắc Bộ, phần tiếp giáp với trung du phía Bắc, gió yếu Chỉ ở Đông Nam châu thổ gió mới có tốc độ khá hơn, gió mạnh dần từ đất liền ra biển Trên dải duyên hải đồng bằng Bắc Bộ và các địa điểm nằm sát bờ biển phía Nam tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình và Hải Phòng, gió trung bình năm trên 3m/s
Trên dải duyên hải rất hẹp nằm sát biển Trung Bộ, tốc độ gió trung bình năm trên 2m/s Phía Tây dải duyên hải này là vùng núi thấp của dãy Trường Sơn, xen kẽ với núi
Trang 2là các khoảng đất thấp có tốc độ gió rất yếu Nằm sát biên giới Việt Lào có nhiều núi cao, tốc độ gió trung bình ở đây trên 2m/s, trên các dải cao có thể tới 3 ÷ 4m/s
Tây Nguyên là vùng có tốc độ gió khả quan nhất trên lãnh thổ Vùng có tốc độ trên 2,5m/s khá rộng, nhiều nơi tốc độ gió trên 3m/s, trên các núi cao có thể vượt 4m/s
Vùng núi và cao nguyên Tây Nguyên chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nhiều hơn gió mùa Tây Nam, đặc biệt ở sườn phía Đông Ngược lại, ở các nơi thấp trong vùng này lại chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam nhiều hơn gió mùa Đông Bắc nhất là tại những nơi nằm lùi về phía Tây Vùng đất thấp phía Tây Tây Nguyên giáp Cămpuchia gió rất yếu, tốc độ trung bình năm dưới 2m/s Ngoài ra, ở một số nơi trong vùng núi Tây Nguyên có gió địa hình với tốc độ đáng kể Vùng duyên hải từ Tuy Hoà đến Phan Thiết
có tốc độ gió rất khả quan đặc biệt trên các mũi đất lan ra biển như mũi Cà Ná, mũi Né
Ở vùng này, gió trong mùa lạnh lớn vượt trội so với gió trong mùa nóng
Ở đồng bằng Nam Bộ, tốc độ gió trung bình năm trên 2m/s xuất hiện trên dải đất khá rộng bao quanh phía Đông và phía Tây Tốc độ gió trên 3m/s chỉ có trên dải duyên hải hẹp nằm sát biển Vào sâu trong đất liền gió yếu, tốc độ trung bình năm chỉ 1,5 ÷ 2,0m/s Phía Đông Nam Bộ có tốc độ khả quan rõ rệt trong mùa gió Đông Bắc Ngược lại vùng Tây Nam Bộ là nơi trực tiếp đón gió mùa Tây Nam
Trên các hải đảo càng xa đất liền gió càng mạnh Tại các đảo xa bờ phía Đông lãnh thổ gió rất mạnh Tốc độ gió trung bình năm ở Bạch Long Vĩ là 6,3m/s, Trường
Sa 5,8m/s, Phú Quý 5,1m/s Các đảo phía Nam lãnh thổ gió yếu hơn hẳn Trung bình năm tại Côn Đảo và Phú Quốc chỉ 2,7m/s
3 Phân bố tốc độ gió trên lãnh thổ tại các độ cao
3.1 Phân bố của tốc độ gió trên lãnh thổ tại độ cao 20m trên mặt đất
So với độ cao trên 10m tốc độ gió ở độ cao 20m có độ tăng ∆ V từ 0,2 đến 0,8m/s
Với độ tăng như trên, tốc độ gió ở độ cao 20m khả quan hơn ở 10m rõ rệt (xem hình 1b) Tại độ cao 20m gió trung bình năm dưới 2m/s chỉ còn ở vùng núi thấp và trung du Trên đại bộ phận lãnh thổ, tốc độ gió trung bình năm đều trên 2m/s Nhiều nơi có tốc độ gió trung bình trên 3m/s Tốc độ gió trung bình năm trên 4m/s vẫn khá hiếm, chỉ xuất hiện trên các núi thật cao của dãy Hoàng Liên Sơn và núi Tây Nguyên Trên các hải đảo, trừ các đảo nằm sát bờ và các đảo phía Nam lãnh thổ, tốc độ gió trung bình năm đều trên 4m/s và có thể tới 6 ÷ 7m/s
Trong nửa năm mùa lạnh, những vùng chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc có tốc độ gió trung bình cao hơn trung bình năm như khu vực Đông Lạng Sơn, sườn phía Đông của các dãy núi cao, đặc biệt là vùng núi và cao nguyên Tây Nguyên
và vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ từ Tuy Hoà đến Cà Mau Ngược lại, trong nửa năm mùa nóng khu vực tây nam lãnh thổ và các nơi thấp trong vùng núi Tây Nguyên gió trung bình lớn hơn trung bình năm, đặc biệt tại duyên hải từ Hà Tiên đến
Cà Mau gió trung bình mùa này đạt tới gần 5m/s
3.2 Phân bố tốc độ gió trên lãnh thổ tại độ cao 40m trên mặt đất
Trang 3Tại độ cao này, tốc độ trung bình năm ở hầu hết các vùng núi thấp trên lãnh thổ vẫn không vượt quá được 3m/s (xem hình 1c) Các vùng trên lãnh thổ có tốc độ gió trung bình năm lớn hơn 3m/s là phần phía Đông tỉnh Lạng Sơn, khu vực núi Hoàng Liên Sơn, phần lớn đồng bằng Bắc Bộ tiếp giáp với duyên hải, dải hẹp bờ biển Trung
Bộ từ Nghệ An đến Bình Định, vùng núi biên giới phía Tây Trung Bộ, cao nguyên Tây Nguyên nối liền bờ biển Ninh Thuận, Bình Thuận và dải đất khá rộng bao phía Đông
và phía Tây đồng bằng Nam Bộ Những nơi có tốc độ gió trung bình trên 4m/s là dải biên giới phía Đông tỉnh Lạng Sơn, trên các núi cao của Hoàng Liên Sơn, ven biển Bắc Bộ, núi cao Tây Nguyên, duyên hải các tỉnh Nam Trung Bộ nối liền với vùng núi cao của Tây Nguyên, duyên hải tỉnh Đồng Nai, đặc biệt là suốt dải bờ biển bao quanh phía Đông và phía Tây đồng bằng Nam Bộ
Gió trung bình năm trên các hải đảo gần bờ khoảng 4 ÷ 5m/s, hải đảo xa bờ có thể đạt tới 7 ÷ 8m/s, riêng các đảo phía Nam lãnh thổ không vượt quá 4m/s
3.3 Phân bố tốc độ gió trên lãnh thổ tại độ cao 60m trên mặt đất
Từ độ cao 40m lên 60m gió tăng chậm rõ rệt so với các mức thấp hơn Độ tăng
V từ 0,1 đến 0,3m/s
∆
So với độ cao 40m thì các vùng có tốc độ nhỏ thu hẹp lại, các vùng có tốc độ lớn được mở rộng ra (xem hình 1d) Tuy nhiên ở độ cao này trên khoảng nửa diện tích lãnh thổ gió trung bình năm vẫn không vượt quá 3m/s Vùng có tốc độ gió trung bình năm trên 4m/s là duyên hải Bắc Bộ, biên giới Đông Bắc Lạng Sơn, duyên hải tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng Nai, trên các núi cao Hoàng Liên Sơn và Tây Nguyên, đặc biệt là trên dải duyên hải khá rộng bao phía Đông và phía Tây đồng bằng Nam Bộ
Trên các hải đảo gần bờ, tốc độ gió trung bình năm gần 5m/s Các hải đảo xa
bờ, tốc độ gió trung bình năm 7 ÷ 8m/s và có thể cao hơn Tại các đảo phía Nam lãnh thổ, tốc độ gió không quá 4m/s
Tại nhiều vùng trên lãnh thổ, ảnh hưởng của gió Đông Bắc lớn hơn ảnh hưởng của gió Tây Nam (hoặc Đông Nam) Ở những nơi này, tốc độ gió trung bình trong mùa lạnh lớn hơn mùa nóng Những vùng mà gió mùa lạnh có ưu thế vượt trội hẳn gió mùa nóng là vùng duyên hải Phú Yên, Khánh Hoà, nhiều khu vực trên cao nguyên Tây Nguyên, biên giới đông bắc Lạng Sơn
Ngược lại, tại vùng Tây Nam lãnh thổ và những vị trí thấp trong vùng núi Tây Nguyên gió mùa nóng mạnh vượt trội gió mùa lạnh
Sự chênh lệch của tốc độ gió giữa hai mùa càng lên cao càng lớn Nhìn chung trên phần lớn lãnh thổ gió trong mùa lạnh có tốc độ khả quan hơn mùa nóng
4 Phân bố năng lượng gió trên lãnh thổ Việt Nam
Để đánh giá tài nguyên năng lượng gió, đã nghiên cứu sự phân bố tổng năng lượng gió cả năm và hai mùa (nóng, lạnh) trên toàn lãnh thổ tại các mức độ cao đã nêu
4.1 Tiềm năng năng lượng gió tại mặt đất
Trang 4Ở mặt đất, tiềm năng năng lượng gió của Việt Nam nhìn chung nhỏ Trên phần lớn lãnh thổ tổng năng lượng gió cả năm không vượt quá 200Kwh/m2 Chỉ trên các hải đảo, các vị trí nằm sát biển và trên các núi cao mới có tiềm năng khả quan
Khu vực Bắc Bộ, nơi có tiềm năng đáng kể là duyên hải từ Cẩm Phả đến Ninh Bình và phần đồng bằng tiếp giáp với duyên hải này Nhiều vị trí nằm sát biển của các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, tổng năng lượng năm có thể đạt tới 500Kwh/m2 Một số nơi trên dãy núi cao Hoàng Liên Sơn, tổng năng lượng năm lớn hơn 500Kwh/m2 Tại vùng núi phía Đông Lạng Sơn, năng lượng do gió mang lại rất phong phú Ngoài ra, trên các núi cao biên giới phía Bắc và vùng núi cao nguyên Mộc Châu gió cũng có tiềm năng đáng kể (xem hình 2a)
Ở nửa phía Bắc Trung Bộ, tiềm năng khá nghèo Chỉ có dải duyên hải hẹp của
Hà Tĩnh, các tỉnh vùng Bình Trị Thiên và núi cao trên dãy Trường Sơn mới có tiềm năng khá hơn Tuy nhiên cũng chỉ ở mức 300 đến 400Kwh/m2 Phần lớn diện tích của nửa phía Nam Trung Bộ là vùng núi và cao nguyên Tây Nguyên Đây là vùng có tiềm năng khả quan rộng lớn nhất trên lãnh thổ; trừ vùng đất thấp phía Tây giáp Campuchia
và vùng núi thấp phía Đông thuộc các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định có tiềm năng nhỏ, các nơi khác có tiềm năng khá phong phú; đặc biệt là vùng núi phía Đông Nam nối tiếp với biển (thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng Nai) có nhiều nơi tổng năng lượng năm đạt tới 500Kwh/m2
Duyên hải Nam Bộ có tiềm năng phong phú Đặc biệt là duyên hải phía Tây từ
Hà Tiên đến mũi Cà Mau, nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Tây Nam, trong thời kỳ nóng có năng lượng gió rất lớn Phần đồng bằng Nam Bộ nằm sâu trong đất liền có tiềm năng nhỏ
Trên các hải đảo phía Đông lãnh thổ, tổng năng lượng gió năm từ 700Kwh/m2 tại các hải đảo gần bờ, tăng dần khi càng ra xa bờ Tại đảo Trường Sa là 2058Kwh/m2
và Bạch Long Vĩ là 3064Kwh/m2 Trên các dảo phía Nam lãnh thổ tiềm năng nhỏ hẳn, tại Côn Đảo là 302Kwh/m2 và Phú Quốc là 440Kwh/m2
4.2 Tiềm năng năng lượng gió tại các độ cao
Mức độ tăng của tốc độ gió, do đó mức độ tăng của năng lượng gió theo độ cao phụ thuộc vào độ gồ ghề mặt đệm Độ gồ ghề mặt đệm càng lớn hay địa điểm càng bị che chắn nhiều thì độ tăng của năng lượng gió theo độ cao càng lớn
Căn cứ trên số liệu tính toán cho 150 trạm trong mạng lưới khí tượng toàn quốc
có thể xác định các loại hình chủ yếu phụ thuộc vào tính chất địa hình và vị trí địa lý như sau:
Loại hình 1: các nơi thấp trong vùng núi có độ chia cắt lớn
Loại hình 2: Trung du và các vị trí tương đối thoáng trong các vùng núi
Loại hình 3: Đồng bằng
Loại hình 4: Cao nguyên và các vị trí cao ít bị che chắn trong các vùng núi
Loại hình 5: Duyên hải
Loại hình 6: Hải đảo
Trang 5Độ lớn của năng lượng gió tại các độ cao Z
i z
đất (Z = 10m) W10 được đánh giá bằng tỉ số Wzi/ W10 trong bảng 1 dưới đây
4.2.1 Tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 20m trên mặt đất
Theo bảng 1, so với độ cao 10m thì tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 20m tại phần lớn các vùng trên lãnh thổ cao gấp 2 ÷ 2.5 lần Trên các cao nguyên và tại các vị trí núi cao tương đối thoáng năng lượng ở độ cao 20m cũng lớn gấp 1.7 ÷ 1.8 lần so với độ cao 10m Tỉ lệ này giảm đi còn 1.6 ở các vùng duyên hải, 1.5 tại các hải đảo gần bờ và 1.4 tại các đảo xa bờ
B¶ng 1 Tỷ số Wzi/ W10
Z i
1
2
3
4
5
6
2.3 ÷ 2.5 2.2 1.9 ÷ 2.1 1.7 ÷ 1.8 1.6 1.4 ÷ 1.5
4.5 ÷ 4.8 4.0 ÷ 4.4 3.1 ÷ 3.9 2.8 ÷ 3.0 2.4 ÷ 2.7 2.0 ÷ 2.3
6.2 ÷ 6.6 5.6 ÷ 6.1 4.1 ÷ 5.5 3.4 ÷ 4.0 2.9 ÷ 3.3 2.4 ÷ 2.8
Khu vực có tiềm năng khả quan, tổng năng lượng năm lớn hơn 500Kwh/m2 là các dãy núi cao Hoàng Liên Sơn, biên giới phía Đông tỉnh Lạng Sơn, duyên hải thuộc đồng bằng Bắc Bộ; vùng núi cao và phần cao nguyên cao nằm kế tiếp khá rộng lớn của Tây Nguyên kéo xuống phía Nam lan rộng ra tận duyên hải Ninh Thuận – Bình Thuận của Trung Bộ và duyên hải Nam Bộ (xem hình 2b)
Trên các đỉnh cao của Hoàng Liên Sơn và Tây Nguyên, tổng năng lượng năm vượt 700Kwh/m2 Mức giá trị này còn xuất hiện tại duyên hải thuộc đồng bằng Bắc
Bộ, một phần duyên hải các tỉnh Nam Trung Bộ và dải duyên hải phía Tây Nam Bộ
Trên các hải đảo phía Đông lãnh thổ tổng năng lượng năm từ 1000 ÷ 1100Kwh/m2 ở Bạch Long Vĩ Trên các đảo phía Nam lãnh thổ tổng năng lượng chỉ
500 ÷ 700kwh/m2 năm
4.2.2 Tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 40m trên mặt đất
Theo bảng 1, so với độ cao 10m thì tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 40m tại các vùng trung du, núi thấp và các vị trí thấp trong vùng núi cao lớn gấp 4 ÷ 5 lần; ở đồng bằng, cao nguyên và núi cao khoảng 2.8 ÷ 4 lần; duyên hải 2.4 ÷ 2.7 lần và tại các hải đảo 2 ÷ 2.3 lần
Với mức tăng của năng lượng gió theo độ cao như vậy thì tại độ cao 40m trên mặt đất khoảng nửa diện tích lãnh thổ đã có tiềm năng lớn hơn 400kwh/m2 năm (xem hình 2c) Những vùng nghèo tiềm năng tổng năng lượng năm chưa vượt được 400kwh/m2 là các vùng núi thấp, trung du và phần đồng bằng Bắc Bộ nằm sâu trong đất liền, vùng phía Bắc Trung Bộ (tới Hà Tĩnh), vùng núi thấp trung Trung Bộ, vùng đất thấp phía Tây Tây Nguyên và phần đồng bằng Nam Bộ nằm sâu trong đất liền
Trang 6Tại nhiều vùng duyên hải, một số vùng núi cao ở Bắc Bộ, vùng núi và cao nguyên Tây Nguyên tổng năng lượng gió năm đạt hơn 700kwh/m2
Tổng năng lượng năm lớn hơn 1000kwh/m2 xuất hiện trên các dãy núi cao Hoàng Liên Sơn, vùng núi cao Tây Nguyên, duyên hải các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc
Bộ, duyên hải Tây Nam Bộ và một số nơi trên duyên hải Thuận Hải và duyên hải phía Đông Nam Bộ
Trên các hải đảo phía Đông lãnh thổ tiềm năng năng lượng khoảng 1500Kwh/m2 năm tại các đảo gần bờ, tăng lên tới hơn 6000Kwh/m2 năm tại các đảo xa
bờ Trên các đảo phía Nam lãnh thổ tiềm năng năng lượng chỉ 700÷1000Kwh/m2 năm
4.2.3 Tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 60m trên mặt đất
Theo bảng 1, so với độ cao10m thì tiềm năng ở độ cao 60m tại các vùng trung
du, núi thấp và tại các thung lũng sông suối lớn gấp 6.5 ÷ 6.6 lần, ở đồng bằng khoảng 4.1 ÷ 5.5 lần, duyên hải từ 2.9 ÷ 3.3 lần, hải đảo từ 2.4 ÷ 2.8 lần
Tại độ cao này, nhiều vùng trên lãnh thổ có tiềm năng rất phong phú (xem hình 2d) Ở Bắc Bộ, nhiều nơi có tổng năng lượng năm lớn hơn 600Kwh/m2 Trên bờ biển Bắc Bộ, nhiều nơi tổng năng lượng năm có thể đạt tới 1300Kwh/m2
Ở Trung Bộ, tổng năng lượng năm lớn hơn 900Kwh/m2 có trên dải bờ biển hẹp
từ Nghệ An đến các tỉnh khu vực Bình Trị Thiên Vùng Tây Nguyên có tiềm năng rất phong phú; nhiều nơi tổng năng lượng năm lớn hơn 1400Kwh/m2 như Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, Đắc Nông, An Khê, đặc biệt vùng có tổng năng lượng năm lớn hơn 1300Kwh/m2 phía Nam Tây Nguyên khá rộng lớn kéo dài tới bờ biển Nam Trung Bộ
Duyên hải Nam Bộ có tiềm năng phong phú, vùng có tổng năng lượng năm lớn hơn 900Kwh/m2 tương đối rộng Đặc biệt ở phía Tây Nam Bộ, dải năng lượng này nằm khá sâu trong đất liền Tại nhiều vị trí ven biển, tổng năng lượng năm tới hơn 1500Kwh/m2
Trên các hải đảo phía Đông lãnh thổ, tổng năng lượng năm khoảng 900 ÷ 1000Kwh/m2 ở gần bờ, tăng lên khi xa bờ, tại Trường Sa là xấp xỉ 5000Kwh/m2 và hơn 7000Kwh/m2 Trên các đảo phía Nam lãnh thổ, tổng năng lượng năm chỉ 800 ÷ 1200Kwh/m2
4.3 Đặc điểm phân bố của tiềm năng năng lượng gió theo mùa
Mỗi khu vực trên lãnh thổ chịu ảnh hưởng khác nhau của hai mùa gió Đông Bắc và Tây Nam Độ lớn của tốc độ và do đó độ lớn của năng lượng gió ở mỗi nơi trong từng mùa gió phụ thuộc vào địa hình và vị trí địa lý của khu vực đó
Những khu vực có tiềm năng lượng gió mùa lạnh cao hơn mùa nóng rõ rệt là:
- Các hải đảo phía Đông lãnh thổ (trừ các đảo gần bờ từ Hải Phòng đến Diễn Châu - Nghệ An)
- Khu vực phía Đông tỉnh Lạng Sơn
- Các khu vực núi cao trên toàn lãnh thổ, kể cả Tây Nguyên
Trang 7Những khu vực có tiềm năng năng lượng gió mùa nóng cao hơn mùa lạnh rõ rệt là:
- Các đảo phía Tây Nam lãnh thổ
- Duyên hải phía Tây và phần đồng bằng kế tiếp của Nam Bộ
- Các vùng đất thấp và các vị trí dưới thấp phía Tây và Nam Tây Nguyên
- Vùng núi thấp phía Tây Nghệ An, Hà Tĩnh và Bình Trị Thiên
- Duyên hải từ Hải Phòng đến Diễn Châu (Nghệ An) và đồng bằng kế tiếp Tại các vùng khác trên lãnh thổ tiềm năng năng lượng của hai mùa gió gần tương đương với nhau
Tỷ lệ giữa tiềm năng hai mùa không thay đổi theo độ cao
b)
Kết luận a)
• Trong thời kỳ 10 năm (1995 - 2004), tại mặt đất (độ cao 10 mét), tiềm năng năng lượng gió nhìn chung nhỏ, chỉ có một số ít nơi có thể khai thác có hiệu quả năng lượng gió Trên phần lớn lãnh thổ, tổng năng lượng gió cả năm không vượt quá 200KWh/m2 Tại các độ cao 20, 40, 60m, tiềm năng năng lượng gió lớn hơn nhiều
so với mặt đất (tăng từ 1.6 đến 6.6 lần) Riêng trên các hải đảo cách xa đất liền, các
vị trí nằm sát biển và trên các núi cao, tiềm năng năng lượng gió tương đối lớn
• Khu vực có tiềm năng năng lượng gió khả quan với tổng năng lượng gió năm lớn hơn 500KWh/m2 là các dãy núi cao Hoàng Liên Sơn, biên giới phía Đông tỉnh Lạng Sơn, duyên hải thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, vùng núi cao và phần cao nguyên cao nằm kế tiếp khá rộng lớn của Tây Nguyên kéo xuống phía Nam lan rộng ra tận duyên hải Ninh Thuận – Bình Thuận và duyên hải Nam Bộ
• Trên các hải đảo phía Đông lãnh thổ, tổng năng lượng gió năm lớn hơn ở các đảo phía Nam lãnh thổ
Nhiều khu vực có tiềm năng năng lượng gió mùa lạnh cao hơn mùa nóng rõ rệt
Tài liệu tham khảo
1 Tạ Văn Đa "Đánh giá tài nguyên và khả năng khai thác năng lượng gió trên lãnh thổ Việt Nam" Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp Bộ Hà Nội, 10-2006
2 Phan Mỹ Tiên Phân bố tiềm năng năng lượng gió trên lãnh thổ Việt Nam Luận án PTS Khoa học Địa lý - Địa chất Hà Nội, 1994