PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh luôn là mục tiêu và khát vọng của tất cả các quốc gia trên thế giới. Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh thông qua ba thành tố kinh tế, xã hội và môi trường đã khẳng định một nền kinh tế không thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững khi chỉ quan tâm đến mặt tăng trưởng kinh tế một cách đơn thuần mà còn phải quan tâm cả đến cả khía cạnh xã hội và bảo vệ môi trường. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc làm thế nào để đạt được đồng đều cả hai mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh; và quan điểm đó đã được chứng minh và thể hiện xuyên suốt qua các văn kiện, các chương trình nghị sự, trong kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội cụ thể của đất nước. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã nhấn mạnh “Phát triển nhanh cần đi đôi với phát triển bền vững, trong đó phát triển bền vững được xem là kim chỉ nam xuyên suốt toàn bộ chiến lược. Phát triển bền vững phải đảm bảo bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường”. Cụ thể, đối với kinh tế đó là việc “đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, tập trung chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức”. Đối với xã hội, đó là phải “kết hợp hài hòa giữa thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, xóa đói giảm nghèo và giảm chênh lệch giữa các vùng, các miền”. Đối với môi trường, đó là phải “coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu v.v…”. Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh sẽ tạo nguồn lực để phát triển bền vững. Phát triển nhanh và bền vững sẽ luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia [105]. Tuy nhiên, là một quốc gia đang trong quá trình phát triển và mong muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh,Việt Nam đang phải đối mặt với mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh với đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững bởi vì: Thứ nhất, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển từ tăng trưởng chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu để tăng năng suất, tăng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào; Thứ hai, Việt Nam đang gặp phải các vấn đề của phát triển bền vững một cách trầm trọng như: (i) Đối với kinh tế đó là tăng trưởng không ổn định do chủ yếu dựa vào tăng đầu tư và khai thác tài nguyên, cơ cấu kinh tế dịch chuyển chậm, năng suất lao động trong các ngành không cao, đầu tư dàn trải, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư thấp; (ii) Đối với xã hội đó là trình độ phát triển giữa các vùng có sự cách biệt lớn và xu hướng ngày càng mở rộng, chưa đảm bảo công bằng xã hội, chưa cải thiện rõ rệt về giải quyết việc làm và đói nghèo, việc chia sẻ các thành quả của tăng trưởng còn yếu; (iii) Đối với môi trường đó là việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hiệu quả gây ô nhiễm môi trường. Trong khi đó ở một số nước đang phát triển, trong quá trình tiến hành cải cách, mở cửa và thực hiện công nghiệp hóa, với mục tiêu đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh nhiều quốc gia cũng gặp phải những rào cản trong việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững giống như Việt Nam. Những cái giá phải trả cho tăng trưởng nhanh đó chính là những bất ổn về kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, có nước đã sớm nhận ra những bất ổn để từ đó có chính sách điều chỉnh kịp thời như Hàn Quốc, còn có nước mặc dù đã nhận ra những bất ổn nhưng do các chính sách áp dụng chưa đủ hiệu quả và khả năng thực thi chưa cao, ví dụ như Trung Quốc và Thái Lan, bởi vậy những quốc gia này vẫn ở trong tình trạng nan giải khi chưa biết đến khi nào mới khắc phục được các hậu quả do tăng trưởng nhanh mang lại. Do vậy, nghiên cứu các bài học quốc tế, đúc rút kinh nghiệm để có thể áp dụng cho Việt Nam là rất cần thiết, đó là lí do vì sao nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh: Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và bài học cho Việt Nam” để nghiên cứu cho luận án của mình.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ MINH LỆ
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ TĂNG TRƯỞNG NHANH: KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC, THÁI LAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ MINH LỆ
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ TĂNG TRƯỞNG NHANH: KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC, THÁI LAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS CHU ĐỨC DŨNG
2 PGS.TS BÙI QUANG TUẤN
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và được công bố theo đúng quy định Toàn bộ kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được
ai công bố tại bất cứ công trình nào
Nghiên cứu sinh
Võ Thị Minh Lệ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5
7 Cơ cấu của luận án 6
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƯỞNG NHANH 7
1.1 Tổng quan tài liệu lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 7
1.1.1 Phát triển bền vững, tăng trưởng và tăng trưởng nhanh 7
1.1.2 Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 9
1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu thực tiễn trong nước và nước ngoài về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 13
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 13
1.2.2 Tài liệu nghiên cứu ngoài nước 18
1.3 Đánh giá về các nghiên cứu đã có 22
1.3.1 Về các lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn 22
1.3.2 Bình luận về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 24
1.3.3 Bình luận về kết quả đã được thống nhất và chưa thống nhất 24
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƯỞNG NHANH 25
2.1 Một số khái niệm cơ bản 25
2.1.1 Khái niệm phát triển bền vững 25
2.1.2.Tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng nhanh về kinh tế 26
2.2 Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 29
Trang 52.2.1 Một số lý thuyết có bàn về mối liên hệ giữa phát triển bền vững và tăng
trưởng nhanh 30
2.2.2 Cách tiếp cận để đánh giá mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 37
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 39
2.3.1 Nhận thức và tư duy phát triển 39
2.3.2 Mục tiêu phát triển 40
2.3.3 Thể chế của nhà nước 42
2.3.4 Sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan 43
2.3.5 Lợi ích của các bên tham gia 43
2.3.6.Nguồn lực 44
2.4 Các tiêu chí và chỉ số nhận biết để đánh giá mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 44
2.5 Khung phân tích mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 48 Chương 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƯỞNG NHANH CỦA HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC VÀ THÁI LAN 50
3.1 Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Hàn Quốc 50
3.1.1 Chủ trương phát triển kinh tế của Hàn Quốc qua từng giai đoạn 50
3.1.2 Thực trạng và chính sách điều chỉnh mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Hàn Quốc 53
3.1.2.1 Tăng trưởng nhanh và những vấn đề về kinh tế của Hàn Quốc 53
3.1.2.2 Tăng trưởng nhanh và những vấn đề xã hội của Hàn Quốc 58
3.1.2.3 Tăng trưởng nhanh và những vấn đề môi trường nảy sinh của Hàn Quốc 65
3.2 Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Trung Quốc 70 3.2.1 Một số quan điểm và mục tiêu phát triển trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Trung Quốc 70
3.2.2 Thực trạng và chính sách điều chỉnh mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của TrungQuốc 70
3.2.2.1 Tăng trưởng nhanh và những vấn đề kinh tế của TrungQuốc 70
3.2.2.2.Tăng trưởng nhanh và những vấn đề xã hội của Trung Quốc 75
3.2.2.3 Tăng trưởng nhanh và những vấn đề môi trường của Trung Quốc 83
3.3 Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Thái Lan 93
Trang 63.3.2 Thực trạng và chính sách điều chỉnh mối quan hệ giữa phát triển bền vững và
tăng trưởng nhanh của Thái Lan 94
3.3.2.1 Tăng trưởng nhanh và những vấn đề kinh tế của Thái Lan 94
3.3.2.2 Tăng trưởng nhanh và vấn đề xã hội của Thái Lan 101
3.3.2.3 Tăng trưởng nhanh và vấn đề môi trường của Thái Lan 104
CHƯƠNG 4 MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ 114
TĂNG TRƯỞNG NHANH CỦA VIỆT NAM: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 114
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH 114
4.1 Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 114
4.1.1 Bối cảnh trong và ngoài nước 114
4.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước qua các Văn kiện 114
4.1.3 Những vấn đề đặt ra đối với phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt Nam 116
4.2 Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt Nam 118
4.2.1 Thực trạng mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt Nam 118
4.2.2 Một số thách thức chính đối với phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt Nam 123
4.3 Kinh nghiệm của các nước và bài học cho Việt Nam 125
4.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan 125
4.3.2 Một số bài học cho Việt Nam 134
4.4 Một số đề xuất giải pháp chính sách cho Việt Nam 138
4.4.1 Đề xuất về quan điểm và mục tiêu chính sách phát triển 138
4.4.2 Đề xuất về các giải pháp chính sách 139
4.4.3 Điều kiện để thực hiện thành công 147
KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á
BOD Biochemical Oxygen demand Nhu cầu ô xy hóa sinh
CIA Central Intelligence Agency Cục Tình báo trung ương Mỹ
CGSDI Consultative Group on Sustainable
development Indicators
Nhóm tư vấn về các chỉ số phát triển bền vững
CRS Constant returns to scale Lợi tức không đổi theo quy mô CSD Commission for sustainable
development
Ủy ban phát triển bền vững
GEM Gender empowerment Measure Đo lường quyền lực giới
GDI Gender related Development Index Chỉ số phát triển liên quan đến giới ICOR Incrumental capital output ratio Tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm EPI Environmental Performance Index Chỉ số thực hiện môi trường
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người
IEA International Energy Agency Cơ quan năng lượng quốc tế
ILO International Labor Organization Tổ chức lao động quốc tế
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
IUCN International Union for
Conservation of Nature
Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế
KDI Korea Development Institute Viện phát triển Hàn Quốc
MDGs Millennium Development Goals Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MHW Ministry of Health and Welfare Bộ y tế và phúc lợi
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Trang 8TFP Total Factor Productivity Năng suất nhân tố tổng hợp
UNEP United National Environment
WDI World Development Indicator Chỉ số phát triển thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
WWF World Wide Fund for Nature Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới WCED World Commission on
Environment and Development
Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá và chỉ số đo lường mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 47
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình: 1.1 Những vấn đề môi trường và tăng trưởng kinh tế 10 Hình 2.1 Đường cong (hình chữ U ngược) biểu diễn bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của Simon Kuznets 33 Hình 2.2: Các cam kết quốc tế 41 Hình 2.3: Khung phân tích mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh 49
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh luôn là mục tiêu và khát vọng của tất cả các quốc gia trên thế giới Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh thông qua ba thành tố kinh tế, xã hội và môi trường đã khẳng định một nền kinh tế không thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững khi chỉ quan tâm đến mặt tăng trưởng kinh tế một cách đơn thuần mà còn phải quan tâm cả đến cả khía cạnh xã hội và bảo vệ môi trường
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc làm thế nào để đạt được đồng đều cả hai mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh; và quan điểm đó đã được chứng minh và thể hiện xuyên suốt qua các văn kiện, các chương trình nghị sự, trong kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội cụ thể của đất nước Văn
kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã nhấn mạnh “Phát triển nhanh cần đi đôi với phát triển bền vững, trong đó phát triển bền vững được xem là kim chỉ nam xuyên suốt toàn bộ chiến lược Phát triển bền vững phải đảm bảo bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường” Cụ thể, đối với kinh tế đó là việc “đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, tập trung chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức” Đối với xã hội, đó là phải “kết hợp hài hòa giữa thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, xóa đói giảm nghèo và giảm chênh lệch giữa các vùng, các miền” Đối với môi trường, đó là phải “coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu v.v…” Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh,
phát triển nhanh sẽ tạo nguồn lực để phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững sẽ luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia [105]
Tuy nhiên, là một quốc gia đang trong quá trình phát triển và mong muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh,Việt Nam đang phải đối mặt với mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh với đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững
Trang 12Thứ nhất, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh
tế, chuyển từ tăng trưởng chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu để tăng năng suất, tăng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào;
Thứ hai, Việt Nam đang gặp phải các vấn đề của phát triển bền vững một cách
trầm trọng như: (i) Đối với kinh tế đó là tăng trưởng không ổn định do chủ yếu dựa vào tăng đầu tư và khai thác tài nguyên, cơ cấu kinh tế dịch chuyển chậm, năng suất lao động trong các ngành không cao, đầu tư dàn trải, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư thấp; (ii) Đối với xã hội đó là trình độ phát triển giữa các vùng có sự cách biệt lớn và xu hướng ngày càng mở rộng, chưa đảm bảo công bằng xã hội, chưa cải thiện rõ rệt về giải quyết việc làm và đói nghèo, việc chia sẻ các thành quả của tăng trưởng còn yếu; (iii) Đối với môi trường đó là việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hiệu quả gây ô nhiễm môi trường
Trong khi đó ở một số nước đang phát triển, trong quá trình tiến hành cải cách,
mở cửa và thực hiện công nghiệp hóa, với mục tiêu đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh nhiều quốc gia cũng gặp phải những rào cản trong việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững giống như Việt Nam Những cái giá phải trả cho tăng trưởng nhanh đó chính
là những bất ổn về kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, có nước đã sớm nhận ra những bất ổn để từ đó có chính sách điều chỉnh kịp thời như Hàn Quốc, còn có nước mặc dù đã nhận ra những bất ổn nhưng do các chính sách áp dụng chưa đủ hiệu quả và khả năng thực thi chưa cao, ví dụ như Trung Quốc và Thái Lan, bởi vậy những quốc gia này vẫn ở trong tình trạng nan giải khi chưa biết đến khi nào mới khắc phục được các hậu quả do tăng trưởng nhanh mang lại Do vậy, nghiên cứu các bài học quốc tế, đúc rút kinh nghiệm để có thể áp dụng cho Việt Nam là rất cần thiết, đó là lí do vì sao
nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng
nhanh: Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và bài học cho Việt Nam” để nghiên cứu cho luận án của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của một số nước trên thế giới, Luận án rút ra các bài học kinh nghiệm cho
Trang 13Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp và chính sách nhằm đảm bảo phát triển bền vững đi đôi với tăng trưởng kinh tế nhanh một cách hợp lý trong điều kiện của Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
Hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản và cơ sở thực tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh;
Tổng hợp các tiêu chí, chỉ số đo lường và các nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh;
Phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh, chỉ ra những thành tựu và hạn chế của Hàn Quốc, Trung Quốc
và Thái Lan, cùng các nguyên nhân chủ yếu của chúng, những chính sách điều chỉnh và từ đó, rút ra một số bài học cho Việt Nam;
Xem xét các vấn đề phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt Nam cho đến nay và tìm ra nguyên nhân;
Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp chính sách và điều kiện để thực hiện nhằm đảm bảo phát triển bền vững đi đôi với tăng trưởng nhanh một cách hợp
lý trong điều kiện của Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh.Trong Luận án này phát triển bền vững được hiểu là sự cải thiện về chất lượng đồng thời cả kinh tế, xã hội và môi trường; Tăng trưởng kinh
tế nhanh (sau đây gọi tắt là tăng trưởng nhanh) là sự gia tăng tốc độ GDP hay tốc độ gia tăng GDP/người
Trang 14 Luận án tập trung nhiều hơn đến chiều mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế nhanh và phát triển bền vững vì (i) Phát triển bền vững ở Việt Nam chưa được thiết lập mà chỉ là mục tiêu; (ii) Khuôn khổ có hạn về số trang của luận án Tuy nhiên một số kênh tác động của phát triển bền vững đến tăng trưởng nhanh vẫn được xem
xét và chỉ ra
Trong các cấu phần của phát triển bền vững, luận án sẽ tập trung phân tích 3
trụ cột chính của phát triển bền vững là kinh tế, xã hội và môi trường
Luận án chỉ sử dụng một số chỉ số đo lường trong bộ chỉ số của Liên hợp quốc để đánh giá và phân tích về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh do nhiều chỉ số không đủ số liệu và nhiều chỉ số do chuỗi số
liệu bị trống nhiều
Về không gian
Luận án tập trung nghiên cứu một số nước điển hình như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam Ba quốc gia nghiên cứu tham chiếu cho Việt Nam đều là những quốc gia Châu Á, không chỉ gần gũi về mặt địa lý mà còn có nhiều nét
tương đồng về điều kiện tự nhiên, xã hội và kinh tế với Việt Nam
Về thời gian: Về cơ bản, nghiên cứu bắt đầu từ giai đoạn các quốc gia này
đạt được tăng trưởng nhanh: Hàn Quốc bắt đầu từ năm (1961), Trung Quốc (1979),
Thái Lan (1966) và Việt Nam (1986)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Dựa trên những kết quả nghiên cứu thu thập được từ phần tổng quan lý thuyết
và thực tiễn về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh ở chương 1 và phần cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh ở chương 2, luận án xây dựng khung phân tích riêng và dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như phương pháp thống kê, phân tích so sánh, tổng hợp, khái quát dựa trên số liệu và những thông tin thực tế thu thập và tổng hợp được để làm căn cứ phân tích mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh ở chương 3 và chương 4
Nguồn số liệu thứ cấp lấy từ các báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Ngân hàng phát triển
Trang 15Châu Á (ADB), Ngân hàng thế giới (WB), Tổng cục thống kê (GSO), Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF), Bộ Tài nguyên môi trường, Hệ thống thông tin môi trường quốc gia, các tạp chí, sách báo trong nước và quốc tế, các báo cáo hội thảo, website của các cơ quan, tổ chức có liên quan của các nước thuộc phạm vi nghiên cứu đề tài
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Hệ thống hóa được những lý luận cơ bản và những vấn đề thực tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh;
Tổng hợp được các tiêu chí, chỉ số nhận biết và nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh;
Phân tích được những thành tựu, hạn chế và chính sách điều chỉnh của Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan trong giải quyết mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh để làm sáng tỏ hơn các lý luận;
Trên cơ sở các bài học kinh nghiệm từ ba quốc gia trên và từ việc khái quát các vấn đề của Việt Nam trong việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển bền vững
và tăng trưởng nhanh, Luận án đề xuất một số giải pháp chính sách nhằm đảm bảo phát triển bền vững đi đôi với tăng trưởng kinh tế nhanh ở mức hợp lý trong điều kiện của Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Trên cơ sở tổng quan tài liệu về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh, kết hợp với các khái niệm được trình bày về phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng nhanh về kinh tế, một số lý thuyết có bàn về mối quan
hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh cũng như các tiêu chí đánh giá và chỉ số đo lường về mối quan hệ này, Nghiên cứu sinh xây dựng khung phân tích về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh Với cách tiếp cận sử dụng khái niệm và khung phân tích này vào phân tích các trường hợp nghiên cứu của Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh, từ đó gợi mở kinh nghiệm đối với Việt Nam là việc làm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Trang 167 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng và hình, luận án có kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tài liệu về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng
trưởng nhanh Mục đích của chương này là tổng quan các tài liệu nghiên cứu về mặt
lý thuyết và thực tiễn để tìm ra những lý thuyết nào đã được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh, những lý thuyết nào chưa được đề cập đến Tương tự về mặt thực tiễn, tìm kiếm những nhận định đã được đưa ra để tìm ra khoảng trống nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về mối quan hệ giữa phát
triển bền vững và tăng trưởng nhanh Chương này đưa ra một số lý thuyết hay dùng
để phân tích mối quan hệ giữa phát triển bền vững với tăng trưởng kinh tế nhanh, đưa ra các tiêu chí, chỉ số nhận biết và các nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh đưa ra khung phân tích riêng và được dùng để phân tích trong Chương 3
Chương 3: Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của
Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan Sử dụng khung phân tích của Chương 2, Chương 3 tập trung phân tích mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh của Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan Với cách tiếp cận đi từ việc xây dựng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội của các nước, đến việc thực thi các chính sách đó, những thành tựu đạt được, vấn đề nảy sinh để từ đó các nước đưa ra những chính sách điều chỉnh mối quan hệ trên
Chương 4: Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt
Nam: Một số đề xuất giải pháp chính sách Dựa trên quan điểm, nhận thức của Đảng và Nhà nước về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh và dựa trên phân tích tình hình thực tế về phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt Nam, kết hợp với bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước, Luận án đề xuất một số giải pháp chính sách giúp Việt Nam đảm bảo phát triển bền vững đi đôi với tăng trưởng kinh tế nhanh ở mức hợp lý, phù hợp với điều kiện và bối cảnh của Việt Nam
Trang 17Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN
Liên quan đến khái niệm và cách hiểu về phát triển bền vững cho đến nay đã
có nhiều học giả quốc tế cũng như trong nước nghiên cứu về chủ đề này Về lý thuyết phát triển bền vững có thể nói đến cuốn sách dịch “Kinh tế học bền vững” của tác giả Holger Rogall Ngoài ra còn có cuốn “Phát triển bền vững? Học thuyết, thực tiễn, đánh giá” của tác giả Yean-Yves Martin (2007); “Kinh tế học mới của phát triển bền vững: Bản tóm tắt cho các nhà hoạch định chính sách” của tác giả Robertson James (1999); “Các tiếp cận tới phát triển bền vững” của Richard M.Auty và Katrina Brown (1997); “Phát triển bền vững: Kinh tế học và chính sách”của P.K Rao (2000); “Phát triển bền vững trong một thế giới năng động” World Bank (2003);“Phát triển: Những khái niệm chính trong khoa học xã hội” của Stuard Corbridge (2000); “Phát triển bền vững: Khái niệm và các ưu tiên” của Sudhir Anand và Amartya Sen (1996); bài tạp chí “Bền vững và phát triển bền vững: Đánh giá về mặt lịch sử và khái niệm” của Mebratu, D (1998); “Phát triển bền vững: một sự đánh giá phê bình” của tác giả LéLé (1991); “Phù hợp với hình tròn không? Một số suy nghĩ về phát triển bền vững” của tác giả Robinson, J (2004); “Phát triển bền vững là gì: Mục tiêu, chỉ số, giá trị và thực tế” của tác giả Rober và các bạn cộng sự (2005) Các cuốn sách và tạp chí này nhìn chung đã giúp người đọc hiểu được thế nào là phát triển bền vững, đưa ra các cách tiếp cận, mục tiêu, giá trị cũng như đánh giá về phát triển bền vững Tổng hợp từ các lý thuyết cho thấy phát triển bền vững là sự tổng hợp và kết hợp của cả ba yếu tố: bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường
Một số tác giả cho rằng cần có những tiêu chí và chỉ số cần thiết để đạt được
sự phát triển bền vững và để đạt được sự bền vững cần phải có những điều kiện cụ thể và cần phải sự có sự quản lý một cách thích hợp (Ian Drummon and Terry
Marsden, 1999), (Michael Carley và Ian Christie, 2000), (OECD, N.d), (United
Nations, 2007) Còn theo các tác giả Parris, T.M và Kates, R.W (2003), phát triển
Trang 18bền vững cần phải có sự kết hợp giữa phát triển và môi trường cũng như giữa phát triển và sự công bằng Tác giả cho rằng để đạt được sự phát triển bền vững cần phải đạt được những chỉ số bền vững, ví dụ như chỉ số về phúc lợi, chỉ số môi trường, chỉ số tiến bộ thực tế, chỉ số phát triển bền vững của nhóm làm việc chuyên ngành
Mỹ, các chỉ số của Costa Rica về phát triển bền vững, dự án các chỉ số của Boston Tuy nhiên, Parris, T.M và Kates, R.W (2003) thừa nhận rằng mặc dù những chỉ số này được đưa ra nhưng không có bộ chỉ số nào được chấp nhận rộng rãi do sự hiểu biết về phát triển bền vững vẫn còn mơ hồ và phương pháp đo lường và sử dụng số liệu vẫn còn lộn xộn Trái ngược với tác giả Parris, T.M và Kates, R.W (2003), tác giả Tatyana (2005) cho rằng các chỉ tiêu về phát triển bền vững cần phải bao gồm các bộ phận cấu thành của cải quốc gia, tích lũy của cải quốc gia, sản phẩm trung gian và khoảng không môi trường, vốn xã hội và sự tham nhũng của quan chức Còn tác giả Omer (2008) nhấn mạnh rằng phát triển bền vững cần phải đảm bảo chất lượng về mặt môi trường và sử dụng năng lượng hiệu quả
Nghiên cứu trong nước cũng có tác giả Trần Văn Tùng và Vũ Đức Thanh (2010) đề cập đến lý thuyết và thực tiễn về phát triển bền vững, tuy nhiên không có chỉ số hay tiêu chí nào được đưa ra Các tác giả chỉ đề cập rằng để phát triển bền
vững cần phải dựa vào ba yếu tố chính Thứ nhất, về thể chế thể hiện thông qua các cam kết quốc tế, hệ thống luật pháp và chiến lược phát triển của từng quốc gia Thứ hai, thành quả của tăng trưởng kinh tế phải được chia sẻ công bằng cho các tầng lớp
xã hội, tạo ra nhiều khả năng lựa chọn và cơ hội lựa chọn giúp họ tham gia vào quá
trình phát triển Và thứ ba, tính đa dạng sinh học, môi sinh phải được duy trì
Tăng trưởng và tăng trưởng nhanh
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu kinh điển liên quan đến các khái niệm, nội dung, bản chất và những vấn đề chung của tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên gần như chưa có công trình nào đưa ra được khái niệm thế nào là tăng trưởng nhanh về kinh tế Đối với bản dịch về các công trình nghiên cứu liên quan đến tăng
trưởng kinh tế có tác phẩm “Kinh tế học của sự phát triển” của tập thể tác giả
Malcolm Gillis, Dwight H Perkins, Michael Roemer và Donald R Snodgrass (1990), bản dịch của Trung tâm thông tin tư liệu (Viện Quản lý kinh tế Trung
ương), “Kinh tế học” của Paul A Samuelson & William D Nordhaus (1989), bản dịch của Nhà xuất bản thống kê; “Kinh tế học cho thế giới thứ ba” của P Todaro (1998), bản dịch của Nhà xuất bản Giáo Dục và một số cuốn sách như “Kinh tế học phát triển những vấn đề đương đại” do Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn
Trang 19quốc gia (2003) xuất bản và “Tăng trưởng có trách nhiệm vì mục tiêu thiên niên kỷ: Hội nhập xã hội, hệ sinh thái và nền kinh tế” do World Bank xuất bản (2004)
Ngoài ra còn có một số sách giáo trình kinh tế trong nước liên quan đến các lý thuyết tăng trưởng kinh tế truyền thống, các mô hình tăng trưởng kinh tế và các nghiên cứu thực nghiệm về nguồn gốc tăng trưởng kinh tế do các tác giả trong nước
biên soạn như cuốn “Giáo trình mô hình tăng trưởng kinh tế” dùng cho chương trình sau đại học do tác giả Trần Thọ Đạt (2010) biên soạn, cuốn “Sách chuyên khảo các mô hình tăng trưởng trưởng kinh tế” do cùng tác giả biên soạn năm 2005, giáo trình “Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn” của tác giả Đinh Phi Hổ (2006), giáo trình “Kinh tế phát triển” của tác giả Phan Thúc Huân (2006) Trong các cuốn
sách, các lý thuyết và các mô hình tăng trưởng kinh tế theo dòng thời gian đã được
đề cập khá toàn diện Ngoài ra, các cuốn sách cũng giới thiệu tổng quát về các nhân
tố tác động quyết định đến tăng trưởng kinh tế, ví dụ như vốn, tài nguyên môi trường, lao động, khoa học công nghệ, sự đổi mới và thể chế,
Nghiên cứu kiểm chứng qua từng nhân tố tác động đến tăng trưởng, một số học giả nghiên cứu đã đưa ra một số minh chứng cho thấy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phụ thuộc vào yếu tố vốn con người (Barro, 1991), (Qadri & Waheed, 2013) Tăng trưởng kinh tế còn do yếu tố môi trường quyết định (Grossman, 1995) Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế phải thừa nhận rằng tăng trưởng kinh tế cũng làm cho môi trường bị suy thoái, gia tăng sự mất cân bằng và di cư (Munier N, 2006) và (Levy và J.R Farria, 2002)
1.1.2 Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh
Về mặt lý thuyết, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh, có chăng việc phân tích mối quan hệ đó chỉ là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với một trong những trụ cột chính của phát triển bền vững, ví dụ như mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với những nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh
tế trong dài hạn, giữa tăng trưởng kinh tế với môi trường hoặc giữa tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội, Munier (2006) cho rằng giống như một đồng xu, khi tung lên chỉ được một mặt, trước hoặc sau chứ không thể xuất hiện đồng thời cả hai mặt,
do vậy đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững cũng vậy, mỗi quốc gia chỉ đạt được một trong hai thành tố
Liên quan đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững về kinh tế trong dài hạn, các nhà kinh tế học nổi tiếng ở một khía
Trang 20cạnh nào đó đã có những tranh luận về vấn đề này Tác giả Harrod và Romar cho rằng tốc độ tăng trưởng trong dài hạn của một nền kinh tế phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế, trong khi đó Robert Solow và Trevor Swan (1956) lại nhấn mạnh đến vai trò của khoa học công nghệ Cùng đồng tình với quan điểm khoa học công nghệ là quan trọng nhưng tác giả Romer Paul (1990) cho rằng khoa học công nghệ phải được quyết định bởi vốn trí thức mà vốn trí thức lại phụ thuộc vào hoạt động đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) Mặc dù các tác giả đã liệt kê các nhân tố tác động đến tăng trưởng trong dài hạn của một nền kinh tế song không có tác giả nào tính đến vai trò của chính phủ trong việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Các tác giả Fishervà Turnovsky (1998) và Barro (1990) đã bổ sung cho những hạn chế này khi cho rằng chính phủ có ảnh hưởng quan trọng đến tăng trưởng trong dài hạn, đặc biệt ảnh hưởng qua kế hoạch chi tiêu của chính phủ Liên quan đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bền vững về môi trường, Stead, W.E., Stead, J.G (1995) cho rằng tăng trưởng kinh tế quá mức cộng với gia tăng dân số có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường Khi thu nhập tăng lên khiến cho nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ tăng và điều này dẫn đến sự giảm sút các nguồn lực và ô nhiễm tăng lên do các chất thải
Hình: 1.1 Những vấn đề môi trường và tăng trưởng kinh tế
Nguồn: Stead, W.E., Stead, J.G (1995), An empirical investigation of sustainability strategy implementation in industrial organizations In: Collins, D.,
Starik, M., editors Research in Corporate Social Performance and Policy, Supplement 1, JAI Press, Greenwich
Thay đổi khí hậu
Mưa
a xít
Dân số Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng sản xuất
Suy kiệt tài nguyên
Tăng tiêu dùng Tăng chất thải
và môi trường
Huỷ diệt dộng vật
Giảm chất lượng cuộc sống tầng Ô zôn Lỗ thủng
Trang 21Trong công trình nghiên cứu “Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững: Nhiều tiêu chí phân tích có thể được sử dụng để giải quyết sự đối lập này không?”
của Munier (2006) tác giả cho rằng tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ gây tổn hại đến môi trường và kết quả là con người phải trả giá cho nó Ủng hộ quan điểm của Munier, đường cong môi trường Kuznets đã được đưa vào sử dụng và phân tích mối quan hệ giữa chất lượng môi trường với tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu của Grossman và Kruger (1991) và một số nhà kinh tế khác cho thấy có ba nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường như:cơ cấu kinh tế, công nghệ và các chính sách về môi trường Tuy nhiên, đối lập với quan điểm của các tác giả trên, các nhà nghiên cứu như Cole và các cộng sự (1997), Grossman and Krueger (1995), Selden and Song (1994), Holtz-Eakin and Selden (1992) và Shafik (1994) đã sử dụng mô hình kinh tế lượng nhằm kiểm tra thực chất
có tồn tại mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bền vững về môi trường hay không? Theo các tác giả, có rất nhiều vấn đề về môi trường, nhưng lại rất khó để đánh giá mối quan hệ này do thiếu dữ liệu và nhiều chỉ số về môi trường không thể thống kê được, ví dụ như việc xói mòn đất, sa mạc hóa, mất đa dạng sinh học, ô nhiễm, suy thoái nguồn nước ngầm và nhiều vấn đề môi trường khác
Bằng cách luận giải mô hình Solow xanh, hai tác giả Brock, William A và M.Scott Taylor (2004) cho rằng giảm ô nhiễm mà vẫn tăng được mức thu nhập bình quân đầu người, nếu tốc độ tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực môi trường đủ lớn
Tuy nhiên trong bài “Kinh tế chính trị của tính ổn định kinh tế vĩ mô và bất bình đẳng thu nhập: Ý tưởng và thực tiễn”, tác giả Alesina (1997) cho rằng cần phải có
chính sách khai thác hợp lý, có hiệu quả về tài nguyên và đảm bảo công bằng giữa các nhóm dân cư thì mới đạt được tính ổn định kinh tế vĩ mô
Về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bền vững về xã hội có thể kể đến đại diện tiêu biểu là Simon Kuznets Tác giả đã khẳng định rằng, trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bền vững về xã hội, tồn tại khoảng cách giàu nghèo và giữa chúng luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau Dựa vào việc phân tích số liệu của một số quốc gia về tăng trưởng kinh tế và mức bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được đo bằng hệ số GINI, Simon Kuznets cho rằng, mối quan hệ giữa tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có dạng hình chữ U ngược Tiếp nối Kuznets, nhiều nhà nghiên cứu khác tiếp tục phát triển hướng tiếp cận này, tiêu biểu phải kể đến: Arthur Lewis (1955), Montek S Ahluwalia (1976), Michael Todaro (1997), J Sachs (1998).Tuy
Trang 22nhiên, ngược với quan điểm của các tác giả trên, các tác giả Deinimnger và Squire (1996) lại cho rằng, không có bằng chứng để khẳng định mối liên hệ theo mô hình chữ U ngược trong quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng về thu nhập hay khoảng cách giàu nghèo khi xem xét các nước riêng lẻ, nghĩa là tăng trưởng không làm bất bình đẳng gia tăng ngay cả ở giai đoạn đầu phát triển David Dollar
và Aart Kraay (2002) trong công trình nghiên cứu của mình cũng cho rằng, tăng trưởng là tốt cho người nghèo, vì người nghèo được hưởng lợi một cách đầy đủ
trong quá trình tăng trưởng đó Chính sự tranh biện này đã làm cơ sở để hình thành
thêm một quan điểm mới, mà đại diện là Lundberg Mattias và Squire Lyn
(1999).Các tác giả đã nêu một hướng tiếp cận mới trong tìm hiểu mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và khoảng cách giàu nghèo Họ cho rằng, không nên chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm mối quan hệ cơ học giữa hai đại lượng nêu trên mà nên nhìn nhận cả hai đại lượng này đồng thời như là kết quả tác động của các yếu tố khác, chẳng hạn như yếu tố chính sách Ví dụ, đầu tư phát triển giáo dục có tác động tốt đến đời sống của người nghèo, nhưng trong ngắn hạn lại ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng Hay chi tiêu của Chính phủ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế nhưng lại làm giảm thu nhập của người dân nghèo và làm gia tăng bất bình đẳng
Để đạt được phát triển bền vững và cân bằng các trụ cột của phát triển bền vững, một số tác giả cho rằng cần phải có yếu tố thể chế David Hume và nhà kinh
tế học Adam Smith cho rằng một xã hội sẽ phát triển kinh tế thành công khi có được các thể chế kinh tế tốt Những thể chế tốt mà nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đòi hỏi là pháp trị, tư hữu và tự do hợp đồng Theo North, Douglass C (1990) thể chế là các luật lệ của cuộc chơi trong một xã hội, hay nói một cách chính thức là những ràng buộc mà con người soạn thảo ra giúp định hình sự tương tác của con người Giả
thuyết chung của kinh tế học thể chế đưa ra là: (i) các thể chế có ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển của các xã hội và của mọi người và (ii) mọi người và cộng đồng
thường lựa chọn những thể chế nào giúp nâng cao quyền tự do lựa chọn và sự phồn vinh kinh tế của mình Điều đó có nghĩa là, một số dạng thể chế có thể đem lại sự phát triển, song một số dạng thể chế khác lại có thể tạo ra những hệ lụy tai hại cho
sự phồn vinh, tự do và các giá trị con người khác
Sự khác biệt về thể chế có thể tạo ra các mô hình tăng trưởng kinh tế khác nhau Các thể chế trong xã hội như cơ cấu quyền sở hữu và sự hoàn hảo của các thị trường có thể ảnh hưởng đến các động cơ kinh tế trong xã hội Nếu không có quyền
sở hữu tài sản, các cá nhân sẽ không muốn đầu tư vào vốn nhân lực hay vật lực hay
Trang 23áp dụng các công nghệ hiệu quả hơn Các thể chế kinh tế giúp phân bổ nguồn lực vào các mục đích sử dụng hiệu quả nhất vì chúng xác định ai sẽ hưởng lợi ích sau cùng Khi không có các thị trường hay thị trường không được ai quan tâm, thì sẽ không khai thác được lợi ích từ thương mại và nguồn lực có thể bị phân bổ sai (Acemoglu, Daron và Simon Johnson, 2003)
Trong nước cũng có một số nhà kinh tế học nghiên cứu về yếu tố thể chế và cũng đưa ra quan điểm cho rằng một xã hội khuyến khích mọi người đổi mới, chấp nhận rủi ro, tiết kiệm cho tương lai, học tập, giải quyết những vấn đề chung và cung cấp các hàng hóa công cộng,… sẽ có thể đạt tới mức thu nhập cao hơn Một xã hội ngược lại có thể sẽ rơi vào tình cảnh nghèo đói (Trần Văn Tùng, 2011) Yếu tố thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các mối quan hệ cũng như thống nhất các mối quan hệ, bởi vì các tiến trình dân chủ thực sự, trong đó có sự tham gia
và góp ý kiến cùng với những chính sách khuyến khích bình đẳng, có thể nâng cao
sự nhất trí chung và cảm giác được tham dự, và thậm chí có thể tạo ra vốn xã hội vẫn được xem là một thành phần thiết yếu cho các thành công lâu dài (Ngô Doãn
Vịnh, 2005) Trong cuốn “Thể chế yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế” của Trần
Văn Tùng và Vũ Đức Thanh (2011), các tác giả đã chứng minh được tại sao thể chế lại quan trọng và tại sao thể chế kinh tế tại mỗi quốc gia là khác nhau trong khi các học giả khác như John Locke, Adam Smith, Stuart Mill và Douglass North chưa làm rõ được
Tổng quan tài liệu lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh cho thấy cho đến nay chưa có một khung lý thuyết rõ ràng nào đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh, những mối quan hệ được được đề cập trên đây phần nhiều là mối quan hệ giữa một trong những trụ cột của phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế, không bao hàm tăng trưởng kinh tế nhanh trong đó
1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu thực tiễn trong nước và nước ngoài về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong nước, cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh, nhưng những công trình đề cập đến các nước thuộc phạm vi đề cập của luận án không chỉ hạn chế về số lượng, mà còn hạn chế cả về nội dung phân tích Những công trình này dù đã bàn luận về vấn đề tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng nhanh về kinh tế cũng như về mối quan hệ của nó
Trang 24với vấn đề phát triển bền vững, song về cơ bản, đó không phải là những báo cáo hay phân tích tổng hợp đầy đủ và có hệ thống về mối quan hệ giữa phát triển bền vững
và tăng trưởng nhanh, mà những công trình này mới chỉ phân tích mối quan hệ một chiều giữa tăng trưởng nhanh với một trong những trụ cột chính của phát triển bền vững Tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có cho thấy, các tác giả đã đưa ra một số nhận định có ý nghĩa sau:
Tăng trưởng nhanh có tác động đến tính bền vững về kinh tế, cụ thể tăng
trưởng nhanh tác động đến quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh cũng hàm
chứa những bất ổn kinh tế vĩ mô Trong công trình nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phục vụ tăng trưởng kinh tế bền vững – Kinh nghiệm một số nước Châu Á” của tác giả Nguyễn Trọng Tuấn (2010) và “Hướng tới sự phát triển của đất nước: Một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng” của tác giả Ngô Doãn Vịnh (2006), các tác giả đã chỉ ra rằng, tăng trưởng nhanh của các nước Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái
Lan đều gắn liền với quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, rút ngắn thời kỳ xây dựng cơ cấu ngành kinh tế thay thế nhập khẩu, nhanh chóng chuyển sang xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hướng
về xuất khẩu Và điều quan trọng là, các quốc gia này đều đã biết tận dụng được lợi thế so sánh của từng quốc gia Tuy nhiên điểm trái chiều của tăng trưởng nhanh là nhiều nước để đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh đã gây ra những vấn đề mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia, dẫn đến tình trạng nợ công gia tăng Trong
bài viết “Hiện trạng nợ công Trung Quốc” của tác giả Đặng Phương Hoa (2011),
tác giả cho rằng mặc dù Trung Quốc tăng trưởng hai con số và được coi là chủ nợ lớn của nước ngoài song Trung Quốc cũng rơi vào cảnh mắc nợ Các khoản tiền vay
nợ dùng để chi cho các chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Tăng trưởng kinh tế nhanh có mối quan hệ tích cực với tính bền vững về xã hội khi tăng trưởng nhanh mang lại cơ hội việc làm cho người lao động, tiền lương
được nâng cao (Trương Duy Hòa, 2009) và góp phần thu hẹp bất bình đẳng về thu
nhập (Dương Phú Hiệp và Ngô Xuân Bình, 1999 và Lê Bộ Lĩnh, 1998) Cùng đồng tình với quan điểm này nhưng các tác giả Trương Duy Hòa (2009) và Nguyễn Thế Anh (2012) bổ sung thêm tăng trưởng nhanh cũng sẽ khiến cho phân phối thu nhập ngày càng trở nên bất bình đẳng hơn, khoảng cách giàu nghèo càng lớn dần, do tăng trưởng nhanh dẫn đến tình trạng khác biệt về thu nhập giữa các hộ gia đình thuộc
Trang 25các ngành kinh tế cũng như sự khác biệt giữa nông thôn với thành thị, và đây là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn gây mất ổn định xã hội
Trong công trình “Kinh tế Thái Lan: Một số chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu trong ba thập niên cuối thế kỷ XX”, tác giả Trương Duy Hòa
(2009) cho rằng tăng trưởng kinh tế nhanh còn kéo theo hiện tượng di cư về mặt cơ học Tức tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ khiến cho một bộ phận dân cư từ những vùng nông thôn, miền núi xa xôi, hẻo lánh đổ dồn về các thành phố và các trung tâm công nghiệp khác để tìm việc làm, cải thiện thêm thu nhập, hậu quả là làm cho các thành phố lớn thay đổi đến chóng mặt, kéo theo những thay đổi quan niệm về lối sống, lối hưởng thụ
Tăng trưởng kinh tế nhanh còn có mối quan hệ mật thiết đến tính bền vững về môi trường Ngô Xuân Bình (2007), Trương Duy Hòa (2009), Hoàng Thế Anh (2010) và Phạm Thái Quốc (2010 và 2014), Nguyễn Hà Phương (2014) cho rằng tăng trưởng nhanh là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hủy hoại môi trường Sự tập trung sản xuất trong những khu công nghiệp dẫn đến việc xả thải quá mức các chất gây ô nhiễm ở những vùng đó Ngoài ra mật độ dân cư gia tăng chưa từng thấy ở các khu vực thành phố làm phát sinh nhiều vấn đề môi trường nhất là tích lũy rác và chất phế thải Hơn nữa, sự mở rộng không kiểm soát của các khu vực
đô thị đã làm giảm đáng kể đất nông nghiệp và vành đai xanh Tiến trình đô thị hóa
đã khuyến khích dân cư di chuyển từ khu vực nông thôn ra thành thị, dẫn đến “hiệu ứng rỗng” ở nhiều vùng nông thôn Đồng thời, việc sử dụng một khối lượng lớn phân bón và thuốc trừ sâu để thúc đẩy sản xuất ở các trang trại tất yếu sẽ phá hủy hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt sẽ khiến cho đất bị suy thoái và nước bị ô nhiễm (Ngô Xuân Bình, 2007) Ủng hộ nhận định này, các tác giả Trương Duy Hòa (2009), Hoàng Thế Anh (2010) cho rằng, mặc dù đạt được những thành công nhất định trong tăng trưởng kinh tế, nhưng nền kinh tế phải hy sinh môi trường, bởi vì tăng trưởng nhanh đã gây hậu quả tiêu cực đối với môi trường sinh thái và làm giảm chất lượng cuộc sống của dân cư nhiều vùng, trên nhiều phương diện; trong đó suy thoái rừng, ô nhiễm không khí và nguồn nước là những vấn đề nghiêm trọng nhất trói buộc sự phát triển bền vững của các nền kinh tế
Đối mặt với những bất ổn về xã hội và môi trường do quá trình tăng trưởng nhanh và nóng vội mang lại, và trước nguy cơ sự phát triển bền vững của quốc gia
bị phá vỡ, chính phủ các nước đã áp dụng các chính sách khác nhau nhằm cân bằng
và hạn chế những bất ổn tiềm tàng trên Tuy nhiên, trong thời gian đầu thực hiện
Trang 26các chính sách, chính phủ các nước gặp phải không ít khó khăn và trở ngại, do sự chống đối của các nhóm lợi ích hoặc các cơ quan có liên quan (Ngô Xuân Bình, 2007) hoặc do các chính sách đưa ra chưa đủ ràng buộc khắt khe để đạt được các mục tiêu bảo vệ môi trường (Trương Duy Hòa, 2009) hoặc do các nước có những đường lối chiến lược riêng để giải quyết các vấn đề nội bộ của quốc gia Ví dụ,
trong công trình “Vấn đề phát triển kinh tế xanh của Trung Quốc”, Phạm Thái
Quốc (2014) cho rằng, để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, Trung Quốc cần phải tập trung vào chiến lược năng lượng mới, gồm năng lượng gió, mặt trời và nhiên liệu sinh học Tác giả Nguyễn Văn Căn (2014) lại cho rằng để đạt được môi trường bền vững cần phải động viên nhân dân cả nước góp công sức và trí tuệ vào bảo vệ môi trường
Đối với các vấn đề về xã hội, Phạm Thanh Bình (2014) cũng cho rằng để phát triển kinh tế xã hội bền vững cần phải có chính sách xã hội phù hợp, những chính sách xã hội năng động với thể chế hợp lý sẽ tạo điều kiện giữ vững ổn định chính trị, giảm các xung đột lợi ích và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua, cũng đã có không ít các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm đến các vấn đề tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của Việt Nam Đặc biệt, những vấn đề liên quan đến nhu cầu đổi mới và phát triển đất nước theo hướng phát triển bền vững đã được đề cập đến Điển hình trong đó, có
tác phẩm “Phát triển đất nước nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của Phan Văn Khải (2002); “Đổi mới và phát triển ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Phú Trọng (2006); “Phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” của Nguyễn Văn Đặng (2007); “Việt Nam tiến vào thế kỷ XXI – Các trụ cột của sự phát triển” của Ngân hàng Thế giới (2000); “Vấn đề sở hữu và phát triển bền vững ở Việt Nam và Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI” của
Lương Việt Hải (2008);
Trong các công trình khác, một số vấn đề liên quan đến tăng trưởng nhanh của Việt Nam cũng đã được nhận diện, trong đó có lý do tại sao Việt Nam tăng trưởng nhanh, các nhân tố chủ yếu góp phần tạo ra tăng trưởng nhanh và tăng trưởng nhanh đã gây trở ngại gì cho nền kinh tế Tất cả các vấn đề này đã được
phân tích trong các công trình nghiên cứu như “Phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam” của Bùi Tất Thắng (2010); “Tăng trưởng nóng: Nhận dạng, nguy cơ và giải pháp (ý tưởng ban đầu)” của Nguyễn Quang Thái (2007); “Một số
Trang 27vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay” của tác giả Đỗ Hoài Nam và Võ Đại Lược (2005); “Tăng trưởng và phát triển bền vững sau suy thoái kinh tế: Từ một góc nhìn xã hội” của tác giả Đặng Nguyên Anh (2010); “Phát triển nông thôn bền vững: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới” Trần Ngọc Ngoạn (2008);
“Các lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập trên thế giới” của Lê Quốc Hội (2010); “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong phát triển bền vững: Những giải pháp chủ yếu đối với Việt Nam” của Đỗ Thế Tùng (2011); và nhóm tác giả tập trung chuyên sâu vào
tìm kiếm các giải pháp, chính sách giúp Việt Nam đạt được phát triển bền vững như
tác phẩm “Thể chế - Cải cách thể chế và phát triển Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam” của Đinh Văn Ân và Võ Trí Thành (2002); “Tăng trưởng kinh
tế Việt Nam: Những rào cản cần phải vượt qua” của Nguyễn Văn Thường (2005);
“Một số giải pháp phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020” của Nguyễn Văn Cường (2011); “Chính sách phát triển bền vững các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Nam và Ngô Thắng Lợi;
“Bàn về phát triển kinh tế: Nghiên cứu con đường dẫn tới giàu sang” của Ngô Doãn Vịnh (2005); “Luận cứ lý thuyết về phát triển bền vững” của Trần Văn Tùng và Vũ Đức Thanh (2010); “Vấn đề môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Vũ Hy Chương (2007); “Những vấn đề kinh tế Việt Nam” của Võ Đại Lược (2014); “Gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI” của Nguyễn Thị Nga (2010); “Kinh tế xanh trong đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam” của Nguyễn Quang Thuấn và Nguyễn Xuân Trung (2012); “Kinh tế xanh - Hướng phát triển bền vững cho Việt Nam” của Lê Thành Văn (2012); “Hướng tới nền kinh tế xanh: Lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo” do Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường lược dịch (2011), Một số nhận định chính từ các tác phẩm
này đã cho thấy tăng trưởng của Việt Nam hiện nay không ổn định, tăng trưởng cao nhưng không bền vững và chất lượng tăng trưởng còn thấp; tăng trưởng góp phần giảm số người nghèo đói nhưng khoảng cách giàu nghèo vẫn gia tăng; ô nhiễm môi trường xuất hiện ở nhiều nơi; tốc độ tăng trưởng cao nhưng cải cách thể chế diễn ra quá chậm Mặc dù các tác giả đã đưa những gợi ý chính sách giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, song đó cũng chỉ là những chính sách, còn việc thực thi để đạt được các mục tiêu chính sách đó vẫn còn hạn chế
Trang 281.2.2 Tài liệu nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam cho thấy, cho đến nay, cũng đã có nhiều tác giả quốc tế nghiên cứu về mối quan hệ trên Tuy nhiên giống như các nhà nghiên cứu trong nước, các tác giả nước ngoài cũng chỉ nghiên cứu mối quan hệ một chiều giữa tăng trưởng kinh tế với từng trụ cột của
phát triển bền vững Mặc dù có công trình nghiên cứu như “Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của Trung Quốc” của Luo Deming (1999) nếu chỉ đọc qua tiêu
đề, thì dễ có cảm giác cho rằng, đó sẽ là một công trình phân tích, đánh giá toàn diện và đầy đủ về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh, nhưng khi nghiên cứu sâu hơn cho thấy thực chất công trình đó chỉ mới đề cập đến một vế của vấn đề đó là mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và vấn đề môi trường của một quốc gia
Trong các công trình nghiên cứu về Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan, đi sâu vào các nghiên cứu tại sao cần phải tăng trưởng nhanh và tăng trưởng nhanh
có ảnh hưởng gì đến sự phát triển bền vững có các công trình nghiên cứu như
“Toàn cầu hóa kinh tế - Lối thoát của Trung Quốc là ở đâu?” của Lưu Lực (2002);“Trung Quốc với tham vọng trở thành siêu cường như thế nào?”của Ted
C Fishman (2007); “Tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp địa phương và hiệu ứng lan tỏa giữa các vùng từ FDI: Minh chứng từ Trung Quốc” của Fu Shihe
và Puman Ouyang (2012); “Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc có bền vững không: Phân tích năng suất” của Wu Yanrui (2000); “Vai trò của nguồn vốn con người trong phát triển kinh tế: Xem xét lại và minh chứng mới” của Chi Wei (2008);
“Tăng trưởng kinh tế của Thái Lan: Bối cảnh kinh tế vĩ mô” của Barry Bosworth (2006); “Nhìn lại tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của Thái Lan” của Nakornthab Don (2013); “Vai trò của nguồn vốn con người và tăng trưởng năng suất các yếu tố tổng hợp như là nguồn lực của tăng trưởng: điều tra thực tiễn của Thái Lan” của Kraipornsak Paitoon (2009); “Tăng trưởng kinh tế và phát triển con người ở Hàn Quốc, 1945-1992” của Lee Jong Wha (1997) và “Trung Quốc, thách thức nghiêm trọng của thế kỷ XXI” của Lưu Kim Hâm (2004) Các công trình trên chỉ ra nguồn
gốc của tăng trưởng nhanh, những thành công mà các nước đạt được Các tác giả cho rằng, tăng trưởng kinh tế nhanh của các nước gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn liền với yếu tố vốn con người, yếu tố năng suất và mức độ tập trung FDI tại những vùng nhất định
Trang 29Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và bền vững về môi trường, các tác giả cho rằng, tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững cần phải gắn chặt với yếu tố bền vững về môi trường Nhận định này đã được chứng minh
qua các tác phẩm “Phát triển bền vững ở Thái Lan: Những bài học từ việc thực hiện diễn đàn địa phương lần thứ 21 ở ba thành phố” của Aki Tonami và Akihisa Mori (2007); “Thái Lan: Chính sách khoa học và công nghệ đối với phát triển bền vững” của Pairash T (N.d); “Tăng trưởng kinh tế và bền vững: nghiên cứu kinh nghiệm phát triển của người Thái” của M Clarke; S.M.N Islam và P.J Sheehan (2003); “Chiến lược phát triển bền vững ở Tiểu vùng sông Mekong mở rộng: Thực trạng, nhu cầu và định hướng” của Cielito F.Habito và Ella S.Antonio (2007);
“Chất lượng môi trường và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc: Tổng quan và thảo luận” của Liu Qian Qian (2012); “Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của Trung Quốc” của Luo Deming (1999); Đánh giá sự phát triển bền vững của Thái Lan” của Chansarn Supachet (2013), và “Trung Quốc 2020” do Ngân hàng
Thế giới (2001) biên soạn Các tác giả cho rằng, một mặt, tăng trưởng kinh tế cần gắn kết với yếu tố bền vững về môi trường, song mặt khác, tăng trưởng kinh tế ở một góc độ nào đó cũng gây tổn hại đến môi trường Nhấn mạnh điểm này, tác giả Luo Deming (1999) cho rằng, tăng trưởng kinh tế nhanh có thể bảo vệ môi trường trong dài hạn nhưng cũng sẽ tàn phá môi trường đặc biệt đối với một quốc gia trong giai đoạn cất cánh Ủng hộ quan điểm này, Andreas Oberheitmann (2005) cũng cho rằng tăng trưởng kinh tế đi kèm với ô nhiễm môi trường và tàn phá hệ sinh thái và những nhân tố này chắc chắn sẽ hạn chế sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai Tác giả Chansarn Supachet (2013) nhận định rằng, việc sử dụng quá nhiều tài nguyên thiên thiên và môi trường để tạo ra tăng trưởng kinh tế và tạo ra phúc lợi cho mọi người sẽ không đem lại sự phát triển bền vững về mặt môi trường, tài nguyên, đất đai, đa dạng sinh học và hệ sinh thái
Trong các nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và các vấn đề xã hội, các tác giả đã cho thấy tăng trưởng nhanh có mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững về mặt xã hội, cụ thể tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ góp phần tạo ra cơ hội việc làm và gia tăng thu nhập cho người nghèo (Krongkaew Medhi và các cộng sự, 2006) Nhiều tác giả như Hu Angang, Hu Linlin và Chang Zhixiao (N.d) cho rằng, tăng trưởng nhanh có vai trò tích cực trong việc xóa đói
giảm nghèo, bởi một số lý do sau: (i) tăng trưởng kinh tế nhanh qua các năm là cơ
sở cho sự giảm nghèo; (ii) một bộ phận lớn lao động nông thôn sẽ chuyển sang
Trang 30làm việc tại các ngành công nghiệp hay phi nông nghiệp; (iii) tốc độ đô thị hóa nhanh; (iv) chính sách mở cửa định hướng vào xuất khẩu; (v) nguồn vốn con người được cải thiện; (vi) các chương trình hành động để giảm nghèo được thông
qua bởi chính phủ Tuy nhiên, các tác giả cũng cho rằng, nếu giảm nghèo không tương xứng với tốc độ tăng trưởng nhanh, thì giảm nghèo sẽ khiến cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, và thêm vào đó, một số dạng nghèo mới còn phát sinh Dù đồng tình với các quan điểm trên, nhưng một số tác giả lại cho rằng, tăng trưởng kinh tế nhanh giúp xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên xóa đói giảm nghèo sẽ không xảy ra ở hầu hết các khu vực ngành nghề Theo tác giả Jose G Montalvo và Martin Ravallion (2010), tăng trưởng nhanh giúp xóa đói giảm nghèo đặc biệt đối với các ngành như công nghiệp và dịch vụ, tuy nhiên sẽ hạn chế đối với ngành nông nghiệp Ngoài ra, tăng trưởng nhanh còn góp phần cải thiện tuổi thọ, mức sống và
tỷ lệ biết chữ của người dân (Wen Dale Jiajun, 2007) Cũng giống như các tác giả nghiên cứu về Trung Quốc, các tác giả nghiên cứu về Thái Lan, như công trình
“Quản trị và giảm nghèo ở Thái Lan” của Pornpen Vora-Sittha (2012), còn cho
rằng, Thái Lan đạt được cả tăng trưởng nhanh lẫn giảm nghèo mà không cần quản trị tốt Tuy nhiên, Byung – Nak Song (2002) lại cho rằng tăng trưởng nhanh tại một số quốc gia cũng là nhân tố dẫn tới sự bất ổn về mặt xã hội như thiếu nhà ở, thiếu cơ sở giáo dục, dịch vụ công nghèo nàn, bởi vì quá trình công nghiệp hóa dẫn tới sự tập trung quá mức các ngành công nghiệp và dân số vào những thành phố lớn Tăng trưởng kinh tế nhanh còn làm gia tăng các vấn đề xã hội đặc biệt là vấn đề di cư lao động (Andreas Oberheitmann, 2005), dẫn đến sự chênh lệch giữa các vùng và các nhóm khác nhau trong xã hội Jeong Hyeok (2008), Warr Peter (2011) và Wang Hongying (2007)
Byung – Nak Song (2002) có cái nhìn khá lạc quan hơn khi cho rằng tăng trưởng nhanh lại là một phương thuốc điều trị tốt nhất cho những căn bệnh kinh tế-xã hội của sự kém phát triển Tăng trưởng nhanh tác động tích cực đến việc đổi mới quan điểm, cách suy nghĩ và hành vi của người dân Tăng trưởng nhanh buộc những người cổ hủ và không thích sự thay đổi cũng phải đổi mới quan điểm của mình và đây có thể là biện pháp tốt nhất để loại bỏ các rào cản hành vi đối với tăng trưởng và tâm lý tiêu cực của sự kém phát triển
Về mặt chính sách các nước cũng có những đường lối chiến lược riêng nhằm giải quyết từng nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh Chẳng hạn, để giải quyết vấn đề môi trường do tăng trưởng kinh tế
Trang 31nhanh gây ra, chính phủ các nước đã áp dụng những chính sách khác nhau Ví dụ,
bài viết “Chính sách của Hàn Quốc tăng trưởng xanh cacbon thấp” của Sudhakar
Vaddi (2010) đã mô tả toàn diện các chính sách của Chính phủ Hàn Quốc nhằm giảm thiểu cac-bon trong nền kinh tế như: Chính sách pháp luật, chính sách tài chính, chính sách thuế, chính sách khoa học công nghệ, chính sách thu hút đầu tư vào công nghệ xanh, và huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự
Trong bài viết “Tăng trưởng xanh của Hàn Quốc: Chiến lược giảm nhẹ biến đổi khí hậu và phát triển động lực tăng trưởng mới” của Randalls Jones và Byungseoyoo (2010) đã đề cập tới: i) Chiến lược giảm nhẹ ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu, tổng quan hiện trạng sử dụng năng lượng và phát thải khí nhà kính ở Hàn Quốc và chính sách của chính phủ nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu như:
chính sách thuế cacbon, giảm thiểu khí nhà kính,… ii) Tạo động lực cho mô
hình tăng trưởng mới dựa trên đầu tư cho R&D xanh, phát triển năng lượng tái
tạo, tái sinh, thúc đẩy màu xanh lá cây; và iii) Nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua chất lượng không khí tốt hơn Trong tác phẩm “Chiến lược tăng trưởng xanh: Chính sách năng lượng ở Hàn Quốc”, Jae Seung Lee (2010) đã mô
tả mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính từ quá trình sản xuất và tiêu thụ các nguồn năng lượng như: dầu lửa, ga, than, hạt nhân với biến đổi khí hậu Đồng thời, nghiên cứu này cũng cho rằng, để giảm thiểu phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng cần phải có chính sách thúc đẩy các nguồn năng lượng tái
tạo và tái sinh thay thế Nghiên cứu “Tăng trưởng xanh: Những động lực mới cho tăng trưởng” của Jang, Jin-Gyu và các cộng sự (2011) đã trình bày một cách
khá chi tiết về các chính sách của Hàn Quốc để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng xanh như chính sách về môi trường, chính sách phát triển công nghệ xanh và
chính sách năng lượng mới và tái tạo Ngoài ra trong bài viết “Phát triển bền vững của Hàn Quốc: Những vấn đề chính và phản ứng của chính phủ”, Moon
Tea Hoon (2006) đã phân tích khá đầy đủ các yếu tố hình thành nên phát triển bền vững của quốc gia, trong đó bao gồm bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường Tác giả cho rằng một mình chính phủ sẽ không thể đạt được phát triển bền vững mà cần phải huy động được sự hợp tác và tham gia rộng rãi của tất cả các thành phần trong xã hội từ cư dân, nhóm kinh doanh, phụ nữ, các chuyên gia
và các tổ chức phi chính phủ Ngoài ra, trong các nghiên cứu về Trung Quốc, có
bài viết “Phát triển bền vững ở Trung Quốc: Tìm kiếm một sự cân bằng giữa tăng trưởng và bảo vệ môi trường” của hai tác giả Flynn Andrew và Bin Wu
Trang 32(1995) Các tác giả này cho rằng để đạt được phát triển bền vững Trung Quốc cần phải đối mặt với hai nhiệm vụ: (1) Cải thiện tính hiệu quả về mặt kinh tế và
sử dụng nguồn năng lượng hiệu quả để giảm thiểu sự lãng phí các nguồn tài nguyên và ô nhiễm môi trường; (2) Duy trì mức độ hài hòa giữa dân số, nền kinh
tế và môi trường Đồng tình với quan điểm này, tác giả Oberheitmann Andreas (2005) bổ sung thêm là để đạt mục tiêu phát triển bền vững một cách tổng thể, chiến lược quốc gia cần phải cân bằng xã hội theo các cách khác nhau, ví dụ như phát triển đô thị và nông thôn, phát triển giữa các vùng, phát triển kinh tế và xã hội, phát triển trong nước và mở rộng ra thế giới bên ngoài, phát triển con người
và tự nhiên Đối với từng ngành cụ thể, ví dụ như năng lượng, chính sách cần phải tập trung vào tiết kiệm nguồn năng lượng và sử dụng nguồn năng lượng hiệu quả Ngoài ra, các công trình của các tác giả Kun-min Zhang và Zong-guo Wen (2008), Sida (2001) cũng đã đề cập đến các chính sách của chính phủ để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, như chính sách liên quan đến nguồn nước, chính sách nông nghiệp, lâm nghiệp, đa dạng sinh học, công nghiệp, năng lượng
và giao thông vận tải Trong bài “Vấn đề môi trường và lối sống xanh của Thái Lan”, Ping Xu (2011) cũng cho rằng, muốn đạt được cả phát triển bền vững lẫn
mục tiêu tăng trưởng, cần phải giải quyết yếu tố ô nhiễm môi trường Tuy nhiên,
để làm được điều này, chính phủ Thái Lan cần phải chi nhiều tiền hơn để đào tạo cho người Thái, tổ chức các lớp bồi dưỡng văn hóa về môi trường cho người Thái, bởi vì giáo dục được xem là công cụ hiệu quả nhất để trang bị cho mọi người kiến thức về cách thức bảo vệ môi trường Để bảo vệ môi trường người Thái nên suy nghĩ đến năm điều chính từ việc suy nghĩ lại, giảm, tái sử dụng, tái chế cho đến chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của mình
Tổng quan tài liệu nghiên cứu thực tiễn trong nước và nước ngoài về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh tuy nhiên mối quan hệ đó được thể hiện: (i) theo từng trụ cột của phát triển bền vững với tăng trưởng nhanh; (ii) theo từng giai đoạn; (iii) trong những điều kiện nhất định và (iv) theo nghĩa hợp lý là chính chứ không phải nhanh một cách tối đa (nóng hoặc cao)
1.3 Đánh giá về các nghiên cứu đã có
1.3.1 Về các lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn
(*) Tổng quan các tài liệu lý thuyết
Trang 33- Về nguồn tài liệu trong nước, cho đến nay đã có nhiều lý thuyết bàn về
phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế, tuy nhiên chưa có
lý thuyết nào chỉ ra được khái niệm thế nào là tăng trưởng nhanh Bởi vậy, để tìm hiểu các lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh là không có Các lý thuyết được tổng hợp từ phần tổng quan tài liệu trên đây chủ yếu là lý thuyết bàn mối quan hệ giữa một trong ba trụ cột của phát triển bền vững với tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên mối quan hệ đó vẫn chưa rõ ràng
- Về nguồn tài liệu nước ngoài, cũng giống các tài liệu trong nước, các công
trình của các tác giả nước ngoài cũng chưa chỉ ra được khái niệm thế nào là tăng trưởng nhanh và các lý thuyết tìm thấy chủ yếu cũng là các lý thuyết về phát triển bền vững, tăng trưởng và phát triển kinh tế Do đó, các lý thuyết tổng quan được từ phần tài liệu nước ngoài chủ yếu liên quan đến mối quan hệ giữa một trong những trụ cột của phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế và mối quan
hệ đó cũng không rõ ràng Tuy nhiên, điểm đáng chú ý từ tổng quan các tài liệu nước ngoài là có nhiều công trình đã đưa ra được các chỉ số đánh giá, các nhân
tố tác động đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế, bổ sung cho sự thiếu vắng của các tài liệu nghiên cứu trong nước
(*) Tổng quan các tài liệu thực tiễn:
- Cho đến nay đã có các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước
và nước ngoài bàn về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh đối với một số quốc gia, tuy nhiên các nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc phân tích: (i) mối quan hệ theo từng trụ cột của phát triển bền vững với tăng trưởng nhanh, ví dụ như phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng về thu nhập và tăng trưởng nhanh, công bằng xã hội và tăng trưởng nhanh hay ô nhiễm môi trường và tăng trưởng nhanh, hay nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng để qua đó gián tiếp tìm hiểu mối quan hệ giữa tăng trưởng với một vài thành tố của phát triển bền vững; (ii) mối quan hệ theo từng giai đoạn; (iii) mối quan hệ trong những điều kiện nhất định và (iv) mối quan hệ theo nghĩa hợp lý
là chính chứ không phải nhanh (lớn, tối đa hoặc cao) Tuy nhiên việc phân tích
đó mang tính rời rạc và không có hệ thống, nên chưa đánh giá được đầy đủ được mối quan hệ trên
- Trong khi đó, các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới đã có những báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình quốc tế
Trang 34liên quan đến phát triển bền vững ở cấp quốc gia và quốc tế Các tổ chức này đã xây dựng các bộ chỉ số để đánh giá mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế Các bộ chỉ số này cho đến nay đã được một số quốc gia sử dụng để làm tham chiếu và xây dựng bộ chỉ số phát triển bền vững riêng của mình, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh của mỗi nước
1.3.2 Bình luận về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trong khi các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích so sánh, định tính để phân tích mối quan hệ giữa phát triển bền vững
và tăng trưởng nhanh thông qua từng trụ cột chính của phát triển bền vững, thì các công trình nước ngoài lại sử dụng đa dạng các phương pháp từ phân tích so sánh, định tính, định lượng đến việc đưa ra từng kịch bản cho mối quan hệ đó Việc sử dụng đa dạng phương pháp này đã cho thấy có sự tồn tại mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế nhanh thông qua ba trụ cột chính của phát triển bền vững nhưng đó vẫn là mối quan hệ mang tính chất rời rạc và mang tính chất một chiều
1.3.3 Bình luận về kết quả đã được thống nhất và chưa thống nhất
(*) Những điểm đã được thống nhất:
Về lý thuyết: Không có một lý thuyết rõ ràng nào về mối quan hệ giữa phát
triển bền vững và tăng trưởng nhanh
Về thực tiễn: Có tồn tại mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng
nhanh tuy nhiên mối quan hệ đó chưa được phân tích một cách có hệ thống Mối quan hệ đó chủ yếu được phân tích ở các góc độ:
Mối quan hệ giữa từng trụ cột của phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh
Mối quan hệ giữa từng trụ cột của phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh theo giai đoạn
Mối quan hệ giữa từng trụ cột của phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh trong những điều kiện nhất định
Mối quan hệ giữa từng trụ cột của phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh
ở mức hợp lý chứ không phải là tăng trưởng nhanh một cách tối đa (nóng, cao)
(*) Những điểm chưa được thống nhất:
- Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh khó có thể được đảm bảo
Trang 35Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƯỞNG NHANH
2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn
phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (do Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(International Union for Conservation of Nature - IUCN công bố) với nội dung rất
đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế
mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" [158]
Tuy nhiên, khái niệm phát triển bền vững đã được phổ biến rộng rãi vào năm
1987 bởi Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED – World Commission
on Environment and Development) còn được biết đến là Ủy ban Brundtland Ủy ban Brundland đã có những đóng góp đáng ghi nhận vào quá trình phát triển bền
vững: Thứ nhất, WCED đề ra trách nhiệm của thế hệ hiện tại phải đảm bảo những
cơ hội và lựa chọn phát triển của các thế hệ tương lai thông qua việc bảo vệ môi
trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Thứ hai, WCED đặt ra mục tiêu giảm
nghèo ở các nước đang phát triển như là một trục chính mà các nước cần phải vượt
qua Thứ ba, WCED đúc kết lại việc theo đuổi phát triển bền vững trong bối cảnh
nền kinh tế quốc tế bằng cách nhận ra rằng cần phải sắp xếp lại mô hình thương mại quốc tế và dòng vốn cũng như phải đảm bảo được các nước đang phát triển sẽ có ảnh hưởng lớn hơn trong các quan hệ kinh tế đó [189]
Năm 1992, Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển được tổ chức ở Rio de Janerio (Braxin) hay còn được gọi là Hội nghị thượng đỉnh trái đất Tại Hội nghị, các công ước toàn cầu về biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học đã
được ký kết; “Hiến chương về trái đất” – một bộ các nguyên tắc được kỳ vọng bởi
các chính phủ và người dân cũng đã nhận được sự đồng thuận của 178 chính phủ; một chương trình hành động để thúc đẩy phát triển bền vững còn được gọi là Diễn đàn 21 cũng đã được thông qua; và một cơ chế thể chế trong hệ thống Liên hợp quốc, cụ thể là Ủy ban về phát triển bền vững cũng được thành lập
Tuy nhiên, cho đến nay, thuật ngữ về phát triển bền vững được nói đến nhiều nhất vẫn là thuật ngữ do Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED) đưa
ra vào năm 1987, khi cho rằng “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu
Trang 36cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai [158] Theo đó phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp
chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường với nội dung cụ thể như sau:
Phát triển bền vững về kinh tế là quá trình đạt được tăng trưởng kinh tế ổn
định và đều đặn, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, nợ chính phủ, đảm bảo cân đối cán cân thương mại, đầu tư có chất lượng, có năng suất cao thông qua việc nâng cao hàm lượng khoa học và công nghệ trong sản xuất, không làm phương hại đến xã hội và môi trường
Phát triển bền vững về xã hội là phát triển nhằm đảm bảo sự công bằng trong
xã hội, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đảm bảo người dân có cơ hội được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ cơ bản như y
tế, giáo dục nhưng không làm phương hại đến kinh tế và môi trường
Phát triển bền vững về môi trường là việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên, duy trì một nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh Phát triển bền vững về môi trường cần duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác, cần hạn chế vấn đề
ô nhiễm môi trường bao gồm cả ô nhiễm đô thị và khu công nghiệp, cần phải quản
lý và xử lý tốt chất thải rắn, chất thải nguy hại, có khả năng ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai Ngoài ra, phát triển bền vững về môi trường cần phải hướng được các doanh nghiệp từng bước thay đổi mô hình sản xuất, hướng doanh nghiệp đến các công nghệ sản xuất sạch hơn, thân thiện với môi trường hơn Phát triển bền vững về môi trường phải đảm bảo không làm phương hại đến kinh tế và xã hội
2.1.2 Tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng nhanh về kinh tế
* Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc
độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ [56]
Bản chất của tăng trưởng kinh tế là sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tăng trưởng kinh tế thường được đo bằng mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thời gian hoặc GDP bình quân đầu người theo thời gian GDP là tổng giá trị thị
Trang 37trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một nước trong một thời kỳ nhất định GDP đồng thời phản ánh cả tổng thu nhập được tạo ra và tổng chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế nên nó được xem là một chỉ tiêu tốt để đánh giá phúc lợi kinh tế của một quốc gia [56]
* Tăng trưởng nhanh về kinh tế
Tăng trưởng nhanh về kinh tế được hiểu là tăng trưởng nhanh về quy mô và tốc độ của một nền kinh tế để đạt được những tiến bộ nhanh trong các chỉ số như GDP, GDP/người, Thước đo để đánh giá một nền kinh tế có tăng trưởng nhanh hay không phụ thuộc vào chỉ số tốc độ tăng trưởng GDP (cao hay thấp) Tuy nhiên đây không phải là thước đo hoàn hảo nhất, nhưng nó có tính phổ dụng và tương đối toàn diện so với các chỉ số khác Tăng trưởng nhanh có thể đạt được thông qua việc gia tăng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, theo các cách: (i) gia tăng đầu vào; (ii) gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực thông qua việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật và năng suất; (iii) nâng cao hiệu quả phân bổ; và phát triển khoa học công nghệ và (iv) đổi mới thể chế
Khi so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm giữa các quốc gia, các nước dựa vào cơ sở số liệu thống kê có sẵn Ví dụ, quan sát số liệu tăng trưởng GDP hàng năm của 216 quốc gia trong giai đoạn 1966-2014 cho thấy, trên thế giới đang tồn tại một dải tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khá rộng Cụ thể, có những quốc gia
có mức tăng trưởng GDP hàng năm khá thấp, như Cộng hòa Trung Phi năm 2013 mức tăng trưởng âm (tức giảm) tới (-36%), nhưng cũng có quốc gia có mức tăng trưởng dương ấn tượng lên tới (+26%) vào năm 1972 như Boswana [253] Tuy nhiên, dải tăng trưởng hàng năm thường được quan sát thấy chủ yếu ở mức -1% đến +10% Do đó, tùy theo mục tiêu nghiên cứu có thể phân chia tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế trên thế giới thành các loại: cao – trung bình – thấp hoặc tăng trưởng nhanh – trung bình – chậm Theo cách đơn giản, có thể phân chia tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế trên thế giới thành 3 loại: cao (7-10%), trung bình (4-6%) và thấp (0-3%) Mặc dù những số liệu mang tính trực quan này dường như hay được dùng để phân tích và đánh giá nền kinh tế đó là tăng trưởng nhanh hay chậm, song ở góc độ kinh tế học chúng cũng che lấp nhiều khía cạnh mang tính bản chất
mà nếu không được phân tích một cách kỹ lưỡng có thể dẫn đến những nhận định sai lệch Lý do là: (i) về mặt thống kê, ở các nền kinh tế lớn và rất lớn, 1% tăng trưởng của họ hàm chứa một khối lượng GDP (tính theo USD) đôi khi lớn hơn nhiều lần tổng GDP của nhiều nền kinh tế khác Ví dụ, năm 2014, kinh tế Mỹ với
Trang 38GDP đạt 17.419 tỷ USD, thì 1% tăng trưởng của kinh tế Mỹ sẽ làm GDP của họ tăng thêm 174 tỷ USD Điều này có nghĩa là 1% tăng trưởng GDP của Mỹ còn lớn hơn quy mô của nền kinh tế Hy Lạp (137 tỷ USD), gấp trên 5 lần quy mô của nền kinh tế Paraguay (31 tỷ USD), gần 1/2 quy mô nền kinh tế Thái Lan (373 tỷ USD)
và gần bằng quy mô nền kinh tế Việt Nam (186 tỷ USD) cùng năm [253] Do vậy, đối với những nước đang phát triển, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm rất cao nhưng khi so sánh với tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển thì không thể nào so sánh và đánh giá đồng nhất được, bởi vì mức tăng trưởng cao ở những nền kinh tế đang phát triển chưa đủ để khẳng định rằng thực trạng phát triển
ở những nền kinh tế đó vào thời điểm tăng trưởng cao liệu có tốt hơn hẳn những nền kinh tế phát triển hơn không
Ngân hàng Thế giới (WB) dựa vào mức thu nhập bình quân đầu người (GNP/người) để phân chia các nước theo trình độ phát triển kinh tế Bên cạnh đó có tính đến trình độ cơ cấu kinh tế và mức độ thỏa mãn nhu cầu cho con người Theo
đó Nhóm 1 là nhóm các nước công nghiệp phát triển, có quy mô GDP trên 500 tỷ USD, GNP/người trên 20.000 USD Nhóm 2 là các nền kinh tế mới công nghiệp hóa
(NIEs) có GNP/người trên 6.000 USD Hầu hết các nền kinh tế này ngay từ thập niên 1960 đã biết tận dụng lợi thế so sánh qua từng thời kỳ để sản xuất phục vụ xuất khẩu Các nước này đã tranh thủ được nguồn vốn đầu tư và công nghệ của các nước phát triển để thực hiện CNH, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu, tiến tới nền công nghiệp hiện đại Hồng Công, Đài Loan, Singapore và Hàn Quốc được mệnh danh là 4 con rồng Châu Á và thuộc nhóm này Các nền kinh tế này đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm luôn ở mức 7-8% liên
tục trong 3 thập niên và GNP/người đạt trên 10.000 USD Nhóm 3 là các nước xuất
khẩu dầu mỏ Đây là những nước có trữ lượng dầu mỏ lớn và biết cách tiến hành khai thác xuất khẩu, nhanh chóng hình thành được nguồn vốn tích lũy Nhiều nước
trở nên giàu có và dư thừa nguồn vốn nhờ vào nguồn lợi này Nhóm 4 là các nước
đang phát triển Trong nhóm nước này lại được chia làm 3 loại: (i) Những nước có thu nhập trung bình (GDP/người trên 2.000 USD); (ii) Những nước có mức thu nhập trung bình thấp (GDP/người trên 600 USD) và (iii) nước có thu nhập rất thấp (GDP/người dưới 600 USD) [44]
Cho đến nay những nước thuộc Nhóm tăng trưởng cao (7-10%) hầu hết đều là những nước ở nhóm đang phát triển hoặc vừa trở thành những nền kinh tế mới công nghiệp hóa, hay đúng hơn là nhờ đạt mức tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm
Trang 39mà trở thành nền kinh tế mới công nghiệp hóa Rất hiếm những nền kinh tế đã CNH
hoặc đã phát triển cao như nhóm OECD đạt tốc độ tăng trưởng cao trên 7%/năm, thậm chí đạt mức tăng trưởng trung bình Hầu như nhóm này chỉ đạt mức tăng trưởng từ 1-4% năm Tuy nhiên, với mức tăng từ 1-4%/năm như vậy nhưng thời gian kéo dài liên tục thì đây cũng là mức tăng trưởng mà nhiều quốc gia phát triển mong muốn hướng tới
* Phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế là sự biến đổi cả về lượng và chất của nền kinh tế Theo cách hiểu như vậy, nội dung của phát triển kinh tế bao gồm: Một
là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức thu nhập bình quân trên
đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những
mục tiêu khác của sự phát triển Hai là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo hướng
tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm còn tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch
vụ ngày càng tăng trong tổng sản phẩm quốc dân Ba là, sự cải thiện ngày càng tốt
hơn các vấn đề xã hội Các chỉ tiêu xã hội chính là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế của một quốc gia Đó là việc xóa bỏ đói nghèo, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí của nhân dân, [56]
Điểm khác biệt giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế đó là tăng trưởng kinh tế chỉ phản ánh về lượng, còn phát triển kinh tế vừa phản ánh về lượng vừa phản ánh về chất, bao gồm những thay đổi về kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường
tự nhiên,
2.2 Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh
Trên thế giới cho đến nay vẫn chưa có phương pháp luận đánh giá đồng thời
có hệ thống và toàn diện về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh về kinh tế Mối quan hệ này chỉ thực sự được nhắc đến khi các quốc gia trên thế giới phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường, nảy sinh ngoài mong muốn trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nhìn lại lịch sử cho thấy đã có một số lý thuyết ở một góc độ nào đó đã bàn đến mối quan hệ này tuy nhiên đó là những mối quan hệ không rõ ràng, không
có hệ thống và các quan điểm về mối quan hệ này cũng có sự khác nhau, tuy nhiên những lý thuyết này có thể được xem là cơ sở để đánh giá mối quan hệ giữa từng trụ cột của phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh
Trang 402.2.1 Một số lý thuyết có bàn về mối liên hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh
* Các lý thuyết liên quan đến kinh tế
Điểm lại các lý thuyết về kinh tế học trước đây cho thấy, một số nhà kinh tế học ở một góc độ nào đó đã chứng minh được tốc độ tăng trưởng của một nền kinh
tế nhanh/chậm và có bền vững hay không phụ thuộc phần nhiều vào yếu tố công nghệ, đầu tư cho R&D, kiến thức, vốn con người và chính sách của chính phủ
- Mô hình tiến bộ công nghệ của Solow-Swan: Mô hình tăng trưởng tân cổ
điển Solow cho rằng tăng trưởng dài hạn của một nền kinh tế cần phải kết hợp nguồn vốn sản xuất, lao động và tiến bộ công nghệ để tạo ra sản lượng Mô hình sử dụng hai đầu vào là vốn và lao động và giả định tiến bộ công nghệ và lao động đều tăng trưởng không đổi cũng như lợi tức không đổi theo quy mô (CRS –constant returns to scale) đối với nguồn vốn (K) và lao động có hiệu quả (AL) Tiến bộ công nghệ trong mô hình Solow có tính trung lập Harrot trong trường hợp công nghệ bao hàm trong lao động [242, 248] Hàm số Cobb-Douglas thỏa mãn các điều kiện của hàm sản xuất trong mô hình tăng trưởng tân cổ điển và có dạng như sau:
Yt = F[Kt At Lt]
= (AtLt)1-α 0<α<1
= At
Trong đó:
Yt: GDP tại thời điểm t
Kt: mức vốn tại thời điểm t
Lt: số lao động tại thời điểm t
A: Tiến bộ công nghệ hay hiệu quả lao động
α và(1-α): hệ số đóng góp của trữ lượng vốn vật chất và lao động
T: biểu thị thời gian (thời gian không được xét trực tiếp mà thông qua K, L và
A, tức là sản lượng chỉ thay đổi theo thời gian khi các đầu vào của quá trình sản xuất thay đổi
Theo đó tiến bộ công nghệ sẽ giải thích cho sự tăng trưởng kinh tế cả trên phương diện tổng thu nhập lẫn GDP bình quân đầu người Nếu tốc độ tiến bộ công nghệ tăng lên, thì cả GDP lẫn GDP/người đều tăng lên tương ứng
- Mô hình R&D của Romer: Mô hình Romer nội sinh quá trình công nghệ
bằng cách đưa vào mô hình sự tìm kiếm các kiến thức và ý tưởng mới Theo đó, tốc
độ tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ được thúc đẩy bởi sự thay đổi công nghệ và
sự thay đổi công nghệ đó đến từ những khoản trợ cấp cho các hoạt động R&D của