1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam

150 736 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 4,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ trên con đƣờng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc. Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nƣớc, ngành CNXD đã không ngừng vận động và tăng nhanh cả về số lƣợng lẫn quy mô. Các dự án đã có sự tham gia rộng rãi của các tập đoàn, các công ty trong nƣớc và các tổ chức nƣớc ngoài đƣợc cấp phép hoạt động trong ngành CNXD tại Việt Nam. Hạ tầng giao thông nói chung và giao thông đƣờng bộ nói riêng đƣợc đánh giá là một trong những nhân tố hàng đầu để thúc đẩy sự phát triển của đất nƣớc. Vì vậy, hạ tầng giao thông đã, đang và sẽ đƣợc Chính phủ và Bộ GTVT đầu tƣ đáng kể bằng nhiều hình thức, nhiều nguồn vốn khác nhau. Cùng với sự đầu tƣ đáng kể đó, trong thời gian gần đây, nhiều báo cáo và các phƣơng tiện thông tin đại chúng đã nêu một loạt những vấn đề trong TCCTGTĐB nhƣ: Tổng mức đầu tƣ vƣợt quá lớn; Tiến độ thực hiện bị chậm trễ trong một thời gian dài; Chất lƣợng công trình không đảm bảo; Tai nạn lao động, tai nạn giao thông liên tiếp xảy ra; CTXD kém hiệu quả; Lãng phí vốn đầu tƣ; Nhiều sai phạm xảy ra … Điều này đã làm ảnh hƣởng đến uy tín của toàn ngành GTVT. Phải nói rằng chƣa bao giờ mà việc thực hiện các DAGTĐB bị nhiều chỉ trích nhƣ hiện nay. Một DAGTĐB ở nƣớc ta bị trễ hẹn từ 3 đến 5 năm hay vƣợt tổng mức đầu tƣ vài nghìn tỷ đồng đã không còn là chuyện xa lạ. Điển hình nhƣ dự án đƣờng Láng - Hòa Lạc khi đƣợc đƣa vào sử dụng, số vốn đã đội lên gấp đôi so với mức đầu tƣ ban đầu. Cụ thể, mức đầu tƣ ban đầu (tháng 7/2003) của dự án là khoảng 3.700 tỉ đồng, nhƣng đến khi hoàn thành (tháng 10/2010), tổng mức đầu tƣ đã đƣợc điều chỉnh tăng lên hơn 7.500 tỉ đồng. Tiếp đến là dự án Cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình có tổng chiều dài 56 km đƣợc Kiểm toán Nhà nƣớc phát hiện đã đội vốn hơn 5.000 tỉ đồng so với ban đầu. Tổng mức đầu tƣ dự án ban đầu chỉ có 3.734 tỷ đồng (năm 2004) đã đội lên thành 8.974 tỷ đồng (năm 2010). Chất lƣợng công trình rất kém. Cùng với tình trạng này là dự án đƣờng cao tốc Tp Hồ Chí Minh - Trung Lƣơng, Thanh tra Chính phủ có kết luận “Chất lƣợng chuẩn bị đầu tƣ thấp, thực hiện không đúng về qui định quản lý chi phí, làm tăng tổng mức đầu tƣ từ 6.500 tỷ đồng lên 9.800 tỷ đồng …”, một số cán bộ tham gia dự án đã bị kỷ luật, truy 2 cứu trách nhiệm hình sự do thi công không đúng theo thiết kế, nhiều NTTC đã phải bỏ chi phí rất lớn để sửa chữa những hƣ hỏng. Về mặt khách quan, có thể giải thích các tồn tại nhƣ trên tại các DAGTĐB bởi những nguyên nhân dễ dàng nhận thấy nhƣ: Thứ nhất, các DAGTĐB có thời gian xây dựng dài, khối lƣợng công việc lớn, nguồn vốn đầu tƣ lớn; Thứ hai, các DAGTĐB có qui mô xây dựng lớn, chiều dài xây dựng từ vài km đến hàng chục hàng trăm km, khu vực có liên quan đến XDCT thƣờng đi qua nhiều vùng miền, nhiều địa phƣơng khác nhau, do đó chịu tác động trực tiếp từ nhiều môi trƣờng khác nhau nhƣ chính trị, kinh tế, xã hội, con ngƣời, tự nhiên, luật pháp, công nghệ, vật liệu; Thứ ba, có nhiều loại công trình khác nhau trong các DAGTĐB, nhƣ nền, móng và mặt đƣờng, các công trình thoát nƣớc lớn nhỏ, đƣờng hầm, các công trình an toàn giao thông, các công trình phục vụ. Do đó, các DAGTĐB yêu cầu sự tham gia của rất nhiều đơn vị; Thứ tư, các DAGTĐB thực hiện ngoài trời, thời gian và quá trình xây dựng dài, điều kiện khí hậu, địa chất thuỷ văn và môi trƣờng kinh tế - xã hội của các khu vực khác nhau là khác nhau. Vì vậy có nhiều NTRR trong các DAGTĐB, nhƣ những RR trong quá trình ra quyết định phê duyệt, KSTK, xây dựng, kỹ thuật công nghệ, chất lƣợng, đầu tƣ, thiên tai, bất khả kháng … , mà hầu nhƣ các RR bao trùm toàn bộ quá trình thực hiện xây dựng; Thứ năm, quá trình xây dựng thƣờng là duy nhất, hiếm khi có sự lặp lại. Từ đó, có thể thấy đã có quá nhiều RR đã, đang và sẽ xảy ra trong các DAGTĐB ở nƣớc ta. Tuy nhiên, nếu nhận định rằng các DAGTĐB có quá nhiều RR là do có những đặc điểm khó khăn riêng, do quy mô đầu tƣ lớn hay do áp dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại thì không thực sự thuyết phục. Điều này phần nào đƣợc minh chứng khi nhìn vào CTXD cầu treo dân sinh Chu Va 6 đƣợc khởi công xây dựng vào tháng 8/2012 và đƣợc hoàn thành đƣa vào khai thác tháng 12/2012. Tổng mức đầu tƣ gần 1,247 tỉ đồng. Sáng ngày 24/2/2013, cầu đã bị lật nghiêng khi một đám tang đi qua khiến 8 ngƣời thiệt mạng và 38 ngƣời bị thƣơng. Theo kết luận điều tra, nguyên nhân cầu bị sập là do thi công không đúng theo thiết kế. Tiếp theo là CTXD cầu Hoàng Hoa Thám ở Tp Hồ Chí Minh khởi công tháng 9/1998. Cầu có chiều dài 103,5 m; rộng 14 m và đƣờng dẫn vào cầu dài 212 m. Công trình đã bị đình trệ thi công, chất lƣợng công trình kém đã gây nhiều thiệt hại nhƣ tăng kinh phí đầu tƣ dự án từ 19 tỷ lên 155 tỷ đồng. Công trình kéo dài suốt 12 năm và trải qua 3 CĐT mới đƣợc hoàn thành. Vậy tại sao các DAGTĐB ở Việt Nam có quá nhiều RR nhƣ vậy, đặc biệt là các NTRRKT xảy ra trong giai đoạn thi công dự án? Nguyên nhân/ nhân tố nào đã gây nên? Giải pháp nào/ làm thế nào để ứng phó với chúng? Xác định và đo lƣờng chúng nhƣ thế nào? Đó là lý do tác giả lựa chọn “Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu Luận án này sẽ hƣớng đến việc thực hiện các mục tiêu nghiên cứu nhƣ sau: - Nghiên cứu tổng quan về RR và QLRR trong lĩnh vực xây dựng trên thế giới và ở Việt Nam. - Nhận dạng những NTRR trong TCCTGTĐB ở Việt Nam. - Phân tích, đánh giá, xếp hạng và phân nhóm các NTRR trong TCCTGTĐB ở Việt Nam, đặc biệt là các NTRRKT. - Xây dựng hệ thống các giải pháp ứng phó đối với các NTRRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam. - Xây dựng mô hình đo lƣờng mức độ RRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam dựa trên cơ sở lý thuyết phƣơng pháp F-AHP. - Áp dụng mô hình đã đề xuất để đo lƣờng mức độ RRKT tại một số dự án điển hình đã và đang triển khai. - Xây dựng trình tự thực hiện và tính toán mức độ RRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam bằng phần mềm tự động hóa.

Trang 1

NGUYỄN VĂN CHÂU

NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ RỦI RO KỸ THUẬT TRONG THI CÔNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG

ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NGÀNH: KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG

MÃ SỐ: 62.58.02.05

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp của nghiên cứu 4

5 Kết cấu của luận án 5

CHƯƠNG 1 6

TỔNG QUAN VỀ RỦI RO, QUẢN LÝ RỦI RO VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG XÂY DỰNG 6

1.1 Khái niệm và phân loại rủi ro 6

1.1.1 Khái niệm rủi ro 6

1.1.2 Phân loại rủi ro (PLRR) 7

1.2 Khái niệm quản lý rủi ro (QLRR) 9

1.3 Tình hình nghiên cứu về rủi ro và QLRR trên thế giới 10

1.3.1 Tình hình chung 10

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về RR và QLRR trong ngành xây dựng 12

1.4 Tình hình nghiên cứu về RR và QLRR ở Việt Nam 17

1.5 Hướng nghiên cứu của luận án 19

1.5.1 Cơ sở hình thành hướng nghiên cứu 19

1.5.2 Khung nghiên cứu của luận án 20

1.6 Kết luận chương 20

CHƯƠNG 2 22

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG XÂY DỰNG 22

2.1 Nội dung QLRR dự án 22

2.1.1 Quy trình QLRR dự án 22

2.1.2 Nhận dạng rủi ro (NDRR) 23

2.1.3 Phân tích rủi ro 26

2.1.4 Ứng phó rủi ro 29

2.1.5 Phân bổ rủi ro (PBRR) 30

Trang 3

2.2 Một số phương pháp QLRR áp dụng trong nghiên cứu 37

2.2.1 Phương pháp Delphi 37

2.2.1.1 Lý do lựa chọn phương pháp Delphi 37

2.2.1.2 Giới thiệu chung về Delphi 38

2.2.1.3 Đặc điểm quy trình của phương pháp Delphi 40

2.2.2 Phương pháp F-AHP 42

2.2.2.1 Lý do lựa chọn phương pháp F-AHP 42

2.2.2.2 Tổng quan về phương pháp F-AHP 42

2.2.2.3 Phương pháp AHP 43

2.2.2.4 Lý thuyết tập mờ 45

2.3 Kết luận chương 46

CHƯƠNG 3 47

NHẬN DẠNG, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ RỦI RO TRONG THI CÔNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM 47

3.1 Nhận dạng các nhân tố rủi ro 47

3.1.1 Các NTRR tiềm năng từ những nghiên cứu trước 47

3.1.2 Thảo luận nhóm chuyên gia 47

3.1.3 Xây dựng BCH thử nghiệm 48

3.1.4 Kết quả khảo sát thử nghiệm 50

3.1.4.1 Thông tin người trả lời 50

3.1.4.2 Đánh giá BCH thử nghiệm 50

3.1.5 Xây dựng BCH chính thức 51

3.2 Thu thập dữ liệu 52

3.2.1 Xác định kích thước mẫu 52

3.2.2 Lựa chọn kỹ thuật lấy mẫu 52

3.2.3 Cách thức thu thập dữ liệu 53

53

3.3.1 Chọn lọc dữ liệu 53

3.3.2 Đặc điểm người trả lời 54

Trang 4

3.3.3 Đánh giá độ tin cậy của BCH khảo sát 54

3.3.4 Xếp hạng các nhân tố rủi ro 55

3.4 Phân loại các nhóm rủi ro 57

3.5 Phân nhóm - Phân tích đánh giá các NTRRKT 59

3.5.1 Phân nhóm 59

3.5.2 Phân tích đánh giá các NTRRKT 61

3.5.3 Đánh giá quan điểm của các bên liên quan đối với các NTRRKT 62

3.6 Kết luận chương 63

CHƯƠNG 4 65

XÂY DỰNG GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ ĐỐI VỚI CÁC NTRRKT TRONG THI CÔNG XDCTGTĐB Ở VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP DELPHI 65

4.1 Quá trình thực hiện phương pháp Delphi 65

4.1.1 Quá trình lựa chọn chuyên gia 65

4.1.2 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu 67

4.2 Giải pháp ứng phó đối với từng NTRRKT 71

4.2.1 Công tác thẩm định, phê duyệt thiết kế và dự toán còn nhiều sai sót (TR1) 71

4.2.2 Tiến độ dự án đưa ra không phù hợp với thực tiễn (TR2) 72

4.2.3 Áp lực đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành dự án trước thời hạn (TR3) 72

4.2.4 Bổ sung hoặc thay đổi thiết kế từ yêu cầu của CĐT hoặc cơ quan QLNN (TR4) 73

4.2.5 Năng lực TVGS không đảm bảo, yếu chuyên môn và thiếu kinh nghiệm (TR5) 73

4.2.6 Hồ sơ khảo sát địa hình, địa chất, thủy văn không đầy đủ, có nhiều sai sót (TR6) 74

4.2.7 Hồ sơ thiết kế có nhiều sai sót, phải chỉnh sửa (TR7) 74

4.2.8 Lựa chọn giải pháp kỹ thuật và công nghệ thi công không phù hợp (TR8) 75

4.2.9 Năng lực chuyên môn của NTTC yếu kém (TR9) 76

4.2.10 Sai sót trong công tác giám sát chất lượng của NTTC (TR10) 76

4.2.11 Trình độ cán bộ kỹ thuật của NTTC không đảm bảo, bố trí không phù hợp và không đủ số lượng (TR11) 77

4.2.12 Biện pháp TCTC không đảm bảo (TR12) 77

4.2.13 Thi công không tuân thủ theo tiêu chuẩn, qui trình kỹ thuật (TR13) 77

Trang 5

4.2.14 Sai sót trong công tác thí nghiệm (TR14) 78

4.2.15 Máy móc thiết bị thi công không đảm bảo, thường xuyên hư hỏng (TR15) 79

4.2.16 Thi công không đảm bảo theo hồ sơ thiết kế (TR16) 79

4.2.17 Hư hỏng nền móng, kết cấu công trình (TR17) 80

4.2.18 Khối lượng phát sinh không có trong hồ sơ thiết kế (TR18) 81

4.2.19 Các qui trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật trong khảo sát, thiết kế và thi công còn nhiều tồn tại (TR19) 81

4.2.20 Công nghệ thi công đặc biệt, đòi hỏi thiết bị chuyên dùng (TR20) 82

4.3 Kết luận chương 82

CHƯƠNG 5 84

ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ RRKT TRONG TCCTGTĐB Ở VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP F-AHP 84

5.1 Quy trình thực hiện phương pháp F-AHP 84

5.1.1 Xây dựng cấu trúc thứ bậc 85

5.1.2 Xây dựng các ma trận so sánh cặp mờ 85

5.1.3 Kiểm tra tính nhất quán của các chuyên gia 87

5.1.4 Tổng hợp ý kiến chuyên gia 88

5.1.5 Thực hiện khử mờ 89

5.1.6 Tính toán trọng số 90

5.2 Áp dụng phương pháp F-AHP xác định trọng số của các NTRRKT 91

5.2.1 Xây dựng BCH so sánh cặp 91

5.2.2 Xây dựng các ma trận đánh giá mờ 91

5.2.3 Tổng hợp ý kiến các chuyên gia 92

5.2.4 Thực hiện khử mờ 93

5.2.5 Kiểm tra hệ số nhất quán tổng hợp và tính toán trọng số 94

5.2.6 Phân tích độ nhạy 98

5.2.7 Đề xuất thang đo mức độ rủi ro kỹ thuật 99

5.2.8 Đo lường mức độ RRKT của dự án 100

Trang 6

5.3 Áp dụng mô hình đề xuất vào một số dự án thực tế điển hình 100

5.3.1 Giới thiệu sơ lược về dự án 100

5.3.2 Đánh giá các NTRRKT cho từng dự án 100

5.3.3 Tính toán mức độ RRKT 101

5.3.4 Phân tích đánh giá MĐRR của các nhân tố tại 3 dự án đại diện 101

5.4 Phần mềm tính toán mức độ RRKT 122

5.4.1 Sơ đồ khối 122

5.4.2 Giới thiệu phần mềm 122

5.4.3 Các giao diện tính toán và các công thức cơ bản sử dụng 123

5.4.4 Hướng dẫn sử dụng phần mềm 125

5.5 Kết luận chương 125

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 126

1 Kết luận 126

2 Kiến nghị 127

3 Hướng phát triển của Luận án 127 DANH MỤC CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC a

TÀI LIỆU THAM KHẢO c

Trang 7

MỤC LỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 4.2 Quá trình thực hiện phương pháp Delphi 68 Hình 4.3 Thang đo Likert 5 được sử dụng cho BCH Delphi 69 Hình 5.1 Quy trình thực hiện phương pháp F-AHP 84 Hình 5.2 Cấu trúc thứ bậc được xây dựng cho nghiên cứu 85

Hình 5.4 Chi tiết cấu trúc thứ bậc áp dụng cho nghiên cứu 92 Hình 5.5 Biểu đồ thể hiện trọng số của các nhân tố cấp 1 95 Hình 5.6 Biểu đồ thể hiện trọng số của các nhân tố cấp 2 96 Hình 5.7 Trọng số nhân tố ứng với thái độ người ra quyết định bi quan

Trang 8

Ký hiệu Tên hình Trang

Hình 5.13 Cụm menu phần mềm và tùy chọn giao diện 123 Hình 5.14 Kiểm tra tính nhất quán của các chuyên gia 123 Hình 5.15 Mờ hóa các đánh giá của các chuyên gia cho các ma trận 123

Trang 9

MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thang đo đánh giá mức độ so sánh cặp 44

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AHP Analytic Hierachy Process Qui trình phân tích cấu trúc thứ bậc ANOVA Analysis of variance Phân tích sự khác biệt

APM Association for Project

BOT Built - Operation – Transper Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển

giao

CI Consistency Index Chỉ số nhất quán

CIENCO 5 Civil Engineering Corporation

No5

Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 5

CR Consistency Ratio Hệ số nhất quán

F-AHP Fuzzy Analytic Hierachy

Process

Qui trình phân tích cấu trúc thứ bậc

mờ ISO International Standards

Organization Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ITIG International Tunnelling

Insurance Group Tập đoàn bảo hiểm hầm Quốc tế PMI Project Management Institute Viện quản lý dự án

PPP Public Private Partnerships Quan hệ đối tác công tƣ

RIS Risk-Index Score Điểm chỉ số rủi ro

RBS Risk Breakdown Structure Cấu trúc chia nhỏ rủi ro

RQM Risk Quanlity Model Mô hình định lƣợng rủi ro

RMP Risk Management Process Qui trình quản lý rủi ro

SWOT Strenghts - Weaknesses -

Opportunities - Threats

Điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - nguy cơ

WBS Work Breakdown Structure Cấu trúc chia nhỏ công việc

WSDOT Washington State Department of

Transportation

Bộ Giao thông vận tải bang Washington

TRL Technical Risk Level Mức độ rủi ro kỹ thuật

BPTCTC Biện pháp tổ chức thi công PTĐT Phân tích định tính

BQLDA Ban quản lý dự án PTRR Phân tích rủi ro

Trang 11

Viết tắt Viết đầy đủ Viết tắt Viết đầy đủ

BTCT Bê tông cốt thép QLDA Quản lý dự án

BVTC Bản vẽ thi công QLNN Quản lý nhà nước

CPXD Cổ phần xây dựng RRKT Rủi ro kỹ thuật

CNXD Công nghiệp xây dựng SXKD Sản xuất kinh doanh CTCP Công ty cổ phần TCTC Tổ chức thi công

CTXD Công trình xây dựng TK BVTC Thiết kế bản vẽ thi công

DAXD Dự án xây dựng TNHH Trách nhiệm hữu hạn DNXD Doanh nghiệp xây dựng TV KSTK Tư vấn khảo sát thiết kế ĐCCT Địa chất công trình TVGS Tư vấn giám sát

ĐGRR Đánh giá rủi ro TVTK Tư vấn thiết kế

HTGT Hạ tầng giao thông XDCB Xây dựng cơ bản

GTVT Giao thông vận tải XDCT Xây dựng công trình KSRR Kiểm soát rủi ro TCCTGTĐB Thi công công trình giao

thông đường bộ LTRR Lý thuyết rủi ro XLRR Xử lý rủi ro

MĐRR Mức độ rủi ro DAGTĐB Dự án giao thông đường

bộ NCS Nghiên cứu sinh

NDRR Nhận dạng rủi ro

NTRR Nhân tố rủi ro

NTRRKT Nhân tố rủi ro kỹ thuật

NTTC Nhà thầu thi công

PBRR Phân bổ rủi ro

PGĐ Phó giám đốc

PLRR Phân loại rủi ro

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, ngành CNXD đã không ngừng vận động và tăng nhanh cả về số lượng lẫn quy mô Các dự án đã có sự tham gia rộng rãi của các tập đoàn, các công ty trong nước và các tổ chức nước ngoài được cấp phép hoạt động trong ngành CNXD tại Việt Nam

Hạ tầng giao thông nói chung và giao thông đường bộ nói riêng được đánh giá là một trong những nhân tố hàng đầu để thúc đẩy sự phát triển của đất nước Vì vậy, hạ tầng giao thông đã, đang và sẽ được Chính phủ và Bộ GTVT đầu tư đáng kể bằng nhiều hình thức, nhiều nguồn vốn khác nhau

Cùng với sự đầu tư đáng kể đó, trong thời gian gần đây, nhiều báo cáo và các phương tiện thông tin đại chúng đã nêu một loạt những vấn đề trong TCCTGTĐB như: Tổng mức đầu tư vượt quá lớn; Tiến độ thực hiện bị chậm trễ trong một thời gian dài; Chất lượng công trình không đảm bảo; Tai nạn lao động, tai nạn giao thông liên tiếp xảy ra; CTXD kém hiệu quả; Lãng phí vốn đầu tư; Nhiều sai phạm xảy ra … Điều này

đã làm ảnh hưởng đến uy tín của toàn ngành GTVT Phải nói rằng chưa bao giờ mà việc thực hiện các DAGTĐB bị nhiều chỉ trích như hiện nay Một DAGTĐB ở nước ta

bị trễ hẹn từ 3 đến 5 năm hay vượt tổng mức đầu tư vài nghìn tỷ đồng đã không còn là chuyện xa lạ Điển hình như dự án đường Láng - Hòa Lạc khi được đưa vào sử dụng,

số vốn đã đội lên gấp đôi so với mức đầu tư ban đầu Cụ thể, mức đầu tư ban đầu (tháng 7/2003) của dự án là khoảng 3.700 tỉ đồng, nhưng đến khi hoàn thành (tháng 10/2010), tổng mức đầu tư đã được điều chỉnh tăng lên hơn 7.500 tỉ đồng Tiếp đến là

dự án Cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình có tổng chiều dài 56 km được Kiểm toán Nhà nước phát hiện đã đội vốn hơn 5.000 tỉ đồng so với ban đầu Tổng mức đầu tư dự án ban đầu chỉ có 3.734 tỷ đồng (năm 2004) đã đội lên thành 8.974 tỷ đồng (năm 2010) Chất lượng công trình rất kém Cùng với tình trạng này là dự án đường cao tốc Tp Hồ Chí Minh - Trung Lương, Thanh tra Chính phủ có kết luận “Chất lượng chuẩn bị đầu tư thấp, thực hiện không đúng về qui định quản lý chi phí, làm tăng tổng mức đầu tư từ 6.500 tỷ đồng lên 9.800 tỷ đồng …”, một số cán bộ tham gia dự án đã bị kỷ luật, truy

Trang 13

cứu trách nhiệm hình sự do thi công không đúng theo thiết kế, nhiều NTTC đã phải bỏ chi phí rất lớn để sửa chữa những hư hỏng

Về mặt khách quan, có thể giải thích các tồn tại như trên tại các DAGTĐB bởi

những nguyên nhân dễ dàng nhận thấy như: Thứ nhất, các DAGTĐB có thời gian xây dựng dài, khối lượng công việc lớn, nguồn vốn đầu tư lớn; Thứ hai, các DAGTĐB có

qui mô xây dựng lớn, chiều dài xây dựng từ vài km đến hàng chục hàng trăm km, khu vực có liên quan đến XDCT thường đi qua nhiều vùng miền, nhiều địa phương khác nhau, do đó chịu tác động trực tiếp từ nhiều môi trường khác nhau như chính trị, kinh

tế, xã hội, con người, tự nhiên, luật pháp, công nghệ, vật liệu; Thứ ba, có nhiều loại

công trình khác nhau trong các DAGTĐB, như nền, móng và mặt đường, các công trình thoát nước lớn nhỏ, đường hầm, các công trình an toàn giao thông, các công trình

phục vụ Do đó, các DAGTĐB yêu cầu sự tham gia của rất nhiều đơn vị; Thứ tư, các

DAGTĐB thực hiện ngoài trời, thời gian và quá trình xây dựng dài, điều kiện khí hậu, địa chất thuỷ văn và môi trường kinh tế - xã hội của các khu vực khác nhau là khác nhau Vì vậy có nhiều NTRR trong các DAGTĐB, như những RR trong quá trình ra quyết định phê duyệt, KSTK, xây dựng, kỹ thuật công nghệ, chất lượng, đầu tư, thiên tai, bất khả kháng … , mà hầu như các RR bao trùm toàn bộ quá trình thực hiện xây

dựng; Thứ năm, quá trình xây dựng thường là duy nhất, hiếm khi có sự lặp lại

Từ đó, có thể thấy đã có quá nhiều RR đã, đang và sẽ xảy ra trong các DAGTĐB ở nước ta Tuy nhiên, nếu nhận định rằng các DAGTĐB có quá nhiều RR là do có những đặc điểm khó khăn riêng, do quy mô đầu tư lớn hay do áp dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại thì không thực sự thuyết phục Điều này phần nào được minh chứng khi nhìn vào CTXD cầu treo dân sinh Chu Va 6 được khởi công xây dựng vào tháng 8/2012 và được hoàn thành đưa vào khai thác tháng 12/2012 Tổng mức đầu tư gần 1,247 tỉ đồng Sáng ngày 24/2/2013, cầu đã bị lật nghiêng khi một đám tang đi qua khiến 8 người thiệt mạng và 38 người bị thương Theo kết luận điều tra, nguyên nhân cầu bị sập là do thi công không đúng theo thiết kế Tiếp theo là CTXD cầu Hoàng Hoa Thám ở Tp Hồ Chí Minh khởi công tháng 9/1998 Cầu có chiều dài 103,5 m; rộng 14 m và đường dẫn vào cầu dài 212 m Công trình đã bị đình trệ thi công, chất lượng công trình kém đã gây nhiều thiệt hại như tăng kinh phí đầu tư dự án từ 19 tỷ lên 155 tỷ đồng Công trình

Trang 14

kéo dài suốt 12 năm và trải qua 3 CĐT mới được hoàn thành

Vậy tại sao các DAGTĐB ở Việt Nam có quá nhiều RR như vậy, đặc biệt là các NTRRKT xảy ra trong giai đoạn thi công dự án? Nguyên nhân/ nhân tố nào đã gây nên? Giải pháp nào/ làm thế nào để ứng phó với chúng? Xác định và đo lường chúng

như thế nào? Đó là lý do tác giả lựa chọn “Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án này sẽ hướng đến việc thực hiện các mục tiêu nghiên cứu như sau:

- Nghiên cứu tổng quan về RR và QLRR trong lĩnh vực xây dựng trên thế giới và

ở Việt Nam

- Nhận dạng những NTRR trong TCCTGTĐB ở Việt Nam

- Phân tích, đánh giá, xếp hạng và phân nhóm các NTRR trong TCCTGTĐB ở Việt Nam, đặc biệt là các NTRRKT

- Xây dựng hệ thống các giải pháp ứng phó đối với các NTRRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam

- Xây dựng mô hình đo lường mức độ RRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam dựa trên cơ sở lý thuyết phương pháp F-AHP

- Áp dụng mô hình đã đề xuất để đo lường mức độ RRKT tại một số dự án điển hình đã và đang triển khai

- Xây dựng trình tự thực hiện và tính toán mức độ RRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam bằng phần mềm tự động hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tập trung vào vấn đề quản lý RRKT trong giai đoạn thi công các DAGTĐB ở Việt Nam trên góc nhìn của các bên liên quan chính đến

dự án Các bên liên quan chính đến dự án ở giai đoạn này là CĐT, Ban QLDA, Tư vấn KSTK, TVGS & NTTC

Dữ liệu thu thập của luận án trong giai đoạn khảo sát thông qua nhiều nguồn thông tin khác nhau, như: họp nhóm, phỏng vấn trực tiếp, phát BCH, gửi mail, online, điện thoại Đối tượng thu thập dữ liệu là những người có kinh nghiệm từ 5 năm trở lên làm

Trang 15

việc trong các bên liên quan, các nhà nghiên cứu, giảng dạy, và có trình độ chuyên môn liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu từ đại học trở lên

Dữ liệu thu thập của Luận án trong giai đoạn đánh giá thông qua nguồn thông tin phỏng vấn trực tiếp và gửi mail Đối tƣợng thu thập dữ liệu là các chuyên gia có kinh nghiệm trên 10 năm làm việc trong các bên liên quan, các nhà nghiên cứu, giảng dạy,

và có trình độ chuyên môn liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu từ đại học trở lên

Với mục tiêu nghiên cứu của Luận án, phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ xem xét nghiên cứu những mặt tiêu cực của RR, mặt tích cực của RR sẽ đƣợc xem là cơ hội hoặc thắng lợi của các bên liên quan

4 Đóng góp của nghiên cứu

Về mặt thực tiễn

- Giúp cho các nhà quản lý, các kỹ sƣ của các bên liên quan nhận dạng, phân tích

và đánh giá nhanh đƣợc các NTRR, đặc biệt là các NTRRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam Từ đó giúp họ áp dụng hệ thống các giải pháp ứng phó đối với các NTRRKT đã đƣợc xây dựng vào dự án thực tế mà họ đang thực hiện nhằm loại trừ, giảm thiểu, chia sẻ, chuyển giao hoặc chấp nhận RR, để nâng cao hiệu quả xây dựng dự án

- Mang đến cho các nhà quản lý, các kỹ sƣ của các bên liên quan một góc nhìn mới, một quan niệm mới về QLRR kỹ thuật trong TCCTGTĐB thông qua mức

độ RRKT (TRL) Chỉ số TRL là một chỉ số hữu ích, dựa vào chỉ số TRL họ có thể đánh giá mức độ RRKT trong thi công các dự án của mình Các công ty có thể dự đoán tốt hơn những khó khăn tiềm tàng, những RR và sự không chắc chắn trong các dự án mà họ đang thực hiện, và có kế hoạch tốt hơn cho việc thực hiện Kết quả là: nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn thiết bị… sẽ đƣợc phân bổ một cách khôn ngoan giữa các dự án trong danh mục thực hiện của họ

Về mặt khoa học

- Luận án đã nghiên cứu tổng quan cơ sở lý thuyết về RR và QLRR trong xây dựng trên thế giới, góp phần làm giàu kiến thức về RR và QLRR trong TCCTGTĐB ở Việt Nam Đây là một lĩnh vực phải nói rằng khá mới và chƣa

Trang 16

được quan tâm đúng mức trong các DAGTĐB ở Việt Nam

- Luận án đã tiếp cận và xây dựng phương pháp nghiên cứu, từ đó đã xác định được danh sách các NTRR đang thực tế tồn tại trong TCCTGTĐB ở Việt Nam

- Luận án đã đi sâu phân tích, phân loại, xếp hạng, đánh giá các NTRR, phân nhóm và đặt tên nhóm các NTRR, đặc biệt là phân nhóm các NTRRKT

- Luận án đã xây dựng được hệ thống các giải pháp ứng phó theo thứ tự ưu tiên đối với các NTRRKT cho các bên liên quan đến dự án

- Luận án đã xây dựng được mô hình đo lường mức độ RRKT thông qua chỉ số TRL, kết hợp với thang đo 11 điểm được đề xuất Công việc tính toán chỉ số TRL được thực hiện bằng phần mềm tự động hóa

- Ở Việt Nam, khái niệm “MĐRR” trong TCCT còn khá mới mẻ và chưa tìm thấy

công trình nào đã nghiên cứu trước đây, đặc biệt là mức độ RRKT trong TCCTGTĐB NCS hy vọng và mong muốn các tác giả sau này tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu những khía cạnh khác nhau về khái niệm MĐRR của dự

án, nhằm mục đích hỗ trợ cho các bên liên quan đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình thực hiện dự án của họ

5 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm có 5 Chương, cụ thể như sau:

- Chương 1: Tổng quan về RR, QLRR và các công trình nghiên cứu về QLRR

trong xây dựng

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết về QLRR trong xây dựng

- Chương 3: Nhận dạng, phân tích và đánh giá các NTRR trong TCCTGTĐB ở

Việt Nam

- Chương 4: Xây dựng giải pháp ứng phó đối với các NTRRKT trong

TCCTGTĐB ở Việt Nam bằng phương pháp Delphi

- Chương 5: Đo lường mức độ RRKT trong TCCTGTĐB ở Việt Nam bằng

phương pháp F-AHP

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO, QUẢN LÝ RỦI RO VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG XÂY DỰNG

1.1 Khái niệm và phân loại rủi ro

1.1.1 Khái niệm rủi ro

Trước khi tiến hành thực hiện QLRR, việc hiểu rõ chính xác khái niệm của RR là điều cực kỳ quan trọng [54] Trong các nghiên cứu trước, khái niệm “RR” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ví dụ như là hiểm họa hay bất trắc và chưa có một khái niệm nhất quán nào được đưa ra Hầu hết các khái niệm về RR chỉ tập trung vào mặt trái của RR như tổn thất hoặc thiệt hại mà bỏ qua mặt tích cực của nó như là lợi nhuận

và cơ hội [38] Ý nghĩa của RR cũng tùy thuộc vào từng người mà cụ thể là tùy thuộc vào quan điểm, thái độ và kinh nghiệm [44] Trên thế giới, có rất nhiều nhà nghiên cứu

đã đưa ra khái niệm về RR Có thể chia ra hai trường phái chính như sau:

- Trường phái thứ nhất: xem xét RR là sự xuất hiện một biến cố bất lợi xảy ra

trong tương lai có thể đo lường được Điển hình cho trường phái này là Frank Knight [76], cho rằng “RR là sự bất trắc có thể đo lường được” Tương tự, theo Pfeffer [98] thì “RR là tổng hợp những sự kiện ngẫu nhiên mà chúng có thể đo lường được bằng lý thuyết xác suất” Hay như theo McCarty [86], “RR là một tình trạng mà các biến cố xảy ra trong tương lai có thể đo lường được”

- Trường phái thứ hai: xem xét RR với sự chú trọng đến kết quả đạt được mà

không cần quan tâm đến xác suất xảy ra Trong trường phái này phải kể đến Willet [131], tác giả cho rằng RR là một sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không như mong đợi Theo William [132], RR là sự biến động một cách tiềm ẩn ở kết quả đầu ra

Một quan điểm khác, Mehdizadeh [88] cho rằng có rất nhiều NTRR tác động đến

dự án nhưng vấn đề là ở chỗ tất cả các nhân tố này đều được gọi một cách mơ hồ là

“RR” mà không hiểu rõ bản chất của nó Ví dụ như nhân tố trễ tiến độ và vượt chi phí

có thể xem là các “hậu quả” của quá trình thực hiện trong khi các nhân tố khác như biến động thị trường, thiên tai… thì có thể xem như là “nguồn gốc” Từ đó tác giả đi

Trang 18

tổng hợp các nghiên cứu trước theo hai quan điểm khác nhau về định nghĩa của “RR” được thể hiện ở Phụ lục 1

Ở Việt Nam, đặc biệt trong ngành CNXD, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực QLRR và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Từ Quang Phương [26] định nghĩa RR là tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên (bất trắc) có thể đo lường bằng xác suất,

là những bất trắc gây nên các mất mát thiệt hại RR trong QLDA là một đại lượng có thể đo lường được

Một cách tương tự, Bùi Ngọc Toàn [30] định nghĩa RR dự án là tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên, những tình huống không thuận lợi liên quan đến bất định, có thể đo lường bằng xác suất không đạt mục tiêu đã định của dự án và gây nên các mất mát, thiệt hại Một nghiên cứu khác,Nguyễn Văn Chọn [2] đưa ra khái niệm RR của DAĐT

là một loạt các biến cố ngẫu nhiên tác động tiêu cực lên toàn bộ các giai đoạn, làm thay đổi kết quả đầu tư theo chiều hướng bất lợi và có thể đo lường bằng các khái niệm xác suất RR RR còn có thể được hiểu là khả năng có sai lệch giữa một bên là những gì xảy

ra trên thực tế với một bên là những gì được dự kiến từ trước, mà sự sai lệch này lớn đến mức khó chấp nhận

Ở đây cũng cần phân biệt rõ RR và bất trắc Bất trắc phản ánh tình huống trong đó không thể biết được xác suất xuất hiện của sự kiện Khái niệm bất trắc chứa đựng yếu

tố chưa biết nhiều hơn khái niệm RR RR và bất trắc có thể xem như hai đầu của đường thẳng RR nằm ở phía đầu có khả năng đo lường được nhiều hơn và nhiều số liệu thống

kê hơn để đánh giá Bất trắc nằm ở đầu còn lại sẽ không có số liệu Tuy nhiên việc phân định giữa RR và bất trắc chỉ mang tính chất tương đối Tuỳ thuộc vào thông tin có thể có được và khả năng đánh giá của mỗi cá nhân hay tổ chức mà nó có thể là RR hoặc là bất trắc Chẳng hạn đối với NTTC, khả năng CTXD của họ gặp động đất hoặc

lũ lụt có thể được coi là bất trắc, nó khó lường và không xác định được xác suất xảy ra, trong khi hiện tượng này có thể lại được xem là RR đối với công ty bảo hiểm, họ có cơ

sở dữ liệu để có thể tính toán được xác suất và mức độ thiệt hại xảy ra [34]

1.1.2 Phân loại rủi ro (PLRR)

Để nhận biết và QLRR một cách hiệu quả và trực quan, người ta thường PLRR

Trang 19

theo những khía cạnh khác nhau tùy vào mục đích sử dụng trong các hoạt động hướng đến Có nhiều tác giả nghiên cứu về RR đã đưa ra cách phân loại của riêng mình Ví dụ như Walker [125] đã PLRR bao gồm môi trường xã hội và sai sót do con người gây ra; Christensen [58] cho rằng RR có thể phân loại thành RR có thể tính toán được và RR không thể tính toán được; Caltrans [50] phân RR thành các RR phát sinh từ môi trường bên ngoài (khách quan) và môi trường bên trong (chủ quan); Al-Bahar Crandall [38]

đã phân chia RR trong xây dựng thành sáu thành phần chính sau: RR do thiên tai, RR vật lý, RR tài chính và kinh tế, RR môi trường và chính trị, RR liên quan đến thiết kế

và RR thi công

Ở Việt Nam, Ngô Thị Ngọc Huyền và cộng sự [19] cho rằng RR có thể được phân loại thành RR tĩnh và RR động Đoàn Thị Hồng Vân [34] lại phân RR theo môi trường tác động, bao gồm môi trường thiên nhiên, luật pháp, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, công nghệ Ngoài ra, còn phải kể đến cách phân loại của Nguyễn Văn Chọn [2], Lê Kiều [22], Nguyễn Liên Hương [20] Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng về cách PLRR thì nghiên cứu của Trịnh Thùy Anh [1] là khá rõ ràng và toàn diện Do vậy Luận án này PLRR dựa trên cơ sở đó

Phân loại rủi ro theo môi trường tác động

- RR do môi trường bên trong: là những RR do phát sinh từ môi trường nội tại bên trong gây ra

- RR do môi trường bên ngoài: là những RR do yếu tố bên ngoài như thiên nhiên,

xã hội, chính trị, luật pháp, kinh tế mang lại

Phân loại theo đối tượng rủi ro

Phân loại theo đối tượng RR tác động có thể bao gồm ba loại: RR ảnh hưởng đến chi phí; RR ảnh hưởng đến thời gian; và RR ảnh hưởng đến chất lượng

Phân loại theo các ngành, lĩnh vực hoạt động

Phân theo tiêu thức này thì RR bao gồm: RR trong công nghiệp, nông nghiệp, kinh doanh thương mại, RR trong hoạt động ngoại thương, kinh doanh ngân hàng, du lịch,

RR đầu tư, RR trong ngành xây dựng, RR trong ngành GTVT …

Trang 20

Phân loại theo bản chất rủi ro

- RR thuần tuý: là loại RR nếu nó xảy ra thì dẫn đến kết quả tổn thất về kinh tế như hoả hoạn, tai nạn lao động

- RR suy tính: hay còn gọi là RR đầu cơ, là loại RR mà khi nó xảy ra có thể dẫn đến kết quả là lời hoặc lỗ, được thua hoặc không đổi, do ảnh hưởng của những nguyên nhân rất khó dự đoán trong khi phạm vi ảnh hưởng rất rộng lớn

Phân loại theo khả năng lượng hoá

- RR có thể tính toán được: là loại RR mà tần số xuất hiện của nó có thể tiên đoán được ở một mức độ tin cậy nhất định

- RR không thể tính toán được: là RR mà tần số xuất hiện của nó quá bất thường

và rất khó dự đoán được

Phân loại theo khả năng bảo hiểm

- RR không thể bảo hiểm

- RR có thể bảo hiểm

Rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống

Theo tiêu chí này tổng RR nhà đầu tư có thể chia thành 2 loại:

- RR không hệ thống: là RR đồng nhất cho mỗi nhà đầu tư riêng biệt, như sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh, hoặc quản lý không có hiệu quả

- RR hệ thống: là RR xuất hiện do các yếu tố tác động lên toàn bộ thị trường như chiến tranh, khủng hoảng năng lượng, chiến lược cạnh tranh quốc gia

1.2 Khái niệm quản lý rủi ro (QLRR)

Theo Lam [78], QLRR là một công cụ quan trọng để đối phó với những RR quan trọng trong ngành CNXD vì: (1) đánh giá và xác định tính khả thi của dự án; (2) phân tích và kiểm soát các RR để giảm thiểu tổn thất; (3) giảm nhẹ các RR bằng cách lập kế

nhuận Theo Flanagan và Norman [66] ải thiện đáng kể hiệu quả QLDA có thể đạt được từ việc áp dụng quy trình QLRR

Trang 21

Một vài nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa về QLRR, như Uher và Toakley

[120] định nghĩa QLRR là một quy trình kiểm soát mức độ RR và giảm thiểu ảnh hưởng củ ; Merna và Njiru [90] định nghĩa QLRR là mộ ộng bất kỳ được thực hiệ ặc công ty với nỗ lực để làm thay đổi các RR xuất hiện từ việc kinh doanh của họ; Wang và cộng sự [128] định nghĩa QLRR là mộ

ật tự ệc nhận dạ ứng phó RR một cách có hệ thống trong suốt vòng đời của một dự án

Phát biểu một cách chi tiết hơn, QLRR là việc NDRR, đo lường MĐRR, trên cơ sở

đó lựa chọn, triển khai và quản lý các hoạt động nhằm hạn chế và khắc phục RR trong suốt vòng đời dự án QLRR là chủ động kiểm soát các sự kiện tương lai dựa trên cơ sở kết quả dự báo trước các sự kiện xảy ra chứ không phải phản ứng thụ động Như vậy, một chương trình QLRR hiệu quả không những làm giảm bớt xác suất xuất hiện RR,

mà còn làm giảm mức độ ảnh hưởng của chúng đến mục tiêu dự án [30]

QLRR luôn là một quá trình khó khăn, đòi hỏi phải có một khuôn khổ quản lý phù hợp cả về lý luận lẫn thực tiễn QLRR đòi hỏi một quá trình bài bản, có trật tự, có hệ thống xác định, phân tích, và ứng phó RR trong suốt vòng đời của một dự án, để từ đó tối ưu hóa việc loại bỏ, giảm thiểu và KSRR Công tác QLDA có thể đạt được những cải tiến đáng kể nhờ vào việc áp dụng quá trình QLRR [66]

Theo Hiệp hội QLDA (APM) [41], QLRR là một quá trình có tổ chức cho phép các

RR riêng lẻ và RR chung của dự án được hiểu và quản lý một cách chủ động, tối ưu hóa thành công của dự án bằng cách giảm thiểu thiệt hại và tối đa các cơ hội

1.3 Tình hình nghiên cứu về rủi ro và QLRR trên thế giới

1.3.1 Tình hình chung

Ngày nay, QLRR đã trở thành một trong những nội dung rất quan trọng và phổ biến trong các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và trong ngành XDCT nói riêng Bởi thế giới thực tại đang phát triển quá nhanh chóng và chứa đựng quá nhiều NTRR có thể ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của tổ chức hoặc cá nhân Các phương pháp QLRR chính thống mặc dù mới được hoàn chỉnh trong vài mươi năm trở lại đây nhưng bản thân nó gắn liền với một lịch sử hình thành và phát triển rất lâu dài

Trang 22

Pascal giới thiệu lý thuyết xác suất vào năm 1657, một trong những ứng dụng đầu tiên của Ông là mở rộng ma trận của Arnobius bằng cách áp dụng phân phối xác suất Sau đó, có nhiều nhà khoa học vẫn tiếp tục kế thừa và phát triển ý tưởng đó của Pascal Vào năm 1692, John Arbuthnot cho rằng xác suất của những nguyên nhân tiềm tàng khác nhau của một sự kiện có thể tính toán được Năm 1693, Halley đề xuất một bảng tuổi thọ trung bình thống kê mới dựa vào phân phối xác suất Năm 1728, Hutchinson

đã nghiên cứu sự thỏa hiệp giữa xác suất và các tiện ích trong các tình huống lựa chọn

RR Vào đầu thế kỷ 18, Cramer và Bernoulli đã đề xuất những giải pháp cho nghịch lý

St Petersburg Sau đó, vào năm 1792, LaPlace đã phát triển một bản nguyên thủy cho

mô hình ĐGRR định tính hiện đại, một phân tích xác suất tử vong trong trường hợp tiêm hay không tiêm vắc xin phòng bệnh đậu mùa [60]

Đến thế kỉ 19, các nhà toán học lý thuyết như Poisson và các nhà kinh tế học như Jevons bắt đầu giải thích được rằng các vấn đề bất trắc có thể giải quyết bằng các phương pháp xác suất thống kê xuất phát từ quan sát hoặc kinh nghiệm trước đấy ĐGRR hoàn chỉnh dựa vào lý thuyết xác suất đầu tiên do Von Bortkiewiczl, ứng dụng vào phép đo tần xuất tai nạn trong diễn tập của quân đội Đức

Vào thế kỷ 20, các công cụ toán học ứng dụng được phát triển mạnh mẽ, áp dụng hiệu quả cho ngành quân đội và kinh doanh mà tiêu biểu là Lý thuyết Trò chơi Đóng góp tiêu biểu trong nghiên cứu RR ở thời kỳ này đó là Frank Knight (1885-1972) Ông

là một nhà khoa học, nhà kinh tế học nổi tiếng với tác phẩm lớn nhất của Ông đối với

ngành kinh tế học là cuốn RR, Bất định và Lợi nhuận [76] Mục tiêu cơ bản của tác phẩm này không chỉ là giải thích sự điều tiết lợi nhuận trong kinh doanh dưới dạng một hàm số của RR bất định mà còn có tác dụng gắn kết những vấn đề về mặt lý thuyết giữa kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô

Tiếp đến năm 1950, Gumbel phát triển một lý thuyết cực hạn mà có thể sử dụng để tiên đoán tần suất của các sự kiện cực đại Lý thuyết này lần đầu được áp dụng vào các

sự kiện tự nhiên như là dòng chảy sông cực đại, gió cực đại Nó cũng được dùng để xác định sự thích hợp của các dự án điều khiển đập và lũ lụt, khả năng chống gió của

các kết cấu cao tầng Và kết quả là phát triển được Lý thuyết cây sai lầm [27]

Theo H Wayne Snider thuộc đại học Temple của Hoa Kỳ thì QLRR bắt đầu đi vào

Trang 23

một giai đoạn mang tính quốc tế từ giữa những năm 70, Ông gọi đó là “giai đoạn toàn cầu hóa” Thời kỳ thịnh vượng của QLRR được thấy ở việc các Hiệp hội của những

nhà QLRR được sáng lập góp phần cho sự phát triển của ngành khoa học này Hiệp hội quốc gia những người mua bảo hiểm được thành lập vào năm 1950 tại Mỹ, sau đó trở thành Hội QLRR và bảo hiểm Vào năm 1954, tổ chức này đã công bố tạp chí đầu tiên

Năm 1963 đã tổ chức hội nghị thường niên đầu tiên và năm 1965 đã đưa ra chương trình đào tạo về lĩnh vực QLRR [28] Cũng trong khoảng thời gian này, hàng loạt các

hiệp hội QLRR ra đời ở Mỹ như Hội QLRR công cộng, Hội QLRR về chăm sóc sức khỏe Mỹ, Hội QLRR và bảo hiểm trường đại học

Một trào lưu tương tự cũng phát triển mạnh ở Châu âu Hiệp hội những nhà quản trị bảo hiểm trong các lĩnh vực công nghiệp và thương mại (AIMIC) được thành lập

vào năm 1963 ở Anh Quốc Ở Hội nghị đầu tiên vào năm 1976, Hiệp hội đã bàn bạc về vấn đề “tự bảo hiểm”, chỉ rõ xu hướng phát triển mới của QLRR cho tất cả các nhà bảo

hiểm ở Anh quốc Năm 1974 AIMIC đã đổi tên thành Hiệp hội các nhà quản trị bảo hiểm RR trong công nghiệp và thương mại Năm 1993 ở Pháp, Nhóm những người được bảo hiểm trong thương mại và công kỹ nghệ và Hiệp hội những người phụ trách bảo hiểm của các doanh nghiệp Pháp được thành lập Hai tổ chức này coi phát triển

chức năng QLRR trong các doanh nghiệp là mục tiêu của mình Với mục tiêu đó, vào

tháng 5 năm 1993 hai tổ chức này đã hợp nhất và cho ra đời tổ chức Hiệp hội QLRR và bảo hiểm các doanh nghiệp

Ngày nay, khoa học và ứng dụng của việc đánh giá và QLRR đã phát triển một cách nhanh chóng cả về quy mô lẫn chất lượng Việc nghiên cứu về lĩnh vực RR đã và đang nhận được sự quan tâm rất lớn của khoa học nhân loại Ngày càng có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về QLRR được đăng tải trên các tạp chí khoa học uy tín trên thế giới [92] Và ngày càng có nhiều tổ chức chuyên nghiệp hoạt động trong lĩnh vực QLRR ra đời Điều này đã khẳng định rõ tầm quan trọng của QLRR không chỉ trong hoạt động nghiên cứu khoa học mà còn áp dụng thực tiễn trong các hoạt động xã hội 1.3.2 Tình hình nghiên cứu về RR và QLRR trong ngành xây dựng

So với nhiều ngành công nghiệp khác, ngành CNXD chịu nhiều RR hơn do các đặc điểm riêng biệt trong hoạt động xây dựng, chẳng hạn như thời gian thực hiện kéo dài,

Trang 24

quá trình thi công phức tạp, điều kiện môi trường tác động trực tiếp, vốn đầu tư lớn và

cơ cấu tổ chức luôn thay đổi [66][37][111] Do đó, việc áp dụng hữu hiệu những công

cụ QLRR để quản lý các RR liên quan đến hoạt động xây dựng trở nên vô cùng quan trọng Xác định một phương pháp QLRR hiệu quả không những có thể giúp người sử dụng nhìn thấy được những RR đang phải đối mặt, mà còn giúp họ quản lý các RR đó trong các giai đoạn khác nhau của dự án [109]

Có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về nhiều khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực QLRR các DAXD Nghiên cứu kinh điển có lẽ phải kể đến trong lĩnh vực này là của Akintoye và Macleod [37] Nghiên cứu được thực hiện dựa trên khảo sát BCH hướng đến các NTTC và các nhà QLDA Nghiên cứu cho thấy rằng QLRR là vô cùng cần thiết trong các hoạt động xây dựng bởi việc tối thiểu hóa thiệt hại và nâng cao lợi nhuận Tiếp đến là Edwards [64], tác giả cuốn “QLRR thực tiễn trong ngành xây dựng”, Ông đã đem đến một cái nhìn dễ hiểu về quy trình QLRR trong ngành xây

dựng với những đặc thù riêng của nó Nghiên cứu này đã đưa ra những ví dụ áp dụng thực tiễn và thảo luận làm thế nào để quản lý các RR Qua đó, tác giả đã chỉ rõ các RR

có thể có liên quan đến CĐT, NTTC, Tư vấn KSTK và TVGS

Các loại RR mà một tổ chức phải đối mặt được dàn trải trên một phạm vi rộng và thay đổi từ tổ chức này sang tổ chức khác Điều đó có thể là các RR thất bại trong kinh doanh, RR thua lỗ tài chính dự án, RR tai nạn lao động, RR tranh chấp và RR tổ chức Việc hiểu biết và nhận dạng những RR này càng sớm càng tốt, từ đó áp dụng các chiến lược phù hợp để giảm thiểu các khía cạnh tiêu cực có thể có của RR [127] Bajaj và cộng sự [43] đã nhận dạng, điều tra và ĐGRR ở giai đoạn đấu thầu và lập dự toán cho các NTTC

Nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất các quy trình QLRR, thông thường gồm có ba

giai đoạn chính: (1) NDRR; (2) phân tích, ĐGRR; và (3) XLRR [127][121] Quy trình QLRR bắt đầu với việc nhận dạng những RR ban đầu Chúng có liên quan trực tiếp hoặc hiện hữu tiềm tàng trong các DAXD Phân tích và ĐGRR là quá trình trung gian giữa nhận dạng và XLRR Nó kết hợp yếu tố không chắc chắn vào PTĐL và PTĐT để đánh giá tác động của RR Việc đánh giá thường tập trung vào RR với xác suất xảy ra cao, hậu quả tài chính lớn hoặc kết hợp giữa chúng mang lại một tác động đáng kể

Trang 25

Một khi những RR của một dự án được xác định và phân tích cụ thể, thì cần phải

có một phương pháp ứng phó RR thích hợp Trong khuôn khổ QLRR, NTTC nên quyết định làm thế nào để xử lý từng NTRR và xây dựng chiến lược xử lý hoặc biện pháp giảm thiểu RR thích hợp Các biện pháp giảm thiểu nói chung là dựa trên tính chất và hậu quả của RR Mục tiêu chính là loại bỏ càng nhiều càng tốt các tác động tiềm năng

và tăng mức độ KSRR Việc kiểm soát càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp càng hiệu quả Quá trình QLRR không nhằm mục đích loại bỏ hoàn toàn các RR từ một dự án Mục tiêu của nó là để phát triển một hệ thống có tổ chức, để hỗ trợ các nhà quản lý kiểm soát hiệu quả RR, đặc biệt là những nhân tố quan trọng [97]

Wang và cộng sự [126] đã nhận dạng, ĐGRR và phát triển một quy trình QLRR cho các DAXD ở các nước đang phát triển Một cuộc khảo sát quy mô lớn đã được thực hiện Kết quả đã xác định được 28 NTRR then chốt và phân loại thành 3 cấp độ: quốc gia, thị trường và dự án Đồng thời, với mỗi nhân tố đã xác định, các tác giả đã đề xuất phương pháp giảm nhẹ RR thực tiễn và đánh giá cụ thể Theo Thobani [115], ở các nước đang phát triển, các DAXD hạ tầng thường chứa đựng nhiều RR Bởi thời gian thực hiện dự án kéo dài, chịu áp lực chính trị, thay đổi luật pháp và quy định, vượt chi phí hoặc biến động giá cả và lãi suất Tác giả cho rằng chính phủ nên cải thiện môi trường đầu tư để giúp giảm thiểu RR cho CĐT Điều này được thực hiện bằng cách theo đuổi chính sách kinh tế vĩ mô ổn định, bảo mật thông tin, thực thi tốt hệ thống pháp luật và quy định, tăng cường bộ máy tư pháp Lĩnh vực QLRR ở các nước đang phát triển đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Raftery và cộng sự

[101], Li và cộng sự [80], Yeo và Tiong [134], Ozdoganm và Birgonul [94]… đã đưa

ra những bài học hữu ích về QLRR đối với các DAXD khác nhau ở các quốc gia này Trong các DAXD, Thompson và Perry [117] trình bày 4 cách để ứng phó RR, đó

là: (1) Loại bỏ RR; (2) Thuyên chuyển RR; (3) Giảm thiểu RR; và (4) Chấp nhận RR

Strassman và Wells [112] đã xác định được một số NTRR liên quan đến ngành xây dựng Từ quan điểm của CĐT, những RR này là: chi phí dự án leo thang không thể lường trước, công trình bị lỗi và cần sửa chữa thường xuyên, dự án đã thanh toán một phần nhưng bị đình trệ Những NTRR từ quan điểm của NTTC là: thời tiết khắc nghiệt, chậm trễ bàn giao mặt bằng, điều kiện địa chất thủy văn không lường trước được, chi

Trang 26

tiết bản vẽ không đầy đủ, chậm trễ cung ứng vật tư, giá cả thay đổi bất thường…

Trong một cuộc khảo sát nhận dạng và PBRR của 100 NTTC lớn hàng đầu nước

Mỹ, Kangari [74] đã nhận dạng và xác định tầm quan trọng của NTRR liên quan đến xây dựng theo quan điểm của CĐT và NTTC Cuộc khảo sát chỉ ra rằng trong những năm gần đây, NTTC đã sẵn sàng đối phó với những RR về vấn đề hợp đồng và luật pháp với CĐT Các RR này bao gồm thay đổi hợp đồng, chậm trễ của bên thứ ba, xử lý chậm trễ hợp đồng, và vấn đề bồi thường thiệt hại Cuộc khảo sát cũng nhận thấy các NTTC hiện đang đối mặt với các RR liên quan đến khối lượng thực tế công việc Jaafari và Schub [73] phân RR thành 2 nhóm chính đó là: RRKT và RR công nghệ RRKT là những gì liên quan đến các thuộc tính cơ bản, các quy trình và các vấn đề về

kỹ thuật RR công nghệ liên quan đến công cụ, dây chuyền sản xuất và quy trình xây dựng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cần phải xem xét nghiêm túc thái độ và phương pháp nhận dạng, đánh giá tác động, và giảm thiểu các RR trên Một phát hiện quan trọng trong nghiên cứu này là mối quan hệ giữa việc giảm thiểu RR và lợi nhuận kinh doanh, điều mà chưa nghiên cứu nào trước đó đề cập đến Chính điều này đã tự ra đời của một chính sách chủ động quản lý để KSRR kỹ thuật và công nghệ liên quan đến toàn bộ tổ chức

Vilventhan và Kalidindi [123] đã tập trung nhận dạng những RR chính trong giai đoạn chuẩn bị và thực hiện các công trình hạ tầng giao thông ở Ấn Độ Các RR được xây dựng cấu trúc thành 3 cấp độ thông qua cấu trúc RBS, tương tự với cấu trúc WBS trước đây RBS được sử dụng ở đây vì nó có nhiều lợi điểm như bảo đảm phạm vi xem xét của tất cả các NTRR, chỉ ra những khu vực phụ thuộc hoặc tương quan giữa các RR

và chú trọng phát triển ứng phó đối với khu vực có RR cao

Có nhiều nghiên cứu về QLRR đã được thực hiện ở Trung Quốc Shen và cộng sự

[110] đã nghiên cứu ĐGRR trong các dự án liên doanh xây dựng ở Trung Quốc Dựa trên một cuộc khảo sát, các tác giả đã thiết lập các chỉ số RR để cho thấy tầm quan

trọng giữa chúng Cuối cùng tác giả đã tìm được 40 NTRR, trong đó: Tăng chi phí vì thay đổi chính sách; Nghiên cứu dự án khả thi không đúng; Chậm trễ tiến độ; Thiếu dự báo về nhu cầu thị trường; và Lựa chọn địa điểm dự án không hợp lý là các NTRR

hàng đầu trong các dự án liên doanh xây dựng ở Trung Quốc Tương tự như vậy, cũng

Trang 27

thông qua thực hiện một bảng khảo sát, Patrick và cộng sự [95] đã tìm ra 25 NTRR chính hiện hữu trong ngành xây dựng ở Trung Quốc

Theo Wideman [130], quá trình ĐGRR được xem xét dưới góc nhìn nhà quản lý thường có 5 giai đoạn Phương pháp này được trình bày cụ thể ở Hình 1.1

Hình 1.1 Các giai đoạn QLRR theo Wideman [130]

Raz và Hillson [102] đã trình bày và so sánh 9 tiêu chuẩn chính trong QLRR hiện đang sử dụng Các tiêu chuẩn được lựa chọn bao gồm 6 tiêu chuẩn của một số quốc gia

và tiêu chuẩn quốc tế, và 3 tiêu chuẩn được phát triển bởi các tổ chức chuyên nghiệp về QLRR Giới thiệu các tiêu chuẩn chính về QLRR và một số thông tin liên quan [102]

được thể hiện ở Phụ lục 2a, và so sánh nội dung các tiêu chuẩn chính về QLRR được thể hiện ở Phụ lục 2b

Nhiều tác giả đã đề xuất những mô hình, công cụ mới để QLRR một cách hiệu quả

và tiến bộ hơn Godfrey [68] đã nghiên cứu một công cụ QLRR hệ thống, giúp người

sử dụng QLRR trong chính DAXD của mình Nghiên cứu trình bày một cách đơn giản phương pháp thực hành nhận dạng, đánh giá, kiểm soát và QLRR từ các DAXD theo một cách có cấu trúc và đầy mới mẻ Walke [124] đề xuất một mô hình RQM cho các DAXD, sử dụng mô hình cho điểm và phương pháp phân tích EV Mô hình RQM đem đến một giải pháp trực quan và linh hoạt trong việc ĐGRR dự án Mô hình này còn giúp ước lượng hậu quả có thể có về chi phí, tiến độ và chất lượng dự án Nó cải thiện một cách hiệu quả cho việc ra quyết định trong trường hợp lên kế hoạch ứng phó RR

QUẢN LÝ RỦI RO

Nhận dạng

RR

Phân tích tác động

Lên kế hoạch ứng phó

Hệ thống ứng phó

- Số tiền có thể bị tổn thất và mức giới hạn

- Sự thay đổi trong vòng đời dự án

- Xác định vấn đề

- Chính sách/ Quy trình

Trang 28

Kerzner [75] trình bày một phương pháp tiếp cận khác đối với việc PLRR, sử dụng cấu trúc WBS như là bộ khung để PTRR

Nhận xét:

Như vậy, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về QLRR trong lĩnh vực xây dựng, được áp dụng ở rất nhiều khía cạnh khác nhau, có rất nhiều NTRR đã được nhận dạng và đánh giá, nhiều phương pháp luận và quy trình QLRR đã được đề xuất Tuy nhiên, QLRR là một lĩnh vực luôn thay đổi, nhiều NTRR cũ sẽ biến đổi hoặc mất đi, thay vào đó là những NTRR mới Do vậy, các nghiên cứu về QLRR cũng phải luôn thay đổi để tương thích với những biến đổi trong tình hình mới Hơn nữa các điều kiện

về môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, công nghệ … ở các nước phát triển trên thế giới rất khác so với Việt Nam

Nhiều nghiên cứu khác nhau về QLRR trong lĩnh vực xây dựng ở trên thế giới trải dài từ giai đoạn nghiên cứu chuẩn bị đầu tư dự án cho đến khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, từ DAXD dân dụng, DAXD giao thông cho đến các dự án thủy điện, thủy lợi, sân bay… Khi xét đến ở phạm vi nhỏ là QLRR kỹ thuật trong TCCTGTĐB thì vẫn chưa thấy công trình nghiên cứu nào đề cập đến Điều này chính

là ý tưởng để tác giả đề tài tìm hiểu sâu hơn hướng nghiên cứu này ở Việt Nam

1.4 Tình hình nghiên cứu về RR và QLRR ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu, đánh giá, phân loại và áp dụng phương pháp QLRR còn khá mới mẻ Trong những năm gần đây ở Việt Nam, QLRR đã được quan tâm ở hầu hết các lĩnh vực, nhưng nhiều nhất vẫn là lĩnh vực kinh tế, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện, ví dụ như Ngô Thị Ngọc Huyền và cộng sự [19] trình bày nghiên cứu RR trong lĩnh vực kinh doanh; Nguyễn Thị Hường [21] với nghiên cứu về quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Đoàn Thị Hồng Vân [34] nghiên cứu quản trị RR và khủng hoảng…

Đối với các DAXD nói chung và DAGTĐB nói riêng, việc áp dụng QLRR đã dần được quan tâm đến Tuy nhiên, có một khó khăn lớn đó là các văn bản pháp lý vẫn chưa có những quy định, hướng dẫn cụ thể về vấn đề QLRR Luật xây dựng, các Nghị định cũng chỉ đưa ra một khái niệm chung chung là “Sự cố công trình” chứ chưa đề cập

Trang 29

gì đến vấn đề RR và QLRR Có thể nhận xét rằng, Luật và các Nghị định của nước ta

đã ban hành, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn nặng về giải quyết sự cố, không

đề cập đến công tác QLRR là một thiếu sót lớn Cách nhìn nhận của chúng ta vẫn còn nặng nề về trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân gây ra sự cố, nhắm đến mục tiêu chính là điều tra sự cố công trình để quy trách nhiệm cho tổ chức và/ hoặc cá nhân có lỗi, mà chúng ta quên mất mục tiêu quan trọng là tìm ra nguyên nhân kỹ thuật của sự việc đó để từ đó tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm cho những công trình tương tự Hiện nay có nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học quan tâm đến vấn đề QLRR trong các DAXD nhưng chưa được xem xét một cách chi tiết, kỹ lưỡng mà chỉ dừng lại ở mức độ khái niệm chung chung Đồng thời, các nghiên cứu này cũng chưa đi sâu nghiên cứu chi tiết cụ thể từng vấn đề để các nhà QLDA có thể ứng dụng trong quá trình QLDA của mình

Có thể sơ lược nghiên cứu về QLRR trong các DAXD ở Việt Nam như: Nguyễn Viết Trung và Đinh Công Tâm [32] nghiên cứu phân tích và QLRR kỹ thuật trong xây dựng cầu Lê Kiều [22] đã nghiên cứu về nguyên nhân, giải pháp khắc phục sự cố CTXD Trần Chủng [3] đã nêu rõ trình tự và kỹ năng điều tra sự cố CTXD Nguyễn Liên Hương [20] đã nghiên cứu vấn đề RR và các biện pháp quản trị RR trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNXD Lê Văn Long [23] trình bày một số vấn đề

về QLRR trong dự án đầu tư XDCT, đồng thời nêu lên một số vấn đề cần thực hiện để QLRR các dự án đầu tư XDCT Trịnh Thùy Anh [1] nghiên cứu một số giải pháp QLRR trong các dự án XDCT giao thông ở Việt Nam Dương Học Hải [17] đề cập đến các sự cố công trình nền đường ô tô xảy ra trong những năm gần đây ở miền Bắc do sự

cố lún sụp trượt trồi và do hiện tượng lún kéo dài Phạm Văn Thứ [29] đã nghiên cứu

về RR hư hỏng các CTXD và phương pháp tiếp cận Nguyễn Quốc Tuấn và cộng sự

[33] đã áp dụng mô phỏng Monte-Carlo để PTRR chi phí của DAXD trong giai đoạn thi công Phạm Đắc Thành và cộng sự [27] đã khảo sát mô hình toán học của chuỗi Markov để mô hình hóa các quá trình ngẫu nhiên, từ đó ứng dụng để mô hình hóa bài toán QLRR DAĐT xây dựng Trần Ngọc Hùng [18] đã trình bày nguyên nhân và các giải pháp phòng ngừa sự cố CTXD Nguyễn Văn Túc và Trần Văn Việt [35] đã nhận diện nguyên nhân sự cố CTXD và truy tìm nguyên nhân sự cố kẹt Rô bốt tại Dự án cải

Trang 30

tạo môi trường kênh Nhiêu lộc – Thị nghè, Tp Hồ Chí Minh

Nhận xét:

Trong lĩnh vực XDCT, vấn đề QLRR đã bắt đầu được chú ý đến Mặc dù còn rất chậm so với xu hướng của thế giới nhưng có một dấu hiệu tích cực đó là đã có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của QLRR Rất nhiều công trình khoa học đã được thực hiện Tuy nhiên, việc áp dụng các nghiên cứu này vào thực tiễn mới là điều đáng nói đến Hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ mang tính chất hàn lâm, lý thuyết mà chưa tính kỹ đến phương cách áp dụng để phát huy lợi ích thiết thực mà QLRR đem lại

Xét một khía cạnh khác, một phần lý do để các nghiên cứu này chưa thể áp dụng hiệu quả vào thực tiễn, đó là nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của QLRR trong công tác QLDA còn chưa đúng mức Các bên tham gia dự án thường bỏ qua công tác QLRR hoặc chỉ thực hiện mang tính thủ tục Do vậy, hiệu quả của QLRR mang lại không cao, điều này tác động ngược trở lại vào nhận thức của các bên tham gia, lại củng cố thêm quan niệm xem QLRR là không cần thiết Cứ như thế, việc áp dụng QLRR vào thực tiễn vẫn chưa tìm được lời giải thỏa đáng

Một điều đáng chú ý nữa đó là ở nước ta chưa có một tổ chức, đội ngũ QLRR một cách chuyên nghiệp để có thể đảm trách việc thực hiện, hướng dẫn và huấn luyện các nhà quản lý, các bên liên quan đến dự án Từ đó gầy dựng niềm tin và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của QLRR trong công tác quản lý thực hiện dự án Ngoài ra, các văn bản pháp lý liên quan cũng chưa đề cập đến thuật ngữ QLRR cũng như phương cách thực hiện Những điều này đã trực tiếp ảnh hưởng đến việc áp dụng các nghiên cứu về QLRR vào thực tiễn

1.5 Hướng nghiên cứu của luận án

1.5.1 Cơ sở hình thành hướng nghiên cứu

Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực QLRR trong các dự án giao thông Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu hoàn chỉnh nào về QLRR kỹ thuật các dự án giao thông đường bộ trong giai đoạn thi công Các nghiên cứu hiện tại trong lĩnh vực giao thông lần lượt đề cập đến những vấn đề khác

Trang 31

Như vậy, từ việc tổng hợp các nghiên cứu trước, đã chỉ ra rằng hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về QLRR kỹ thuật trong TCCTGTĐB Đây

là cơ sở để tác giả hình thành hướng nghiên cứu này

1.5.2 Khung nghiên cứu của luận án

Hình 1.2 Khung nghiên cứu của luận án 1.6 Kết luận chương

Như vậy có thể thấy rằng ở Việt Nam các nghiên cứu về RR và QLRR trong XDCT mới chỉ bắt đầu, đặc biệt là QLRR kỹ thuật trong TCCTGTĐB Hiện nay ở trong nước chưa thấy một nghiên cứu hoàn chỉnh nào về các RR công trình đường bộ

Có chăng cũng chỉ là tản mạn đâu đó một vài bài viết, bài báo được đăng trên một số tạp chí chuyên ngành khó có thể áp dụng vào thực tiễn Những RR có thể xảy ra và QLRR như thế nào khi triển khai thực hiện dự án Thực tế khi thực hiện một DAGTĐB

ở Việt Nam luôn luôn tiềm ẩn các nguy cơ RR về kỹ thuật Đặc biệt, trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, nước ta đang xúc tiến đầu tư nâng cấp và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông trên khắp cả nước thì việc nghiên cứu về

Tổng quan tài liệu Các NTRR trong các dự án xây dựng

Các NTRR trong TCCTGTĐB ở Việt Nam

Đánh giá từ các nhóm

chuyên gia BCH khảo sát/ Đánh

Thang đo F-AHP/

Khảo sát/ Phỏng vấn

Đo lường mức độ RRKT Phương pháp F-AHP

Áp dụng mô hình đề xuất vào một dự án thực tế

điển hình đã và đang triển khai Khảo sát/ Phỏng vấn

Trang 32

QLRR trong lĩnh vực này lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Một nghiên cứu hoàn chỉnh về QLRR nếu được thực hiện tốt sẽ hạn chế hoặc loại

bỏ những RR trong giai đoạn thi công, tránh những thiệt hại không mong muốn Từ đó bảo đảm thực hiện dự án theo đúng tiến độ qui định, đảm bảo chất lượng, đúng giá thành, tránh các tổn thất đáng tiếc về kinh tế, và chất lượng khai thác sau này

Một điểm đáng chú ý nữa trong vấn đề QLRR ở nước ta đó là: các văn bản pháp lý như Luật Xây dựng, các Nghị định của Chính phủ chưa có một quy định, hay thậm chí chỉ là một khái niệm về QLRR Điều này là một vật cản rất lớn trong tiến trình áp dụng QLRR vào thực tiễn ngành xây dựng Thiết nghĩ, trong tương lai gần, nội dung về QLRR phải được đưa vào các văn bản pháp lý mà cụ thể là Luật xây dựng và các Nghị định, giúp cho các bên có liên quan dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và áp dụng QLRR khi triển khai thực hiện một dự án XDCT

Trang 33

Theo Gallati [67] quy trình QLRR đầu tiên là phải tiến hành xác lập các điều kiện

Đó là việc xác định quy mô và mục đích của quá trình QLRR, mô tả các tiêu chí thành công và giải thích các ràng buộc và hạn chế Các RR phải luôn được xác định dựa vào

quan điểm của các bên tham gia dự án Quá trình ĐGRR bao gồm 3 bước: NDRR, PTRR và đo lường RR Bước cuối cùng của quy trình là XLRR, bao gồm 4 chiến lược

có thể áp dụng: Chấp nhận RR; Giảm nhẹ RR; Thuyên chuyển RR; và Chấm dứt dự án.

Berkeley và cộng sự [45] và Flanagan và Norman [66] chia quy trình hệ thống

QLRR thành: PLRR, NDRR, PTRR và ứng phó RR Ứng phó RR lại được chia thành bốn hoạt động: chấp nhận, giảm thiểu, chuyển giao và tránh Tùy theo yêu cầu của

từng dự án mà áp dụng một hoặc kết hợp nhiều hoạt động khác nhau

Tương tự, Tiêu chuẩn “QLRR dự án quốc tế - hướng dẫn ứng dụng” [72]đã đưa ra

một mô hình với bốn bước: NDRR, ĐGRR, XLRR, và đánh giá và KSRR

Theo tiêu chuẩn QLRR dự án [100], QLRR bao gồm: lập kế hoạch QLRR, nhận

dạng, phân tích (định lượng, định tính), lên kế hoạch ứng phó, giám sát và kiểm soát

Tổng quan về QLRR dự án theo PMI được thể hiện ở Phụ lục 3 WSDOT [154], Baloi

và Price [44] bổ sung thêm bước thông tin liên lạc RR. , [113]

ở Phụ lục 4

Một cách chi tiết hơn, Hiệp hội các nhà QLDA đã phát triển nghiên cứu của Chapman [53] để đưa ra quy trình QLRR gồm 9 giai đoạn Đó là: (1) định nghĩa, (2) tập trung, (3) nhận dạng, (4) cơ cấu, (5) quyền sở hữu, (6) ước lượng, (7) đánh giá, (8)

Trang 34

lập kế hoạch và (9) quản lý

Trong một nghiên cứu khác, Hertz và Thomas [71] đã đề xuất quá trình QLRR như

là một trình tự logic của các bước gồm NDRR, đo lường RR, đánh giá và đánh giá lại

RR Hơn nữa, người ta kết hợp QLRR với chiến lược kế hoạch và quản lý

Del Cano và de la Cruz [61] đề xuất tích hợp phương pháp QLRR trong các DAXD lớn và phức tạp Mô hình được chia thành bốn giai đoạn: khởi đầu, điều chỉnh, duy trì và học tập Mỗi giai đoạn bao gồm nhiều bước, mỗi bước lại được chia thành các hoạt động khác nhau

Như vậy, mặc dù có rất nhiều mô hình QLRR hiện có trong các tài liệu khác nhau, nhưng tất cả đều có một mục tiêu chung và có những đặc điểm tương tự Mục đích cuối cùng của mỗi mô hình là để cung cấp một cách tiếp cận có hệ thống về QLRR liên quan đến: việc xác định các nguồn RR; tác động của chúng (thông qua PTRR định tính và định lượng), phát triển các ứng phó RR, kiểm soát và giám sát các RR cũng như các giải pháp ứng phó RR

2.1.2 Nhận dạng rủi ro (NDRR)

Không thể quản lý được một NTRR nếu như nó không được nhận dạng trước Do

đó, sau khi kế hoạch QLRR hoàn tất, việc đầu tiên trong quá trình QLRR là nhận dạng tất cả các NTRR có thể có liên quan đến mục tiêu dự án [100]

NDRR là quá trình nhận dạng, phân loại và đánh giá ý nghĩa ban đầu một cách có

hệ thống và liên tục của các RR liên quan đến một DAXD [38] NDRR là việc xác định các RR có thể ảnh hưởng đến dự án và ghi nhận các đặc trưng của nó Redmill [103]

giải thích rằng mục đích của việc nhận dạng nguồn gốc của RR là để ngăn chặn các yếu

tố có thể sai lầm và dẫn đến mất an toàn

Việc nhận dạng nên được thực hiện một cách thường xuyên trong suốt quá trình thực hiện dự án Mục đích là để xác định những RR đến mức thực tế tối đa Sự thật là một số RR không thể nhận biết ngay mà cần có quá trình lặp đi lặp lại mà giai đoạn trước không thể phát hiện [100] Trong vòng đời dự án, các RR mới liên tục xuất hiện Nhóm dự án nên chú ý vào đặc điểm này để phát triển và duy trì sự hợp lý, tính trách

Trang 35

nhiệm liên quan đến các hoạt động ứng phó RR [91] Các thành phần tham gia vào giai đoạn NDRR này có thể là: giám đốc dự án, thành viên BQLDA, đội ngũ QLRR (nếu được giao), các chuyên gia không phải là thành viên của dự án, khách hàng, giám đốc các dự án khác, các bên liên quan, và các chuyên gia QLRR [91] Chapman [54] chỉ ra rằng, bởi vì quá trình QLRR trong xây dựng phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn nhận dạng ban đầu, nên sự thành công của các giai đoạn QLRR sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chất lượng của giai đoạn nhận dạng đầu tiên

Đầu vào của quá trình NDRR bao gồm các mục tiêu dự án, phạm vi và kế hoạch của QLRR và dữ liệu quá khứ liên quan đến dự án Các tài liệu liên quan, thành viên tham gia dự án và các sự kiện xảy ra trong phạm vi của dự án là một số nguồn thông tin

sử dụng để NDRR [39] NDRR phải được sử dụng một cách có hiệu quả để nhận dạng các cơ hội cũng như các nguy cơ Tuy nhiên, kinh nghiệm của hầu hết các đội dự án là tập trung vào các vấn đề tiêu cực

Có nhiều kỹ thuật khác nhau để NDRR, chẳng hạn như động não và hội thảo, bảng liệt kê và danh sách nhanh chóng, BCH và phỏng vấn, kỹ thuật Delphi, kỹ thuật nhóm danh nghĩa và các phương pháp biểu đồ khác nhau (sơ đồ nhân quả, hệ thống động, sơ

đồ tác động…) Chapman [55] cho rằng các kỹ thuật nhận dạng hiện tại có thể được

chia làm ba loại khác nhau: (1) nhận dạng được thực hiện chỉ từ kiến thức của các nhà nghiên cứu, (2) nhận dạng bởi các nhà nghiên cứu tiến hành phỏng vấn các thành viên trong đội ngũ dự án, và (3) các nhà nghiên cứu chủ trì một nhóm nghiên cứu Danh

sách các công cụ và kỹ thuật dùng trong giai đoạn NDRR cùng với nhận xét điểm mạnh và điểm yếu cho từng công cụ và kỹ thuật được đề xuất bởi PMI, được thể hiện ở

nó xuất phát từ nghiên cứu của Osborn trong những năm 1950, “động não” được đề xuất như một phương pháp giải quyết vấn đề nhằm mang lại một số lượng lớn các ý

Trang 36

tưởng trong một khoảng thời gian ngắn hơn so với các kỹ thuật hiện tại

Kỹ thuật Delphi là một phương pháp thu thập hệ thống và đối chiếu kết quả so với các người trả lời khác nhưng bị ẩn danh đối với một chủ đề cụ thể Thông qua một tập hợp các BCH được thiết kế cẩn thận gửi đến các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm kèm theo các thông tin tóm tắt và phản hồi ý kiến từ các phản hồi trước đó [54] Quá trình này thường được lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi tìm được sự đồng thuận giữa các chuyên gia

Quá trình nhận dạng được thực hiện dễ dàng hơn nếu như dự án có cấu trúc WBS

rõ ràng Del Cano và Cruze [61] phân chia dự án thành bốn giai đoạn (khởi đầu, cân bằng, duy trì và học hỏi), mỗi giai đoạn lại được phân thành các giai đoạn, các đầu việc

và các công việc phụ Các dự án lớn được khuyến khích nên có từ 30 đến 50 đầu việc Đây là ý tưởng của “WBS” Trong DAXD, các giai đoạn có liên quan có thể là: đánh giá tính khả thi, thương thảo hợp đồng, thiết kế, xây dựng và giai đoạn vận hành

Quá trình nhận dạng cũng bao gồm việc phân loại các RR đã được xác định, nhận dạng cả nguyên nhân, tính chất, hậu quả tiềm tàng (dẫn đến nguy cơ), các dấu hiệu cảnh báo và sự phân bố của chúng Một tài liệu bao gồm các thông tin về xác định RR

đó có thể được gọi là: “danh mục RR” Nó chứa đựng tất cả RR được xác định và thông tin chi tiết cho mỗi nhân tố và có thể giúp các nhân viên dự án rà soát RR một cách thường xuyên trong suốt dự án Patterson và Neailey [96] tổng hợp các loại thông tin hoặc những công việc được lưu trữ trong danh mục RR Đối với mỗi NTRR được

xác định, thông tin đăng ký có thể được tóm tắt: Loại RR, nguyên nhân RR và mô tả; Giai đoạn hoặc công việc tương ứng; Tình trạng RR (tiềm ẩn, rõ ràng, biến mất), hậu quả (về chi phí, thời gian, năng suất…); Khả năng nhận biết RR (hậu quả hoặc nguyên nhân); Xác suất xảy ra (định tính, định lượng); Phân bổ / trách nhiệm của các bên; Ứng phó RR (tránh, thuyên chuyển, giảm thiểu) và nguồn lực cần thiết; Phụ thuộc lẫn nhau với những RR và các loại ứng phó RR

Sử dụng một danh mục RR là một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nhận dạng Tuy nhiên, nó có thể có vấn đề trong trường hợp CTXD, nơi mà các dự án khác nhau

về chủng loại, quy mô, mục tiêu, liên quan đến mức độ mong muốn của các chi tiết và quan điểm của các bên liên quan đến RR Chapman [54] đề xuất thành lập một Cấu

Trang 37

trúc RBS một cách hệ thống, thứ bậc cấu trúc của RR, nhằm tạo thuận lợi cho việc xác định các NTRR

2.1.3 Phân tích rủi ro

Quá trình PTRR là liên kết quan trọng giữa NDRR và QLRR Quá trình PTRR nhằm mục đích đánh giá hậu quả liên quan đến RR và đánh giá tác động của RR bằng cách sử dụng PTRR và kỹ thuật đo lường [66] Quá trình PTRR đồng nghĩa với việc tính toán trọng số cho các RR đã xác định để phục vụ cho các hành động kế tiếp

Dữ liệu đầu vào chủ yếu của quá trình PTRR chính là RR được xác định từ quá trình NDRR Khả năng xảy ra và tác động của các RR được xác định là hai biến quan trọng trong việc ĐGRR Quá trình này có thể thay đổi từ PTĐT rất đơn giản để PTĐL phức tạp hơn:

Phân tích định tính dựa trên thang đo mô tả hoặc thang đo danh nghĩa để mô tả

các sự kiện RR và hậu quả của chúng Phân tích này được sử dụng chủ yếu trong ĐGRR ban đầu hoặc đánh giá nhanh Nó cũng có thể được sử dụng khi không có nhiều thông tin về khả năng xảy ra và / hoặc mức độ tác động của RR Phương pháp này cho phép xác định những RR riêng lẻ có ảnh hưởng quan trọng nhất trên mục tiêu dự án Các NTRR có trọng số cao có thể được phân tích tiếp tục sử dụng phương pháp PTRR định lượng;

Phân tích bán định lượng mở rộng quá trình PTĐT bằng cách chỉ định giá trị

thang đo mô tả;

Phân tích định lượng sử dụng các giá trị xác suất của các sự kiện RR và hậu quả

của chúng

Bước đầu tiên của quá trình PTRR là xác định các cấp độ công việc của dự án Trong trường hợp này, sơ đồ WBS là rất hữu ích Aleshin [39] tin rằng các kết nối giữa WBS của một dự án và RBS là một kỹ thuật hữu ích để PTRR WBS tạo ra khuôn khổ

cơ bản cho việc QLDA Tương tự, RBS có thể được sử dụng như một công cụ để cấu trúc quá trình QLRR WBS có thể được chia nhỏ tiếp tục để xem xét chi tiết cho từng công việc RBS cũng làm như vậy để NDRR, tạo ra một danh sách tổ chức, giúp hiểu

rõ hơn và giải thích các RR

Trang 38

a) Phân tích định tính (PTĐT)

Thông thường, việc ĐGRR định tính sẽ bao gồm các vấn đề sau [99]: Mô tả ngắn gọn về các RR; Các giai đoạn của dự án khi RR có thể xảy ra; Các yếu tố của dự án có thể bị ảnh hưởng; Các yếu tố gây ra RR; Mối quan hệ với các RR khác; Khả năng xảy

Ma trận này có thể được sử dụng để đánh giá các RR và cơ hội, sử dụng hai lưới tác động tiêu cực (nguy cơ) và tác động tích cực (cơ hội) Trong cả hai trường hợp, các RR

có xác suất xảy ra cao/ tác động lớn đều được ưu tiên để xử lý

Xác suất (Khả năng xảy ra )

1 Khoảng %

Rất cao Gần như chắc chắn Rất chắc chắn ≥ 90%

Cao Có khả năng Khá chắc chắn 80%

Thấp Không có khả năng Ít khi 20%

Rất thấp Hiếm khi Không thể xảy ra 10%

Kết quả (Tác động)

Trang 39

a) Phân tích bán định lượng

PTRR bán định lượng rất thuận tiện trong trường hợp đánh giá nhanh hoặc so sánh

Nó được dựa trên kết quả PTĐT và xác định giá trị thông qua các chỉ tiêu, phương pháp xác suất, các hậu quả và ưu tiên

Những RR có thể được định lượng sử dụng các chỉ số chuẩn hóa Al-Hejji

[42] sử dụng hai chỉ số là “tần suất” và “mức độ nghiêm trọng”, và mỗi RR được xác định chỉ số quan trọng được tổng kết quả từ 2 chỉ số này (thang điểm từ 0÷100%) b) Phân tích định lượng (PTĐL)

PTĐL nhằm xác định những ảnh hưởng kết hợp của RR trên mục tiêu dự án, sử dụng các công cụ như phân tích độ nhạy, cây quyết định, RBS và phân tích Monte Carlo Các công cụ này liên quan đến việc xây dựng một mô hình của toàn bộ dự án hoặc các yếu tố quan trọng và phân tích các ảnh hưởng kết hợp của dự án kết quả [88]

Quá trình định lượng thường bao gồm: Mô hình dự án và WBS; Đánh giá mức độ không chắc chắn trong từng công tác tiến độ hoặc yếu tố chi phí; Thiết lập danh sách các mục tiêu dự án, hạn chế và không chắc chắn; Xác định mối quan hệ giữa sự không chắc chắn và mức độ RR; và Đánh giá tổng thể không chắc chắn dự án/ RR và các tác nhân tương ứng

Tuy nhiên, ở bước đầu tiên thì không cần sử dụng tất cả các phương pháp định lượng RR Nó cung cấp một nền tảng, một sự lựa chọn riêng lẻ hoặc kết hợp nhằm đem đến một giải pháp tốt hơn trong việc định lượng RR dự án

Nhiều kỹ thuật có thể được sử dụng để mô tả sự không chắc chắn và kết quả của dự

án Mô tả xác suất là một trong những kỹ thuật phổ biến nhất Kết quả là một phân phối xác suất của chi phí và thời hạn hoàn thành của dự án dựa trên những RR được xác định trong dự án Patterson và Neailey [96] nêu ra các công cụ phân tích định lượng (như @ Risk và Predict!) cho phép các kế hoạch dự án tổng thể được mô hình hóa Sử dụng kỹ thuật Monte Carlo, các phân phối của tiến độ và chi phí dự án cũng có thể được mô phỏng Nhưng trong thực tế, thông thường, hầu hết các quyết định đều dựa trên một PTĐT, dễ dàng hơn và nhanh hơn so với PTĐL

Quá trình PTRR định lượng và định tính được so sánh trong Hình 2.2 Những yếu

Trang 40

tố thành công quan trọng cho một PTRR định lượng bao gồm PTRR định tính và NDRR hiệu quả, mô hình dự án phù hợp, xem xét các tương tác RR trong phân tích, dữ liệu tập hợp các RR có chất lượng cao và không thiên lệch [100]

Hình 2.2 So sánh kết quả đầu ra của phương pháp định tính và định lượng [100]

2.1.4 Ứng phó rủi ro

Tiếp theo sau khi nhận dạng và PTRR dự án là phát triển các giải pháp, và xác định các hoạt động hợp lý, tập trung vào các RR đáng kể nhất, để chuyển dịch sao cho có lợi cho thành công dự án và giảm thiểu các tác động tiêu cực của các mối đe dọa lên các mục tiêu Quá trình này nhằm mục đích xác định các hành động ứng phó hiệu quả đó là phù hợp với ưu tiên của các RR riêng lẻ và RR tổng thể dự án Ngoài ra, sẽ có thái độ đối với RR của các bên liên quan và các thỏa thuận quy định trong kế hoạch QLRR Khi các hoạt động phản ứng được áp dụng, chúng sẽ ảnh hưởng đến các mục tiêu dự án

và có thể bổ sung thêm các RR mới Chúng được gọi là RR thứ cấp và phải được phân tích và lên kế hoạch trong cùng một cách như những RR ban đầu đã được xác định

[100].Hình 2.3 cung cấp các yếu tố thành công quan trọng của kế hoạch ứng phó RR Ứng phó với RR có thể là một hoặc kết hợp của các giải pháp sau [100][133]:

Giảm thiểu: là làm giảm khả năng và/ hoặc tác động của một mối đe dọa đến

một ngưỡng chấp nhận được Nó có thể mất tài nguyên hoặc thời gian và do đó

có thể đại diện cho một sự cân bằng của một mục tiêu với những thứ khác

 Sử dụng một phương pháp định lượng

sử dụng các công cụ chuyên ngành

 Ước tính khả năng đạt mục tiêu và dự phòng cần thiết để đạt được mức độ mong muốn

 Nhận dạng các RR tác động mạnh nhất đến tổng thể dự án

 Bổ sung vào danh mục RR

 Đầu vào của PTRR định lượng

Ngày đăng: 28/06/2016, 10:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2 Khung nghiên cứu của luận án - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 1.2 Khung nghiên cứu của luận án (Trang 31)
Hình 2.2 So sánh kết quả đầu ra của phương pháp định tính và định lượng [100] - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 2.2 So sánh kết quả đầu ra của phương pháp định tính và định lượng [100] (Trang 40)
Hình 2.4 Qui trình PBRR trong dự án hạ tầng BOT [118] - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 2.4 Qui trình PBRR trong dự án hạ tầng BOT [118] (Trang 42)
Hình 2.6 Quy trình thực hiện phương pháp Delphi  2.2.1.3 Đặc điểm quy trình của phương pháp Delphi - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 2.6 Quy trình thực hiện phương pháp Delphi 2.2.1.3 Đặc điểm quy trình của phương pháp Delphi (Trang 51)
Hình 2.7 Số mờ hình tam giác - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 2.7 Số mờ hình tam giác (Trang 57)
Hình 3.1 Quy trình thiết kế BCH (dựa theo Cooper & Schindler [59]) - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 3.1 Quy trình thiết kế BCH (dựa theo Cooper & Schindler [59]) (Trang 60)
Bảng 3.2  Bảng phân nhóm các NTRR - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Bảng 3.2 Bảng phân nhóm các NTRR (Trang 69)
Bảng 3.4  Top 10 NTRRKT hàng đầu - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Bảng 3.4 Top 10 NTRRKT hàng đầu (Trang 72)
Hình 5.1  Quy trình thực hiện phương pháp F-AHP [114] - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 5.1 Quy trình thực hiện phương pháp F-AHP [114] (Trang 95)
Bảng 5.3 Bảng tính toán trọng số các tiêu chí (Bước 1) - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Bảng 5.3 Bảng tính toán trọng số các tiêu chí (Bước 1) (Trang 101)
Hình 5.4 Chi tiết cấu trúc thứ bậc áp dụng cho nghiên cứu  5.2.3 Tổng hợp ý kiến các chuyên gia - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 5.4 Chi tiết cấu trúc thứ bậc áp dụng cho nghiên cứu 5.2.3 Tổng hợp ý kiến các chuyên gia (Trang 103)
Hình 5.6 Biểu đồ thể hiện trọng số của các nhân tố cấp 2 - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 5.6 Biểu đồ thể hiện trọng số của các nhân tố cấp 2 (Trang 107)
Hình 5.7 Trọng số nhân tố ứng với thái độ người ra quyết định bi quan (  = 0) - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 5.7 Trọng số nhân tố ứng với thái độ người ra quyết định bi quan ( = 0) (Trang 109)
Hình 5.8 Trọng số nhân tố ứng với thái độ người ra quyết định bình thường (  = 0.5) - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 5.8 Trọng số nhân tố ứng với thái độ người ra quyết định bình thường ( = 0.5) (Trang 110)
Hình 5.12 Sơ đồ khối phần mềm   5.4.2 Giới thiệu phần mềm - Nghiên cứu quản lý rủi ro kỹ thuật trong thi công công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam
Hình 5.12 Sơ đồ khối phần mềm 5.4.2 Giới thiệu phần mềm (Trang 133)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w