1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀITRÀO LƯU DÂN CHỦ XÃ HỘI CÓ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TỪ HƠN MỘT THẾ KỶ NAY VÀ PHÁT TRIỂN QUA CÁC GIAI ĐOẠN VỚI NHỮNG THĂNG TRẦM PHỨC TẠP. TỪ ĐẦU NHỮNG NĂM 80 ĐẾN GIỮA NHỮNG NĂM 90 CỦA THẾ KỶ XX, CÁC ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI Ở TÂY ÂU LÂM VÀO MỘT CUỘC KHỦNG HOẢNG TRẦM TRỌNG CẢ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, LẦN LƯỢT BỊ MẤT CHÍNH QUYỀN Ở MỘT LOẠT NƯỚC VÀ PHẢI Ở VÀO VỊ TRÍ ĐẢNG ĐỐI LẬP SUỐT MỘT THỜI GIAN DÀI. CHỦ NGHĨA TỰ DO (CNTD) MỚI NỔI LÊN CHIẾM ƯU THẾ VÀ NGỰ TRỊ Ở TẤT CẢ CÁC NƯỚC TBPT ÂU MỸ. CÙNG VỚI VIỆC CHIẾN TRANH LẠNH KẾT THÚC, CNXH HIỆN THỰC Ở ĐÔNG ÂU VÀ LIÊN XÔ SỤP ĐỔ, NHIỀU NHÀ NGHIÊN CỨU PHƯƠNG TÂY ĐÃ TUYÊN BỐ VỀ SỰ CÁO CHUNG CỦA TƯ TƯỞNG XHCN VÀ SỰ TOÀN THẮNG CỦA CNTB TỰ DO.ĐẾN GIỮA THẬP NIÊN 90, TÌNH HÌNH LẠI THAY ĐỔI MỘT CÁCH CĂN BẢN. CÁC ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI Ở HẦU HẾT CÁC NƯỚC TÂY ÂU (1315 NƯỚC THUỘC EU, TRƯỚC TIÊN LÀ ANH, SAU ĐÓ LÀ PHÁP, THỤY ĐIỂN, ITALIA, CHLB ĐỨC...) LẠI LẦN LƯỢT THẮNG CỬ, TRỞ LẠI CẦM QUYỀN VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN VÀ ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH MỚI. CÁC CHÍNH TRỊ GIA VÀ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHÍNH TRỊ PHƯƠNG TÂY GỌI LÝ LUẬN ĐÓ LÀ CON ĐƯỜNG THỨ BA (CĐTB), CÒN Ở CHLB ĐỨC, THỦ TƯỚNG GERHARD SCHROEDER GỌI LÀ ĐƯỜNG LỐI TRUNG DUNG MỚI. ĐẾN NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XX, LÝ LUẬN NÀY ĐƯỢC TRUYỀN BÁ RỘNG RÃI TRONG HẦU HẾT CÁC NƯỚC TBCN, CŨNG NHƯ CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN THEO ĐỊNH HƯỚNG TBCN. LÃNH TỤ CÁC ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI Ở ANH, ĐỨC, PHÁP, ITALIA VÀ THẬM CHÍ CẢ TỔNG THỐNG MỸ BILL CLINTON, LÃNH TỤ ĐẢNG DÂN CHỦ ĐANG CẦM QUYỀN Ở MỸ LÚC ĐÓ, HÀNG NĂM (1998, 1999, 2000, 2002) ĐỀU TỔ CHỨC CÁC CUỘC GẶP GỠ QUỐC TẾ ĐỂ THẢO LUẬN CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CĐTB, COI ĐÓ LÀ TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HIỆN ĐẠI, ĐÁP ỨNG ĐƯỢC CÁC YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CỦA NHÂN LOẠI NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI. HIỆN NAY, TRÀO LƯU DÂN CHỦ XÃ HỘI CÓ ẢNH HƯỞNG MẠNH MẼ VÀ CÁC ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI CÓ MỘT VAI TRÒ RẤT QUAN TRỌNG TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ Ở CHÂU ÂU, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NƯỚC TÂY ÂU. TRONG SỐ CÁC ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI CẦM QUYỀN HOẶC LIÊN MINH CẦM QUYỀN, CÓ CÔNG ĐẢNG ANH VÀ ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI ĐỨC (SPD) LÀ HAI ĐẢNG ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG THÀNH CÔNG NHẤT ĐỊNH. HAI ĐẢNG NÀY TRONG THỰC TIỄN CẦM QUYỀN ĐÃ ÁP DỤNG TƯ TƯỞNG CỦA CĐTB VÀO VIỆC HOẠCH ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC VÀ THU ĐƯỢC NHỮNG THÀNH TỰU KHÁ NỔI BẬT. ĐIỀU ĐÓ LẠI CÀNG LÀM CHO NHỮNG NGƯỜI ỦNG HỘ CĐTB CÓ THÊM CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỂ LUẬN CHỨNG CHO TÍNH ƯU VIỆT, PHỔ BIẾN CỦA TƯ TƯỞNG NÀY. MẶC DÙ KHOẢNG HAI NĂM TRỞ LẠI ĐÂY, TRƯỚC NHỮNG BIẾN ĐỘNG LỚN CỦA TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG NỘI BỘ CÁC NƯỚC TÂY ÂU, NHIỀU VẤN ĐỀ MỚI ĐÃ XUẤT HIỆN VÀ TÁC ĐỘNG VÀO CĐTB, TẠO RA NHỮNG CẢN TRỞ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NÓ, NHƯNG ĐIỀU ĐÓ THEO NHIỀU CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CHỈ LÀ TẠM THỜI. THẬM CHÍ, KHÔNG ÍT NHÀ KHOA HỌC ĐÃ DỰ ĐOÁN RẰNG, TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG CĐTB SẼ TIẾP TỤC VẦN VŨ THẾ GIỚI TRONG NHỮNG THẬP NIÊN TIẾP THEO CỦA THẾ KỶ XXI. NHỮNG QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN CỦA CĐTB TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MỚI Ở CÁC NƯỚC TÂY ÂU VÀ NHỮNG THÀNH CÔNG TRONG QUÁ TRÌNH CẦM QUYỀN CỦA NHIỀU ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI Ở KHU VỰC NÀY ĐẶT RA CHO CHÚNG TA YÊU CẦU CẤP THIẾT LÀ CẦN PHẢI NGHIÊN CỨU VỀ CNXH DÂN CHỦ HIỆN ĐẠI VÀ CÁC ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI MỘT CÁCH TOÀN DIỆN VÀ HỆ THỐNG HƠN. HIỆN NAY, VIỆT NAM ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN ĐẤT NƯỚC, MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI THEO HƯỚNG ĐA PHƯƠNG HOÁ, ĐA DẠNG HOÁ, SẴN SÀNG LÀ BẠN, LÀ ĐỐI TÁC TIN CẬY CỦA TẤT CẢ CÁC NƯỚC TRONG CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ, PHẤN ĐẤU VÌ HOÀ BÌNH, ĐỘC LẬP VÀ PHÁT TRIỂN {12, TR. 119}. ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA CHỦ TRƯƠNG KHÔNG NHỮNG TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ VỚI CÁC QUỐC GIA, CÁC ĐỐI TÁC KINH TẾ, MÀ CÒN ĐẨY MẠNH QUAN HỆ VỚI CÁC CHÍNH ĐẢNG, TRONG ĐÓ CÓ ĐẢNG CẦM QUYỀN, ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI, TRƯỚC HẾT LÀ CÁC ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI Ở CÁC NƯỚC TÂY ÂU, TRONG ĐÓ CÓ VƯƠNG QUỐC ANH VÀ CHLB ĐỨC. DO VẬY, VIỆC NGHIÊN CỨU VỀ QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA CÁC ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI NÓI CHUNG, Ở ANH VÀ ĐỨC NÓI RIÊNG LÀ VẤN ĐỀ CÓ Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP THIẾT VÌ NÓ LIÊN QUAN CHẶT CHẼ VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI; VỀ NHỮNG THAY ĐỔI LỚN, XU THẾ VÀ ĐỘNG THÁI CỦA CNTB HIỆN ĐẠI VÀ CNXH. ĐỒNG THỜI, CHÍNH NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÓ LẠI CÓ Ý NGHĨA THAM KHẢO TRỰC TIẾP CHO VIỆC NGHIÊN CỨU NHIỀU VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI CNXH Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
Trang 1A Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trào lu dân chủ xã hội có lịch sử hình thành từ hơn một thế kỷ nay vàphát triển qua các giai đoạn với những thăng trầm phức tạp Từ đầu nhữngnăm 80 đến giữa những năm 90 của thế kỷ XX, các đảng dân chủ xã hội ởTây Âu lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng cả về lý luận và thựctiễn, lần lợt bị mất chính quyền ở một loạt nớc và phải ở vào vị trí đảng đốilập suốt một thời gian dài Chủ nghĩa Tự do (CNTD) mới nổi lên chiếm uthế và ngự trị ở tất cả các nớc TBPT Âu - Mỹ Cùng với việc chiến tranhlạnh kết thúc, CNXH hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhiều nhànghiên cứu phơng Tây đã tuyên bố về sự cáo chung của t tởng XHCN và sựtoàn thắng của CNTB tự do
Đến giữa thập niên 90, tình hình lại thay đổi một cách căn bản Các
đảng dân chủ xã hội ở hầu hết các nớc Tây Âu (13/15 nớc thuộc EU, trớctiên là Anh, sau đó là Pháp, Thụy Điển, Italia, CHLB Đức ) lại lần lợtthắng cử, trở lại cầm quyền với những quan điểm lý luận và đờng lối, chínhsách mới Các chính trị gia và các nhà nghiên cứu khoa học chính trị phơngTây gọi lý luận đó là "con đờng thứ Ba" (CĐTB), còn ở CHLB Đức, Thủ t-ớng Gerhard Schroeder gọi là "đờng lối Trung dung mới" Đến những nămcuối thế kỷ XX, lý luận này đợc truyền bá rộng rãi trong hầu hết các nớcTBCN, cũng nh các quốc gia đang phát triển theo định hớng TBCN Lãnh tụcác đảng dân chủ xã hội ở Anh, Đức, Pháp, Italia và thậm chí cả Tổngthống Mỹ Bill Clinton, lãnh tụ Đảng Dân chủ đang cầm quyền ở Mỹ lúc đó,hàng năm (1998, 1999, 2000, 2002) đều tổ chức các cuộc gặp gỡ quốc tế đểthảo luận các vấn đề lý luận và thực tiễn của CĐTB, coi đó là trào lu t tởng
lý luận chính trị hiện đại, đáp ứng đợc các yêu cầu phát triển của nhân loạinhững năm đầu thế kỷ XXI
Hiện nay, trào lu dân chủ xã hội có ảnh hởng mạnh mẽ và các đảngdân chủ xã hội có một vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị ở châu
Âu, đặc biệt là các nớc Tây Âu Trong số các đảng dân chủ xã hội cầmquyền hoặc liên minh cầm quyền, có Công đảng Anh và Đảng Dân chủ xãhội Đức (SPD) là hai đảng đạt đợc những thành công nhất định Hai đảngnày trong thực tiễn cầm quyền đã áp dụng t tởng của CĐTB vào việc hoạch
định đờng lối, chính sách phát triển đất nớc và thu đợc những thành tựu khánổi bật Điều đó lại càng làm cho những ngời ủng hộ CĐTB có thêm cơ sở
Trang 2thực tiễn để luận chứng cho tính u việt, phổ biến của t tởng này Mặc dùkhoảng hai năm trở lại đây, trớc những biến động lớn của tình hình thế giới
và những khó khăn trong nội bộ các nớc Tây Âu, nhiều vấn đề mới đã xuấthiện và tác động vào CĐTB, tạo ra những cản trở đối với sự phát triển của
nó, nhng điều đó - theo nhiều công trình nghiên cứu - chỉ là tạm thời Thậmchí, không ít nhà khoa học đã dự đoán rằng, trào lu t tởng CĐTB sẽ tiếp tục
"vần vũ" thế giới trong những thập niên tiếp theo của thế kỷ XXI
Những quan điểm lý luận của CĐTB - trào lu t tởng chính trị mới ở cácnớc Tây Âu và những thành công trong quá trình cầm quyền của nhiều
đảng dân chủ xã hội ở khu vực này đặt ra cho chúng ta yêu cầu cấp thiết làcần phải nghiên cứu về CNXH dân chủ hiện đại và các đảng dân chủ xã hộimột cách toàn diện và hệ thống hơn Hiện nay, Việt Nam đang trong quátrình thực hiện đổi mới toàn diện đất nớc, mở rộng quan hệ đối ngoại theohớng đa phơng hoá, đa dạng hoá, "sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tấtcả các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và pháttriển" {12, tr 119} Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng không những tăng cờngquan hệ với các quốc gia, các đối tác kinh tế, mà còn đẩy mạnh quan hệ vớicác chính đảng, trong đó có đảng cầm quyền, đảng dân chủ xã hội ở các n-
ớc trên thế giới, trớc hết là các đảng dân chủ xã hội ở các nớc Tây Âu, trong
đó có Vơng quốc Anh và CHLB Đức Do vậy, việc nghiên cứu về quan
điểm, đờng lối, chính sách của các đảng dân chủ xã hội trên thế giới nóichung, ở Anh và Đức nói riêng là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấpthiết vì nó liên quan chặt chẽ với việc nghiên cứu lý luận về thế giới hiện
đại; về những thay đổi lớn, xu thế và động thái của CNTB hiện đại vàCNXH Đồng thời, chính những vấn đề đó lại có ý nghĩa tham khảo trựctiếp cho việc nghiên cứu nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới CNXH ởnớc ta trong giai đoạn hiện nay
Để góp phần vào việc hoạch định một đờng lối chính trị cho sự pháttriển đất nớc theo định hớng XHCN, một mặt, đòi hỏi chúng ta phải bámsát, tổng kết thực tiễn trên cơ sở nhận thức lại đúng đắn hơn bản chất cáchmạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh; mặtkhác, cần nghiên cứu một cách thấu đáo, khách quan, khoa học những kinhnghiệm thực tiễn và những học thuyết ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin Nghịquyết của Bộ Chính trị (số 01/NQTW, 28/3/1992) "Về công tác lý luậntrong giai đoạn hiện nay" đã khẳng định: “Đối với những học thuyết khác,ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin về xã hội, cần phải nghiên cứu trên quan điểm
Trang 3khách quan, biện chứng Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điềucũng nh chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội dới mọi màu sắc” Việcnghiên cứu về CNXH dân chủ trong giai đoạn hiện nay nói chung, CĐTBcủa Công đảng Anh và Đảng Dân chủ xã hội Đức nói riêng là một đóng gópnhất định trong nỗ lực chung đó Đồng thời, điều đó còn góp phần vào việccung cấp thêm những luận cứ khoa học nhằm thúc đẩy quan hệ của Đảng vàNhà nớc ta với các đảng, các nhà nớc trên thế giới, cũng nh đối với hai nớcAnh và Đức, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá và chủ động hội nhập quốc tế của nớc ta.
Những trình bày ở trên là cơ sở để tác giả lựa chọn đề tài "Con đờngthứ Ba" của Công đảng Anh và Đảng Dân chủ xã hội Đức hiện nay làm đềtài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
2 Mục đích, nhiệm vụ
2.1 Mục đích
Trên cơ sở quan điểm mácxít về CNXH dân chủ, luận văn khảo sát vàlàm rõ những nhân tố tác động đến sự ra đời, những nội dung cơ bản của lýluận CĐTB và việc vận dụng nó ở hai nớc Anh, Đức Từ đó, luận văn đề xuấtmột số gợi mở đối với việc đổi mới t duy lý luận của Đảng ta hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
- Trình bày một cách hệ thống về lý luận CĐTB (khái niệm, nguyênnhân ra đời, những nội dung lý luận cơ bản, bản chất và khuynh hớng vận
động trong những năm tới đây)
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc áp dụng CĐTB trong thực tiễn
V-ơng quốc Anh và CHLB Đức của các đảng dân chủ xã hội ở hai nớc này
- Đề xuất một số gợi mở nhằm góp phần vào việc đổi mới t duy lý luậncủa Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 4B NỘI DUNG lịch sử hỡnh thành và phỏt triển của trào lưu dõn chủ xó hội
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Về trào lu dân chủ xã hội
"Dân chủ xã hội" là một khái niệm chính trị xuất hiện lần đầu tiên
trong phong trào cách mạng Đức vào những năm 1848 - 1849, nó thể hiện ttởng xây dựng một xã hội dân chủ cho mọi công dân, trong đó dân chủ vềchính trị và xã hội gắn liền với công bằng xã hội và nghĩa vụ đóng góp củamỗi ngời dân, đối lập với t tởng nhà nớc dân tộc sô vanh và quân phiệt của
Đức thời bấy giờ Các nhà nớc dân chủ đợc thiết lập theo tinh thần của dânchủ xã hội ở nhiều nớc châu Âu đã thể hiện một trình độ, mức sống chatừng có trong lịch sử và trên toàn cầu về việc thực hiện những mục tiêuchính trị có tầm quan trọng nh là sự tôn trọng quyền con ngời, bảo đảm dânchủ, an toàn xã hội, mức sống cao và mọi ngời đều đợc học hành, đào tạo,
dù rằng vẫn còn cách khá xa với mục tiêu về một xã hội của những con
ng-ời tự do và bình đẳng mà những ngng-ời dân chủ xã hội đề ra Đồng thng-ời, đócũng còn là tên gọi của các đảng chính trị (đảng XHCN, đảng xã hội, đảngdân chủ xã hội, công đảng ) theo đuổi mục tiêu đó Các đảng dân chủ xãhội ra đời trong nửa cuối thế kỷ XIX, xuất phát từ sự phản kháng chống lại
ách bóc lột và áp bức các giai cấp lao động, trong hầu hết các nớc ở châu
Âu Đến nay, cơng lĩnh với những t tởng chính trị, đờng lối cải cách của các
đảng dân chủ xã hội đã trở thành đờng lối chính trị chung ở hầu khắp các
n-ớc thuộc châu Âu, là những nn-ớc đều đã thực thi các hiến pháp có tính chấtdân chủ
"Trào lu dân chủ xã hội" là một trào lu t tởng và chính trị trong phong
trào công nhân, lúc đầu chịu ảnh hởng tích cực của chủ nghĩa Mác, về sau
xa dần mục tiêu đấu tranh của phong trào công nhân, thực hiện những thoảhiệp chính trị với giai cấp t sản Lịch sử tồn tại của nó là một quá trình đầymâu thuẫn và thăng trầm, gắn liền với những cuộc đấu tranh trong nội bộtừng đảng cũng nh trong trào lu nói chung, giữa hai trào lu dân chủ xã hội
và cộng sản trong phong trào công nhân quốc tế
Đợc hình thành, phát triển trong quá trình phân hoá của phong tràocông nhân quốc tế, trào lu dân chủ xã hội đứng trên lập trờng của chủ nghĩacải lơng Tập hợp trong trào lu này bao gồm các đảng dân chủ xã hội có tên
Trang 5gọi khác nhau Hoạt động tại các nớc TBCN, các tổ chức đảng này là đạidiện chính trị cho một bộ phận đáng kể trong GCCN và là một lực lợng cóvai trò to lớn trong hệ thống chính trị các nớc TBCN Cho nên, cơ sở kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội của hệ thống đó, cùng với tất cả các mối quan
hệ xã hội đan xen phức tạp đã chi phối khá mạnh đến t tởng, lý luận, tổchức và hoạt động của các đảng dân chủ xã hội Những nét tiêu biểu củatrào lu dân chủ xã hội là: Sự thừa nhận các phơng thức tác động xã hộithuần tuý hoà bình và dần dần, xu hớng thay thế đấu tranh giai cấp bằnghợp tác giai cấp, quan niệm về "tính chất siêu giai cấp" của nhà nớc và củadân chủ, quan niệm về CNXH nh là một phạm trù đạo đức [43, tr 100]
"Quốc tế XHCN" (Socialist International - SI): Là tổ chức quốc tế tập
hợp các đảng dân chủ xã hội, các đảng XHCN, và các đảng công nhân(hoặc công đảng) đang hoạt động ở các quốc gia trên thế giới SI đợc thànhlập tại Đại hội các đảng dân chủ xã hội lần thứ nhất ở Frankfurt (CHLB
Đức) năm 1951 Đến nay, Quốc tế XHCN đã tiến hành đợc 22 đại hội, Đạihội gần đây nhất là Đại hội XXII đợc tiến hành ở Brazil (10/2003) Theo
điều lệ, SI họp đại hội 2 năm một lần (sau này là 3 năm) Tính đến Đại hộiXXI (1999), tổng số thành viên của SI là 140 đảng và tổ chức SI khôngthừa nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt nội bộ; các đảngthành viên duy trì sự độc lập hoàn toàn của mình; các hội nghị của SI chỉghi nhận các chính sách do các đảng đa ra, không đề ra chính sách chung
và cố gắng đạt tới sự nhất trí (đồng thuận) cao nhất của các thành viên Cơcấu lãnh đạo của SI gồm: Một Hội đồng gồm đại biểu các đảng thành viên;một Ban lãnh đạo (Bureau), sau này đổi thành Đoàn Chủ tịch gồm 1 Chủtịch, 12 Chủ tịch danh dự, 28 Phó Chủ tịch và một Ban th ký Cơ quan ngônluận chính thức của SI là Bản tin "Những vấn đề XHCN" (Socialist Affairs)xuất bản bằng tiếng Anh
Hiện nay, SI và các đảng thành viên có ảnh hởng to lớn đến đời sốngchính trị của nhiều quốc gia (với t cách là đảng cầm quyền hoặc đảng đốilập quan trọng) và trong sinh hoạt của cộng đồng quốc tế (thông qua vai tròcủa cơ quan lãnh đạo SI với Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực)
"Chủ nghĩa cải lơng xã hội" (tiếng Pháp là Social réformisme) là khái
niệm do những ngời dân chủ xã hội nêu ra từ giữa thế kỷ XIX Đầu tiên là ttởng của Ferdinand Lassalle về việc giai cấp vô sản có thể lợi dụng quyềnbầu cử, phổ thông đầu phiếu trong chế độ TBCN để tranh cử và bằng con đ-ờng đấu tranh nghị viện để xây dựng xã hội XHCN Sau đó, những t tởng
Trang 6này đợc Eduard Bernstein đề lên thành lý luận khi khẳng định rằng "phongtrào dân chủ xã hội đợc quyền mang tính chất cải lơng" Xét về thực chất,
"Chủ nghĩa cải lơng xã hội" là một trào lu cơ hội hữu khuynh khi nó chủ
tr-ơng phong trào công nhân chỉ cần tiến hành những thay đổi có tính chất cảilơng trong các quan hệ xã hội của CNTB là có thể tiến lên CNXH màkhông cần phải thông qua cách mạng xã hội xoá bỏ CNTB [34, tr 75-76]
"Chủ nghĩa dân chủ xã hội" (tiếng Pháp là Social-démocratisme) là khái niệm đợc trào lu dân chủ xã hội dùng để thay cho khái niệm "chủ nghĩa cải lơng xã hội".Ngoài ý nghĩa khác nhau về ngôn từ, khái niệm này
có ý muốn đề cao vấn đề "dân chủ", nhất là dân chủ về xã hội Các nhà lýluận của trào lu dân chủ xã hội đã đa ra lý luận về mối quan hệ giữa dânchủ chính trị với dân chủ xã hội Họ cho rằng, sự thắng lợi của nhân dân,của dân chủ chính trị đã đợc thể hiện đầy đủ trong nền dân chủ t sản Nóicách khác, họ đồng nhất nền dân chủ t sản với thắng lợi của dân chủ chínhtrị Do đó, phong trào công nhân chỉ cần tận dụng cơ sở dân chủ chính trị tsản để tiếp tục phấn đấu có đầy đủ dân chủ xã hội hơn, nh vậy sẽ có CNXH.Dân chủ xã hội, theo quan điểm của họ có nghĩa là sự bảo đảm việc làm,không thất nghiệp, có chỗ ở, đời sống cao, có bảo hiểm xã hội, bình đẳngcho phụ nữ v.v [34 tr 76]
"CNXH dân chủ" (tiếng Pháp là Socialisme démocratique) là quan
điểm t tởng và chính trị rất đa dạng, nhiều màu sắc về việc cải tạo CNTBthành CNXH bằng con đờng cải cách dân chủ, đối lập với hệ t tởng khoahọc của chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH khoa học và thực tiễn hoạt động củacác đảng cộng sản và công nhân [51, tr 517] CNXH dân chủ là tên gọithống nhất của hệ thống t tởng và mô hình mục tiêu của đảng dân chủ xãhội ở các nớc [45, tr 1] CNXH dân chủ bác bỏ những luận điểm quantrọng nhất của học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của GCCN, vềcách mạng XHCN và chuyên chính vô sản Họ tuyên truyền về "hợp tácgiai cấp", "hoà bình xã hội", về những việc tự tu dỡng đạo đức, về t tởngcủa thuyết đa nguyên chính trị, những t tởng về trách nhiệm toàn cầu của
"phơng Bắc" đối với "phơng Nam" v.v Các đảng, các phái theo CNXHdân chủ đều có quan niệm riêng của họ về CNXH, về các vấn đề cải tổ xãhội theo những cái gọi là nguyên tắc của CNXH dân chủ Ví dụ nh: "CNXHdân chủ là một lý tởng" (E Bernstein), "CNXH dân chủ là CNXH không cóchuyên chính" (K Kaustky), "CNXH dân chủ ở châu Âu có cội nguồn tinhthần trong đạo Cơ đốc giáo, trong triết học nhân văn, trong triết học cận đại,
Trang 7trong học thuyết xã hội và lịch sử của Mác, trong những kinh nghiệm củaphong trào công nhân" (Cơng lĩnh của Đảng Dân chủ xã hội Đức) Cácnhà dân chủ xã hội tuyên bố nguyên tắc chủ yếu trong những nguyên tắc đó
là "nền dân chủ đa nguyên", chủ trơng xây dựng CNXH bằng biện pháp cảicách, sử dụng chế độ nghị viện t sản, nhằm giành chính quyền chỉ thôngqua bầu cử, khớc từ những cuộc cải tạo XHCN, những thay đổi cơ bản về cơcấu chính trị và kinh tế của CNTB hiện đại [51, tr 518] B Craisky, chủtịch Đảng Dân chủ xã hội áo nói" "CNCS (CNXH hiện thực) và CNXH (tứcCNXH dân chủ) không giống nhau về nguyên tắc - đó là sự đối lập giữa chủnghĩa tập thể (Collectivism) và chủ nghĩa đa nguyên (Pluralism), mặt trên
mà thắng thì mặt dới bị xoá bỏ Vì vậy, muốn thực hiện đa nguyên chính trịthì phải hết sức phân quyền về kinh tế, chính trị và văn hoá, xoá bỏ quyềnlực độc quyền t nhân và nguy cơ của chủ nghĩa tập thể quan liêu" [7, tr ] Tuy có nhiều quan niệm vể CNXH dân chủ nh vậy, nhng qua nghiêncứu các mô hình CNTB hiện đại ở những nớc do các đảng dân chủ xã hội đã
và đang cầm quyền nhiều năm nh Đức, Thuỵ Điển, Pháp một số nhànghiên cứu đã rút ra quan niệm chung về một xã hội dân chủ theo họcthuyết của CNXH dân chủ: Xã hội dân chủ - đó là xã hội TBCN dựa trênnền chính trị với hệ thống đa đảng, do giai cấp t sản lãnh đạo nhà nớc phápquyền; nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc bằng những hìnhthức và phơng tiện khác nhau; và một hệ thống chính sách bảo trợ xã hội đadạng [50, tr 98]
Nói tới học thuyết CNXH dân chủ không thể không nói tới khái niệmchủ yếu của lý luận đó - đó là khái niệm "dân chủ" Theo các nhà dân chủxã hội, dân chủ tự thân là một giá trị, không có tính giai cấp; đối lập vớicách mạng bạo lực và chuyên chính; gắn liền với quyền bình đẳng, với tự
do của con ngời; tôn trọng quyền của thiểu số; dân chủ không gắn với tậptrung mà gắn liền với đa nguyên chính trị và chế độ đại nghị đa đảng v.v Tại Đại hội XVIII (1989) của Quốc tế XHCN đã nhấn mạnh hơn nội dungcủa dân chủ: Dân chủ là sự lựa chọn tự do của công dân đối với các lực lợngchính trị khác nhau; là quyền của công dân đợc đặt ra vấn đề thay đổi chínhphủ bằng các biện pháp hoà bình theo nguyện vọng của nhân dân, theonguyên tắc "pháp luật là tối thợng"; là quyền của cá nhân, của thiẻu số đợc
đảm bảo Bên cạnh đó, trào lu dân chủ xã hội đặc biệt đề cao và thờngxuyên nói đến những giá trị chung của con ngời, của nhân loại, coi đó là cái
đích hớng tới của các đảng xã hội dân chủ Đó là: Tự do, Bình đẳng, Đoàn
Trang 8kết Đến Đại hội XVIII, Quốc tế XHCN đa thêm Hoà bình và Hoà hợp sinhthái vào hệ thống giá trị của mình Nguồn gốc các giá trị, theo các nhà dânchủ xã hội, bắt nguồn từ lịch sử nhân loại, là khát vọng của con ngời quanhiều thời đại, là kinh nghiệm mà trào lu dân chủ xã hội cần tiếp nhận và h-ớng tới Các giá trị không phải là sản phẩm của một hệ thống t tởng nào,cũng không phải ra đời và tồn tại ở một thời kỳ lịch sử nhất định nào Nó đã
và sẽ tồn tại với nhân loại Các giá trị trên là cơ sở của nền dân chủ, giữa chúng
có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau và chúng đợc mở rộng rangoài khuôn khổ của các quan hệ xã hội trong phạm vi quốc gia, dân tộc,trở thành các giá trị toàn cầu Việc nêu lên và xác định các giá trị, theo cácnhà lý luận dân chủ xã hội, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Nógiúp xác định rõ phơng hớng phát triển của mọi xã hội, không bị nhầm lẫngiữa mục tiêu và phơng tiện Mục tiêu (các giá trị) thì phải giữ vững, nhngphơng tiện (thị trờng, kế hoạch, chính sách bảo trợ xã hội ) thì cần phảithay đổi cho phù hợp với thực tiễn luôn biến động [50, tr 100]
Nh vậy, trong giai đoạn đầu, trào lu dân chủ xã hội sử dụng "Chủ nghĩa dân chủ xã hội" nh một khái niệm đồng nghĩa với CNXH khoa học Đến trớc
chiến tranh thế giới thứ I, những ngời theo chủ nghĩa xét lại của Quốc tế II bắt
đầu sử dụng khái niệm "CNXH dân chủ" nhằm mục đích nhấn mạnh sự phản
đối cách mạng bạo lực, chủ trơng dùng biện pháp "dân chủ" để thực hiệnCNXH Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ II, đảng dân chủ xã hội ở các
nớc đều sử dụng rộng rãi khái niệm "CNXH dân chủ" để thay thế cho khái niệm "chủ nghĩa dân chủ xã hội", với ý đồ muốn nhấn mạnh sự đối lập hoàn
toàn với mô hình CNXH kiểu Xô viết Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kếtthúc, trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống diễn ra gay gắt,
năm 1951 Quốc tế XHCN đã chính thức sử dụng thuật ngữ "CNXH dân chủ"
để biểu đạt mục tiêu có tính cơng lĩnh của mình
Sau khi CNXH hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, tên gọi
"CNXH dân chủ" đã khiến cho những ngời dân chủ xã hội rơi vào tình cảnh
khá khó khăn do chỗ mọi ngời hoặc không hiểu, hoặc cố tình lẫn lộn sự
khác biệt về bản chất giữa "CNXH dân chủ" và "CNXH hiện thực" nên
th-ờng đồng nhất hai khái niệm này với nhau Bởi vậy, Đại hội lần thứ XIXcủa Quốc tế XHCN ở Béclin (tháng 9/1992) đã ra tuyên bố về "Chủ nghĩadân chủ xã hội trong thế giới đang thay đổi" làm luận đề chủ yếu TrongTuyên bố và một số phát biểu quan trọng tại Đại hội đã sử dụng hai khái
niệm "chủ nghĩa dân chủ xã hội" và "CNXH dân chủ" ở các mức độ khác
Trang 9nhau Đây là kết quả của việc thảo luận trong các đảng dân chủ xã hội sau
sự biến Liên Xô - Đông Âu về vấn đề có nên tiếp tục sử dụng khái niệm
"CNXH dân chủ" để trình bày lý luận và chính sách của mình nữa hay không, hay là dùng "Chủ nghĩa dân chủ xã hội" để thay thế "Chủ nghĩa dân chủ xã hội" muốn nói đến ở đây là "Chủ nghĩa dân chủ của xã hội", chủ thể của nó là "Chủ nghĩa dân chủ" và các đảng dân chủ xã hội cần trao cho chế độ dân chủ hiện nay nội dung "xã hội", chứ không còn mong muốn dùng CNXH với t cách là chế độ để thay thế "Chủ nghĩa dân chủ của CNTB", hoặc "CNTB của dân chủ" nữa Việc đa vấn đề này ra thảo luận
không chỉ để tránh ảnh hởng tiêu cực của từ "CNXH", mà chủ yếu chứng tỏ
là những ngời dân chủ xã hội đã thay đổi sự lý giải về CNXH, hoàn toàn từ
bỏ mục tiêu CNXH [29, tr 37]
Có thể thấy, việc đề xuất chuyển đổi từ "CNXH dân chủ" sang "Chủ nghĩa dân chủ xã hội" không chỉ là sự chuyển đổi khái niệm và tên gọi, hoặc quay trở lại khái niệm "Chủ nghĩa dân chủ xã hội" đợc sử dụng trớc kia, mà
bao hàm sự thay đổi về bản chất nhiều hơn Điều đó chứng tỏ sự khủnghoảng về lý luận, sự hoài nghi và tự vứt bỏ mục tiêu CNXH truyền thống củanhững ngời dân chủ xã hội Đồng thời điều đó cũng cho thấy, các đảng dânchủ xã hội đang tìm kiếm và xây dựng nên một bộ khung lý luận mới, nhằm
đối phó với những thách thức của thời đại, khắc phục những nguy cơ củaCNXH dân chủ Tuy nhiên, do cha có sự chính thức hoá đối với khái niệm
"chủ nghĩa dân chủ xã hội" và lý do đa ra để thay thế vẫn còn nhiều tranh
luận, cho nên trong các ấn phẩm, công trình nghiên cứu cả trong và ngoài
n-ớc về vấn đề này còn lẫn lộn khi sử dụng các khái niệm, tùy thuộc vào quan
điểm của mỗi tác giả Vì vậy, trong nội dung nghiên cứu, luận văn sẽ sử
dụng khái niệm đã quen thuộc là "CNXH dân chủ".
2 Các giai đoạn phát triển của trào lu dân chủ xã hội
Trào lu dân chủ xã hội có nguồn gốc từ phong trào công nhân ở các
n-ớc t bản phát triển Tây Âu khoảng 150 năm trn-ớc Đến nay nó đã trải quanhiều giai đoạn phát triển thăng trầm phức tạp Để phân kỳ các giai đoạncủa trào lu dân chủ xã hội, cần dựa trên hai căn cứ: Trớc hết là dựa trên cơ
sở kinh tế - xã hội, nói cách khác là dựa trên những giai đoạn phát triển củaCNTB từ giữa thế kỷ XIX đến nay Thứ hai là dựa trên những sự kiện lịch
sử quan trọng của phong trào công nhân nói chung, đặc biệt là những đạihội quan trọng của Quốc tế XHCN Trên cơ sở phơng pháp luận nh vậy, có
Trang 10thể chia sự phát triển của trào lu dân chủ xã hội thành 4 giai đoạn với những
đặc điểm chủ yếu ở mỗi giai đoạn nh sau:
2.1 Giai đoạn thứ nhất, từ những năm 60 - 70 của thế kỷ XIX đến chiến tranh thế giới lần thứ I
Trong giai đoạn này, trào lu dân chủ xã hội gắn liền với bối cảnh châu
Âu nói chung, nớc Đức nói riêng và CNTB đang từ cạnh tranh tự do chuyểnsang độc quyền Đây cũng là thời kỳ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứnhất đợc triển khai mạnh mẽ ở các trung tâm TBCN lớn
Sau cuộc cách mạng 1848 - 1849, CNTB có bớc phát triển mạnh mẽ.Trong giai đoạn 1850 - 1870, phong trào dân tộc - dân chủ của giai cấp tsản về cơ bản đã đánh bại chế độ phong kiến Trong giai đoạn 1870 - 1900,CNTB ngày càng khẳng định u thế tuyệt đối và bắt đầu chuyển dần từ tự docạnh tranh sang lũng đoạn, đế quốc chủ nghĩa Sự phát triển của CNTB đãkéo theo sự phát triển của GCCN và làm thay đổi một cách sâu sắc cơ cấucủa GCCN Số lợng công nhân làm thuê ở các nớc TBCN tăng lên nhanhchóng: Đến cuối thế kỷ XIX, số lợng công nhân công nghiệp đã lên tới 40triệu ngời, nếu kể cả công nhân nông nghiệp và những ngời làm thuê ở cácngành nghề khác thì con số này còn cao hơn - trên 80 triệu ngời GCCN đãtrở thành một lực lợng lớn mạnh, nắm giữ những khâu trọng yếu trong nềnkinh tế TBCN Tuy vậy, do sự bóc lột nặng nề của giai cấp t sản, điều kiệnsống và lao động của những ngời làm thuê trở nên tồi tệ hơn so với thời kỳ
t bản tự do cạnh tranh (cờng độ lao động tăng, tai nạn lao động xảy ra thờngxuyên, lao động phụ nữ và trẻ em trở thành phổ biến, hậu quả nặng nề củakhủng hoảng kinh tế ) GCCN ngày càng bị bần cùng hoá, bị bóc lột nặng
nề và lao động trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt (ví dụ, ở Anh và
Mỹ ngày lao động là 10 giờ, ở Đức là 10-12 giờ, ở Pháp, Hà Lan, Italia là11-12 giờ, ở Tây Ban Nha là 12-13 giờ, ở Nga là 12-15 giờ và ở Nhật Bản là12-16 giờ [39, tr 69]) Mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp giữa lao
động và t bản ngày càng sâu sắc, quyết liệt
Trải qua cuộc cách mạng 1848 - 1849, đợc tiếp thu lý luận CNXHkhoa học của Mác và Ăngghen, GCCN ngày càng trởng thành và giác ngộ
về sứ mệnh lịch sử cũng nh sức mạnh của mình Sự trởng thành đó đợc đánhdấu bằng việc ra đời và phát triển của các đảng dân chủ xã hội có tính chấtquần chúng và cách mạng cùng các tổ chức khác của GCCN trong các nớcTBCN, bằng sự ra đời và hoạt động của các tổ chức quốc tế của GCCN(Quốc tế I và Quốc tế II)
Trang 11Nớc Đức và phong trào công nhân Đức đợc xem là nơi đầu tiên sảnsinh ra đảng chính trị độc lập của GCCN Năm 1863, Ferdinand Lassalle(1825-1864) đã lập ra Tổng hội công nhân Đức (ADAV), tổ chức chính trị
đầu tiên của phong trào công nhân châu Âu lúc đó Những ngời dân chủ xãhội coi đó là cột mốc đánh dấu sự ra đời của Đảng Dân chủ xã hội Đức, mở
ra bớc ngoặt trong phong trào công nhân Đức Tuy nhiên, chịu ảnh hởng t ởng của Lassalle, nên hoạt động của ADAV mang đậm tính chất cải lơng.Bởi vậy, năm 1869, những ngời dân chủ xã hội chịu ảnh hởng của t tởngmác xít, tiêu biểu cho khuynh hớng cách mạng ở nớc Đức lúc đó là AugustBebel (1840-1918) và Willhem Liebknecht (1828-1910) quyết định thànhlập Đảng Công nhân dân chủ xã hội Đức (SAPD) mang tính chất tiến bộhơn so với ADAV
t-Năm 1864, C Mác và Ph Ăngghen đã tham gia trực tiếp vào việcthành lập Hội liên hiệp công nhân quốc tế (Quốc tế I) - tổ chức quốc tế đầutiên của phong trào công nhân, thực hiện sự đoàn kết quốc tế của GCCNtrong cuộc đấu tranh chống giai cấp t sản, góp phần tích cực vào việc phổbiến rộng rãi CNXH khoa học trong phong trào công nhân và rèn luyện tínhcách mạng cho GCCN ở các nớc Bên cạnh bớc trởng thành to lớn về chínhtrị của GCCN và trào lu cách mạng trong phong trào công nhân, một trào lu
t tởng cơ hội chủ nghĩa dới hình thức xét lại, cải lơng cũng đã xuất hiện vàngày càng lan rộng Nguồn gốc dẫn đến sự ra đời và phát triển của trào lunày là do hai nhân tố cơ bản: Thứ nhất, bớc vào giai đoạn độc quyền vớikhả năng kinh tế mới nhờ bóc lột siêu lợi nhuận, giai cấp t sản đã có thểnuôi dỡng tầng lớp "công nhân quý tộc" và từng bớc thực hiện chính sáchchia rẽ phong trào công nhân, lôi kéo một bộ phận công nhân quy thuận hệ
t tởng t sản Giai cấp t sản kết hợp việc đàn áp, sử dụng bạo lực và nhợng bộcông nhân trên những vấn đề không quan trọng nhằm chia rẽ, làm suy yếuphong trào công nhân và giữ sự ổn định của chế độ TBCN Thứ hai, cùngvới t tởng CNXH khoa học của Mác và Ăngghen, còn có nhiều loại t tởng
và lý luận khác thâm nhập và phát triển trong phong trào công nhân (t tởngcải lơng của Lassalle, chủ nghĩa vô chính phủ của Bacunin, chủ nghĩa côngliên ở Anh, chủ nghĩa Prudon ở Pháp ) Sở dĩ t tởng t sản và các loại lýluận khác có thể thâm nhập đợc vào phong trào công nhân là do tính đa tạp
về nguồn gốc, thành phần xuất thân đã dẫn tới sự phân hoá của GCCNthành nhiều lực lợng với những quan điểm khác nhau
Trang 12Trong giai đoạn này đã diễn ra sự kiện Công xã Pari (1871) Đó là mộttrang lịch sử hào hùng của phong trào công nhân quốc tế, song sự thất bạicủa Công xã Pari với hình thức là con đờng cách mạng bạo lực, cùng với việcphát triển tính phức tạp về thành phần và cơ sở xã hội của trào lu dân chủ xãhội đã góp phần thúc đẩy khuynh hớng cải lơng trong nội bộ phong trào côngnhân nói chung và trong trào lu dân chủ xã hội nói riêng phát triển Cuộc đấutranh giữa trào lu t tởng mác xít và trào lu t tởng cơ hội ngày càng sâu sắc,chủ nghĩa cơ hội ngày càng lan rộng và gây ra tình trạng chia rẽ trong Quốc
tế I, buộc tổ chức này phải giải tán vào năm 1876
Sau Công xã Pari là thời kỳ phát triển nhanh chóng của các đảng dânchủ xã hội Bên cạnh đó, còn do sự mở rộng nền dân chủ t sản trong thời kỳthịnh vợng của CNTB ở những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX trongnhững năm 80 - 90 của thế kỷ XIX, nhiều đảng dân chủ xã hội với nhữngtên gọi khác nhau đã ra đời ở một loạt nớc châu Âu: Đảng Công nhân Pháp(1879), Đảng Dân chủ xã hội Bỉ (1879), Đảng Dân chủ xã hội Hà Lan(1889), Đảng Công nhân dân chủ xã hội Thuỵ Điển (1889) Ngoài ra, ởcác nớc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nauy, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Italia đều
ra đời các đảng công nhân ít nhiều mang t tởng dân chủ xã hội, đồng thờicũng chịu ảnh hởng của chủ nghĩa Mác
Sự trởng thành và phát triển mạnh của phong trào công nhân, phongtrào công đoàn và đặc biệt là sự ra đời của một loạt đảng dân chủ xã hội cótính chất XHCN ngày càng đậm nét là những điều kiện khách quan trực tiếp
đa đến việc thành lập tổ chức quốc tế mới của phong trào công nhân - Quốc
tế II - vào năm 1889 Sự ra đời của Quốc tế II đánh dấu bớc phát triển mớicủa phong trào công nhân, phong trào dân chủ xã hội trong thập kỷ cuốicùng của thế kỷ XIX Sau khi Ăngghen mất (1895), mặc dù đã xuất hiệntrào lu Bônsêvích do Lênin đứng đầu kiên quyết đấu tranh chống t tởng cơhội, nhng chủ nghĩa cơ hội vẫn chiếm u thế trong Quốc tế II, cuối cùng đãdẫn tổ chức này đến chỗ phá sản vào năm 1914 Các lực lợng cách mạng,cánh tả trong các đảng dân chủ xã hội trung thành với t tởng của CNXHkhoa học đã tập hợp xung quanh Đảng Bônsêvích Nga do Lênin đứng đầu,thành lập Quốc tế cộng sản (Quốc tế III) vào năm 1919 và các đảng cộngsản ở các nớc Sự phá sản của Quốc tế II, sự thành lập các đảng cộng sản vàQuốc tế cộng sản đánh dấu "cuộc chia tay lịch sử" giữa hai trào lu cộng sản
và dân chủ xã hội trong phong trào công nhân quốc tế
Trang 13Nh vậy, trong giai đoạn phát triển lịch sử đầu tiên của trào lu dân chủxã hội có thể thấy, xét về tổng thể, sự lớn mạnh và trởng thành của GCCNchâu Âu từ nửa cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX là cái nôicủa phong trào dân chủ xã hội Tuy nhiên, biến đổi lớn nhất trong nội bộtrào lu là sự phân hoá ngày càng đậm nét thành hai khuynh hớng: Khuynhhớng dân chủ xã hội cách mạng chịu ảnh hởng tích cực của t tởng mác xít,
là cơ sở của các đảng cộng sản và công nhân sau này; khuynh hớng dân chủxã hội cải long đối lập với khuynh hớng mác xít, đi ngợc lại lợi ích cáchmạng của giai cấp vô sản và phong trào công nhân Những đại diện tiêubiểu cho khuynh hớng này trong phong trào dân chủ xã hội ở nớc Đức nóiriêng và châu Âu nói chung là F Lassalle, E Bernstein và K Kaustky.Những quan điểm của các ông này đã trở thành nền tảng t tởng, lý luận củatrào lu dân chủ xã hội Có thể nói, hầu nh không có một quan điểm lý luậnhiện đại nào của CNXH dân chủ lại không dựa trên những quan điểm lýluận đã đợc hình thành từ giai đoạn này, nhất là các quan điểm của E.Bernstein Phân tích những hiện tợng mới của CNTB cuối thế kỷ XIX,Bernstein đã xét lại và phủ nhận một loạt các luận điểm quan trọng của chủnghĩa Mác về sự tiêu vong của CNTB, sự cần thiết của đấu tranh giai cấp,cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản Đồng thời đề ra những nguyêntắc của quan niệm mới về con đờng và mục tiêu của CNXH Đó là con đờngcải cách dân chủ và CNXH dân chủ khác biệt với con đờng cách mạng vôsản, cách mạng XHCN của chủ nghĩa Mác Đề cao các hình thức đấu tranhnghị trờng, công khai và vai trò siêu giai cấp của nhà nớc dân chủ t sản,Bernstein thực tế đã bác bỏ con đờng cách mạng bạo lực, đấu tranh giai cấp
và xoá bỏ nhà nớc t sản, thiết lập nhà nớc chuyên chính vô sản để tiến tớiCNXH Đối với Bernstein, chỉ cần sử dụng nhà nớc dân chủ để tiến hànhcác cuộc cải tạo hoà bình CNTB là có thể tiến tới CNXH và mục tiêu giảiphóng GCCN
2.2 Giai đoạn thứ hai, từ sau chiến tranh thế giới thứ I đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ II
Sau chiến tranh thế giới thứ I, CNTB đi vào khắc phục hậu quả chiếntranh, khủng hoảng và tiếp tục phát triển theo khuynh hớng đế quốc chủnghĩa Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mời, nớc Nga Xô viết - nhà nớcXHCN đầu tiên trên thế giới - ra đời và bắt tay vào xây dựng một xã hộimới - xã hội XHCN Dới ảnh hởng của Cách mạng tháng Mời, một cao tràocách mạng đã diễn ra ở châu Âu trong những năm 1918 - 1923, nhng đã bị