1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tác động của tỷ giá nhân dân tệ và đô la mỹ đến các yếu tố kinh tế vĩ mô việt nam

57 710 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 382,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù, các chỉ số của Việt Nam năm 2015 như lạm phát chưa tới 1%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 5%; Tốc độ GDP tăng 6,68% so với năm trước, cao hơn mục tiêu 6,2%; Dự trữ ngoại hối ở mức cao đạt 38 tỷ USD (Tổng cục thống kê) đã hỗ trợ Ngân hàng nhà nước Việt Nam đảm bảo cam kết của Ngân hàng nhà nước không điều chỉnh tỷ giá USDVND quá 2% trong năm 2015. Tuy nhiên, cú sốc phá giá 4,6% CNY so với USD của Trung Quốc bắt đầu từ 1182015 đã buộc Việt Nam phải điều chỉnh tỷ giá thêm 1% vào ngày 1982015, sau khi đã nới tỷ giá 2 lần mỗi lần 1% vào ngày 712015 và 752015 và điều chỉnh biên độ tỷ giá lên +2% vào ngày 1282015 và lên +3% vào ngày 1982015, đồng nghĩa với biến động tỷ giá USDVND được nới rộng tổng cộng +5% trong năm 2015. Như vậy, theo đuổi cơ chế tỷ giá theo hướng cứng kém linh hoạt trong suốt một thời gian khá dài, Việt Nam đã đối mặt với áp lực điều chỉnh tỷ giá lớn bất thường khi xuất hiện các cú sốc tỷ giá đồng tiền thứ ba (đồng tiền khác USD, có liên quan đến hoạt động thương mại nhiều với quốc gia). Kết quả là chính những lần điều chỉnh lớn bất thường như vậy sẽ làm gia tăng rủi ro tỷ giá và vấn đề đặt ra là các cú sốc tỷ giá của USDCNY có tác động đến các yếu tố kinh tố vĩ mô của Việt Nam như chỉ số GDP và chỉ số CPI hay không.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

VÀ ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT

TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ VÀ ĐÔ LA MỸ

ĐẾN CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM

TP.HCM, ngày 10 tháng 05 năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

VÀ ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT (Research Proposal)

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã ngành: 62.34.02.01

Đề tài:

TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ VÀ ĐÔ LA MỸ

ĐẾN CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM

Trang 3

Địa điểm hội đồng : Đại học Ngân hàng TP.HCM

NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 20…

Người hướng dẫn khoa học

Trang 4

MỤC LỤC

1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Vấn đề nghiên cứu và tính cấp thiết 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài 3

1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 5

1.6 Tổng quan phương pháp nghiên cứu 6

1.7 Cấu trúc nghiên cứu 6

2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 7

2.1 Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cơ chế tỷ giá và kết quả kinh tế vĩ mô 7

2.2 Nghiên cứu tác động của việc định giá lại CNY đến giá trị của đồng tiền khác 10

2.2.1 Nghiên cứu vai trò và vị trí của CNY 10

2.2.2 Nghiên cứu tác động của việc định giá CNY đến giá trị của đồng tiền khác 12

2.3 Nghiên cứu cú sốc của tỷ giá đồng tiền thứ ba tác động đến các yếu tố kinh tế vĩ mô của một quốc gia 17

2.3.1 Nghiên cứu của Ronald McKinnon và Gunther Schnabl (2003) 17

2.3.2 Nghiên cứu của Qais Issa Al Yahyaei (2011) 19

2.3.3 Nghiên cứu của Mansor H.Ibrahim (2007) 22

2.3.4 Các nghiên cứu liên quan ERPT 22

3 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐỀ TÀI 25

3.1 Mô hình Mundell-Fleming 25

3.2 Lý thuyết bộ ba bất khả thi 32

4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 36

4.1 Cơ sở hình thành các biến của mô hình nghiên cứu 36

4.1.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương (NER) 36

4.1.2 Tỷ giá hối đoái thực song phương (RER) 37

4.1.3 Sản lượng quốc nội (GDP) 38

4.1.4 Chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) 38

4.1.5 Mức cung tiền (M2) 39

4.2 Lựa chọn mô hình nghiên cứu 39

4.3 Nguồn dữ liệu 40

4.4 Quá trình xây dựng mô hình nghiên cứu 40

5 ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT 42

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 42

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ USD/VND VÀ CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM 42

Trang 5

CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA CÚ SỐC TỶ GIÁ USD/CNY ĐẾN TỶ GIÁ USD/VND 42

CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ USD/CNY ĐẾN CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM 43

CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN 43

6 KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 44

7 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC 44

8 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

TIẾNG VIỆT 45

TIẾNG NƯỚC NGOÀI 46

MỘT SỐ TRANG WEB 52

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BIR Bid Interest Rate - Lãi suất ngân hàng thương mại huy động

CNY Nhân dân tệ

CPI Consumer Price Index - Chỉ số giá cả tiêu dùng

ERPT Exchange Rate Pass Through - Truyền dẫn của tỷ giá

GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

JPY Yên Nhật

NHNN Ngân hàng nhà nước

NHTW Ngân hàng trung ương

NER Tỷ giá danh nghĩa song phương

OCA Optimum Currency Area - Lý thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu

RER Tỷ giá thực song phương

USD Đô la Mỹ

VND Việt nam Đồng

Trang 7

1 GIỚI THIỆU

1.1 Vấn đề nghiên cứu và tính cấp thiết

Mặc dù, các chỉ số của Việt Nam năm 2015 như lạm phát chưa tới 1%, thấp hơnnhiều so với mục tiêu 5%; Tốc độ GDP tăng 6,68% so với năm trước, cao hơn mục tiêu6,2%; Dự trữ ngoại hối ở mức cao đạt 38 tỷ USD (Tổng cục thống kê) đã hỗ trợ Ngânhàng nhà nước Việt Nam đảm bảo cam kết của Ngân hàng nhà nước không điều chỉnh tỷgiá USD/VND quá 2% trong năm 2015 Tuy nhiên, cú sốc phá giá 4,6% CNY so vớiUSD của Trung Quốc bắt đầu từ 11/8/2015 đã buộc Việt Nam phải điều chỉnh tỷ giáthêm 1% vào ngày 19/8/2015, sau khi đã nới tỷ giá 2 lần mỗi lần 1% vào ngày 7/1/2015

và 7/5/2015 và điều chỉnh biên độ tỷ giá lên +-2% vào ngày 12/8/2015 và lên +-3% vàongày 19/8/2015, đồng nghĩa với biến động tỷ giá USD/VND được nới rộng tổng cộng+5% trong năm 2015 Như vậy, theo đuổi cơ chế tỷ giá theo hướng cứng kém linh hoạttrong suốt một thời gian khá dài, Việt Nam đã đối mặt với áp lực điều chỉnh tỷ giá lớn bấtthường khi xuất hiện các cú sốc tỷ giá đồng tiền thứ ba (đồng tiền khác USD, có liênquan đến hoạt động thương mại nhiều với quốc gia) Kết quả là chính những lần điềuchỉnh lớn bất thường như vậy sẽ làm gia tăng rủi ro tỷ giá và vấn đề đặt ra là các cú sốc tỷgiá của USD/CNY có tác động đến các yếu tố kinh tố vĩ mô của Việt Nam như chỉ sốGDP và chỉ số CPI hay không

Về mặt lý thuyết, mức độ linh hoạt của cơ chế tỷ giá phụ thuộc mức độ đa dạnghóa hoạt động thương mại, nếu mức độ đa dạng hóa thương mại của một quốc gia thấp,thì cơ chế tỷ giá của quốc gia đó sẽ kém linh hoạt Mức độ kém linh hoạt của cơ chế tỷgiá của Việt Nam một phần chính là do việc đa dạng hóa hoạt động thương mại còn thấp.Tập trung quá lớn tỷ trọng thương mại vào một số nước và việc sử dụng nhiều đồng tiềnmạnh khác USD để thanh toán, giao dịch thương mại quốc tế chiếm một tỷ trọng quánhỏ Những rủi ro liên quan đến biến động tỷ giá chính là trở ngại lớn cho quá trình hộinhập, phát triển của quốc gia Tất cả các nước Đông Á (ngoài trừ Nhật bản) xuất phát từcuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997-1998 đều có chế độ tỷ giá cố định hay neo

Trang 8

vào USD còn gọi là “chuẩn đô la Đông Á” (MCKimon, 2000-2001) Việc cố định tỷ giá

và neo tỷ giá vào đồng tiền duy nhất là USD đã làm cho các quốc gia phải đối mặt vớinhững cú sốc của các khủng hoảng kinh tế quốc tế gây ra cho nền kinh tế trong nước, đặcbiệt là các cú sốc tỷ giá đồng tiền thứ ba Do đó cần thực hiện đa dạng hơn trong cơ cấu

dự trữ quốc gia, khuyến khích sử dụng đa dạng các đồng tiền trong định giá và thanh toánquốc tế nhiều hơn nữa để cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt hơn và tránh những cú sốc tỷgiá có tác động không tốt đến kinh tế quốc gia

Trong nhiều thập niên gần đây, Trung Quốc đã có những bước phát triển vượt bậc

và trở thành một siêu cường quốc kinh tế hàng đầu trên thế giới, Trung Quốc đứng đầutrong lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa, sản xuất công nghiệp chế biến và tiêu thụ năng lượng,

là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Mặt khác, Trung Quốc còn có dự trữ quốc tế đứng đầuthế giới và là chủ nợ lớn nhất của Mỹ Tuy nhiên, không giống như USD và EUR, CNYvẫn chưa được nhiều quốc gia lựa chọn trong các hoạt động thương mại và tài chính mặc

dù Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới Điều này xuất phát từ việc TrungQuốc đã “giấu” bản tệ khỏi thị trường quốc tế và áp dụng những biện pháp hạn chế muabán nhằm tạo nên một tấm lá chắn bảo vệ Trung Quốc trước dòng chảy vốn thất thường,đồng thời giúp hàng hóa của Trung Quốc có giá rẻ thông qua các chính sách phá giá tiền

tệ của mình Quá trình quốc tế hóa CNY sẽ buộc Trung Quốc phải từ bỏ mục tiêu kiểmsoát dòng luân chuyển vốn, lãi suất và tỷ giá hối đoái, trước áp lực của các nước trên thếgiới đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc đã phải điều chỉnh CNY tăng giá và không thể tiếp tụcduy trì được chính sách phá giá CNY để có lợi cho xuất khẩu Với vị thế kinh tế - chínhtrị, mức độ khu vực hóa, quốc tế hóa CNY ngày càng tăng, đặc biệt là sau khi TrungQuốc thực hiện tự do hóa hoàn toàn các giao dịch trên cán cân vốn thì biến động trong tỷgiá USD/CNY sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các quốc gia theo nhiều hướngkhác nhau, những nước có giao dịch thương mại trực tiếp với Trung quốc hay cạnh tranhvới Trung Quốc trong các thị trưởng thứ ba thì tác động này lại càng lớn Với việc VNDđược neo khá chặt vào USD, nếu CNY lên giá so với USD thì tương quan giá trị giữaCNY và VND cũng sẽ thay đổi Trên thực tế, cán cân thương mại giữa hai nước trong đó

Trang 9

Việt Nam đang nhập siêu lớn từ Trung Quốc, khi CNY lên giá thì khối tài sản của TrungQuốc sẽ lớn lên tương ứng và việc đầu tư ra nước ngoài sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn

Như vậy, xuất phát từ nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tế đã cho thấy tácđộng của biến động tỷ giá USD/CNY đến nền kinh tế thế giới sẽ vô cùng to lớn Vớinhững nền kinh tế láng giềng của Trung Quốc và có thực lực yếu hơn như Việt Nam thì

sự cảnh báo này càng tăng gấp bội Nghiên cứu này nhằm làm rõ một số vấn đề về lýluận, thực nghiệm tác động của tỷ giá USD/CNY đến các yếu tố kinh tế vĩ mô của ViệtNam, thông qua việc xem xét tác động lên các yếu tố sản lượng và giá cả Vấn đề đặt rađối với Việt Nam là phải lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá nào là thích hợp trong quátrình hội nhập kinh tế vì sự lựa chọn sai lầm rất có thể dẫn đến sự bất ổn tiền tệ, bất ổnkinh tế vĩ mô Vậy cơ chế điều hành tỷ giá nào phù hợp với tình hình kinh tế và mức độphát triển thị trường tài chính hiện nay của Việt Nam ? Kết quả nghiên cứu tác động của

tỷ giá USD/CNY đến các yếu tố kinh tế Việt Nam sẽ cung cấp một số câu trả lời cho vấn

đề này Đồng thời việc xem xét mối tương quan qua lại giữa các biến trong nước và ngoàinước khi tiến hành ước lượng, kiểm định mô hình cũng sẽ góp phần gợi ý cho việc lựachọn chính sách điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp với nền kinh tế Việt nam Đó là lý do

tác giả lựa chọn tỷ giá USD/CNY cho đề tài nghiên cứu “Tác động của tỷ giá Nhân dân

tệ và Đô la Mỹ đến các yếu tố kinh tế vĩ mô Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả tập trung làm rõ tác động của tỷ giáUSD/CNY đến các yếu tố kinh tế vĩ mô Việt Nam cụ thể là chỉ số GDP và chỉ số CPI Từ

đó đưa ra một số gợi ý đối với chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của Việt Nam hiệnnay

1.3 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục tiêu trên luận án cần giải quyết một số vấn đề sau:

- Mối quan hệ giữa tỷ giá USD/VND và các yếu tố kinh tế vĩ mô Việt Namtrong ngắn hạn và dài hạn ?

Trang 10

- Tác động của cú sốc tỷ giá USD/CNY đến tỷ giá USD/VND ?

- Mối quan hệ giữa tỷ giá USD/CNY và các yếu tố kinh tế vĩ mô Việt Namtrong ngắn hạn và dài hạn ?

1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trong thực tế, số liệu thống kê của Việt Nam không đầy đủ cho một thời kỳ quansát dài Thêm vào đó, việc phân tích nhiều yếu tố và đưa tất cả các biến vào mô hình làkhông khả thi vì sẽ ảnh hưởng đến mức độ chính xác của mô hình do số lượng quan sát bịhạn chế Vì vậy, với mục tiêu nghiên cứu tác động của tỷ giá USD/CNY đến các yếu tốkinh tế vĩ mô Việt Nam, luận án sẽ sử dụng các biến số cần nghiên cứu và khoảng thờigian cụ thể như sau:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu tác động của tỷ giá hốiđoái USD/CNY đối với các yếu tố kinh tế vĩ mô Việt Nam, các yếu tố kinh tế vĩ mô nàyđược xem xét bao gồm: chỉ số GDP đại diện cho sản lượng sản xuất, và chỉ số CPI đạidiện cho mức giá cả Các biến này được lựa chọn phù hợp với lý thuyết và các mô hìnhthực nghiệm đã được nghiên cứu, đồng thời những biến này mang tính đặc trưng của cácmục tiêu chính sách mà bất kỳ quốc gia nào cũng muốn đạt được

Phạm vi nghiên cứu là biến động tỷ giá USD/CNY đến các yếu tố kinh tế vĩ môViệt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến quý II năm 2016 Đây là khoảng thời gian mà các

số liệu thống kê của Việt Nam tương đối đầy đủ để có thể thực hiện được nghiên cứu

1.5 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu

Dựa trên những nghiên cứu trong và ngoài nước mà tác giả tiếp cận được thìhướng nghiên cứu tác động của tỷ giá USD/CNY đối với kinh tế vĩ mô Việt Nam là thực

sự cần thiết nhưng lại chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu và tổng thể

Trang 11

(1) Các nghiên cứu chủ yếu phân tích theo hướng mối quan hệ riêng lẻ giữa các

yếu tố như tỷ giá và lãi suất, tỷ giá và sản lượng hoặc tỷ giá và lạm phát…Với nghiên cứucủa mình, tác giả sẽ mở rộng phân tích McKinnon-Schnabl ở hai khía cạnh Đầu tiên,ngoài việc đánh giá những tác động của USD/CNY đến biến động về chỉ số GDP thực tếcủa Việt Nam, tác giả cũng tìm hiểu những tác động tỷ giá hối đoái USD/CNY đến chỉ sốCPI, ngoài ra phân tích thêm tác dộng trên hai biến tiền tệ là cung tiền M2, lãi suất Tácgiả tin rằng nhìn vào những ảnh hưởng của tỷ giá USD/CNY vào các biến mức giá hànghóa và thị trường tiền tệ cung cấp một bức tranh toàn diện hơn về vấn đề này Và thứ hai,tác giả viết lại các phân tích trong một khung cảnh động khi mà dòng vốn được tự hóamạnh mẽ, tỷ giá hối đoái của các quốc gia có nhiều biến động, và nền kinh tế của cácnước có nhiều thăng trầm trong thời gian gần đây

(2) Các đề tài nghiên cứu hiện nay chủ yếu đề cập chính sách điều hành tỷ giá của

Việt Nam và Trung Quốc riêng lẻ Trong quá trình nghiên cứu, tác giả rất khó tiếp cậncác đề tài về sự phù hợp của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định neo chủ yếu vào USD hiện

có của Việt Nam với trọng tâm đặc biệt xem xét về mối liên hệ giữa những biến động tỷgiá đồng tiền thứ ba với tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam Thông qua đánh giá thựctrạng, nghiên cứu các mô hình trên thế giới tác giả đã tiến hành nghiên cứu và vận dụng

lý thuyết mô hình Mundell-Fleming kết hợp với sử dụng mô hình tự hồi quy chuỗi thờigian thực nghiệm tại Việt Nam để xem xét biến động của tỷ giá USD/CNY tác động đếncác yếu tố kinh tế vĩ mô như thế nào

(3) Kết quả nghiên cứu này góp phần xem xét lại cơ chế điều hành neo nội tệ vào

USD hiện nay của Việt Nam Đề tài mở ra một hướng nghiên cứu mới về cơ chế điềuhành tỷ giá của Việt Nam Thay vì neo cố định nội tệ phụ thuộc quá nhiều vào USD thìcần cân nhắc đến vấn đề neo tỷ giá vào một rổ tiền tệ, trong đó đưa Nhân dân tệ vàođồng tiền dự trữ quốc gia với trọng số thích hợp một cách linh hoạt dựa trên mối quan hệtương quan giữa tỷ giá và các yếu tố kinh tế vĩ mô đã được xem xét từ luận án

1.6 Tổng quan phương pháp nghiên cứu

Trang 12

Dựa vào các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, luận

án xây dựng mô hình nghiên cứu nhằm phân tích tác động của cú số tỷ giá USD/CNYđến các yếu tố GDP, CPI Ngoài ra, để kiểm chứng một cách toàn diện mối quan hệ giữa

tỷ giá USD/CNY với các yếu tố kinh tế vĩ mô, tác giả đã bổ sung thêm lượng cung tiền(M2) đại diện cho cung tiền và để không làm ảnh hưởng đến mức độ chính xác của môhình do hạn chế về số lượng quan sát, luận án sẽ thay đổi các biến tỷ giá NER thay cho tỷgiá RER, biến lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại (BIR) thay cho cung tiền(M2) Phương pháp định lượng được sử dụng trong luận án là các phương pháp áp dụngcho mô hình hồi quy với dữ liệu chuỗi thời gian phù hợp theo từng nội dung nghiên cứu

1.7 Cấu trúc nghiên cứu

Luận án được cấu trúc thành 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương 2: Mối quan hệ giữa tỷ giá USD/VND và các yếu tố kinh tế vĩ mô củaViệt Nam

Chương 3: Ước lượng tác động của cú sốc tỷ giá USD/CNY đến tỷ giá USD/VND Chương 4: Kiểm định tác động của tỷ giá USD/CNY đến các yếu tố kinh tế vĩ môcủa Việt Nam

Chương 5 : Kết luận

2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều nghiên cứu về vấn đề tỷ giá hối đoái và chínhsách điều hành tỷ giá Với đề tài đã lựa chọn cũng như để đạt được mục tiêu của đề tài,tác giả đã tìm hiểu các nhóm nghiên cứu liên quan như sau

2.1 Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cơ chế tỷ giá và kết quả kinh tế vĩ mô

Sự lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái được chú ý lớn hơn trong tài chính quốc tế sau

sự sụp đổ của hệ thống Bretton Wood trong đầu những năm 1970 (Kato và Uctum,

Trang 13

2007) Hơn nữa, cơ chế tỷ giá hối đoái được phân loại theo các quy tắc tiếp theo liên

quan đến mức độ can thiệp thị trường ngoại hối của các cơ quan tiền tệ (Frenkel và

Rapetti, 2012) Xét theo truyền thống chế độ tỷ giá chia thành hai loại cơ chế tỷ giá cố

định và thả nổi, cơ chế tỷ giá cố định thường được định nghĩa là sự cam kết của cơ quantiền tệ can thiệp vào thị trường ngoại hối để duy trì một tỷ lệ cố định nào đó cho đồngtiền quốc gia so với một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền tệ Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổithường được định nghĩa là sự cam kết của cơ quan tiền tệ để quyết tâm tỷ giá hối đoáiđược thiết lập bởi các lực lượng thị trường thông qua cung và cầu của thị trường Hơnnữa, giữa các cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi và cố định, có tồn tại hệ thống thay thế để duytrì sự linh hoạt nhất định Chúng được biết đến như là trung gian hoặc chế độ mềm.Chúng bao gồm neo theo giỏ nhiều ngoại tệ, neo có điều chỉnh, và cơ chế tỷ giá hỗn hợp,

nghiên cứu chi tiết về các cơ chế trung gian được cung cấp trong Frankel (2003),

Reinhart và Rogoff (2004), và MacDonald (2007)

Các chế độ tỷ giá hối đoái hiện nay mà một quốc gia quản lý tiền tệ của nó đối vớicác đồng tiền khác đã được lập luận đóng một vai trò quan trọng trong việc định hìnhnhiều kết quả kinh tế vĩ mô trong vài thập kỷ qua Trong hầu hết trường hợp, giá cả ổnđịnh đã đạt được thông qua các cơ chế sử dụng NER như một mỏ neo Một kết quảkhông mong muốn của cơ chế này là sự định giá quá cao của RER, dẫn đến những cú sốc

từ bên ngoài Bài học quan trọng từ những kinh nghiệm này là để đối phó với biến độngcủa vốn và để tránh các cuộc khủng hoảng bên ngoài, chính sách kinh tế vĩ mô không chỉcần đến chính sách quản lý tiền tệ và tài chính mà còn là một chính sách tỷ giá hối đoái

để tránh RER định giá quá cao và kết hợp linh hoạt tỷ giá với ngoại hối dự trữ tích lũy

(Frenkel và Rapetti, 2012)

Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất trong cơ chế tỷ giá hối đoái tối ưu hoặcthông qua các yếu tố mà làm cho một quốc gia lựa chọn một chế độ tỷ giá cụ thể (Kato vàUctum, 2007) Theo Frankel (1999, 2003), không có chế độ tỷ giá hối đoái đơn là đúngcho tất cả các nước, hoặc ở tất cả các lần, và sự lựa chọn của một chế độ tỷ giá hối đoáiđúng chủ yếu phụ thuộc vào hoàn cảnh của đất nước cũng như xét về mặt thời gian Dựatrên các tài liệu lý thuyết truyền thống, các tiêu chuẩn phổ biến nhất cho xác định cơ chế

Trang 14

tỷ giá hối đoái tối ưu là sự ổn định kinh tế vĩ mô và tài chính trong đối mặt với những cú

sốc danh nghĩa hoặc thực (Mundell, 1963) Quan điểm truyền thống cho rằng tỷ giá hối

đoái cố định là hữu ích hơn trong việc đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô và tài chínhtrong phản ứng với những cú sốc danh nghĩa trong nước như sự thay đổi trong nhu cầuđồng tiền Ý tưởng ở đây là không có nhu cầu thay đổi lãi suất hoặc thay đổi mức giá nên

cung tiền có thể tự động điều chỉnh để thay đổi trong nhu cầu tiền (Fleming, 1962,

Mundell, 1963) Ngược lại, tỷ giá hối đoái linh hoạt theo truyền thống được ưa thích để

cô lập nền kinh tế từ những cú sốc thực sự, chẳng hạn như những thay đổi trong nhu cầu

đối với hàng xuất khẩu hoặc trong các điều khoản của thương mại (Friedman, 1968).

Các nghiên cứu nói chung đã được thiết lập trong một thời đại mà được đặc trưng rộngrãi bởi kiểm soát vốn chặt chẽ, tỷ giá tương đối ổn định, tỷ lệ lạm phát thấp, kinh tế tăngtrưởng

Tuy nhiên, trong bối cảnh gia tăng dòng chảy của vốn chủ yếu là do bãi bỏ quyđịnh về tài chính và cắt giảm các rào cản đối với các dòng tài chính, và vì thế các cú sốc

từ bên ngoài sẽ lớn, các cuộc tranh luận hiện đại về sự lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái đãtập trung vào sự phụ thuộc giữa lạm phát thấp (sự tín nhiệm) và tăng trưởng kinh tế (mềmdẻo) Dựa trên các nghiên cứu, cơ chế tỷ giá hối đoái cố định giúp truyền đạt sự tín nhiệmcủa chính sách lạm phát thấp từ một ngân hàng trung ương nước ngoài và đảm bảo một

môi trường lạm phát thấp trong nước (Dornbusch, 2001) Do lạm phát thiên vị, các ngân

hàng trung ương chống lạm phát có thể cung cấp cam kết của nó bằng cách có ý định sửachữa các tỷ lệ trao đổi tiền tệ Do đó, độ tin cậy của các chế độ cố định được cũng cố, chế

độ cố định gắn liền với các nhà hoạch định chính sách cụ thể (Carmignani et al., 2008).

Sự lựa chọn của USD như một loại tiền tệ neo đã được dựa chủ yếu vào sự thống trị cáctài khoản của đồng tiền này trong thương mại quốc tế Tiếp tục với USD đã được lựachọn do một số lý do, trong đó có phần lớn là sự ổn định xuất khẩu và doanh thu tài chính(khi doanh thu là thành phần chủ yếu của ngân sách nhà nước), độ tin cậy của chính sáchtiền tệ khi tỷ giá neo vào USD sẽ tăng, và để bảo vệ các giá trị của các tài sản tài chínhchủ yếu là USD chiếm ưu thế từ biến động tỷ giá hối đoái Neo giá USD đã đáp ứng được

kỳ vọng của các nền kinh tế trong một thời gian đáng kể Neo giá vào USD đã giúp trong

Trang 15

việc loại bỏ hoặc ít nhất giảm thiểu rủi ro tỷ giá và để ổn định sự biến động tài sản tàichính chủ yếu là USD của các nước Nó cũng làm giảm chi phí giao dịch thương mại, tàichính và các hoạt động khuyến khích đầu tư Hơn nữa, về mặt nội bộ ổn định tỷ giá đãgiúp các nước tránh những cú sốc danh nghĩa và giúp duy trì khả năng cạnh tranh quốc

tế của các nền kinh tế (Kumah, 2009; Khan, 2009).

Ngược lại, các nghiên cứu khác đã cho thấy tính khả thi của chế độ tỷ giá hối đoái

linh hoạt (Poirson 2002; và Carmignani et al., 2008; Velasco, 2001) Theo quan điểm

này, những hạn chế của chính phủ cần phải được thông qua thành lập một tập hợp của các

tổ chức trong nước để đảm bảo sự thận trọng đó là không lạm dụng chính sách, phát triểnkinh tế phù hợp và bền vững để duy trì lạm phát thấp Sự độc lập của ngân hàng trungương đã được đề xuất như một phương pháp để giải quyết các vấn đề mâu thuẫn liênquan đối với chính sách tiền tệ Hơn nữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một chế độ tỷ giáhối đoái linh hoạt có thể giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn vì nó cho phép nềnkinh tế có một chính sách tiền tệ độc lập, cung cấp sự linh hoạt để thích nghi với nhữngxáo trộn trong và ngoài nước Dưới chế độ hối đoái thả nổi, tỷ giá hối đoái có thể điềuchỉnh một cách nhanh chóng và giúp đỡ để khôi phục lại sự cân bằng trong nền kinh tế,

mà không cần phải thay đổi trong mức giá (MacDonald, 2007)

Trong bối cảnh các nghiên cứu về chế độ tỷ giá hối đoái tác động đến kinh tế của mỗi nước, nghiên cứu này nhằm mục đích để xem xét về sự phù hợp của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định neo vào USD hiện có của Việt Nam, với trọng tâm xem xét về mối liên

hệ với những biến động tỷ giá đồng tiền thứ ba tác động đến tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam Để làm được điều này luận án sẽ thực hiện mục tiêu đầu tiên đó là kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá USD/VND và các yếu tố kinh tế vĩ mô Việt Nam.

Ngoài ra, luận án cũng cố gắng để tiếp tục phân tích tính khả thi của chế độ tỷ giá hối đoái mà Việt Nam có thể thực hiện bằng cách xem xét một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, một cơ chế neo giá nội tệ vào giỏ tiền tệ gồm nhiều ngoại tệ của các quốc gia có giao dịch kinh tế nhiều với Việt Nam, thay vì tỷ giá chỉ neo vào USD chủ yếu như hiện tại Sự lựa chọn cho các đồng tiền trong rổ hàng hóa dựa trên tiêu chuẩn tối ưu (OCA),

lý thuyết cho thấy việc áp dụng tiền tệ neo rổ tiền tệ giảm thiểu tổng biến động của tỷ giá

Trang 16

hối đoái song phương, chú trọng bởi tầm quan trọng của từng đối tác thương mại

(Meissner và Oomes, 2009)

2.2 Nghiên cứu tác động của việc định giá lại CNY đến giá trị của đồng tiền khác

Các nghiên cứu này tập trung chủ yếu theo hai hướng đó là quá trình quốc tế hóaCNY và tác động của CNY đến giá trị của đồng tiền khác

2.2.1 Nghiên cứu vai trò và vị trí của CNY

Đầu tiên, các nghiên cứu về sự tiến bộ và quá trình quốc tế hóa CNY là cả chiều

sâu và chiều rộng và phát triển nhanh chóng như Chen và Peng (2010), Gao (2010), He

và McCauley (2010), Prasad và Ye (2011) và He (2014) Đó là sự phát triển trong chính

sách điều hành tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trong những năm gần đây hướng đến hoạtđộng trao đổi mở rộng hơn và linh hoạt hơn, giúp các ngân hàng trung ương khác vàngười tham gia khai thác thông tin về điều kiện kinh tế và thị trường ở Trung Quốc Tăngcường sử dụng của CNY bên ngoài lãnh thổ Trung quốc đã cho phép sự phát triển củaCNY thị trường nước ngoài Sự phát triển của các thị trường nước ngoài khuyến khíchviệc sử dụng của một đồng tiền quốc tế McCauley (2010) thừa nhận rằng, CNY ảnhhưởng ngày càng tăng ở châu Á-Thái Bình Dương, tuy nhiên sẽ không dễ dàng đạt được

vị trí như USD với vai trò chủ đạo của nó như một loại tiền tệ quốc tế Nghiên cứu nàycung cấp bằng chứng đầu tiên về cách các thị trường nước ngoài đánh giá vị thế của tiền

tệ khi đo ảnh hưởng khu vực của tiền tệ, cho thấy có thể có sự khác nhau về vị thế giữacác đồng tiền trong và ngoài nước

Một số nghiên cứu khác đã tập trung vào thị trường ngoại hối trong và ngoài nướccủa Trung Quốc, chủ yếu nghiên cứu quan hệ nhân quả và độ lệch giữa hai thị trường

như Cheung và Rime (2013), Wu và Fei (2012) Các nghiên cứu này cho biết thêm một

chiều hướng khác bằng cách nhìn vào vai trò của thị trường nước ngoài trong các tácđộng của CNY vào đồng tiền châu Á Thị trường ra nước ngoài là ít bị ràng buộc bởi quyđịnh, luật định hơn so với thị trường nội địa, và do đó có thể gia tăng phạm vi hoạt động

và hữu ích cho cả hai trung tâm ngân hàng và các nhà quản lý quỹ Sự chênh lệch trong

Trang 17

các thị trường trong và ngoài nước được thể hiện trong trường hợp của CNY Thị trườngnội địa, gọi là thị trường CNY, dù mức độ linh hoạt ngày càng tăng, vẫn còn bị hạn chếbởi các ngân hàng trung ương can thiệp và các quy định liên quan đến hoạt động thươngmại hàng ngày Ngược lại, không có sự hiện diện của một ngân hàng trung ương trongquá trình hình thành giá hoặc trong việc thiết lập phạm vi giao dịch bị giới hạn trong thịtrường ngoại hối CNY ra nước ngoài Trong khi các tài sản tài chính trong và ngoài nướcđược thể hiện dưới dạng các loại tiền tệ là chủ yếu, các phân đoạn của hai thị trường cóthể có sự khác biệt về giá cả có thể phát sinh từ điều kiện thị trường khác nhau hoặc cácphản ứng của các nhà dầu tư khác nhau trong hai thị trường.

Miriam Campanella (2014) đề cập đến quá trình quốc tế hóa của CNY Mặc dù,

USD vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tiền tệ quốc tế, nhưng chế độ tiền tệ của thếgiới đang có nhiều thay đổi Trung Quốc chủ động thực hiện nhiều biện pháp nhằm thúcđẩy tiến trình quốc tế hóa CNY Sự hình thành liên kết tiền tệ gia tăng vị trí của CNY ởChâu Á đã làm suy yếu sự thống lĩnh, xóa bỏ vị trí gần như độc tôn của USD trước đây.Tác giả đã kết luận sự phát triển, cũng như quá trình quốc tế hóa của CNY đang diễn ra

đã hình thành nên hệ thống tiền tệ đa dạng hơn và giảm bớt rủi ro tình trạng chú trọng,tập trung chủ yếu vào USD

Trung Quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới Là nền kinh tế có trọng lượng đặc biệt đáng chú ý trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, là đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các nền kinh tế trong khu vực Trong những năm gần đây, thị trường tài chính của Trung Quốc liên kết với châu Á và phần còn lại của thế giới cũng đã được mở rộng nhanh chóng Điều này tự nhiên đặt ra câu hỏi về vai trò CNY trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương ? Câu hỏi này chắc chắn sẽ trở nên quan trọng hơn khi hệ thống tài chính của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu có khả năng

sẽ tiếp tục tăng mạnh mẽ và Trung Quốc sẽ ngày càng tự do hóa hệ thống tài chính của mình

2.2.2 Nghiên cứu tác động của việc định giá CNY đến giá trị của đồng tiền khác

Trang 18

Nghiên cứu John Williamson, Senior Fellow (2004) giải thích việc tại sao Trung

Quốc không thực hiện tự do hóa tài khoản vốn và định giá lại giá trị của CNY Chủ yếu là

do kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng nóng, vay ngân hàng đang mở rộng và đầu tưvới tốc độ nhanh chóng mặt Đánh giá lại giá trị CNY sẽ làm nguy hiểm cho nền kinh tếTrung Quốc bởi vì tình trạng yếu kém của hệ thống ngân hàng của Trung Quốc Lạmphát vẫn ở mức thấp, nhưng nó đang tăng tốc rõ ràng dưới áp lực của dư cầu và bằngcách làm cho hàng hóa nước ngoài rẻ hơn ở Trung Quốc Đồng thời, việc định giá lạiCNY sẽ làm chậm hoặc ngăn chặn dòng chảy của nguồn dự trữ làm nền tảng cho việc mởrộng nhanh chóng của tín dụng ngân hàng, làm giảm thặng dư tài khoản vãng lai (hoặcthậm chí tạo ra một thâm hụt) của Trung Quốc Tuy nhiên, định giá lại CNY cũng sẽ là

vô cùng hữu ích cho nền kinh tế thế giới trong việc hỗ trợ điều chỉnh cần thiết của thâmhụt tài khoản vãng lai của Mỹ, điều này sẽ tác động đến nền kinh tế thế giới do vị trí quantrọng của USD đối với nền kinh tế thế giới Nền kinh tế của các nước khác cần một sựmất giá của USD để nỗ lực mở rộng chi tiêu trong phần còn lại của thế giới Cho đến nay

đã có một sự mất giá lớn của USD so với Euro, nhưng ít hoặc không có so với nhiềuđồng tiền châu Á Sự đánh giá lại CNY là chìa khóa để hoàn thành việc điều chỉnh USDđối với một số nước châu Á khác bởi vì cho phép đồng tiền của họ sẽ tăng giá so vớiUSD Mặt khác, việc định giá lại CNY sẽ là tốt cho cả Trung Quốc bởi vì nó sẽ chuyểnhướng một số đồng tiền tiết kiệm hiện đang lãng phí đầu tư vào trái phiếu kho bạc Mỹ cólợi suất thấp vào tăng đầu tư hay tiêu dùng ở Trung Quốc, trong khi giảm bớt các áp lựclạm phát cho nền kinh tế, đặc biệt là áp lực tạo ra bong bóng trong thị trường tài chính

Các nghiên cứu về tầm quan trọng ngày càng tăng của CNY vào đồng tiền khác đãphát triển đặc biệt là sau cải cách tỷ giá trong tháng 7 năm 2005 khi Trung Quốc từ bỏ tỷ

giá hối đoái cố định và di chuyển đến một chế độ thả nổi có quản lý như Shu, Chow và

Chan (2007) lưu ý ảnh hưởng của CNY ở châu Á ngày càng trở nên rõ nét Một số các

nghiên cứu về vai trò của CNY đã phát triển mạnh mẽ hơn như Fratzscher và Mehl

(2011), Henning (2012) và Subramanian và Kessler (2012) Fratzscher và Mehl (2011)

mô tả sự hiện diện đáng kể của CNY trong Châu Á là "giả thuyết thống trị của TrungQuốc", một giả thuyết dựa trên giả thuyết "vai trò chi phối các nhãn hiệu của Deutsche ở

Trang 19

châu Âu trong năm 1980 và 1990” CNY được tìm thấy có tác động tương đối đến cácđồng tiền châu Á mới nổi, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong năm2008-2009 Sự gia tăng của CNY có thể dẫn đến sự thay đổi trong ảnh hưởng lớn trongkhu vực Trước năm 2005, các ngân hàng trung ương châu Á coi trọng rất cao các biến

động USD, được mô tả bởi McKinnon và Schnabl (2003) và McKinnon (2005) như là

một chế độ "neo giá mềm với đô la" Những năm vừa qua đã có một sự giảm sút trong

ảnh hưởng của USD và sự tăng lên của CNY Nghiên cứu của Henning (2012) xác định

một xu hướng giảm đối với khối lượng USD và có xu hướng tăng đối với khối lượng

CNY trong cơ chế tỷ giá hối đoái trong tám đồng tiền Đông Á Subramanian và Kessler

(2012) tin rằng CNY đã trở thành đồng tiền tham khảo chi phối ở 7 trong số 10 tiền tệ

Đông Á cho giai đoạn 2010-2012, bên cạnh tầm quan trọng của USD và EUR trong khuvực Các đồng tiền châu Á cũng tác động đến CNY một số mức độ nhất định trong

nghiên cứu của Fratzscher và Mehl (2011) cho cả giai đoạn trước hoặc sau khi cải cách

tỷ giá CNY, cho thấy hai chiều quan hệ nhân quả giữa chúng Tuy nhiên, Subramanian

và Kessler (2012) chỉ ra rằng đảo ngược nhân quả là yếu hơn nhiều Khi một hồi quy

ngược chạy với CNY như biến phụ thuộc vào một đồng tiền châu Á như là biến độc lập,Subramanian và Kessler (2012) thấy rằng hệ số tác động của tiền tệ châu Á đối với CNY

là nhỏ hơn nhiều khi CNY được sử dụng để giải thích cùng loại tiền tệ châu Á Điều nàycung cấp một số bằng chứng cho thấy các nguyên nhân từ đồng tiền châu Á tác động đếnCNY có mức độ ít hơn so với tác động từ CNY đến các các đồng tiền châu Á

Ngoài ra còn có bằng chứng cho thấy ảnh hưởng của CNY đã đi ra ngoài châu Á

Và một trong các nghiên cứu cũng đã được trình bày phân tích thực nghiệm bởi Frankel

và Wei (1994) Ảnh hưởng toàn cầu của Trung Quốc đã được nghiên cứu từ quan điểm

của mối liên hệ thực tế ví dụ như IMF (2011), Mattoo, Mishra và Subramanian (2012).

Các nghiên cứu này kiểm tra mức độ ảnh hưởng của mối liên kết bao gồm cả biến độngcủa tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ Trung Quốc được truyền tải thông qua tài chính

Ngoài ra, Fratzscher và Mehl (2011) Balasubramaniam, Patnail và Shab (2011) cho

thấy rằng 34 tiền tệ của 132 tiền tệ trên thế giới đã nhạy cảm với những biến động củaCNY, và do đó cho thấy CNY có khả năng có một vai trò đáng kể trong tỷ giá hối đoái

Trang 20

toàn cầu Subramanian và Kessler (2012) cho thấy rằng ảnh hưởng của CNY có được

tăng lên trên toàn cầu, đặc biệt là kể từ giữa những năm 2010 ảnh hưởng gia tăng này làphản ánh trong biên độ rộng, nhiều loại tiền tệ theo dõi CNY trên thế giới và các cấp độsâu, trọng lượng lớn hơn gắn liền với CNY đồng tiền chi phối trong một số trường hợp,

kể cả đối với một số nền kinh tế thị trường mới nổi như Chile và Nam Phi Nghiên cứu

của Ying Fang, Shicheng Huang and Linlin Niu (2012) thể hiện sự phát triển vượt bậc

về kinh tế của Trung Quốc đã góp phần nâng cao vị trí của CNY Mặt khác, Trung Quốc

đã chuyển đổi từ cơ chế tỷ giá neo vào USD sang cơ chế tỷ giá neo vào một rổ tiền tệ,thực hiện đa dạng hóa dự trữ ngoại hối Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp Bayesiancho mô hình rổ tiền tệ của Frankel và Wei (2007) để kiểm định cơ chế neo tỷ giá theo rổtiền tệ của Trung Quốc và các nước Đông Á Kết quả cho thấy tỷ trọng Đôla Mỹ đã giảm,

tỷ trọng một số đồng tiền Châu Á tăng lên trong dự trữ ngoại hối của Trung Quốc Mặtkhác, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự chuyển dịch tăng tỷ trọng CNY so với các loạitiền tệ quốc tế khác, hay nói một cách khác CNY đang ngày có vai trò lớn trong cơ chếđiều hành tỷ giá của các nước Đông Á như: Malaysia, Singapore, Thái Lan Kết quả nàyphản ánh có sự thay đổi lớn về vị trí của Nhân dân tệ trong chính sách điều hành của cácquốc gia Quá trình chuyển dịch từ cơ chế tỷ giá neo theo Đôla Mỹ sang cơ chế tỷ giá neo

theo rổ tiền tệ Một nghiên cứu khác của Arvind Subramanian and Martin Kessler

(2013) phân tích tỷ trọng của Nhân dân tệ đang tăng lên, lớn hơn khoàng 60% so với

Đôla Mỹ trong khu vực Đông Á trong 3 năm gẩn đây, Đông Á hình thành nên khối Nhândân tệ 7 trong số 10 đồng tiền thuộc Đông Á bao gồm: Won Hàn Quốc (KRW), RinggitMalaysia (MYR), Đôla Singapore (SGD), Bath Thái (THB), Tân Đài tệ (TWD), RupiahIndonesia (IDR), Peso Philippine (PHP) đã liên kết Nhân dân tệ chặt chẽ hơn so với Đôla

Mỹ và hình thành khối Nhân dân tệ Khối Nhân dân tệ là đồng tiền đề cho quá trình quốc

tế hóa Nhân dân tệ ra phạm vi toàn cầu Tầm ảnh hưởng của Nhân dân tệ sẽ ngày càngvượt qua Đôla Mỹ Nghiên cứu còn phân tích và so sánh tương quan giá trị thương mại

và mức độ sử dụng, tầm ảnh hưởng của đồng tiền 2 nước Nhật Bản và Trung Quốc đốivới các nước Đông Á Nhật Bản chiếm 22,5% tổng số thương mại của các nước Đông Ávào năm 1991, hiện nay Trung Quốc chiếm 24,4% tổng số thương mại của các nước

Trang 21

Đông Á Tuy nhiên, Yên Nhật chưa bao giờ là đồng tiền quốc tế, trong khi Nhân dân tệlại có triển vọng sẽ tiến hành quốc tế hóa.

Ờ Việt Nam, Nghiên cứu của Lê Xuân Sang (2013), tác giả đánh giá quá trình

quốc tế hóa toàn cầu CNY của Trung Quốc có những đặc trưng: Nhà nước chủ động cónhững biện pháp thúc đẩy và đưa ra lộ trình cụ thể cho quá trình quốc tế hóa CNY; dùngHồng Kông làm thí điểm, bàn đạp để thực hiện quốc tế hóa CNY và tự do tài chính ra bênngoài; thông qua các trung tâm tài chính quốc tế để mở rộng giao dịch tiền tệ, tạo sức lantỏa rộng và mạnh; thúc đẩy thanh toán CNY ở các nước láng giềng cũng như các nước xaTrung Quốc Việt Nam là nước có mức độ sử dụng CNY còn rất hạn chế so với các nướctrong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, trong dài hạn việc Trung Quốc quốc tế hóaCNY và bất ổn tài chính toàn cầu có tác động với các mức độ khác nhau, tới các kênh cóthể là chính sách tiền tệ của NHNN và cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ bao gồm: tíndụng, đồng tiền gửi bằng nhân dân tệ, nghiệp vụ thị trường mở Các biến số khác có khảnăng ảnh hưởng bao gồm: dự trữ ngoại hối bằng CNY, trái phiếu CNY, thị trường ngoạihối Giao dịch trên cán cân vãng lai và cán cân vốn, trước mắt là cán cân thương mại giữaViệt Nam và Trung Quốc và các nước liên quan khác cũng sẽ bị ảnh hưởng Nghiên cứu

của Nguyễn Quốc Thái (2013) thể hiện trong quá trình phát triển 10 năm trở lại đây,

Trung Quốc nhận thức rằng một hệ thống tài chính quốc tế lành mạnh và ổn định hơn cần

có sự hiện diện của “chân kiềng thứ 3” – đó là CNY Hai chân kiềng hiện tại, USD vàEUR chưa thực sự “đủ lực” để duy trì lòng tin của thị trường trong dài hạn Với vai trò làmột trung tâm tài chính quốc tế hoạt động dưới hình thức “một quốc gia – hai thể chế”,Hồng Kông là địa điểm lý trưởng cho nổ lực quốc tế hóa CNY, và đưa đồng tiền này tiếntới mục tiêu đó Trung Quốc chỉ có duy nhất một trung tâm giao dịch CNY ngoài lãnh thổlục địa là Hồng Kông Khu vực này chiếm 70-80% khoảng lượng giao dịch bằng CNYbên ngoài Trung Quốc và trở thành bàn đạp để Trung Quốc quốc tế hóa CNY và pháthành trái phiếu ra thị trường quốc tế khá hiệu quả

Ảnh hưởng của CNY, đặc biệt là ở châu Á, phát sinh từ vai trỏ quan trọng của Trung Quốc trong quan hệ thương mại với khu vực và với phần còn lại của thế giới Đối với nhiều nền kinh tế châu Á thì xuất khẩu, cơ cấu xuất khẩu về sản phẩm và thị trường

Trang 22

xuất khẩu là một nguồn quan trọng của tăng trưởng Các mối quan hệ thương mại phức hợp giữa các nền kinh tế châu Á và Trung Quốc bao gồm: Họ có thể là nhà cung cấp cho nhu cầu trong nước Trung Quốc; Họ có thể là trong các dây chuyền sản xuất tương tự như Trung Quốc; Hoặc xuất khẩu độc lập cùng với Trung Quốc Một nền kinh tế châu Á thường có tất cả ba loại mối quan hệ này với Trung Quốc Điều này dẫn đến một số kênh lan toả tiềm năng cho tỷ giá có liên quan CNY Các quốc gia có cơ chế tỷ giá neo vào rổ tiền tệ bao gồm CNY trong rổ tiền tệ với mục đích duy trì khả năng cạnh tranh của họ với Trung Quốc trong thương mại toàn cầu Chính sách neo vào rổ tiền tệ có CNY cũng có thể để giúp cho nền kinh tế của quốc gia tránh những cú sốc từ đồng tiền này đó chính là

lý do tại sao tác giả lại lựa chọn CNY làm đồng tiền trong tỷ giá hối đoái tác động đến kinh tế Việt Nam trong đối tượng nghiên cứu của mình Và để đạt được mục tiêu nghiên cứu chung của luận án, tác giả sẽ ước lượng tác động của tỷ giá USD/CNY đến tỷ giá USD/VND để xem xét cú sốc tỷ giá USD/CNY sẽ góp phần như thế nào đối với sự biến đổi của tỷ giá USD/VND.

2.3 Nghiên cứu cú sốc của tỷ giá đồng tiền thứ ba tác động đến các yếu tố kinh tế vĩ

mô của một quốc gia

Nghiên cứu về tác động tỷ giá đồng tiền thứ ba đến nền kinh tế các nước thườngcho ra kết quả theo hai xu hướng Xu hướng thứ nhất xem xét cú sốc tỷ giá đồng tiền thứ

ba có tác động tương đối lớn đến các yếu tố kinh tế vĩ mô các nước, mà các nước này đã

áp dụng một chế độ tiền tệ quy đổi theo giá USD có thể sẽ dễ bị các biến thể trong cácđồng tiền thứ ba Và xu hướng thứ hai chính là xem xét cú sốc của tỷ giá đồng tiền thứ batác động không đáng kể đến tình hình kinh tế vĩ mô các nước có chế độ tỷ giá neo chủyếu vào USD

2.3.1 Nghiên cứu của Ronald McKinnon và Gunther Schnabl (2003)

McKinnon và Schnabl (2003) đánh giá những tác động của biến động về tỷ giáUSD/JPY trên sự tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế các nước Đông Á Áp dụngOLS hồi quy, nghiên cứu ước lượng các tác động của biến động USD/JPY vào tốc độ

Trang 23

tăng trưởng kinh tế trong khu vực Đông Á ngoài trừ Nhật Bản thông qua sử dụng môhình kinh tế của Kwan (2001) Trong giai đoạn 1982-1997, Kwan hồi quy tốc độ tăngtrưởng thực sự của EA2 (EA1 cộng với Trung Quốc, EA1 là các nước Đông Á ngoài trừTrung Quốc) dựa vào những thay đổi tỷ giá USD/JPY hàng năm (eYenDollar) và tốc độtăng trưởng ở Mỹ (YUS) mô hình phân phối lag Kwan của đa biến kinh tế phụ thuộclẫn nhau trong khu vực Đông Á được mô tả bởi phương trình :

Như Kwan đã làm, Kinnon sử dụng dữ liệu hàng năm vì dữ liệu GDP quý thực tế làkhông có sẵn cho hầu hết các nước Đông Á trong toàn bộ giai đoạn quan sát Kết quảcho thấy một mối tương quan tỉ lệ nghịch giữa tỷ giá USD/JPY và tăng trưởng trongEA2 Đối với mỗi gia tăng 1% trong tỷ lệ USD/JPY cả hiện tại và độ trễ một năm, tăngtrưởng thực sự trong EA2 giảm khoảng 0,17% Kết quả của quá trình ước lượng các tácđộng tiêu cực của tỷ giá hối đoái USD/JPY trên tốc độ tăng trưởng trong EA1 và EA2 làmạnh mẽ Trên những thay đổi cấp độ quốc gia cá nhân của USD/JPY tỷ giá hối đoáiảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với các nền kinh tế mới công nghiệp hóa Hồng Kông, HànQuốc và Đài Loan (NIEs) và Thái Lan

Tiếp tục điều tra việc truyền tải tác động mức tăng trưởng trong khu vực Đông

Á, Mc Kinnon đã sửa đổi mô hình Kwan trong bốn khía cạnh Đầu tiên, bổ sung các tácđộng của sản lượng của Nhật Bản đối với biến động tăng trưởng các nước Đông Á khácnhư là một biến ngoại sinh bổ sung Thứ hai, phân tách mô hình Kwan xuống cấp cánhân quốc gia để kiểm tra sự biến động của tỷ giá USD/JPY có tác động khác nhau đếnsản lượng giữa các nước Đông Á Thứ ba, phân lập được vai trò quan trọng của TrungQuốc trong hệ thống vĩ mô Đông Á Thứ tư, xác định các hiệu ứng lan tỏa theo chu kỳ

từ các nước EA1 như một tác động tổng thể đến từng nước thành viên Có bốn kết quảchính Đầu tiên, các tốc độ tăng trưởng ở Trung Quốc và Mỹ không ảnh hưởng bởi biếnđộng sản lượng của các nước Đông Á ngoại trừ biến động sản lượng của Đài Loan phầnnào tác động đối với tốc độ tăng trưởng của Mỹ Thứ hai, hầu hết các nền kinh tế Đông

Trang 24

Á nhỏ đều chịu sự tác động đáng kể bởi sự biến động tỷ giá USD/JPY Thứ ba, NhậtBản có một vai trò quan trọng đối với chu kỳ kinh doanh của các láng giềng nhỏ hơn,thay đổi sản lượng của Nhật Bản có một tác động đáng kể trong tám nước Hồng Kông,Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan Malaysia, ngoài trừ Philippines vàSingapore dường như không được liên kết với Nhật Bản Thứ tư, ước tính cho thấy rằngkhông phải Mỹ, cũng không phải Nhật Bản, cũng không phải là các nước EA1 chungảnh hưởng đáng kể đến biến động sản lượng ở Trung Quốc

Như vậy, nghiên cứu đã cho thấy cú sốc tỷ giá USD/JPY gây kìm hãm tăngtrưởng sản lượng của một nhóm các nước Đông Á (bao gồm cả Trung Quốc) Tác độngtiêu cực của cú sốc tỷ giá đồng tiền thứ ba cũng đúng cho từng nền kinh tế, cụ thể là,Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan, và Thái Lan Một quốc gia đã ưu tiên đến USD như

là một cơ chế neo tiền tệ dễ bị những cú sốc trong một đồng tiền thứ ba trong đó, trườnghợp Đông Á là JPY

2.3.2 Nghiên cứu của Qais Issa Al Yahyaei (2011)

Từ đầu thập kỷ này, và sau sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hỗ trợ bởi nguồnthu từ dầu cao hơn, một số áp lực lạm phát đã xuất hiện ở tất cả các nước GCC, với mứclạm phát đo bằng chỉ số giá tiêu dùng trung bình tăng từ khoảng 0,2% giữa năm 1998 và

2002 lên khoảng 10% trong năm 2008, và với một số quốc gia mức cao hơn Mặc dù có

sự hiện diện của một số cuộc tranh luận về những nguyên nhân tiềm ẩn của lạm phát tạicác nền kinh tế các nước GCC như chi phí đẩy phát sinh từ tăng giá hàng hoá khác nhaunhư thực phẩm và nguyên vật liệu trong lĩnh vực nhà ở so với nhu cầu, chi phí đẩy do chitiêu khu vực công và khu vực tư nhân tăng nhanh Tuy nhiên nghiên cứu đã tìm hiểu cóhay không nguyên nhân chính là do chế độ tỷ giá neo cố định vào USD được thông quabởi các nước GCC đã đóng vai trò cơ bản Nghiên cứu đã trình bày kết quả có một sốhiệu ứng lạm phát từ sự mất giá gần đây của đồng tiền các nước GCC bằng phương phápđịnh lượng từ những biến động tỷ giá tác động vào lạm phát, giá tiêu dùng trong nướccủa các nền kinh tế GCC Để đo mức độ của tác động của tỷ giá, nghiên cứu dựa trên hai

Trang 25

phương pháp khác nhau và thường được sử dụng trong đo lường kinh tế, cụ thể là phươngpháp OLS:

Với, Pt là chỉ số CPI trong nước, St là tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu quả, Pt* làCPI đối tác giao dịch, Ptoil là giá dầu, và Ɛt là sai số Kết quả, trong ngắn hạn đã tìm thấy ýnghĩa thống kê Tuy nhiên, tầm quan trọng của các hệ số hóa ra là rất khiêm tốn, với hệ

số tác động tối đa có ý nghĩa ngắn hạn khoảng 16% Theo đó, sự mất giá 10% trong tỷgiá hối đoái sẽ làm tăng tỷ lệ lạm phát (đo bằng thay đổi trong chỉ số giá tiêu dùng) trongkhu vực GCC tối đa là 1,6% trong ngắn hạn Mặt khác, trong dài hạn chỉ số tác động của

tỷ giá trung bình khoảng 27%, do đó đã chỉ rõ thất bại của lý thuyết PPP trong bối cảnhcác nền kinh tế GCC, như tác động của cú sốc tỷ giá đến lạm phát là không đầy đủ trongtất cả các trường hợp

Và phương pháp VECM:

P = ƒ(St, P*, Poil) (2)

Trong đó, Pt là chỉ số CPI trong nước, St là tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu quả(Neer), P*t là CPI đối tác giao dịch, và dầu Poil là giá dầu Cách tiếp cận Johansen đãđược dùng để thiết lập liên kết tích hợp giữa các biến phương trình sửa lỗi đối với cácmức giá có các hình thức sau đây:

Dòng đầu tiên trong phương trình (3) cho thấy sự biến động dài hạn của lạm phát

và dòng thứ hai cho thấy các biến động ngắn hạn của lạm phát Các ước tính về lâu dàitác động từ tỷ giá đến giá cả trong các nước GCC cũng có ý nghĩa Hơn nữa, hệ số tỷ giáhối đoái trong mô hình ước tính ít hơn một, đã chỉ ra rằng lý thuyết PPP không nắm giữ ởcác nước GCC, do đó xác nhận các kết quả trước đó của OLS dự toán Tuy nhiên, ướctính đàn hồi dài hạn của từng giá có những thay đổi do tỷ giá cao hơn so với ước tính

Trang 26

bằng cách sử dụng kỹ thuật OLS trước đáng kể với trung bình khoảng 57% Sự giảm giá10% của tỷ giá hối đoái ở các nước GCC sẽ làm tăng lạm phát trong dài hạn 5,7% Kếtquả này là khá tương đương với một báo cáo của McCarthy (1999), người sử dụng một

mô hình VAR trong điều tra tác động của tỷ giá trong một tập của chín quốc gia côngnghiệp McCarthy thấy những thay đổi trong tỷ giá hối đoái góp phần trong khoảng 5 đến

30 phần trăm biến đổi trong giá tiêu dùng

Sau khi đánh giá và phân tích các kết quả từ các mô hình VECM, tác giả đã cốgắng trình bày một số giải thích cho sự giảm giá liên tục gần đây của USD so với đồngtiền của đối tác thương mại lớn (ví dụ EU và Nhật Bản) của các nền kinh tế GCC rõ ràng

đã dẫn đến một số hiệu quả chi phí đáng kể với một phạm vi rộng của các mặt hàng nhậpkhẩu Việc tăng giá trong nước của hàng hóa nhập khẩu đã lần lượt đưa ra thêm một sốảnh hưởng đáng kể đến chi phí sản xuất trong nước, sinh hoạt và các xu hướng đồng tiềnlương Hơn nữa, áp lực lạm phát của neo tỷ giá vào USD đã được nhấn mạnh thêm thôngqua sự biến động của giá dầu quốc tế và USD, giá dầu cao và sự mất giá USD được xem

là sẽ sử dụng của chính sách tiền tệ thắt chặt tại các nước GCC nhằm tác động đến lạmphát phản ứng với lưu thông tiền tệ Tuy nhiên, do neo USD, nền kinh tế GCC đã buộcphải làm theo các chính sách mở rộng hiện tại của Hoa Kỳ, phải hạ lãi suất bản tệ xuống

để chống lại xu hướng suy thoái của cuộc tấn công 11 tháng 9 và gần đây là khủng hoảngtrên thị trường điều này đã khiến công chúng trong hầu hết các nước GCC yêu cầu một

sự rời bỏ neo giá đôla Mỹ vì họ cho rằng khấu hao của USD so với đồng tiền của các đốitác thương mại lớn của các nước GCC là nguyên nhân chính cho sự gia tăng đáng kểtrong tỷ lệ lạm phát Các tên gọi cho một chế độ tỷ giá khác đã được tăng cường hơn nữasau khi chế độ neo vào đô la bị bỏ rơi gần đây bởi Kuwait tháng năm 2007, hướng tớimột giỏ của tỷ trọng các đồng tiền Quyết định của cơ quan chức năng Kuwait chủ yếuthúc đẩy bởi nhu cầu để kiểm soát áp lực lạm phát phát ra từ khấu hao dai dẳng của USD

so với các đồng tiền chính Thực tế tình hình nền kinh tế hiện tại của GCC phản ánh'trilemma' nổi tiếng của một chế độ tỷ giá cố định, thị trường vốn mở, và chính sách tiền

tệ độc lập

Trang 27

2.3.3 Nghiên cứu của Mansor H.Ibrahim (2007)

Nghiên cứu này cho rằng chính sách tỷ giá neo cố định vào USD đã có những ảnhhưởng tới nền kinh tế Malaysia khi gặp những cú sốc của tỷ giá đồng tiền thứ ba (tỷ giáUSD/JPY) Trong công trình nghiên cứu của mình, Ibarahim áp dụng phương pháp tự hồiquy vectơ (VAR) để nghiên cứu biến động tỷ giá USD/JPY tác động đến biến sản lượngthực tế (GDP), biến chỉ số giá cả (CPI) và biến tiền tệ (M1) như thế nào Dữ liệu dùng để

sử dụng trong nghiên cứu được lấy từ quý 1 năm 1978 đến quý 4 năm 2003

Kết quả nghiên cứu cho thấy biến động trong tỷ giá USD/JPY ảnh hưởng đáng kểcác yếu tố kinh tế vĩ mô của Malaysia Khi JPY mất giá so với USD sẽ dẫn tới sản lượngGDP và cung tiền M1 suy giảm Từ đó, tác giả đi đến kết luận sự biến động của tỷ giáđồng tiền thứ ba có thể tác động mạnh đến các quốc gia neo tỷ giá vào USD Đối với nềnkinh tế Malaysia, trong thời gian khủng hoảng thì việc neo tỷ giá vào USD nhằm đảmbảo sự ổn định tài chính, nhưng trong điều kiện bình thường thì Malaysia có thể đối mặtvới cú sốc tỷ giá đồng tiền thứ ba Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả khi JPY giảmgiá so với USD sẽ làm cho sản lượng và cung tiền suy giảm, thắt chặt tiền tệ Vậy thì Nhànước có nên thực hiện nới lõng tiền tệ để tăng sản lượng hay không ? Vấn đề này lại cầnphải được cân nhắc trong tương quan với mục tiêu của chính sách tiền tệ của quốc gia

2.3.4 Các nghiên cứu liên quan ERPT

Các nghiên cứu này tập trung ở khía cạnh xem xét biến động của tỷ giá đối vớikinh tế vĩ mô dựa vào mối quan hệ trực tiếp giữa biến động tỷ giá và các loại giá trongnền kinh tế gọi là truyền dẫn tỷ giá (ERPT) Các ước tính ERPT bằng cách sử dụngVECM được tìm thấy là hoàn toàn tương tự bất kể sử dụng phương thức ứng dụng nào,

cho các nền kinh tế bao gồm cả công nghiệp và các nước mới nổi (Gagnon và Ihrig,

2004), người đã ước tính ERPT cho 20 quốc gia công nghiệp phát triển cho giai đoạn

Trang 28

1971-2003, báo cáo cho kết quả hệ số ERPT dao động từ 0,02 (Thụy Điển) cho 0,53 (Hy

Lạp) Kết quả tương tự khác đã được báo cáo bởi Mihaljek và Klau, (2001), người sử

dụng OLS với dữ liệu quý từ năm 1981 tới 2001 để phân tích ERPT trong 13 nền kinh tếmới nổi ước tính ERPT của họ đối với các nước kể ra Mexico, Hungary và Thổ Nhĩ Kỳ

nằm trong khoảng 0,36-0,56 Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác De Grauwe; Tullio và

Amirtano 1997; Goldfajn và Werlang 2000; Ito et al 2005, các nghiên cứu cũng đều chỉ

ra rằng mức ERPT đến tỷ lệ lạm phát nói chung là lớn hơn trong nước đang phát triển sovới các nước phát triển hơn một sự khác biệt như vậy thông thường do các yếu tố nhưBaumol và hiệu ứng Balassa-Samuelson: thị phần cao về giao dịch hàng hóa, hàm lượngnhập khẩu cao, và hạn chế thay thế trong nước mà thường phản ánh đặc điểm của nềnkinh tế nhỏ và mở rộng hơn Từ góc độ chính sách, đưa ra ERPT tương đối cao vào tỷ lệlạm phát ở các nước đang phát triển có nghĩa rằng những cơ quan tiền tệ ở các nước nàynên đưa các mối quan hệ cơ bản giữa tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát và các yếu tố xácđịnh mối quan hệ như vậy khi thiết kế các chính sách tiền tệ và tỷ giá cho nền kinh tế

Các phân tích của ERPT nghiên cứu đối với nền kinh tế các nước nói chung và đặcbiệt là tổng hợp cho nền kinh tế có độ mở nhỏ các nước đang phát triển Hơn nữa, sự đadạng của các cơ chế tỷ giá trao đổi giữa các nước đang phát triển so với các nước pháttriển cũng đã thúc đẩy để nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian gần đây, nhất là sau các

đợt giảm giá lớn ở Đông Nam Á, Mỹ Latinh (Choudhri et al 2006).

Các nghiên cứu gần đây của ERPT phân tích các xu hướng nhằm giảm mức độ tácđộng từ tỷ giá hối đoái đến lạm phát Sự suy giảm này đã là đặc trưng của cả nền kinh tếphát triển và kém phát triển Một số giải thích chính đáng đã được thể hiện trong nghiêncứu cho sự suy giảm tiềm năng này bao gồm cả những thay đổi trong môi trường tiền tệ(chuyển sang một chế độ lạm phát thấp), những thay đổi trong thành phần của hàng hóanhập khẩu đối với các lĩnh vực có tỷ lệ tác động bởi tỷ giá hối đoái thấp hơn (từ lựa chọnnhập khẩu cao cấp để hạ thấp chất lượng sản phẩm thay thế) và tăng tầm quan trọng củahàng hóa phi ngoại thương trong cải cách tiêu dùng (đặc biệt ở các nước đang phát triển.Các nghiên cứu gần đây của ERPT ở Việt Nam mà tác giả tiếp cận được tập trung chủyếu vào việc phân tích các biến động tỷ giá có tác động đến sản lượng trong nền kinh tế

Ngày đăng: 27/06/2016, 16:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Amitrano, A, De Grauwe, P, and Tullio, G., (1997), "Why Has Inflation Remained So Low After the Large Exchange Rate Depreciations of 1992?", Journal of Common Market Studies, 35 (3), pp:329- 346 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why Has Inflation RemainedSo Low After the Large Exchange Rate Depreciations of 1992
Tác giả: Amitrano, A, De Grauwe, P, and Tullio, G
Năm: 1997
13. Arvind Subramanian and Martin Kessler, 2013. “The Renminbi Blog Is Here: Asia Down, Rest of The World to Go”. Peterson Institute for International Economics, Working Paper, WP 12 – 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Renminbi Blog Is Here: AsiaDown, Rest of The World to Go
14. Carmignani. F, Colombo. E, and Tirelli. P, (2008), “Exploring different views of exchange rate regime choice”, Journal of International Money and Finance, 27 (7), pp:1177-1197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exploring different views ofexchange rate regime choice
Tác giả: Carmignani. F, Colombo. E, and Tirelli. P
Năm: 2008
15. Chen, H and W Peng (2010): “The potential of the renminbi as an international currency”, in W Peng and C Shu (eds), Currency internationalisation: global experiences and implications for the renminbi, Palgrave Macmillan, pp 115–38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The potential of the renminbi as an internationalcurrency
Tác giả: Chen, H and W Peng
Năm: 2010
16. Cheung, Y-W and D Rime (2013): “The offshore renminbi exchange rate:microstructure and links with to the onshore market”. Presentation at the International Conference on Pacific Rim Economies and the Evolution of the International Monetary Architecture by the City University of Hong Kong and Journal of International Money and Finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: The offshore renminbi exchange rate:microstructure and links with to the onshore market
Tác giả: Cheung, Y-W and D Rime
Năm: 2013
17. Choudhri, E. and Hakura, D., (2006), "Exchange rate pass-through to domestic prices: Does the inflationary environment matter?", Journal of International Money and Finance 25 (2006), pp: 614- 639 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exchange rate pass-through to domesticprices: Does the inflationary environment matter
Tác giả: Choudhri, E. and Hakura, D., (2006), "Exchange rate pass-through to domestic prices: Does the inflationary environment matter?", Journal of International Money and Finance 25
Năm: 2006
18. Dornbusch. R, (2001), "Exchange rates and Prices", American Economic Review, 77, pp: 93-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exchange rates and Prices
Tác giả: Dornbusch. R
Năm: 2001
19. Edwards, S., and Savastano, M. (1999), “Exchange rates in emerging economies:what do we know? what do we need to know?”, NBER Working Paper No. 7228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exchange rates in emerging economies:what do we know? what do we need to know
Tác giả: Edwards, S., and Savastano, M
Năm: 1999
20. Fleming, J. Marcus, 1961, “Internal Financial Policies Under Fixed and Floating Exchange Rates”, DM/61/28 Departmental Memorandum, IMF Central Files Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internal Financial Policies Under Fixed andFloating Exchange Rates
21. Fleming, J, 1962, “Domestic Financial Policies Under Fixed and Under Floating Exchange Rates,” Staff Papers, International Monetary Fund, Vol. 9, pp. 369–79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Domestic Financial Policies Under Fixed and Under FloatingExchange Rates
22. Fleming, J, and Robert A. Mundell, 1964, “Official Intervention on the Forward Exchange Market: A Simplified Analysis,” Staff Papers, International Monetary Fund, Vol. 11, pp. 1–19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Official Intervention on the ForwardExchange Market: A Simplified Analysis
23. Frankel, J. (1999), “No single currency regime is right for all countries or at all times”, NBER Working Papers, No. 7338 Sách, tạp chí
Tiêu đề: No single currency regime is right for all countries or at alltimes
Tác giả: Frankel, J
Năm: 1999
24. Frankel, J. (2003), “Experiance of and lessons from exchange rate regimes in emerging economies”, Johan F. Kennedy School of Government, Harvard University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Experiance of and lessons from exchange rate regimes inemerging economies
Tác giả: Frankel, J
Năm: 2003
25. Frankel, J and S-J Wei (1994): “Yen bloc or dollar bloc? Exchange rate policies of the East Asian economies”, in T Ito and A Krueger (eds), Macroeconomic linkages:savings, exchange rates and capital flows, University of Chicago Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yen bloc or dollar bloc? Exchange rate policies ofthe East Asian economies
Tác giả: Frankel, J and S-J Wei
Năm: 1994
26. Frankel, J and S-J Wei (2007): “Assessing China’s exchange rate regime”, Economic Policy, vol 22, no 51, pp 575–672 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing China’s exchange rate regime
Tác giả: Frankel, J and S-J Wei
Năm: 2007
27. Fratzscher, M and A Mehl (2011): “China’s dominance hypothesis and the emergence of a tri-polar global currency system”, CEPR Discussion Paper, no 8671 Sách, tạp chí
Tiêu đề: China’s dominance hypothesis and theemergence of a tri-polar global currency system
Tác giả: Fratzscher, M and A Mehl
Năm: 2011
28. Frenkel. R và Rapetti. M, 2012, “External Fragility or Deindustrialization: What is the Main Threat to Latin American Countries in the 2010s?”, World Economic Review, 1 (1), pp. 37-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: External Fragility or Deindustrialization: What isthe Main Threat to Latin American Countries in the 2010s
30. Gao, H-H (2010): “Internationalisation of the renminbi and its implications for monetary policy”, in W-S Peng and C Shu (eds), Currency internationalisation: global experiences and implications for the renminbi, Palgrave Macmillan, pp 209-220 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internationalisation of the renminbi and its implications formonetary policy
Tác giả: Gao, H-H
Năm: 2010
31. Gagnon, J. and Ihrig, J. (2004), "Monetary Policy and Exchange Rate Pass- through", International Journal of Finance and Economics, 9(4), pp. 315-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Monetary Policy and Exchange Rate Pass-through
Tác giả: Gagnon, J. and Ihrig, J
Năm: 2004
32. Goldfajn, I. and Werlang, S., (2000), "The Pass-Through from Depreciation to Inflation: A Panel Study", Working Paper No. 423 (Rio de Janeiro: Department of Economics, Pontificia Universidade Catolica) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Pass-Through from Depreciation toInflation: A Panel Study
Tác giả: Goldfajn, I. and Werlang, S
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w