Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty , vận dụng các lý luận vềkênh phân phối sản phẩm đã được nghiên cứu vào điều kiện thực tiễn của Công tynhằ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện kinh tế cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp luôn cố gắngtìm cho mình một chỗ đứng có lợi thế hơn so với các đối thủ Việc tạo lập được mộtmạng lưới tiêu thụ sản phẩm hiệu quả cũng là tạo ra một lợi thế cạnh tranh phân biệtgiữa các doanh nghiệp Do các kênh phân phối là một lực lượng đông đảo các tổchức, cá nhân bên ngoài doanh nghiệp nên quản trị kênh phân phối, tức quản trị các
tổ chức và cá nhân này là điều hoàn toàn không đơn giản Vấn đề đặt ra là phải làmsao quản trị được các hoạt động này một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất
Đứng trước tình hình các doanh nghiệp hiện nay đã và đang tìm mọi giảipháp nhằm thu hút khách hàng, nắm giữ thị phần taọ ra nhiều lợi thế cạnh tranh chomình thì Công ty cổ phần XNK và thương mại Sông Hương cũng không nằm ngoài
xu thế đó Một trong những vũ khí cạnh tranh mà công ty lựa chọn chính là xâydựng công tác quản trị kênh phân phối tốt để tạo ra những lợi thế đối với các đối thủcạnh tranh
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự yếu kém về phân phối là một trong những nguyên nhân gây ra sự suy giảm
vị thế cạnh tranh của công ty Chính vì thế Công ty đã nhận thấy rằng để cạnh tranhthành công không chỉ cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt mà còn phải làm tốt hơnkhách hàngả năng sẵn sàng chúng ở đâu, khi nào và người tiêu dùng muốn chúng rasao Khả năng này chỉ có thể được thực hiện qua hệ thống phân phối mà thôi Công
ty cần chú trọng tập trung và hệ thống phân phối, coi đó như là một sơ sở của cạnhtranh
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty , vận dụng các lý luận vềkênh phân phối sản phẩm đã được nghiên cứu vào điều kiện thực tiễn của Công tynhằm đưa ra các giải pháp về công tác quản trị kênh phân phối, tạo lợi thế cạnhtranh cho Công ty
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tổ chức, hoạt động của hệ thống kênh phân phối sảnphẩm đồ dùng bảo hộ lao động và cô tác quản trị kênh phân phối đó
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích đánh giá, so sánh lý luận với thực tế,sau đó đề ra những giải pháp thích hợp, đồng bộ nhằm quản trị kênh phân phối phùhợp với điều kiện của Công ty ở hiện tại và hướng đến kênh phân phối tương lai
Để tìm hiểu rõ hơn về công tác quản trị kênh phân phối, em đã chọn đề tài:
“Biện pháp hoàn thiện chính sách phân phối của Công ty cổ phần xuất nhập nhẩu và thương mại Sông Hương”
Chuyên đề gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổng quan về Công ty và thực trạng công tác quản trị kênh phânphối tại Công ty cổ phần XNKvà thương mại Sông Hương
Chương 3: Biện pháp nhằm hoàn thiện chính sách phân phối tại Công ty cổphần XNK và thương mại Sông Hương
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm, vai trò, chức năng, quá trình quát triển của phân phối
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến phân phối
1.1.1.1 Phân phối
Phân phối là quá trình kinh tế và những điều kiện tổ chức liên quan đến việc
điều hành và vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng
Phân phối bao gồm toàn bộ quá trình hoạt động theo không gian, thời gian đưa
sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng cuối cùng
Phân phối trong marketing gồm các yếu tố cấu thành sau: người cung cấp,
người trung gian, hệ thống kho tàng, bến bãi, phương tiện vận tải, cửa hàng, hệ
thống thong tin thị trường,…
1.1.1.2 Chiến lược phân phối
Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về kênh phân phối Có nhiều định
nghĩa khác nhau là từ sự xuất phát khác nhau về quan điểm sử dụng
-Theo quan điểm của người sản xuất:
Trang 4Kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ
thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người
sử dung hoặc người tiêu dùng cuối cùng
-Theo quan điểm của người tiêu dùng:
Người tiêu dùng có thể quan niệm kênh phân phối đơn giản là “có nhiều trung
gian” đứng giữa họ và người sản xuất sản phẩm
- Theo quan điểm của nhà trung gian:
Kênh phân phối là dòng chảy của việc chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa
hay dịch vụ qua các cấp trung gian để đến tay người tiêu dùng
- Theo quan điểm của chức năng phân phối:
Kênh phân phối là một hệ thống hậu cần (logistic) nhằm chuyển một sản
phẩm, một dịch vụ hay một giải pháp đến tay người tiêu dùng ở một thời điểm và
địa điểm nhất định
-Theo quan điển chức năng quản trị:
Kênh phân phối là một tổ chức các quan hệ bên ngoài doanh nghiệp để quản
ký các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm nhằm đạt đực các mục tiêu cảu
doanh nghiệp trên thị trường
Trang 51.1.1.3 Cấu trúc kênh phân phối
Cấu trúc kênh được hiểu là việc thiết lập một tổ chức các thành viên của kênh
nhằm thực hiện chác chức năng phân phối được phân bổ cho họ
Cấu trúc kênh phân phối được xác định bởi ba yếu tố: nhiệm vụ và hoạt động
mà các trung gian phải thực hiện, loại trung gian được sử dụng và số lượng mỗi loại
trung gian
0-cấp 1-cấp 2-cấp 3-cấp
Nhà sản xuất
Nhà phân phối
Nhà buôn sỉ
Người tiêu dùng
Nhà sản xuất
Nhà phân phối
Người tiêu dùng
Nhà sản xuất
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Trang 6(Nguồn Phòng sản xuất) Hình 1.1: Cấu trúc kênh phân phối hàng tiêu dùng
Do tính chất đặc thù của hàng công nghiệp, kênh phân phối sản phẩm công
nghiệp thường ngắn hơn các kênh cho sản phẩm hàng tiêu dùng Đó là do số lượng
khách hàng sử dụng các sản phẩm công nghiệp không nhiều, tập trung về mặt địa lý
và thương mại với số lượng lớn
Nhà sản
xuất
Nhà phânphối côngnghiệp
Đại diệncủa nhà sảnxuất haychi nhánhngân hàng
Đại diệncủa nhà sảnxuất haychi nhánhngân hàng
Nhà phânphối côngnghiệp
Nhà sảnxuất
Nhà sảnxuất
Nhà sảnxuất
Trang 7(Nguồn: Phòng sản xuất)
Hình 1.2: Cấu trúc kênh phân phối hàng công công nghiệp
1.1.2 Vai trò của phân phối trong hoạt động marketing
1.1.2.1 Sự cần thiết của các trung gian
Việc ra đời của các trung gian thương mại thể hiện chức năng phân phối sản
phẩm giúp cho các doanh nghiệp tập trung được các nguồn lực nâng cao trình độ
chuyên môn hóa Việc sử dụng các trung gian thương mại có các ưu điểm sau:
- Phân phối hàng hóa rộng khắp, đưa hàng hóa đến các thị trường mục tiêu
nhờ mạng lưới trung gian thay vì nhà sản xuất phân phối trực tiếp
- Giảm bớt lượng hàng hóa tồn kho, chuyển giao hàng hóa qua kho của các
trung gian, tiết kiệm chi phí lưu kho cho doanh nghiệp
- Các trung gian giúp cho doanh nghiệp điều hòa cung cấp hàng hóa, giảm
khoảng cách về địa lý về sản xuất và tiêu dùng
Người tiêudùng
Người tiêudùng
Người tiêudùngNgười tiêu
dùng
Trang 8- Giảm thiểu số lượng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, tăng cường hiệu quả
tiêp xúc
1.1.2.2 Các loại trung gian
Người bán sỉ: là trung gian thực hiện việc mua, sở hữu, lưu kho, vận chuyển
với số lượng lớn và bán lại hàng hóa cho người bán lẻ, các công ty sản xuất, các tổ
chức kinh danh khác
Người bán lẻ: là trung gian bán hàng hóa cho người tiêu dùng cuối cùng
Đại lý: là trung gian thực hiện việ phân phối nhưng không sở hữu hàng hóa mà
họ phân phối Đại lý sẽ nhận hoa hồng trên giá bán sản phẩm hặc doanh số bán
Người môi giới: là các trung gian giữ vai trò giới thiệu cho người mua và
người bán gặp nhau, hỗ trợ việc thương lượng giữa hai bên
Đại ký hỗ trợ: là tổ chức kinh doanh trợ giúp cho việc thực hiện các nhiệm vụ
phân phối (các công ty vân tải, công ty kho bãi, công ty tài chính, công ty bảo hiểm,
công ty nghiên cứu marketing)
1.1.2.3 Vai trò của phân phối trong hoạt động marketing
Phân phối góp phần trong việc thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu: hoạt
động marketing của doanh nghiệp là đẩ thỏa mãn nhu cẩu của thị trường Muốn đạt
Trang 9được điều đó đòi hỏi phải có sự đóng góp của nhiều yếu tố như: sản phẩm phải phù
hợp với thị hiếu của người tiêu dùng và có chất lượng tốt, giá cả phù hợp với khả
năng thanh toán, truền thông đến người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp,
nhưng điều quan trọng là sản phẩm phải sẵn sàng có mặt trên thị trường đúng lúc,
đúng nơi để đi vào tiêu dùng Đây chính là phần đóng góp của phân phối
Hoạt động phân phối còn giúp doanh nghiệp liên kết hoạt động sản xuất kinh
dianh của mình với khách hàng triển khai tiếp các hoạt động khác của marketing
như: giới thiệu sản phẩm mới, khuyến mãi, chính cách giá, dịch vụ hậu mãi,…
nhằm thỏa man tốt hơn nhu cầu của thị trường
Qua hoạt động phân phối, nhờ chức năng thông tin hai chiều mà việc trao đổi
thông tin từ người tiêu dùng đến nhà sản xuất được thông suốt giúp nhà sản xuất kip
thời điều chỉnh các chương trình marketing phù hợp với thị trường
1.1.3 Chức năng của kênh phân phối
- Thông tin giới thiệu: quá trình phân phối các chức năng thông tin, thu thập
thông tin và khách hàng hiện có và khách hàng tương lai, thông tin về các đối thủ
cạnh tranh Truyền đạt thông tin từ nhà sản xuất đến các trung gian và khách hàng
Trang 10Cùng cới hoạt động của bản thân nhà sản xuất với các trung gian và người tiêu
dùng, tạo sự thuận lợi trong quá trình trao đổi hàng hóa
- Kích thích tiêu thụ: Quá trình phân phối cũng là quá trình truyền thông đến
các trung gian và khách hàng các thông tin về hàng hóa và các chương trình khuyến
khích tiêu thụ nhằm kích thích họ gia tăng hàng hóa tiêu thụ
- Tiếp xúc thiết lập các mối quan hệ: Cần phải thực hiện các quan hệ tiếp xúc
để xác định ai là khách hàng của mình ở các giai đoạn khác nhau trong kênh Cung
cấp các thông tin cho khách hàng, thiết lâp các mối quan hệ thương mại và nhận các
đơn đặt hàng
- Thích ứng, hoàn thiện sản phẩm: Các thành viên của kênh thực hiện các hoạt
động nhằn gia tăng hiệu quả của quá trình trao đổi thông qua các hoạt động như:
phân loại hàng hóa, đóng gói, cung cấp các dịch vụ bảo hành, sửa chữa, lắp ráp, tư
vấn
- Thương lượng: Thông qua việc thực hiện các thỏa thuận, đàm phán liên quan
đến giá cả và các điều kiện bán hàng, thực hiện việc chuyển giao sở hữu hàng hóa
và dịch vụ
Trang 11- Lưu thông hàng hóa: Thông qua các hoạt động như vận chuyển, bảo quản và
lưu kho hàng hóa làm cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng Tiến hành việc điều hòa
giữa cung và cầu ở các khu vực thị trường và giữa các thời điểm tiêu dùng khác
nhau
- Tài chính, trang trải chi phí: Thông qua hoạt động bán hàng thu tiền, tìm
kiếm các nguồn tài chính để trang trải cho các hoạt động sản xuất và hoạt động của
kênh
- San sẻ rủi ro: Do các trung gian độc lâp với nhà sản xuất, tự chịu trách nhiệm
Khi mua các sản phẩm từ các nhà sản xuất, các trung gian phải chấp nhận những rủi
ro có thể gặp do một số nguyên nhân khách quan hặc chủ quan như: sự thay đổi thị
hiếu cảu người tiêu dùng, sản phẩm bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển, lưu kho,
dự trữ hoặc gặp những rủi ro khi cung cấp tín dụng cho khách hàng hay rủi ro về
tình hình kinh tế
1.1.4 Quá trình phát triển phân phối
1.1.4.1 Phân phối trực tiếp
Trang 12Các kênh phân phối trực tiếp của người sản xuất cho người tiêu dùng cuối
cùng là cảu kênh phân phối đơn giản và ngắn nhất các kênh phân phối trực tiếp như
máy bán hàng, bán qua điện thoại, đặt hàng bằng thư, bán hàng tận nhà và mua
hàng qua ti vi đã xuất hiện như những hình thức bán hàng không cần cửa hàng Một
sô công ty đã tạo ra các thị trường cho những hàng hóa đặc biệt bằng việc đưa ra
các sản phẩm chất lượng cao, phân phối ngay lập tức và đảm bảo thỏa mãn đạc biệt
Các tổ chức marketing trực tiếp khác đã phát triển những tập hợp hàng hóa đáp ứng
cho thị trường sức mua thống nhất
Các sản phẩm bán cho các doanh nghiệp kinh doanh thường là qua kênh trực
tiếp hơn bán cho người tiêu dùng Do quá trình mua công nghiệp được định hướng
cụ thể và nhìn chung liên quan đến chất lượng tổng thể Đương nhiên, các trung
gian chỉ cần thiết trong các cấu trúc kênh marketing trên thị trường tổ chức khi họ
đưa ra được lợi thế rõ ràng và khó thay thế so với phân phối trực tiếp
1.1.4.2 Phân phối qua thị trường trung gian
Phân phối trực tiếp có những hạn chế nhất định, như số lần tiếp xúc trao đổi
nhiều, sẽ ít có tính thực té trong một xã hội phức tạp Để tăng hiệu quả, kênh trực
tiếp chuyển thành cấu trúc kênh qua thị trường trung tâm Một thị trường trung tâm
Trang 13xuất hiện khi các hộ kinh doanh gặp nhau ở thị trường trung tâm trao đổi trao đôi ở
thị trường trung tâm làm cho số lần tiếp xúc giảm đi
1.1.4.3 Phân phối qua nhiều giai đoạn (kênh phân phối hiện đại)
Phạm vi hoạt động hạn chế của thị trường trung tâm được thay thế bằng cá
trung gian chuyên môn hóa Vì vậy bán buôn ra đời người bán buôn tâp trung vào
bán một tập hợp hàng hóa cho người bán lẻ
Cấu trúc kênh trở nên phức tạp khi các công ty tìm kiếm các kiểu kênh để giải
quyết ba vấn đề cơ bản của phân phối liên quan đến phân loại, làm phù hợp về
không gian và thời gian Nếu ba vấn đề này không được giải quyết đồng thời thid
tập hợp các cơ sở phân phối bị phá vỡ
Các loại kênh phân phối khác nhau hình thành, xuất phát từ quá trình tìm kiếm
những cách tốt hơn để giải quyết các vấn đề trao đổi cơ bản Nội dung phân chia
cấu trúc kênh cung cấp cách thức giải quyết vấn đề trao đổi vốn có qua sự chuyên
môn hóa ngày càng tăng Nguyên nhân cho các trung gian chuyên môn hóa tồn tại
là chúng làm dễ dàng quá trình trao đổi
Cũng như người sản xuất được hỗ trợ bởi các tổ chức bán buôn để thực hiện
phân phối, các nhà bán lẻ tạo ra cơ hội cải thiện dịch vụ khách hàng bằng cách đặt
Trang 14các cửa hàng ở vị trí thuận lợi cho khách hàng Cùng với việc ngày càng có nhiều
doanh nghiệp bán lẻ và bán buôn tham gia vào quá trình phân phối, cấu trúc kênh
phân phối hiện đại đang bị thống trị bởi nhiều nhà phân phối chuyên môn hóa Phần
lớn các nhà sản xuất phụ thuộc và các dịch vụ của nhà trung gian chuyên mộ hóa để
phân phối có hiệu quả Sự phụ thuộc và thị trường trung tâm đã được thay thế bởi
nhiều công việc của các nhà bán buôn, bán lẻ và các trung gian chuyên môn hóa
1.2 Các thành viên kênh phân phối
Khái niệm về các thành viên kênh phân phối:
Các thành viên kênh phân phối là những người tham gia đàm phán phân chia
công việ phân phối, chuyển quyền sở hữu hàng hóa và chịu mọi sự rủi ro trong hoạt
động kinh doanh
Thành viên kênh phân phối là những người tham gia trong cấu trúc chính của hệ
thống kênh phân phối
Các tổ chức bổ trợ như vận tải, lưu kho, bảo hiểm,… chỉ cung cấp các dịch vụ
chuyên môn, không sở hữu hàng hóa và không chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt
động cuối cùng của kênh thì không phải là thành viên kênh
Trang 15Như vậy, quan điểm xác định các thành viên kênh là dựa trên chức năng phân
phối mà họ đảm nhận trong kênh Các thành viên của kênh bao gồm:
Nhà sản xuất (hay người cung cấp): nhà sản xuất là nguồn cung cấp cho thị
trường những sản phẩm và dịch vụ Đó là những công ty sản xuất với các quy mô
khác nhau nhưng cùn mục tiêu là thỏa mãn nhu cầu thị trường tuy vậy thì hầu hết
các công ty sản xuất đều không có điều kiện thuận lợi để phân phối sản phẩm của
mình trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng mà thường là thông quatrung gian bán
buôn Lý do là vì: nguồn tài chính có hạn; hiệu quả kinh doanh của người bán buôn
thường cao hơn do tầm hoạt động và quan hệ với khách hàng với trình độ nghiệp vụ
chuyên môn cao hơn và những người bán lẻ kinh doanh nhiều loại sản phẩm thường
thích mua toàn bộc ac mặt hàng của người bán buốn chứ không mua trực tiếp từ nhà
sản xuất
Trung gian bán buôn: là những doanh nghiệp và cá nhân mua hàng hóa để
bán lại cho các doanh nghiệp hoặc các tổ chức khác (các nhà bán lẻ, bán buôn, các
doanh nghiệp sản xuất, các tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước) Nó cũng bao gồm
các công ty hoạt dộng như đại lý hoặc người môi giới trong việc mua hoặc bán hàng
Trang 16hóa cho khách hàng như vậy Những trung gian bán buôn được chia làm ba loại
chính:
- Bán buôn sở hữu hàng hóa thực sự: là doanh nghiệp kinh doanh độc lập về
sở hữu, họ tham gia kênh phân phối với các chức năng mua, sở hữu hàng hóa, dự
trữ và quản lý sản phẩm với khách hàng với khối lượng lớn và bán lại với khối
lượng nhỏ hơn
- Đại lý, môi giới và nhà bán buôn hưởng hoa hồng: họ là các trung gian độc
lập, đảm nhiệm tất cả hoặc phần lớn các công việc kinh doanh của họ
- Các chi nhánh và đại diện bán của nhà sản xuất: là các tổ chức của nhà sản
xuất đặt tại các khu vực thị trường với chức năng thay mặt nhà sản xuất bán sỉ sản
phẩm của họ
Trung gian bán lẻ: bao gồm các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh bán sản
phẩm hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng là cá nhân hoặc hộ gia
đình
Phân loại:
- Hình thứ bán lẻ theo quyền sở hữu: cửa hàng bán lẻ độc lập, doanh nghiệp
bán lẻ gồm nhiều cửa hàng, cửa hàng bán lẻ do nhà sản xuất làm chủ, của hàng do
Trang 17tập thể người tiêu dùng làm chủ, của hàng bán lẻ do chính phủ làm chủ, doanh
nghiệp bán lẻ cổ phẩn, doanh nghiệp bán lẻ liên doanh
- Hình thức bán lẻ tại cửa hàng: cửa hàng chuyên doanh, của hàng bách hóa
tổng hợp, siêu thị, cửa hàng chiết khấu, của hàng hạ giá, của hàng bày và bán theo
catalogue
- Hình thức bán lẻ không qua cửa hàng: bán trực tiếp, bán lẻ qua mạng viễn
thông và bưu điện, bán hàng qua máy bán hàng tự động
Sự khác biệt giữa người bán buôn và bán lẻ:
+ Người bán buôn ít quan tâm hơn đến việ cổ động bán hàng, đến bầu không
khí và địa điểm bán, vì họ quan hệ với khách hàng kinh doanh chứ không phải
người tiêu dùng cuối cùng
+ Quy mô của những dịch vụ giao dịch bán buôn lớn hơn bán lẻ, khả năng bao
quát địa bàn lớn hơn bán lẻ
+ Các quy định của luật pháp và mức thuế của nhà nước đối với người bán
buôn và bán lẻ là khác nhau
Người tiêu dùng cuối cùng: bao gồm cả người tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng
công nghiệp Chỉ khi nào hàng hóa tới người tiêu dùng cuối cùng, quá trình mới kết
Trang 18thúc Người tiêu dùng cuối cùng có vai trò quan trọng trong kênh phân phối vì học
có quyền lựa chọn kênh phân phối khác nhau để cung cấp hàng hóa cho họ Tập hợp
người tiêu dùng và hành vi của họ thay đổi kéo theo sự thay đổi của kênh phân phối,
thậm chí trong một số trường hợp, người tiêu dùng cuối cùng đóng vai trò là người
lãnh đạo kênh
1.3 Khái quát về chiến lược kênh phân phối và quản trị kênh phân phối
1.3.1 Chiến lược kênh phân phối
Philip Kotler đã định nghĩa chiến lược Marketing như là: “ Một tập hợp các
nguyên tắc nhờ đó các đơn vị kinh doanh hy vọng đạt được các mục tiêu Marketing
của nó ở thị trường mục tiêu” Chiến lược kênh phân phối là một chiến lược bô
phận của chiến lược Marketing tổng quát Vì vậy, chúng ta có thể định nghĩa chiến
lược kênh phân phối là: “Một tập hợp các nguyên tắc nhờ đó công ty có thể kiểm
soát được nguồn lực hiện có một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu phân phối
trên thị trường mục tiêu của mình”
Định nghĩa này tập trung các nguyên tắc hoặc phương hướng để đạt các mục
tiêu phân phối của công ty Để đạt được cac mục tiêu phân phối, thực sự nhà sản
xuất sẽ phải xác định sáu quyết định phân phối cơ bản sau đây:
Trang 19+ Phân phối nên đóng vai trò nào trong các mục tiêu và chiến lược tổng thể
của công ty
+ Phân phối nên đóng vai trò ào trong chiến lược Marketing – mix
+ Các kênh phân phối của công ty được thiết kế như thế nào?
+ Loại thành viên của kênh nào nên được tìm kiếm để đáp ứng các mục tiêu
phân phối của công ty
+ Kênh phân phối có thể được quản lý như thế nào để hoạt động hiệu quả và
liên tục
+ Hoạt động của các thành viên của kênh có thể được đánh giá như thế nào?
1.3.2 Quản trị kênh phân phối
1.3.2.1 Khái niệm
Hiệp hội Marketing Mỹ định nghĩa về quản trị Marketing như sau: “Quản trị
Marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi
và phân phối hàng hóa , dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm mục
tiêu, thỏa mãn những của khách hàng và tổ chức” Từ khái niệm này, chúng ta có
thể rút ra khái niệm về quản trị kênh phân phối như sau: “ Quản trị kênh phân phối
Trang 20là quá trình lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chienh kế hoạch
nhằm đảm bảo sự hợp tác giữa các thành viên kênh đã được lựa chọn qua đó thực
hiện được các mục tiêu phân phối của doanh nghiệp”
Quyết định thiết kếkênh phân phối
Xác định các mục tiêukênh phân phối
hệ kênh
Quyếtđịnh tuyểnlựa trunggian
Quyếtđịnh kênhphân phốivật chất
Quyết định vậnhành và kiểmsoát phân phối
Tổ chức Vận hành Đánh giá Điều chỉnh Lập kế hoạch
Trang 21(Nguồn: tài liệu quản trị phân phối)
Hình 1.3: Mô hình quản trị kênh phân phối
1.3.2.2 Nội dung quản trị kênh
* Phân tích môi trường và xác định mục tiêu quản trị kênh phân phối
Phân tích môi trường: Muốn quản trị kênh phân phối hiệu quả, người điều
hành kênh trước tiên phải năm vững các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phân phối
và những thay đổi của môi trường kênh, Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình
quản trị kênh bao gồm: môi trường bên ngoài kênh (môi trường kinh tế, văn hóa –
xã hội, kỹ thuật công nghệ và môi trường luật pháp), môi trường bên trong kênh
(đối thủ cạnh tranh,…)
Xác định mục tiêu quản trị kênh phân phối: Mục tiêu cần hướng luôn là kim
chỉ nam cho mọi hành động Muốn thiết kế được hệ thống kính tế phù hợp với đặc
điểm và nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời lại có hiệu quả rất cao,
ngưới sản xuất cần phải xã định rõ ràng những mục tiêu cần đạt được và những yêu
cầu chủ yếu đối với kênh phân phối
Trang 22Mục tiêu cảu kênh phân phối thường được xác định bới các chỉ tiêu mức độ
đảm bảo dịch vụ của kênh phù hợp với mục tiêu của chiến lược marketing – mix
cũng như chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Để xác định
mục tiêu phân phối trong sự phối hợp hiệu quả với các mục tiêu và chiến lược khác
của doanh nghiệp, người quản trị kênh cần phải thực hiện ba công việc sau:
+ Sự phối hợp các mục tiêu phân phối với các mục tiêu của các biến số khác
trong marketing – mix và với các mục tiêu, chiến lược có liên quan của doanh
nghiệp
+ Nên xác định mục tiêu phân phối một các rõ ràng, cụ thể
+ Kiểm tra lại các mục tiêu phân phối xem có phù hợp với các mục tiêu khác
trong marketing và các mục tiêu của các chiến lược chung của doanh nghiệp hay
không
Thông thường phân phối thường hướng tới các mục tiêu chủ yếu sau:
- Đáp ứng kịp thời và nâng cao độ thỏa dụng chó các khách hàng trên thị
trường mục tiêu
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
- Tạo dựng và phát triển thương hiệu
Trang 23- Cung cấp hàng hóa đúng thời gian, đúng địa điểm với chi phí thấp nhất.
- Đảm bảo an toàn cho hàng hóa khi đến tay người tiêu dùng
* Các quyết định thiết kế kênh phân phối
Các quyết định chủ yếu khi thiết kế kênh phân phối bao gồm:
- Quyết định cấu trúc tổ chức kênh phân phối
- Quyết định về quan hệ kênh và lựa chọn các thành viên trong kênh
- Quyết định phân phối vật chất
* Các quyết định vận hành và kiểm soát kênh phân phối
Các quyết định vân hành và kiểm soát kênh phân phối phụ thuộc vào các yếu tố
như:
- Đặc điểm của quản ký và điều hành kênh
- Nội dung của quản lý và điều hành kênh phân phối
- Đánh giá và điều chỉnh các thành viên trong kênh
1.3.2.3 Đặc điềm của quản trị kênh phân phối
- Quản trị kênh là quản lý các hoạt động, các quan hệ ở bên ngoài doanh
nghiệp chú không phải bên trong nội bộ
Trang 24- Phạm vi quản trị kênh phân phối bao trùm toàn bộ các hoạt động kênh và
liên quan đến tất cả các thành viên của kênh, từ người sản xuất đến người tiêu dùng
cuối cùng Vì vậy, đối tượng quản lý là toàn hệ thống chứ không chỉ là tương giai
đoạn trong quá trình lưu thông hàng hóa cần được quản lý trong mối quan hệ với hệ
thống chứ không đánh giá theo từng giai đoạn riêng lẻ
- Quản trị kênh là quản lý tất cả các dòng chảy trong kênh từ dòng vận động
vật chất, dòng chuyển quyền sở hữu, dòng thông tin,… cho đến dòng đàm phán
- Quản trị kênh không phải công việc riêng lẻ của nhà quản trị kênh cấp cao
nhất mà nó là nhiệm vụ và trách nhiệm của mọi vị trí thành viên trong kênh
- Các thành viên trong kênh khác nhau thì thường theo đuổi mục tiêu định
hướng quản lý kênh của riêng mình Nhà sản xuất quan tâm đến việc quản lý kênh
từ khi sản xuất ra cho đến khi luồng hàng đến được với người tiêu dùng cuối cùng
Các trung gian phân phối quan tâm đến cả hai phía là nhà sản xuất và khách hàng
của họ
- Quản lý kênh hằng ngày khác vứi quản lý kênh dài hạn Quản lý kênh phân
phối trước hết là phải quản lý việc tổ chức tiêu thụ thường xuyên hằng ngày Đó là
quá trình tiếp nhận, xử lý đơn hàng, giao nhận thanh toán,… người quản lý kênh
Trang 25hằng ngày cần phải quản lý sự vận động hằng ngày của tất cả các dòng chảy kênh
phân phối Quản lý kênh dài hạn tập trung vào các giải pháp có tính chiến lược giúp
nhà quản trị kênh dự báo được những biến động trong môi trường marketing ảnh
hưởng đến kênh phân phối, từ đó xây dựng được các chiến lược quản trị thích ứng
với môi trường mới, giảm thiểu rủi ro
- Mức độ và khả năng quản lý quản lý hệ thống kênh phân phối của các doanh
nghiệp phụ thuộc vào kiểu tổ chức kênh đã xác lập của doanh nghiệp Với cac kênh
đơn lẻ và kênh truyền thống không cho phép doanh nghiệp quản lý toàn bộ hệ thống
kênh phân phối Với các kênh liên kết dọc giữ vai trò lãnh đạo trong quản trị kênh
thực hiện được điều đó
1.3.2.4.Vai trò của công tác quản trị kênh phân phối
- Giải quyết mâu thuẫn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng góp phần làm
giảm thiểu chi phí
- Tạo nên những chiến lược chính trong hoạt động quản trị marketing trong các
doanh nghiệp thương mại
- Hoạch định, triển khai, kiểm tra và điều hành các dòng chảy trong kênh và
Trang 26sự liên kết giữa các thành viên trong kênh nhằm thực hiện các mục tiêu phân phối
của doanh nghiệp
1.3.2.5 Yêu cầu của quản trị kênh phân phối
- Quản trị kênh phân phối phải đảm bảo phát triển được mối quan hệ chặt chẽ
giữa các thành viên trong kênh
- Phải khuyến khích được các thành viên trong kênh hợp tác lâu dài trong việc
thực hiện các mục tiêu phân phối của doanh nghiệp
- Phải đảm bảo phối hợp hiệu quả với các biến số khác trong marketing – mix
để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng mục tiêu và đảm bảo lợi ích cho doanh
nghiệp
- Phải kiểm soát và đánh giá được hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống kênh
phân phối để có giải pháp điều chỉnh kịp thời
1.3.2.6 Chính sách tuyển chọn các thành viên trong kênh
Quá trình tuyển chọn các thành viên trong kênh phân phối bao gồm 3 bước:
Bước 1: Tìm kiếm các thành viên có khả năng
Bước này được tiến hành trên cơ sở các thông tin điều tra được trực tiếp từ
khách hàng,trung tâm xúc tiến, các hiệp hôi thương mại,các nguồn thông tin khác…
Trang 27Bước 2: Xác định các tiêu chuẩn lựa chọn.
Sau khi đã phát triển được một danh sách các thành viên tương lai của kênh,
bước tiếp theo của kênh là đánhgiá khả năng của các thành viên dựa vào tiêu chuẩn
lựa chọn
Bước 3: Củng cố các thành viên của kênh
Nhà quản trị cần cho các thành viên thấy rõ trách nhiệm và quyền lợi của
mình, đồng thợi tạo điều kiện hỗ trợ các thành viên về đào tạo và một số hoạt động
nghiệp vụ khác
Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp đều đưa ra một danh sách các tiêu
chuẩn dùng cho việc lựa chọn các thành viên của kênh Tuy nhiên, số lượng các tiêu
chuẩn phụ thuộc vào từng doanh nghiệp cụ thể Khi các điều kiện thay đổi, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải thay đổi số lượng và tầm quan trọng của các tiêu chuẩn để
đối phó với các điều kiện thay đổi
Một số tiêu chuẩn chọn thành viên của Công ty
* Năng lực bán hàng
Trang 28Hầu hết các công ty đã chú ý đến khả năng bán của các trung gian tiềm năng
như là tiêu chuẩn đặc biệt với các trung gian bán buôn là chất lượng của lực lượng
bán, số lượng người bán thực sự đang làm việc và khả năng trợ giúp kỹ thuật của
lực lượng bán của họ
* Dòng sản phẩm
Các nhà sản xuất phải xem xét bốn khía cạnh của dòng sản phẩm: sản phẩm
cạnh tranh, các sản phẩm có thể so sánh, các sản phẩm được ưa chuộng, chất lượng
dòng sản phẩm
* Danh tiếng
Hầu hết các nhà sản xuất đều loại bỏ ra những trung gian không có hình ảnh tốt
trong cộng đồng của họ Bởi vì danh tiếng của nhà phân phối sẽ ảnh hưởng đến hình
ảnh và danh tiếng của nhà sản xuất
* Chiếm lĩnh thị trường
Mỗi nhà phân phối thường có khách hàng trên một vùng địa lý nhất định Vì
vậy các doanh nghiệp đều muốn lựa chọn các thành viên trong kênh phân phối
chiếm lĩnh các vùng thị trường mà họ mong muốn Hơn nữa nếu một người trung
Trang 29gian chiếm lĩnh quá nhiều vùng lãnh thổ có thể gây ra hiện tượng các trung gian
hiện có hoạt động lẫn vùng của nhau
* Hoạt động bán hàng
Các doanh nghiệp sản xuất đều mong muốn chọn các thành viên trong kênh
phân phối thực sự bán sản phẩm của mình có hiệu quả Nhưng vấn đề là các thành
viên trong kênh phân phối tiềm năng có chiếm lĩnh được thị phần trường lớn như
nhà sản xuất mong đợi không? Thông thường các nhà sản xuất dữ liệu thực hiện
lượng bán chi tiết từ cá trung gian tiềm năng để đánh giá hoạt động của họ Nếu các
dữ liệu trực tiếp này không thu thập được có thể lấy từ các nguồn thông tin khác: có
thể từ số liệu dùng cuối cùng, các công ty cung cấp khác hoặc của những thương
nhân địa phương Thông tin tư các nguồn này có thể cho người quản lý kênh biết số
liệu về lượng bán của các trung gian thương mại
* Thành công về quản trị và khả năng quản lý
Một số nhà trung được quản lý bởi những người chủ - người sáng lập và phần
lớn họ là các doanh nghiệp độc lập nhỏ, tất nhiên thành công trong quá khứ là dấu
hiệu của sự tiếp tục phát triển trong tương lai
Trang 30Nhiều nhà quản lý cho rằng không nên chọn một thành viên kênh có năng lực
quản lý tồi Do đó, đây là nhân tố quan trọng để chọn thành viên kênh Tuy nhiên,
xác định chất lượng thực sự rất khó Một trong những yếu tố chính để đánh giá là
khả năng tổ chức, đào tạo và duy trì lực lượng bán Bởi vì, lực lượng bán tốt thường
là kết quả của sự quản lý tốt
* Quan điểm, thái độ
Thái độ liên quan tới sự nhiệt tình, khát vọng vươn lên, tinh thần hợp tác và sự
khởi đầu tốt đẹp trong kinh doanh Yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với khả
năng tạo lập và duy trì quan hệ làm ăn lâu dài giữa các nhà sản xuất với các thành
viên kênh Tuy nhiên đánh giá thành viên kênh có thái độ “riêng tư” hay không, nói
chung là một vấn đề khó khăn với các nhà quản lý kênh vì thái độ thường không rõ
ràng trong các báo cáo tài chính
* Quy mô
Đôi khi thành viên kênh tiềm năng được đánh giá qua quy mô hoạt động
Người ta tin rằng tổ chức và quy mô càng lớn thì doanh số bán sản phẩm của nhà
sản xuất càng cao Cùng có nhiều lý do để coi quy mô là một chỉ tiêu quan trọng
Nhìn chung, các trung gian có quy mô lớn thì dễ thành công, đạt nhiều lợi nhuận
Trang 31Các trung gian lớn thường tuyển nhân viên bán hàng giỏi và thường được trang bị
tốt hơn về trụ sở, nhân lực so với các trung gian nhỏ khác
Quá trình tuyển chọn thành viên kênh phân phối là một quá trình phải có chiều
có tác động qua lại giữa người được chọn Vì vậy doanh nghiệp phải có chiến lược
thuyết phục họ bằng cách đưa ra những lợi ích tiềm năng của hệ thống kênh
Chính sách lựa chọn và tuyển dụng lực lượng bán trong kênh phân phối trực tiếp:
- Lựa chọn lực lượng bán: Việc tuyển chọn lực lượng bán hàng làm việc có hiệu quả
là yếu tố quyết định hoạt động thành công của lực lượng bán hàng Chênh lệch giữa
người bán hàng nghỉ việc, chi phí để tìm kiếm và huấn luyện một nhân viên bán
hàng mới cộng với chi phí do giảm mức tiêu thụ lớn
Để lựa chọn được nhân viên bán hàng phù hợp, người ta xây dựng các yêu cầu
về kỹ năng và năng lực cần có đối với người bán hàng
Kỹ năng: Những kỹ năng truyền thống cần có trong nghề bán hàng đều thuộc
về khả năng giao tiếp Trong marketing dựa trên quan hệ, một kiểu bán hàng mới
ngày càng được áp dụng nhiều trong phương thức bán hàng trực tiếp là người bán
hàng tự coi mình là một đối tác của khách hàng để cùng tìm kiếm cách giải quyết
Trang 32những vấn đề của họ Khi đó, tinh thần tiến công được thay thế bằng sự năng động,
một nét cá tính cần thiết cho công việc này
Năng lực: Tùy vào yêu cầu của công việc mà những đòi hỏi về năng lực của
nhân viên bán hàng sẽ khác nhau như trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, trình
độ chuyên môn…
Chiêu mộ: Khi có nhu cầu tuyển người, có nhu cầu tuyển người, công ty có
thể chiêu mộ từ lực lượng bên trong tổ chức cũng như bên ngoài
Để đạt được thắng lợi, quá trình chiêu mộ cần được tiền hành có kế hoạch
và mang tính chiến lược rõ ràng, quá trình chiêu mộ gồm các bước sau:
+ Xây dựng chiến lược chiêu mộ, gồm lập kế hoạch chiêu mộ, xác định nguồn
và phương pháp chiêu mộ và thời gian chiêu mộ
+ Tìm kiếm người xin việc
+ Đánh giá quá trình chiêu mộ
Tuyển chọn: Quá trình tuyển chọn lực lượng bán hàng là quá trình đánh giá
các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào yêu cầu của công việc, để tìm
được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút
được trong quá trình chiêu mộ Cơ sở của việc tuyển chọn là các yêu cầu của công
Trang 33việc đã được đề ra trong bảng mô tả công việc và bản yêu cầu đối với người thực
hiện bán hàng
1.3.2.7 Chính sách khuyến khích các thành viên trong kênh phân phối.
Các trung gian phân phối cần phải được khích lệ thường xuyên để họ làm tốt
công việc được giao Các điều khoản mà họ chấp thuận khi tham gia kênh phân
phối cũng tạo ra một sự động viên nào đó, nhưng cần được bổ sung thêm việc huấn
luyện, giám sát và khuyến khích… Nhà sản xuất phải luôn nghĩ rằng mình không
chỉ bán hàng thông qua các trung gian mà còn bán hàng cho các trung gian nữa
Việc kích thích các thành viên của kênh phân phối làm việc thất tốt phải bắt
đầu từ việc hiểu được nhu cầu ước của những người trung gian Mevey đã chỉ ra
một số đặc điểm của những người trung gian: Người trung gian thường hành động
như những người mua hàng thay cho khách hàng của mình sau đó mới là người bán
hàng thay cho người cung ứng của mình, do đó họ quan tâm đến việc bán những sản
phẩm mà khách hàng muốn mua Người trung gian gắn tất cả các mặt hàng của
mình thành một loại sản phẩm để có thể bán kèm với nhau như một bộ trọn gói cho
từng khách hàng chứ không phải riêng từng mặt hàng
Trang 34
Phần lớn các nhà sản xuất thường quan niệm rằng quan hệ quan hệ với các
trung gian thực chất là vấn đề tìm kiếm sự hợp tác Họ sẽ sự dụng những động lực
thúc đẩy tích cực như mức lời cao, những thả thuận đặc biệt, tiền thưởng, bớt giá vì
hợp tác quảng cáo, trưng bày hàng và tổ chức thi bán hàng Đôi lúc họ áp dụng
những kiểu trừng phạt như đe dọa giảm mức lợi nhuận, giao hàng chậm và chấm
dứt quan hệ Hạn chế của chính sách nay là người sản xuất không nghiên cứu đầy
đủ những vấn đề, yêu cầu của người trung gian
Những doanh nghiệp khôn khéo hơn thì cố gắng tao dựng quan hệ hợp tác lâu
dài với các nhà phân phối Người sản xuất xây dựng một ý niệm rất rõ ràng về
những gì mà họ mong muốn ở các nhà phân phối về mặt bao quát thị trường, đảm
bảo mức dự trữ, triển khai marketing, công tác kế toán, tư vấn và dịch vụ kỹ thuật,
và thông tin thị trường Người sản xuất sẽ lựa chọn những người phân phối chấp
thuận những chính sách đó và có chế độ thù lao thích đáng cho những người thực
hiện tốt các chính sách của mình
Lập kế hoạch phân phối là một cách quan hệ tiến bộ nhất với các trung gian
Đó là việc xây dựng một hệ thống marketing dọc, có kế hoạch được quản trị theo
đúng chức năng và kết hợp được những nhu cầu của người sản xuất lẫn người phân
Trang 35phối Người sản xuất lập ra một bộ phận hoạch định quan hệ với trung gian phân
phối, công việc của nó là xác định các nhu cầu của người phân phối và xây dựng
những chương trình bán hàng để giúp những người phân phối hoạt động ở mức tốt
nhất Bộ phận này và những người phân phối cùng nhau dự kiến các chỉ tiêu bán
hàng, mức dự trữ, các mặt hàng và kế hoạch trưng bày hàng, các yêu cầu trong việc
huấn luyện bán hàng, các kế hoạch quảng cáo và khuyến mãi Mục tiêu chủ yếu là
biến các nhà phân phối từ cách nghĩ rằng họ làm ăn ở phía người mua (trong mối
quan hệ đối đầu với nhà sản xuất) chuyển sang cách nghĩ là họ làm ăn ở phía người
bán vì họ cũng là một bộ phận trong hệ thống marketing dọc tinh vi đó
Hộp 1.1.Tiêu chí tham khảo để lập chương trình phân phối
* Các mục tiêu marketing của nhà sản xuất: Cần phân tích về:
Trang 36- Doanh số bán
- Tỷ phần thị trường
- Chi phí của các trung gian trong tổng chi phí
- Tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư
- Thái độ, sự ưa chuộng của khách hàng, và chỉ số về” sự sẵn sàng mua”
* Các chính sách phân phối:
- Những ưu tiên về giá cả
- Trợ giúp về tài chính
- Những điều khoản đảm bảo
(Nguồn Phòng kinh doanh)
Sau khi đã hoàn thành xong bảng phân tích này, cần phải cây dựng những
chính sách hỗ trợ kênh nhất định Có vô số các chinh sách mà nhà sản xuất có thể sử
dụng tùy thuộc vào loại nghành kinh doanh, bản chất và các hoạt động trước đây
của các thành viên kênh Tuy nhiên tất cả các quan điểm, chính sách có thể chia làm
2 nhóm chính:
1 Các chương trình giảm giá cho các thành viên kênh
2 Các đề nghị sự giúp đỡ về mặt tài chính
Trang 37Các đề nghị đảm bảo cho các thành viên kênh
* Chế độ thù lao đối với các nhân viên bán hàng
Phần lớn các nhân viên bán hàng đòi hỏi sự khuyến khích và động viên đặc
biệt thì mới làm việc hết sức mình
+ Các phương thức động viên nhân viên bán hàng: thông thường người ta động
viên nhân viên bán hàng bằng phương tiện vật chất (chủ yếu là tiền lương) hoặc tinh
thần (tâm lý)
+ Phương tiện vật chất ( tiền lương) có ba yếu tố cấu thành trong tiền lương,
được sử dụng riêng lẻ hay kết hợp với nhau theo tỷ lệ thay đổi, mỗi phương thức
ứng với một quan niệm về bán hàng và một nhiệm vụ giao phó cho nhân viên bán
hàng: lương cố định, tiền hoa hồng và tiền thưởng
+ Các yếu tố động viên tinh thần: Sự hấp dẫn của tiền thù lao không đủ mà
phải bổ sung bằng những phần thưởng có ý nghĩa tượng trưng, mang tính động viên
và những vinh dự khác Nó bao gồm các yếu tố như:
Thông tin đều đặn cho mỗi nhân viên bán hàng biết những gì đang xảy ra
trong công ty, kết quả kinh doanh, tình hình thị trường, những khó khăn, kết quả
bán hàng của những nhân viên khác…để giúp họ gắn bó với công ty
Trang 38 Thể hiện sự tôn trọng và gắn bó với nhân viên bán hàng
1.3.2.8 Chính sách đánh giá và thưởng phạt các thành viên trong kênh phân phối
Nhà sản xuất phải thường xuyên hoặc định kỳ đánh giá hoạt động của những
trung gian được lựa chọn theo những tiêu chuẩn nhất định, làm cơ sở cho những áp
dụng các chính sách thưởng phạt, bảo đảm cho các hoạt động phân phối đi đúng
hướng và hiệu quả
Cần xây dựng các tiêu chuẩn thích hợp cho việc đánh giá hoạt động và áp
dụng các tiêu chuẩn này để đo lường hoạt động của các thành viên kênh
Các tiêu chuẩn thường được chọn để đánh giá như:
Định mức doanh số và mức đạt thực tế trong từng thời kỳ
Mức độ kho trung bình
Thời gian ngắn nhất hoặc trung bình giao hàng cho khách
Cách xử lý hàng hóa thất thoát và hư hỏng
Mức hợp tác chương trình quảng cáo và hiệu quả từng đợt quảng cáo đó
Những dịch vụ đã làm cho khách hàng
Hoạt động đào tạo và huấn luyện nhân viên bán hàng
Trang 39Trong công tác đánh giá hoạt động của các thành viên kênh, người quản tri
phải đối mặt với các tổ chức kinh doanh độc lập chú không phải là những nhân viên
và xác đinh quá trình đánh giá là giữa các tổ chức chứ không phải là trong nội bộ tổ
chức
Trên cơ sở đánh giá các hoạt động của các thành viên, nhà sản xuất cần xây
dựng các chính sách thưởng phạt phù hợp để động viên khen thưởng kịp thời các
thành viên hoạt động tích cực Cần kết hợp các chính sách thưởng về vật chất như
tiền thưởng với các chính sách biểu dương khen thưởng về tinh thần như hội nghị
khách hàng tiên tiến, tổ chức đi tham quan, du lịch…
Bên cạnh đó còn ban hành các biện pháp xử phạt nghiêm minh đối với các
thành viên vi phạm hợp đồng phân phối, làm giảm uy tín của hàng hóa và nhà sản
xuất, vi phạm quy chế tài chính…
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản trị kênh phân phối
Để đánh giá được hiệu quả của hoạt động quản trị kênh phân phối doanh
nghiêp cần dựa vào các chỉ tiêu sau:
- Doanh số tiêu thụ:
Trang 40Q = Qi x Pi (1.1.)
Trong đó: Qi là khối lượng sản phẩm i tiêu thụ
Pi là đơn giá sản phẩm I được tiêu thụ
Đây là tiêu chí quan trọng nhất vì nó đánh giá khả năng hoạt động kinh doanh
của các thành viên kênh trong thực tế
Khi kiểm tra hoạt động bán, người quản lý kênh cần thận trọng phân biệt giữa
lượng bán của nhà sản xuất cho thành viên kênh và lượng bán những sản phẩm của
nhà sản xuất mà thành viên kênh thực hiện cho các khách hàng của họ
Người quản lý kênh cần đánh giá dữ liệu bán theo ba mức độ so sánh sau:
Lượng bán hàng hiện tại của thành viên kênh so với lượng bán hàng trong lịch
sử
So sánh lượng bán của một thành viên với tổng lượng bán của tất cả các thành viên
trong kênh
Lượng bán của từng thành viên trong kênh so với các chỉ tiêu đã xác định
trước( nếu các chỉ tiêu đã được ấn định )
- Doanh thu tiêu thụ: Là tổng giá trị được thực hiện do bán sản phẩm hàng
hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng