1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU

93 555 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 586 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất khẩu giầy dép Việt Nam sang thị trường EU: Những thuận lợi và khó khăn ThS. Trần Mạnh Hùng Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Trong chiến lược đa dạng hoá thị trường của chính sách thương mại Việt Nam, Liên minh châu Âu luôn được coi là một thị trường quan trọng. Với hơn 500 triệu dân, sống trên 28 quốc gia trải dài từ Bắc xuống Nam châu lục có mức sống thuộc loại cao nhất thế giới, hàng năm, EU nhập khẩu một lượng giầy dép ngày càng lớn từ Việt Nam. Để có thể đạt được kết quả kinh doanh cao và bền vững ở thị trường này trong điều kiện hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép của nước ta cần phải nhận diện rõ những thuận lợi và khó khăn để tìm ra biện pháp tháo gỡ thích hợp. 1. Tình hình xuất khẩu giầy dép của Việt Nam sang thị trường EU Mặc dù tình hình trong nước cũng như quốc tế trong những năm vừa qua có một số tác động bất lợi tới việc xuất khẩu giầy dép của Việt Nam sang thị trường EU, song với sự quan tâm của Chính phủ và sự nỗ lực của các doanh nghiệp, nên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vào thị trường EU vẫn có mức tăng trưởng khá. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2010, Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang thị trường EU là 2,255 tỷ USD, năm 2011 đạt 2,609 tỷ USD (tăng 15,7% so với năm 2010), năm 2012 đạt 2,65 tỷ USD (tăng 1,6%) và năm 2013 đạt 2,964 tỷ USD (tăng 11,8%). Chủng loại giầy dép của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU chủ yếu là nhóm hàng giầy dép có đế ngoài và mũ giầy bằng cao su hoặc plastic (mã HS 64.02); giầy dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da thuộc hoặc da tổng hợp và mũ giầy bằng da thuộc (HS 64.03); giầy dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da thuộc hoặc da tổng hợp và mũ giầy bằng nguyên liệu dệt (HS 64.04). 2. Những thuận lợi khi xuất khẩu giầy dép sang thị trường EU Do lao động chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành da giầy, nên với nguồn lao động dồi dào, tiền công còn thấp ở Việt Nam (chưa đến 0,4 USDgiờ công lao động), các doanh nghiệp kinh doanh da giầy nước ta có ưu thế xuất khẩu rất lớn so với hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển. Tuy thời gian hòa nhập với thị trường da giầy thế giới chưa lâu, nhưng ngành da giầy nước ta trong những năm vừa qua đã lớn mạnh nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, đã có được cảm tình với các thị trường da giầy trên thế giới. Hiện nay, sản phẩm da giầy Việt Nam đã có mặt và được chấp nhận trên hầu hết các nước EU. Tuy chưa có nhiều trường lớp đào tạo chuyên sâu nhân lực cho ngành da giầy Việt Nam, nhưng cùng với sự phát triển của ngành, thông qua thực tiễn sản xuất, ngành da giầy nước ta đã đào tạo được một đội ngũ lớn cán bộ kỹ thuật và công nhân có trình độ, tay nghề khá tốt để phục vụ cho sự phát triển của ngành. Giầy dép xuất khẩu được sản xuất tại Việt Nam mang những nhãn mác nổi tiếng thế giới như Nike, Reebok... đã chứng tỏ công nhân Việt Nam có những kỹ năng cần thiết để sản xuất các sản phẩm đòi hỏi những thao tác công phu, tỉ mỉ, với những mẫu mã đa dạng để cung cấp cho thị trường thế giới. Là một trong 7 ngành công nghiệp ưu tiên phát triển trong giai đoạn 2007 2010, tầm nhìn đến năm 2020, nên trong những năm qua, các doanh nghiệp sản xuất da giầy luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm bằng việc đề ra nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ trong việc đẩy mạnh đầu tư để đưa da giầy trở thành ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển hàng tiêu dùng hướng ra xuất khẩu. Điều kiện địa lý thuận lợi, chính trị ổn định, Việt Nam có nhiều ưu thế trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ Việt Nam luôn đạt được sự nhất trí cao trong việc ban hành các chính sách nhằm mở cửa hơn nữa nền kinh tế Việt Nam để từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Quan hệ Việt Nam và Ủy ban châu Âu ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Nhờ có quan hệ này mà hiện nay, giầy dép xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU đang được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP, không bị đánh thuế chống bán phá giá. Hiện nay, Việt Nam và EU đang đẩy mạnh đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) trong thời gian tới. Khi Hiệp định này được ký kết và có hiệu lực, sẽ có khoảng hơn 90% sản phẩm hàng hóa của Việt Nam (trong đó có giầy dép) xuất khẩu sang EU được hưởng thuế 0%. Đồng thời, nhiều rào cản thuế quan sẽ được dỡ bỏ. Điều này sẽ góp thêm thuận lợi, giúp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng giầy dép nói riêng của Việt Nam vào thị trường EU trong thời gian tới. 3. Những khó khăn khi xuất khẩu giầy dép sang thị trường EU Thiết kế và công nghệ của ngành chưa đáp ứng yêu cầu thị trường. Hầu hết sản phẩm xuất khẩu đều được sản xuất theo mẫu có sẵn kèm theo đơn hàng nên phần sáng tạo của người sản xuất hầu như không có. Khi doanh nghiệp chưa chủ động được khâu thiết kế và công nghệ thì còn bị phụ thuộc vào khách hàng và chưa thể hoàn toàn thoát khỏi phương thức gia công. Chưa tổ chức tốt công tác nghiên cứu, dự báo thị trường, khả năng cạnh tranh còn yếu. Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam, trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa có được mạng lưới phân phối trực tiếp ở nước ngoài, mọi giao dịch đều phải qua trung gian và phải chấp nhận làm gia công. Bên cạnh đó, chúng ta hầu như không có các chiến dịch, các biện pháp Marketing đối với thị trường nước ngoài làm hạn chế không nhỏ đến khả năng mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác nước ngoài. Công nghiệp phụ trợ cho ngành còn chậm phát triển nên lệ thuộc quá nhiều vào việc cung ứng nguyên vật liệu, phụ liệu, hoá chất, phụ tùng, thiết bị máy từ nước ngoài (chiếm trên 60%). Nguyên phụ liệu trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu bởi chất lượng thấp, nguồn cung cấp đã nhỏ lại không ổn định. Chưa có quy hoạch đào tạo bài bản dẫn đến thiếu lực lượng lao động có tay nghề cao. Lao động trực tiếp qua đào tạo bài bản chiếm chưa đến 50% do các doanh nghiệp chưa có điều kiện đào tạo một cách có hệ thống mà chỉ kèm cặp chắp vá để đáp ứng nhanh nhu cầu trước mắt. Mặt khác, lao động trong ngành da giầy có sự biến động lớn theo thời vụ cũng làm ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Do hầu hết các doanh nghiệp trong ngành đều có xuất phát thấp, nên vốn tích luỹ cho mở rộng sản xuất và phục vụ kinh doanh còn hạn chế, nhất là so với các đối tác nước ngoài. Thiếu vốn dẫn đến đa phần doanh nghiệp trong ngành phải gia công qua các đối tác trung gian, hiệu quả sản xuất kinh doanh bị hạn chế, sản xuất dễ bị biến động. Do hạn chế về tài chính nên các doanh nghiệp trong ngành giầy dép chậm đổi mới máy móc thiết bị. Công tác đầu tư xây dựng và phát triển chưa theo quy hoạch hợp lý. Đầu tư còn manh mún, tản mạn, các doanh nghiệp cạnh tranh lẫn nhau, làm hạn chế lợi ích của phía Việt Nam. Quy mô doanh nghiệp thường nhỏ hoặc chỉ đạt mức trung bình, do đó khả năng đáp ứng được đơn hàng với số lượng lớn và thời gian giao hàng nhanh là rất khó khăn, thậm chí bất khả thi. Rào cản thuế quan ngày càng được dỡ bỏ, nhưng thay vào đó, các nước EU lại gia tăng các rào cản phi thuế quan nhằm hạn chế xuất khẩu giầy dép vào thị trường này. Các rào cản phi thuế quan bao gồm các tiêu chuẩn về chất lượng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn về nhãn mác, tiêu chuẩn về bao gói, đặc biệt là tiêu chuẩn xuất xứ đã làm cho các doanh nghiệp xuất khẩu da giầy của Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi xuất khẩu vào thị trường này. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Nguyễn Văn Tân (2009), “Giải pháp phát triển các doanh nghiệp da giầy trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2015”, Luận án Tiến sỹ, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. 2 Cục Xúc tiến thương mại Bộ Công Thương,“Bản tin ngành hàng da giầy Tháng 102013”. 3 Tổng cục Hải quan “Tổng quan tình hình xuất khẩu giầy dép của Việt Nam năm 2013”.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH

TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU GIẦY DÉP TẠI THỊ TRƯỜNG EU

6

1.1 Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 61.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 12

1.4 Kinh nghiệm của một số doanh nghiệp nước ngoài trong việc nâng cao

năng lực cạnh tranh và bài học đối với các doanh nghiệp Việt Nam

36

Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY

TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN GIẦY

THƯỢNG ĐÌNH TẠI THỊ TRƯỜNG EU

2.3 Đánh giá công tác tăng cường khả năng cạnh tranh của Công ty 65

Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH

VIÊN GIẦY THƯỢNG ĐÌNH TẠI THỊ TRƯỜNG EU

Trang 2

Bảng 2.2: Sản lượng tiêu thụ của công ty Giầy Thượng Đình giai đoạn 2011

trường EU

60

Bảng 2.10 : Số lượng và doanh thu tiêu thụ của công ty giày Thượng Đình trên

thị trường EU giai đoạn 2011 - 2013

60

Bảng 2.11: Giá cả bình quân sản phẩm giầy vải và giầy thể thao của công ty và

một số nước trên thị trường EU

61

Bảng 2.12: Bảng đánh giá chất lượng sản phẩm theo phương pháp cho điểm

năm 2012

62

Bảng 2.13: Tỉ lệ sản phẩm đạt chất lượng của công ty và các quốc gia khác trên

thị trường EU giai đoạn 2010 - 2013

63

Bảng 3.1: Các dự án đầu tư giai đoạn 2015-2020 của công ty giày Thượng Đình 74

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ

Trang

Hình 1.1: Các lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành 21

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty giầy Thượng Đình 46

Sơ đồ 2.2: Quy trình sản xuất của công ty giầy Thượng Đình 56

Trang 4

KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

CCI Chỉ số năng lực cạnh tranh hiện hành

GATT Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịchGCI Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã tạo ra những cơhội riêng và thách thức mới cho các doanh nghiệp Muốn tồn tại và phát triển, các doanhnghiệp buộc phải tìm cách thích nghi để theo kịp sự vận động của thị trường, hội nhậpvào nền kinh tế thế giới, đây là xu hướng tất yếu

Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới không còn cách nào khác là các doanh nghiệpViệt Nam phải mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu Đẩy mạnh việc xuất khẩu sảnphẩm, một mặt tạo cho doanh nghiệp có vị trí ngày càng ổn định trên thương trường, đảmbảo việc tiêu thụ cho sản phẩm, mặt khác giúp doanh nghiệp tận dụng được ưu thế vềnguồn lực của mình, hạn chế rủi ro

Thị trường EU là thị trường rộng lớn, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thếgiới, có mối quan hệ thường mại tốt với các doanh nghiệp Việt Nam Thị trường nàynhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam với khối lượng lớn bao gồm các mặt hàng: Dệt may,Giầy dép, Đồ thủ công mỹ nghệ, Thủy sản,…trong đó mặt hàng chủ lực là Dệt may vàGiầy dép Đây là một thị trường khó tính nhưng đầy tiềm năng nên thu hút các doanhnghiệp thúc đẩy việc tìm kiếm thị trường và tăng cường xuất khẩu

Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình là một doanh nghiệp

có tỷ trọng xuất khẩu lớn trong tổng doanh thu Thị trường EU là thị trường truyền thốngđối với Công ty trong gần 20 năm qua Tuy kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EUtrong những năm gần đây liên tục tăng nhưng Công ty cũng gặp không ít khó khăn do sứccạnh tranh còn nhiều hạn chế Để góp phần giúp cho Công ty duy trì và gia tăng kimngạch xuất khẩu vào thị trường EU trong những năm tới trên cơ sở nâng cao năng lực

cạnh tranh của mình, nhóm tác giả đã lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU” làm đề tài

nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Trường

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranhđối với một số loại hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam trước những thay đổi trên thị trườngtrong nước và quốc tế như:

- Luận án Tiến sĩ khoa học của Vũ Văn Cường - Bảo vệ tại Trường Đại học Kinh

tế Quốc dân năm 2001 - với đề tài: “Phương hướng và biện pháp nhằm phát triển ngành

da giầy Việt Nam”

Luận án đã nghiên cứu thực trạng ngành da giầy Việt nam và đề xuất các giải phápphát triển ngành da giầy Việt Nam, trong đó có giải pháp liên quan đến thúc đẩy xuấtkhẩu sản phẩm da giầy nói chung

- Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Anh Tuấn (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân),hoàn thành năm 2006 với đề tài:“Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh hàng may mặccủa Việt Nam trên thị trường EU”

Luận án đã hệ thống hoá lý thuyết về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh sản phẩmnói chung và hàng may mặc Việt Nam nói riêng trên thị trường EU Phân tích những lợithế và hạn chế của hàng may mặc Việt Nam trên thị trường EU, đồng thời đánh giá thựctrạng khả năng cạnh tranh hàng may mặc của Việt Nam trên thị trường EU Qua đó, đềxuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh hàng may mặc củaViệt Nam trên thị trường EU

Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác đề cập đến việcnâng cao năng lực cạnh tranh của một số mặt hàng khác của nước ta trong thời gian quanhư: Phát huy lợi thế, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông sản xuất khẩuchủ yếu của Việt Nam của nhóm tác giả Nguyễn Đình Long và Nguyễn Tiến Mạnh; Đề

án phát triển thương mại nông - lâm - thuỷ sản đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020,khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh ASEAN và AFTAcủa Bộ NN & PTNT; Định hướng và những giải pháp cho xuất khẩu nông sản của cácdoanh nghiệp Việt Nam trong những năm tới của PGS.TS Phạm Công Đoàn; Các biệnpháp phi thuế quan đối với hàng nông sản trong thương mại quốc tế của PGS.TS ĐinhVăn Thành; Tác động của hội nhập KTQT đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ một số nông

Trang 8

sản ở Việt Nam: qua nghiên cứu trường hợp chè, cà phê và điều của Viện nghiên cứuquản lý kinh tế trung ương

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên dù khá đa dạng nhưng mới chỉ tập trung

vào phân tích các khía cạnh khác nhau về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuấtkhẩu giầy dép của Việt Nam trong trạng thái tĩnh một cách rời rạc, chủ yếu dựa vào đánhgiá hiện trạng năng lực cạnh tranh của từng yếu tố riêng biệt nhờ lợi thế so sánh Cho đếnnay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và cập nhật về vấn đềnâng cao sức cạnh tranh của Công ty TNHH giầy Thượng Đình vào thị trường EU trongđiều kiện Việt Nam gia nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, nhất là trong nhữngnăm khủng hoảng kinh tế gần đây Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu tiếp tục, có tínhkhái quát về năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Công ty vào thị trường EU trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế, từ đó tạo cơ sở để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao nănglực cạnh tranh của Công ty trong tiến trình hội nhập sâu vào nên kinh tế khu vực và thếgiới trong thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích các “nút thắt” cạnh tranh của Công tyTNHH giầy Thượng Đình vào thị trường EU, trên cơ sở đó tìm ra một số giải pháp chủyếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty vào thị trường EU trong bối cảnhhội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế thế giời ngày càng sâu rộng hơn Để đạtđược mục đích trên, báo cáo nghiên cứu có các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh vànăng lực cạnh tranh xuất khẩu

- Phân tích, đánh giá thực trạng sức cạnh tranh của Công ty TNHH giầy ThượngĐình ở thị trường EU trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ rõ những điểm mạnh,điểm yếu so với các mặt hàng của các đối thủ cạnh tranh khác và nguyên nhân gây ranhững điểm yếu đó

- Đề xuất các quan điểm và giải pháp, kiến nghị có cơ sở khoa học và có tính khảthi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH giầy Thượng Đình ở thịtrường EU trong điều kiện hội nhập KTQT

Trang 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận và thực tiễn vềnăng lực cạnh tranh của Công ty giầy Thượng Đình ở thị trường EU trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong hoạt động xuấtkhẩu một số mặt hàngn chủ yếu của Công ty Cụ thể là:

Giới hạn nội dung: Tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu và khả năng cạnh

tranh của Công ty TNHH giầy Thượng Đình ở thị trường EU, không đi sâu nghiên cứuchi tiết những vấn đề về kỹ thuật sản xuất, không nghiên cứu hoạt động tiêu thụ của Công

ty ở thị trường trong nước

Giới hạn thời gian nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực

trạng xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH giầy Thượng Đình từ năm

2011 đến nay

Giới hạn mặt hàng: Công ty kinh doanh nhiều mặt hàng, nhiều lĩnh vực khác nhau

Tuy nhiên, trong báo cáo đề tài chỉ tập trung nghiên cứu chủ yếu về các mặt hàng: giầyvải, giầy thể thao

5 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làmphương pháp nghiên cứu cơ bản Ngoài ra, các tác giả còn sử dụng thêm các phươngpháp nghiên cứu như:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp phân tích hệ thống, tổng hợp

- Phương pháp thống kê, so sánh

- Phương pháp điều tra và khảo sát

- Phương pháp lấy ý kiến phân tích của các chuyên gia, các nhà kinh doanh xuấtkhẩu giầy dép vào thị trường EU

6 Nội dung đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, sơ đồ,bảng biểu, báo cáo đề tài gồm 3 chương:

Trang 10

Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép tại thị trường EU

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình tại thị trường EU

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH nhà nước một thành viên giầy Thượng Đình tại thị trường EU

Trang 11

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU GIẦY DÉP TẠI

THỊ TRƯỜNG EU

1.1 TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Các học thuyết về kinh tế thị trường, dù trường phái nào cũng đều thừa nhận rằng:cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà ở đó cung - cầu vàgiá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của cơ chế thịtrường, cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường

Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khácnhau, nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh, đặc biệt là phạm vi của thuật ngữnày Chúng ta có thể dẫn ra như sau:

Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư

bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thuđược lợi nhuận siêu ngạch”

Theo Từ điển kinh doanh của Mariam Webster xuất bản năm 1992 thì: “Cạnh

tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giànhcùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”

Theo Từ điển Bách Khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là

hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, giữa cácnhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, nó được chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằmgiành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”

Theo cuốn Kinh tế học của M.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các

doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”

Trang 12

Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh

và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa

các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nângcao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể”

Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cạnh tranh, chúng ta có thể rút ranhững nội hàm cơ bản của cạnh tranh kinh tế:

Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần

thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự

Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh kinh tế là nhắm vào một đối tượng cụ

thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm, dự án ); một loạtđiều kiện có lợi (một thị trường, một khách hàng ) Mục đích cuối cùng là kiếm được lợinhuận cao

Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung

mà các bên tham gia phải tuân thủ như: Đặc điểm sản phẩm, thị trường, các tiêu chuẩnpháp lý, các thông lệ kinh doanh

Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể kinh doanh tham gia cạnh tranh trên

4 phương diện chủ yếu: Cạnh tranh giá trị sử dụng sản phẩm; Cạnh tranh giá bán sảnphẩm; Cạnh tranh về phân phối sản phẩm; Cạnh tranh về truyền thông và khuếch trương

Từ những cách tiếp cận trên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, khái niệm

cạnh tranh nên được hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất

1.1.2 Năng lực cạnh tranh và các cấp độ cạnh tranh

Nếu hiểu cạnh tranh là cuộc ganh đua gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinhdoanh trên thị trường Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành được lợi thế về phíamình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị

Trang 13

thế của mình trên thị trường Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủthểnhằm kiến tạo năng lực cạnh tranh của chủ thể đó Khi muốn có khả năng duy trì vịthế của một hàng hóa nào đó nói chung, hàng nông sản nói riêng trên thị trường, mà hànghóa này phải thuộc một doanh nghiệp nào đó, một nước nào đó thì người ta cũng dùng

thuật ngữ “sức cạnh tranh của hàng hóa”, đó cũng là thuật ngữ dùng để chỉ mức độ hấp

dẫn của hàng hóa đó đối với khách hàng Như vậy, khi nghiên cứu sức cạnh cạnh tranhcủa một mặt hàng nào đó, cần phải xem xét nó trong môi trường cạnh tranh năng lựcquốc gia, cạnh tranh ngành và doanh nghiệp

1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia

Theo định nghĩa của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF - World Economic Forum)thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng của một nền kinh tế có thể tạo ratăng trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới.Ngoài những yếu tố về vị trí địa lý kinh tế, tài nguyên thiên nhiên năng lực cạnh tranhcủa quốc gia chịu sự chi phối bởi các nhóm nhân tố:

- Nhóm 1: Mức độ mở của nền kinh tế, bao gồm độ mở của thương mại và đầu tư(thuế quan và hàng rào phi thuế quan, chính sách xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, đầu tưtrực tiếp của nước ngoài)

- Nhóm 2: Vai trò và hoạt động của chính phủ (mức độ can thiệp của Nhà nước,năng lực của Chính phủ, quy mô của Chính phủ, chính sách tài khóa, hệ thống thuế, lạmphát)

- Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính (khả năng hoạt động của trung gian tài chính,rủi ro tài chính, hiệu quả cạnh tranh, đầu tư và tiết kiệm)

- Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ (năng lực công nghệ nội sinh, công nghệchuyển giao, mức độ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai)

- Nhóm 5: Các yếu tố về kết cấu hạ tầng (chất lượng hệ thống giao thông vận tải,mạng viễn thông, điện, nước, kho tàng và các phương tiện vật chất)

- Nhóm 6: Quản lý kinh doanh, quản lý nhân lực

Trang 14

- Nhóm 7: Các yếu tố về lao động (số lượng lao động, trình độ tay nghề và năngsuất lao động, hiệu quả và tính linh hoạt của thị trường lao động, chương trình xã hội)

- Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế (chất lượng của các thể chể pháp lý)

Từ năm 2000, WEF điều chỉnh lại các nhóm tiêu chí, gộp thành ba nhóm lớn đểđánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia là: Sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ; tài chính;quốc tế hoá Trong đó, trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đã tăng mạnh từ1/9 lên 1/3, với hai chỉ số mới - chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng (GrowthCompetitiveness Index - GCI) và chỉ số năng lực cạnh tranh hiện hành (CurrentCompetitiveness Index - CCI) Theo phân tích và đánh giá của WEF thì sức vươn lêntrong hội nhập, cạnh tranh của nền kinh tế nước ta chưa mạnh, trong khi xu thế hội nhậpkinh tế quốc tế đang đặt ra yêu cầu rất cao đối với năng lực cạnh tranh của các quốc gia

và năng lực cạnh tranh của cấp quốc gia ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp

Một số nhà kinh tế khác lại đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của quốc gia dựatrên năng suất lao động, M Porter cho rằng: “Khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnhtranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động” Ông đề cao vai trò của doanh nghiệp trongcạnh tranh quốc gia và cho rằng năng suất lao động trong một quốc gia phụ thuộc vào khảnăng của từng doanh nghiệp của nó đạt được các mức năng suất cụ thể và tăng được mứcnăng suất đó như thế nào Muốn duy trì và nâng cao được năng suất lao động, từng doanhnghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất bằng cách nâng cao chất lượng sảnphẩm, cải tiến kỹ thuật, hạ thấp chi phí, bổ sung các đặc điểm cần thiết để đáp ứng nhucầu ngày càng khắt khe của thị trường trong và ngoài nước

Uỷ ban về Cạnh tranh Công nghiệp Hoa kỳ đã đưa ra khái niệm “ở quy mô mộtquốc gia, năng lực cạnh tranh được hiểu là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường

tự do và công bằng có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thịtrường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của nhân dân nước đó”.Theo quan điểm này thì cạnh tranh của một quốc gia được hiểu là khả năng của quốc gia

đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống của người dân, có nghĩa là

Trang 15

đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của thu nhập bìnhquân trên đầu người theo thời gian

Như vậy, dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng đa số các quan niệm đềuthống nhất, năng lực cạnh tranh của quốc gia phụ thuộc vào khả năng khai thác các cơ hội

trên thị trường Do đó, có thể hiểu, năng lực cạnh tranh của quốc gia là tổng thể sức mạnh và ảnh hưởng của nền kinh tế quốc dân trong đời sống kinh tế quốc tế mà điều biểu hiện rõ nhất là thương hiệu thương mại quốc gia được thế giới ngưỡng mộ, tín nhiệm.

1.1.2.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Về khái niệm này, phần lớn các tác giả đều gắn năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường hoặc gắn năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó chiếm giữ thông qua khả năng tổ chức,quản trị kinh doanh hướng vào đổi mới công nghệ, giảm chi phí nhằm duy trì hay giatăng lợi nhuận, bảo đảm sự tồn tại, phát triển bền vững của doanh nghiệp

Do tính đa dạng và phức tạp của cạnh tranh kinh doanh, không thể có một kháiniệm cạnh tranh doanh nghiệp chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp Trong điềukiện và thực tế cạnh tranh của mình, thì doanh nghiệp phải tự định nghĩa năng lực cạnhtranh cho mình Song trên nhận thức chung nhất, chúng ta có thể xem xét năng lực cạnhtranh doanh nghiệp trên 4 phương diện sau:

Một là, cạnh tranh phải đứng trên quan điểm khách hàng Phải lấy yêu cầu và sự

thỏa mãn của khách hàng là chuẩn mực đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Hai là, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc thu hút khách hàng phải là thực

lực của doanh nghiệp Thực lực này chủ yếu được tạo thành từ những ưu thế so sánh màdoanh nghiệp cung ứng cho khách hàng

Ba là, khi nói tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp luôn hàm ý so sánh với doanh

nghiệp hữu quan (các đối thủ cạnh tranh) cùng hoạt động trên thị trường Muốn tạo nênnăng lực cạnh tranh thực thụ, thực lực của doanh nghiệp phải vượt trội lên đối thủ bằng

ưu thế riêng có của mình

Trang 16

Bốn là, các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có quan hệ ràng

buộc nhau Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh khi nó có khả năng thoả mãnđầy đủ nhất tất cả những yêu cầu của khách hàng Song khó có doanh nghiệp nào có đượcyêu cầu này, thường thì có lợi thế về mặt này, lại có thế yếu về mặt khác Bởi vậy, việcđánh giá đúng đắn những mặt mạnh và mặt yếu của từng doanh nghiệp có ý nghĩa trọngyếu với việc tìm các giải pháp tăng năng lực cạnh tranh

Do đó, chúng ta có thể hiểu: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hiện thực lực

và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để đạt mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.

1.1.2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Theo một số tác giả, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội của nó (vềcác chỉ tiêu) so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thịtrường Khái niệm này cho thấy, việc xác định sản phẩm có năng lực cạnh tranh haykhông trên thị trường, là xác định mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm

về chất lượng, giá cả, công nghệ chế tạo, dịch vụ sau bán hàng so với sản phẩm cùngloại mà đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường Biểu hiện tập trung nhất là uy tínthương hiệu sản phẩm

Một số tác giả khác lại cho rằng: một hàng hóa được coi là có sức cạnh tranh khi

nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tínhđộc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với các hàng hóa cùng loại.Hay nói cách khác, sức cạnh tranh của hàng hóa được hiểu là tất cả những đặc điểm, yếu

tố, tiềm năng mà hàng hóa đó có thể duy trì và củng cố chỗ đứng của mình trên thị trườngtrong một thời gian dài Sức cạnh tranh của hàng hóa còn được thể hiện thị phần của mặthàng đó trên thị trường, hay nói cách khác đó là sức mua đối với hàng hóa đó trên thịtrường, là mức độ chấp nhận của người tiêu dùng

Trang 17

Như vậy, mặc dù vẫn chưa thống nhất khái niệm, song có thể hiểu rằng, năng lựccạnh tranh của sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố chính như: tính hữu dụng thay thếcho công dụng kinh tế của một loại sản phẩm so với sản phẩm tương tự của doanh nghiệpkhác: yếu tố về chất lượng của sản phẩm; yếu tố về giá cả của sản phẩm Và các yếu tốkhác như: kiểu dáng, tính năng sử dụng, kiểu dáng, mẫu mã, hình thức độc đáo hay sựkhác biệt, thương hiệu, bao bì của sản phẩm, phương thức tiêu thụ, quảng cáo, bán hàng

Tóm lại, các cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau,tạo điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tế có năng lựccạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có sức cạnh tranh, ngược lại để tạođiều kiện cho doanh nghiệp có sức cạnh tranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tếphải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, nền kinh tếphải ổn định, bộ máy Nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyênnghiệp

Mặt khác, tính năng động, nhạy bén trong quản lý doanh nghiệp cũng là một yếu

tố quan trọng, vì trong cùng một môi trường kinh doanh có doanh nghiệp rất thành côngtrong khi doanh nghiệp khác lại thất bại Là tế bào của nền kinh tế nên sức cạnh tranh củadoanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia

Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnhtranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Doanh nghiệp có thểkinh doanh một hay một số sản phẩm và dịch vụ có năng lực cạnh tranh Ngược lại, nănglực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá cao khi năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1.2.1 Nhóm nhân tố bên ngoài

Như đã đề cập ở trên, sức cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực nội sinh (bêntrong) của doanh nghiệp đứng trước cơ hội và thách thức của môi trường kinh doanh và

áp lực cạnh tranh từ phía thị trường

Trang 18

Tuy nhiên, những khả năng này lại bị tác động đồng thời bởi nhiều yếu tố bênngoài ở trong nước và quốc tế Vì vậy, khi phân tích tới các yếu tố cấu thành và ảnhhưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp, phải đề cập tới các nhân tố tác động bênngoài.

1.2.1.1 Những nhân tố vĩ mô

Nhân tố kinh tế: Đây là nhóm các nhân tố và điều kiện ràng buộc rất phong phú.

Môi trường chính sách thị trường và các chính sách kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng quantrọng đến thách thức, ràng buộc nhưng đồng thời lại là nguồn khai thác cơ hội hấp dẫnđối với mỗi doanh nghiệp Kinh tế các nước EU trong những năm qua gặp khó khăn dokhủng hoảng kinh tế thế giới kết hợp với khủng hoảng nợ công Tuy nhiên, hiện nay đangbước đầu hồi phục trở lại làm cho nhu cầu mua sắm những hàng hóa thiết yếu như giầydép tăng lên Khách hàng ở các nước EU rất đa dạng nên nhu cầu đối với mặt hàng giầydép cũng rất phong phú Xu hướng tiêu dùng của nhiều người tiêu dùng EU đang đi theohướng từ sang trọng đến bình dân Xu hướng này đang tiếp diễn mạnh mẽ và dự báo giatăng trong tương lai Bằng chứng là các sản phẩm giầy thể thao, giầy vải hơi bụi, thườngchỉ dùng để đi chơi hoặc trong sinh hoạt gia đình, gần đây bỗng chiếm cảm tình đặc biệtvới giới văn phòng và công chức lớn tuổi

Nhân tố chính trị, pháp luật: Một thể chế chính trị, luật pháp rõ ràng, rộng mở và

ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp nói chung,doanh nghiệp xuất khẩu nông sản nói riêng tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệuquả

Chính sách thuế quan của EU đối với mặt hàng giầy dép: Thuế nhập khẩu: Hiệnnay Việt Nam đang được hưởng chế độ thuế ưu đãi phổ cập GSP (Generalised System ofPreferences) trong giai đoạn 2014 - 2016 Tuy nhiên, nếu xuất khẩu của Việt Nam đối vớimặt hàng giầy dép tăng nhanh tới ngưỡng trưởng thành là 17,5% thì sẽ không còn được

ưu đãi này nữa Đây là một cản trở cho các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép của ViệtNam sang thị trường này

Trang 19

Thuế giá trị gia tăng (VAT): Hầu hết hàng hoá nhập khẩu đều phải chịu thuế VAT.Hiện tại EU có ba mức thuế: Mức thuế tiêu chuẩn 17,5%, mức thuế đã được miễn trừ 5%

và mức thuế 0% Mức thuế 0% được áp dụng cho các mặt hàng như thức ăn, sách báo,giầy dép và quần áo trẻ em, các phương tiện giao thông công cộng Thuế VAT được xácđịnh dựa vào tổng trị giá hàng hoá, chi phí bảo hiểm, vận chuyển cộng thêm tổng thuế thunhập phải trả Mức thuế VAT phổ biến của EU là 17,5%

Thuế chống bán phá giá : Thuế chống bán phá giá là loại thuế đánh vào hàng nhậpkhẩu nhằm chống lại việc hàng hoá bị bán phá giá ở châu Âu (tức là bán với giá thấp hơn

so với giá trị thông thường của hàng hoá đó) Mỗi một mức thuế chống bán phá giá có thể

áp dụng cho một số mặt hàng có nguồn gốc xuất xứ tại một số nước nhất định hoặc đượcxuất khẩu bởi một số nhà xuất khẩu nhất định Có 2 hình thức đánh thuế chống bán phágiá: hoặc là tạm thời (đánh thuế 6 tháng đầu và sau đó gia hạn thêm 3 tháng tiếp theo)hoặc là đánh thuế cuối cùng (đánh thuế 5 năm 1 lần) Hiện nay, Việt Nam đang được EU

dỡ bỏ thuế chống bán phá giá (mọi khi phải chịu 10%), điều đó giúp các doanh nghiệpxuất khẩu giầy dép của Việt Nam có sự thuận lợi khi xuất khẩu sang thị trường này

Chính sách phi thuế quan của EU đối với mặt hàng giầy dép: Nhìn chung EU đối

xử với Việt Nam cũng tương tự như các nước đang phát triển khác Chính sách ngoạithương của EU bao gồm: chính sách thương mại tự trị và chính sách thương mại trên cơ

sở hiệp định EU thực hiện một chính sách thương mại chung trong toàn khối và áp dụngcác biện pháp bảo hộ mậu dịch bằng hàng rào phi thuế quan (tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểmsoát chất lượng…), thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp… Các thoả thuận thươngmại của EU với các đối tác ngoài khối có thể được gắn với các yêu cầu phi thương mạinhư bảo vệ môi trường, điều kiện lao động, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và thậmchí cả vấn đề nhân quyền Ngay cả việc dành ưu đãi GSP cho các nước đang phát triểncũng được EU gắn với các vấn đề chính trị Để hoàn thiện chính sách thương mại chungcho một thị trường thống nhất, EU sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật phápdựa trên các nguyên tắc “minh bạch hoá và cạnh tranh công bằng” Một số chính sách sẽđược áp dụng nhằm đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh

Trang 20

thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăngkhả năng tiếp cận vốn, trợ giúp tài chính và nguồn lao động cho các doanh nghiệp, gắnmọi hoạt động với nghĩa vụ bảo vệ môi sinh Tổng cộng các loại thuế quan và các biệnpháp chống bán phá giá, các rào cản phi thuế quan, mức bảo hộ chung của EU sẽ ở mứctrung bình khoảng 12% Theo đó, mức bảo hộ trung bình này vẫn còn quá thấp so vớithực tế vì nhiều nguyên nhân như mảng dịch vụ - một bộ phận chính của nền kinh tế EU

và được bảo hộ thương mại lớn - vẫn chưa được tính vào mức bảo hộ chung, các chínhsách bảo hộ thương mại như trợ cấp gián tiếp, tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng kém minhbạch và khó ước tính hơn Một khía cạnh của chính sách thương mại EU là khả năng hạnchế tự do hoá thương mại thông qua các “mức trần thuế quan” theo hiệp định GATT vàWTO bằng biện pháp chống bán phá giá Có lẽ những rào cản phi thuế quan này lànguyên nhân khách quan lớn nhất khiến tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vàothị trường EU có chiều hướng giảm sút Như vậy, những rào cản chủ yếu đối với xuấtkhẩu của Việt Nam vào các nước phát triển nói chung và thị trường EU nói riêng sẽ là ràocản phi thuế quan EU đã thực hiện một số biện pháp chống bán phá giá đối với một sốmặt hàng xuất khẩu chủ lực như tôm, cá da trơn hay giầy dép, gây thiệt hại kinh tế khôngnhỏ cho doanh nghiệp xuất khẩu cũng như đời sổng hàng trăm ngàn người lao động ViệtNam Một số tiêu chuẩn quan trọng trong hoạt động xuất khẩu giầy dép sang EU:

- Đối với tiêu chuẩn chất lượng: Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như làyêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu giày dép sang thị trường

EU thuộc các nước đang phát triển Thực tế cho thấy ở các nước đang phát triển Châu Á

và Việt Nam, hàng của những doanh nghiệp có giấy chứng nhận ISO 9000 thâm nhập vàothị trường EU dễ dàng hơn nhiều so với hàng hoá của các doanh nghiệp không có giấychứng nhận Đối với tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: Ký mã hiệu trở nên quantrọng trong việc lưu thông hàng hoá trên thị trường EU Các sản phẩm có liên quan tớisức khoẻ của người tiêu dùng phải có kí mã hiệu theo quy định của EU

- Đối với tiêu chuẩn bảo vệ môi trường: Thị trường EU yêu cầu hàng hoá có liênquan đến môi trường phải dán nhãn theo qui định (nhãn sinh thái, nhãn tái sinh) và có

Trang 21

chứng chỉ được quốc tế công nhận Ví dụ, tiêu chuẩn GAP (Good agricultural Practice)

và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels) đang ngày càng được phổ biến, chứng tỏ các cấp

độ khác nhau về môi trường tốt Ngoài ra, các công ty phải tuân thủ hệ thống quản lý môitrường (các tiêu chuẩn ISO14000) và các bộ luật mang tính xã hội về đạo đức như: Tiêuchuẩn The Social Accountability 8000, hay Hướng dẫn (2002/61/EC) của EU hạn chế sửdụng các chất và chế phẩm nguy hiểm (thuốc nhuộm azo) dùng trong các sản phẩm da,gồm có da giầy hoặc Công ước CITES về kinh doanh các loài động vật có nguy cơ tuyệtchủng (CITES), trong đó bao gồm những quy định (EC 338/97) về các sản phẩm da cóchứa nguyên liệu lấy từ các loài vật có nguy cơ tuyệt chủng

- Đối với tiêu chuẩn về bao gói và dán nhãn hàng da giầy

+ Dán nhãn hàng da giầy: Quy định này yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất, nhậpkhẩu hoặc bán da giầy cần phải đảm bảo rằng các sản phẩm của mình được dán nhãn ghi

rõ thành phần nguyên vật liệu cấu thành sản phẩm, như mũi giầy, lót và đế giầy Các vậtliệu cần phải được dán nhãn theo một trong bốn cách sau: da, da thuộc, vật liệu dệt hoặccác nguyên liệu khác

+ Quy định xuất xứ: Tất cả hàng hoá nhập khẩu vào EU phải được ghi tên nước

xuất xứ (nước sản xuất) theo yêu cầu của hải quan Việc ghi tên nước xuất xứ trên hànghoá phải được thiết kế theo cách thức và ở vị trí do các quy định pháp luật điều chỉnhhoạt động nhập khẩu hàng hoá đó quy định

+ Đóng gói: Toàn bộ quy trình đóng gói hàng nhập khẩu cần phải tuân thủ các tiêuchuẩn châu Âu (có thể sử dụng lại, tái chế, có thể phục hồi về năng lượng hoặc có thể làmthành phân trộn; có khối lượng hoặc trọng lượng tối thiểu để duy trì các mức an toàn, vệsinh cần thiết và được người tiêu dùng chấp nhận; chứa hàm lượng kim loại nặng và chấtđộc hại khác không vượt quá mức tối thiểu EU cũng quy định về khối lượng tối đa đốivới hàng đóng gói và đưa ra những quy định cụ thể về đóng gói hàng bằng bao bì gỗ EUyêu cầu hàng hoá phải có nhãn mác thể hiện nguồn gốc, cân nặng, kích thước và thànhphần cấu tạo của sản phẩm để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng Nhãn mác hay nhãn hiệuphải gắn với bất cứ một mặt hàng nào khi đem ra bán lẻ Nếu như sản phẩm không thể

Trang 22

gắn hay đóng dấu nhãn mác thì những thông tin về hàng hoá phải được ghi trên phiếuđóng gói đi kèm sản phẩm hoặc ghi trên một tờ riêng giới thiệu về sản phẩm Mặc dù đơn

vị mét vẫn được dùng để đo kích thước và khối lượng hàng hoá nhưng việc sử dụng nhãnmác với đơn vị đo bằng mét và đơn vị đo tiêu chuẩn vẫn được cho phép sử dụng Trênhộp đựng giầy, ngoài tiếng của nước sản xuất còn phải ghi thêm bằng tiếng Anh và tiếngPháp; Nhãn mác phải được ghi, dán hay in ở vị trí dễ thấy trên giầy, không bị che khuấtbởi các thứ đi kèm

Nhân tố khoa học và công nghệ: Đối với những nước chậm và đang phát triển, giá

và chất lượng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay,

xu hướng cạnh tranh đang chuyển dần từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng,cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ cao Kỹ thuật

và công nghệ mới sẽ giúp cho các cơ sở sản xuất trong nước trang bị và tái trang bị toàn

bộ cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân Đây là tiền đề để các doanh nghiệp

ổn định và nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và quốc tế Dogặp khó khăn về vốn nên phần lớn doanh nghiệp sản xuất giầy dép của Việt Nam (trừ cácdoanh nghiệp thuộc khối FDI) đang phải sử dụng thiết bị công nghệ chưa đồng bộ, cònlạc hậu tới trên dưới 20 năm nên ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng sản phẩm

Nhân tố nhân khẩu học: Đây là nhân tố tạo lập quy mô thị trường, được đề cập

trên các khía cạnh: Quy mô và tốc độ tăng trưởng dân số; cơ cấu dân số; những thay đổitrong gia đình và di chuyển nơi cư trú; những thay đổi trong phân phối lại thu nhập; trình

độ học vấn; nghề nghiệp của các tầng lớp dân cư Dân số EU đang có xu hướng già đi.Nhiều nhà xã hội học châu Âu đều có chung nhận định rằng, xu hướng này sẽ diễn ramạnh hơn trong tương lai, đặc biệt với nhóm người có độ tuổi từ 65 trở lên Tín hiệu lạcquan ở đây là chính những người cao tuổi ở EU lại có sức chi tiêu rất mạnh đối với cácsản phẩm giầy dép

Tuy nhiên, những người trong độ tuổi này (từ 65 trở lên) là những người nghỉ hưu,sống bằng trợ cấp, thích đi bộ đường dài, du lịch dài ngày và thường xuyên Vì thế, sảnphẩm giầy dép cho họ cần được thiết kế đặc biệt với nhiều tính năng lý, hỗ trợ cơ bắp

Trang 23

nhiều hơn như chất liệu phải rất mềm, đế thấp, lót êm, mũi êm, kiểu dáng giản đơn, màusắc không loè loẹt và phải có độ bền cao Thị trường giầy dép của EU cũng phụ thuộc rõnét vào giới tính Các sản phẩm giầy dép đòi hỏi phải vừa lịch lãm sang trọng, vừa đảmbảo tính thời trang Người tiêu dùng châu Âu, đặc biệt là phái nữ có 2 khuynh hướng thờitrang trong việc lựa chọn giầy dép.

Một là, sản phẩm đó có mẫu mã đơn giản, giá cả trung bình nhưng phải đặc biệttrong chất liệu, kiểu dáng, màu sắc, phụ kiện trang trí

Hai là, sản phẩm đó không đẹp nhưng phải có tính bền cao, thể hiện cá tính mạnh.Ngoài ra, theo nhận định của các nhà xuất khẩu Việt Nam, khoảng hơn một nửa doanhthu xuất khẩu giầy dép vào EU của họ tập trung vào nhóm giầy dép nữ có mẫu mã đơngiản nhưng mang tính thời trang cao Trong nhiều năm tới, sản phẩm thời trang cho nữđược nhận định là rất tiềm năng

Hiện nay, người tiêu dùng nữ luôn chiếm xấp xỉ 50% tại các thị trường giầy dép ởAnh, Pháp, Đức Dự báo tỷ lệ lao động nữ sẽ tăng mạnh tại các quốc gia Ý, Tây Ban Nha,Thuỵ Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Hy Lạp trong nhiều năm tới Điều đó sẽ góp phần làmgia tăng giá trị cho thị trường giầy dép thời trang tại các quốc gia này Đây sẽ là cơ hộicho những nhà xuất khẩu giầy dép các nước nói chung và Việt Nam nói riêng

Nhân tố tự nhiên: Là một yếu tố đầu vào hết sức quan trọng của nhiều ngành kinh

tế như: nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng, du lịch, vận tải, chế biến Trong rất nhiềutrường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để hìnhthành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ Bên cạnh đó, nhân tố tự nhiên còntác động làm thay đổi nhu cầu của khách hàng nên các nhà sản xuất kinh doanh phải chú

ý tới yếu tố này để tạo ra những sản phẩm phù hợp

Theo nhận định của các doanh nghiệp Việt Nam chuyên xuất khẩu giầy dép sang

EU, thời tiết là chất xúc tác quan trọng nhưng “khó dùng” nhất Vào mùa đông, nên cungcấp nhiều hơn cho thị trường EU sản phẩm giầy ống, trong khi mùa hè người tiêu dùnglại ưa chuộng với sản phẩm dép lê hoặc có quai hậu Với thị trường EU, không thể cungcấp sản phẩm của một mùa mà dùng trong bốn mùa

Trang 24

Thời vụ cũng là chất xúc tác “khó dùng” không kém Tính thời vụ của sản phẩmgiầy dép châu Âu gắn chặt với tính thời vụ của thị trường quần áo Điều này cũng làmcho các nhà xuất khẩu giầy dép, cũng như các nhà bán lẻ tại châu Âu lao đao Để hạn chếtình trạng này, các nhà xuất khẩu Việt Nam thường không sản xuất vượt mức cầu, nhưngphải đa dạng hoá chủng loại dựa theo các dự báo xu hướng thời trang tại EU để tạo nhiều

cơ hội lựa chọn hơn cho người tiêu dùng vốn thích thay đổi ở thị trường này

Nhân tố văn hóa - xã hội: Đây là nhóm yếu tố quan trọng tạo lập nên những chuẩn

mực về nhân cách, đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, phong tục tập quán, thị hiếu thói quen,trình độ nhận thức của người tiêu dùng, nó mang tính bền vững cao và tác động trongphạm vi rộng nên là cơ sở để cho các nhà quản lý lựa chọn và điều chỉnh các quyết địnhkinh doanh EU được xác định là một thị trường tiềm năng trong việc xuất khẩu giầy dépcủa Việt Nam Nhiều năm qua, lượng giầy dép Việt Nam xuất vào thị trường này đều đạttrên 70% Người tiêu dùng EU có đặc điểm là thị hiếu thay đổi nhanh, yêu cầu cao vềchất lượng hàng hóa, vệ sinh môi trường, nhãn mác, bao bì Ngoài ra người tiêu dùng EUcũng cần nhiều chủng loại hàng hoá với số lượng lớn và những hàng hoá có vòng đờingắn, nếu như trước kia họ thích sử dụng những sản phẩm có chất lượng cao, giá đắtvòng đời dài thì nay sở thích tiêu dùng của họ lại là những sản phẩm có chu kì sống ngắnhơn, giá rẻ hơn và phương thức dịch vụ tốt hơn

Bên cạnh đó, việc xem thương hiệu là yếu tố số 1 để lựa chọn sản phẩm giầy dépsang trọng của nhiều người châu Âu đã phần nào giảm bớt Người Pháp và người Đức thểhiện rõ nhất hiện tượng này Theo Deichmann Group, nhà bán lẻ hàng đầu tại Đức thì sựthoải mái, phù hợp và chất lượng là 3 yếu tố quan trọng nhất đối với người tiêu dùngĐức, cho dù sản phẩm đó thuộc thương hiệu nào Và số lượng người mua sắm theo quanđiểm này chiếm đến 70% thị trường giầy dép ở Đức Cũng theo dự báo, người tiêu dùng

EU đang bắt đầu thú vị với những sản phẩm có tính thoải mái hơn là các sản phẩm sangtrọng, lịch lãm

Nhân tố quốc tế: Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì chiến lược kinh

doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp cho dù kinh doanh ở thị trường trong nước haytrên thị trường nước ngoài cũng đều bị chi phối bởi những vấn đề chung của quan hệ và

Trang 25

môi trường kinh tế - chính trị quốc tế Khi mối quan hệ giữa các quốc gia trở nên thùđịch, thì sự mâu thuẫn giữa hai Chính phủ có thể hoàn toàn phá hủy các mối quan hệ kinh

tế giữa hai nước Ngược lại, nếu mối quan hệ chính trị song phương được cải thiện sẽthúc đẩy thương mại phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh

Quan hệ Việt Nam và Ủy ban châu Âu ngày càng phát triển cả về chiều rộng vàchiều sâu Nhờ có quan hệ này mà hiện nay giầy dép xuất khẩu của Việt Nam vào thịtrường EU đang được hưởng GSP, không bị đánh thuế chống bán phá giá Hiện nay ViệtNam và EU đang đẩy mạnh đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định thương mại tự do(FTA) trong thời gian tới Khi Hiệp định này được ký kết và có hiệu lực, sẽ có khoảnghơn 90% sản phẩm hàng hóa của Việt Nam (trong đó có giầy dép) xuất khẩu sang EUđược hưởng thuế 0% Đồng thời nhiều rào cản thuế quan sẽ được dỡ bỏ Điều này sẽ gópthêm thuận lợi giúp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng giầy dép nói riêngcủa Việt Nam vào thị trường EU trong thời gian tới

1.2.1.2 Những nhân tố vi mô

Các nhân tố vi mô có phạm vi ảnh hưởng hẹp và không tương tự nhau đối vớinhững doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành và cùng thị trường kinh doanh Trongcùng một ngành kinh doanh, các doanh nghiệp cùng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cóthể thay thế lẫn nhau nhằm đáp ứng cùng một nhu cầu nào đó của người tiêu dùng

Theo Michael Poter, trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh” (1985) và “Chiến lượccạnh tranh” (1980) đã đưa ra mô hình 5 lực lượng cạnh tranh trong ngành kinh doanh baogồm (xem Hình 1.1):

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện

nay chưa xuất hiện trên thị trường nhưng có khả năng cạnh tranh trong tương lai Khảnăng cạnh tranh của đối thủ này được đánh giá qua việc rào cản ngăn chặn việc gia nhậpvào ngành, có nghĩa là một doanh nghiệp phải tốn kém nhiều hay ít để tham gia vàongành kinh doanh Nếu phí tổn gia nhập ngành càng cao, rào cản ngăn chặn gia nhập sẽcàng cao và ngược lại Ngành công nghiệp giầy dép là một ngành đòi hỏi trình độ côngnghệ không cần hiện đại lắm, cần nhiều lao động phổ thông giá rẻ, nguyên vật liệu tương

Trang 26

đối sẵn, vốn gia nhập không cần lớn, sản phẩm không có sự khác biệt hóa nhiều, chi phíthay đổi nhà cung ứng thấp… do đó nguy cơ đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn làrất cao, đặc biệt thị trường EU là thị trường đầy tiềm năng và hấp dẫn, một thị trườngrộng lớn nhất thế giới, đa dạng về nhu cầu, có tốc độ tăng khối lượng tiêu thụ trung bình10%/năm Bên cạnh đó các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn ở các quốc gia khác cũng rất lớn,

đó là những nước đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá có các lợi thế so sánh nhấtđịnh trong sản xuất và xuất khẩu giầy dép và muốn tham gia vào thị trường này, có thể kểđến các quốc gia như: Đài Loan, Braxin…Mặt khác, các doanh nghiệp hiện tại chưa cócác biện pháp liên kết để ngăn chặn việc gia nhập của các đối thủ cạnh tranh mới muốngia nhập thị trường Do vậy, nguy cơ của các đối thủ tiềm ẩn đối với các doanh nghiệpxuất khẩu giầy dép Việt Nam nói chung là rất lớn, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Namphải nỗ lực để tạo ra sự khác biệt của sản phẩm giúp cho việc cạnh tranh tốt hơn

Hình 1.1: Các lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành

Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành: Là các doanh nghiệp đã

có vị thế chắc chắn trên thị trường cùng ngành kinh doanh, nếu mức cạnh tranh giữa họcàng cao, giá bán sẽ càng giảm, đưa đến mức lợi nhuận giảm Do đó, cạnh tranh về giá

Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm,

dịch vụ thay thế

Của người cung ứng

Quyền lực Thương lượng

Nguy cơ đe doạ từ những đối thủ cạnh tranh mới Quyền lực

Thương lượng

Của người mua

NGƯỜI MUA

CÁC ĐỐI THỦ TIỀM ẨN

CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH

CUỘC CẠNH TRANH GIỮA CÁC ĐỐI THỦ HIỆN TẠI

SẢN PHẨM THAY THẾ

NGƯỜI

CUNG

ỨNG

Trang 27

bán là nguy cơ đối với doanh nghiệp Ở thị trường EU, doanh nghiệp giầy dép Việt Namphải cạnh tranh với cả doanh nghiêp trong và ngoài khối EU.

Các đối thủ cạnh tranh trong nội khối EU: Các đối thủ cạnh tranh trong nội khối

có nhiều lợi thế hơn hẳn so với các nước ngoài khối bởi vì các nước này được hưởngnhững ưu đãi chung của toàn khối dành cho như: các ưu đãi của chính phủ, hiểu và nắmvững pháp luật của các quốc gia trong liên minh, nắm bắt nhanh nhu cầu và thị hiếu củangười tiêu dùng; ngoài ra họ còn được tự do di chuyển vốn, lao động, công nghệ nên cácdoanh nghiệp của các quốc gia này có thể tự do di chuyển sản xuất đến những quốc giatrong khu vực để hưởng các lợi thế so sánh; do đó họ luôn chiếm nhiều ưu thế cạnh tranhhơn các doanh nghiệp của các quốc gia bên ngoài khối EU

Italia là nước giữ vai trò chủ đạo trong công nghiệp giầy dép của EU với quy môsản xuất lớn nhất, sản lượng luôn luôn đứng hàng đầu Công nghiệp của Italia luôn đi tiênphong trong các lĩnh vực thiết kế thời trang, kỹ thuật và công nghệ sản xuất giầy của thếgiới Bên cạnh đó các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Đức cũng lànhững quốc gia sản xuất giầy lớn Để giữ vững cạnh tranh, một số nhà sản xuất của cácnước thành viên như: Eram (Pháp), Clark (Anh), Ecolet (Đan Mạch) đã chuyển việc thiếtlập cơ sở sản xuất sang các nước thành viên khác của EU có lực lượng nhân công rẻ hơnnhư Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…ngoài ra nhiều nhà sản xuất trong cộng đồng đã chuyểnhoạt động ra các nước đang phát triển có lực lượng đông đảo như: các nước trong khuvực Đông Nam Á, ngoài ra còn có Trung Quốc nơi giá nhân công rẻ, nguyên liệu sẵncó… rồi kế đó là các nước Đông Âu, và Bắc Phi Tuy nhiên, đặc điểm quan trọng củangành công nghiệp giầy EU là thường sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao và thờitrang, chủ yếu là các sản phẩm da với giá rất đắt để phục vụ số ít người có thu nhập cao.Trong khi đó các sản phẩm giầy của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là các sảnphẩm phục vụ cho nhu cầu của khách hàng thuộc tầng lớp bình dân có thu nhập thấp vàtrung bình, đây là đoạn thị trường mà các quốc gia trong nội khối bỏ ngỏ Chính vì vậyđây là cơ hội tốt để cho các doanh nghiệp bên ngoài khối tăng cường bán các sản phẩmcủa mình mà không phải chịu sức ép lớn từ các doanh nghiệp trong khối EU

Trang 28

Các đối thủ cạnh tranh bên ngoài khối: Nếu như doanh nghiệp kinh doanh giầydép của Việt Nam lách được kẽ hở của thị trường khi phải cạnh tranh với các quốc giatrong khối EU thì còn phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh bên ngoài khối với những

ưu điểm giống mình là sản xuất các sản phẩm với giá bán thấp do lao động giá rẻ, vớinguồn nguyên liệu dồi dào, có khả năng thay đổi liên tục kiểu dáng mẫu mã sản phẩmtrong hoạt động xuất khẩu trực tiếp không phải qua trung gian EU vốn là thị trường nhậpkhẩu lớn thứ 2 thế giới sau Hoa Kì, với 28 nước thành viên, GDP 5 năm gần đây đạtkhoảng 17,57 nghìn tỷ USD/năm tương đương với 20% GDP toàn thế giới Trong năm

2013, EU đã nhập khẩu 3,4 tỉ USD hàng giầy dép của Việt Nam, chiếm khoảng 9% tổngkim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của EU Hiện nay Việt Nam là quốc gia xuất khẩugiầy dép lớn thứ 4 trên thế giới và sau Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia Trong đó đối thủlớn nhất trên thị trường EU của Việt Nam trong xuất khẩu giầy dép là người láng giềngTrung Quốc Hiện Trung Quốc vẫn là nhà xuất khẩu giầy dép lớn nhất thế giới và tạo áplực cạnh tranh với hàng Việt Nam trên tất cả các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản.Trung Quốc hiện đang chiếm lĩnh thị phần thống trị tại các thị trường lớn như 83.5% tại

Mỹ, hơn 64% tại EU Trong năm 2013 thị trường Mỹ, EU và Nhật chiếm 47,2% tổng kimngạch xuất khẩu của Trung Quốc Cũng trong năm 2013 Trung Quốc đã xuất khẩukhoảng 10.5 tỉ đôi giầy sang EU, trị giá khoảng 33 tỉ USD gấp gần 10 lần kim ngạch củaViệt Nam Trong đó xuất khẩu giầy vải chiếm khoảng 16.9% về giá trị trong tổng kimngạch xuất khẩu giầy dép của Trung Quốc Hiện tại xuất khẩu giầy dép của Trung Quốcvào khoảng 47 tỷ USD/năm, gấp khoảng 6 lần kim ngạch xuất khẩu của nước ta và có cơcấu mặt hàng xuất khẩu tương đối giống nhau Trung quốc cũng đã bị EU áp thuế chốngbán phá giá là 16.5% lên các mặt hàng giầy dép, song giá của Trung Quốc vẫn thấp nhấtthế giới mà không quốc gia nào có thể cạnh tranh được nhằm duy trì vị trí độc tôn củamình Một điểm mạnh khác của các đối thủ Trung Quốc là sản xuất các sản phẩm rất đẹp,mẫu mã phong phú, hơn nữa các doanh nghiệp của Trung Quốc nắm bắt nhu cầu rất nhạybén mặc dù có quy mô nhỏ song lại chịu khó học hỏi nên kiểu dáng thay đổi thườngxuyên để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Tuy nhiên, do phải chịu nhiều chính sách

về thuế quan của EU, cũng như Trung Quốc đang phải đối phó với khả năng tăng giá

Trang 29

đồng Nhân dân tệ và thiếu lao động đang xuất hiện và gia tăng trong ngành giầy dép nêntrong tương lai ngành giầy dép của Trung Quốc sẽ gặp nhiều khó khăn trong xuất khẩunói chung cũng như xuất khẩu sang EU nói riêng Đó cũng là một cơ hội cho các doanhnghiệp Việt Nam vươn lên giành thế cạnh tranh trên thị trường EU

Ngoài Trung Quốc hiện nay đối thủ cạnh tranh lớn của giầy dép Việt Nam phải kểđến đó là Thái Lan và Indonesia, hai đối thủ rất lớn trên thị trường EU Năm 2013,Indonesia đã xuất khẩu giầy dép đạt kim ngạch 4.76 tỉ USD, đạt mức tăng trưỏng 10%,trong đó Mỹ và EU là các thị trường xuất khẩu giầy dép lớn nhất của Indonesia, cả haichiếm trên 60% tổng giá trị xuất khẩu của Indonesia Còn Thái Lan cũng đạt kim ngạch4.01 tỉ USD trong năm 2013, với mức tăng trưởng đạt 5% so với năm 2012, chiếm 2% thịphần thị trường giầy dép thế giới Hơn nữa, giầy dép xuất khẩu của Thái Lan và củaInđônêxia được hưởng ưu đãi về thuế, từ mức thuế cũ là 17%, nay chỉ còn 13.5% nêncũng là một thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép của Việt Nam sangthị trường EU Tuy vậy, do tình hình chính trị của Thái Lan và Indonesia chưa thật ổnđịnh, nền kinh tế của các nước này đang phải đối mặt với nguy cơ tăng giá nội tệ dẫn đếnviệc tăng chi phí sản xuất làm cho giá thành sản phẩm cũng tăng lên theo, điều đó cũng làmột thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép của Việt Nam

Ngoài các đối thủ cạnh tranh ở nước ngoài, hiện nay các doanh nghiệp Việt Namđang vấp phải sự cạnh tranh của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài thậm chí là cáccông ty 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đơn cử là các doanh nghiệp như:Công ty Cổ phần TNHH Pou Yuen Việt Nam là công ty dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩugiầy dép trong nhiều năm qua, tiếp đó phải kể đến Công ty TNHH Giầy Ching Luh ViệtNam, Công ty SX Giầy Đồng Nai Việt Vinh, Công ty Công nghiệp Cổ phần TNHH PouSung…đều là những doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong xuất khẩu giầy sang thị

trường EU So với các doanh nghiệp trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài có ưu thế hơn về vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý sản xuất, kỹ thuật công nghệ,tiếp thị xuất khẩu Vì vậy, sản phẩm của họ có lợi thế cạnh tranh hơn sản phẩm củadoanh nghiệp trong nước về chất lượng, giá trị và thị trường xuất khẩu Theo số liệuthống kê, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện chiếm trên 55%

Trang 30

tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm giầy dép Do đó các công ty này thực sự là các đốithủ vô cùng khó khăn cả trên thị trường EU cũng như thị trường trong nước Vì vậy, đểtăng khả năng cạnh tranh các doanh nghịêp Việt Nam phải có chiến lược phát triển lâudài để tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Sức ép của nhà cung ứng: Nhà cung cấp là chỉ những cá nhân hay tổ chức cung

ứng các loại yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp như: nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩmhay dịch vụ cho doanh nghiệp; lao động; máy móc thiết bị kỹ thuật hay tiền vốn chodoanh nghiệp Giữa các nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thươnglượng về giá cả, chất lượng và thời hạn giao hàng Các nhà cung ứng có thế lực mạnh khi

họ có những điều kiện sau: khi họ độc quyền cung cấp một loại vật tư thiết yếu cho doanhnghiệp thì khả năng tác động của họ rất lớn; khi doanh nghiệp không phải là khách hàngquan trọng của nhà cung cấp; khi loại vật tư mà họ cung cấp lại là yếu tố đầu vào quantrọng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh, hoặc đến chất lượng sảnphẩm của doanh nghiệp thì khi đó nhà cung cấp sẽ có thế lực đáng kể đối với doanhnghiệp Các nhà cung ứng thường gây sức ép đối với doanh nghiệp trong những tìnhhuống như: Nhà cung ứng có lợi thế hơn nếu họ độc quyền cung cấp vật tư; Khi sảnphẩm của nhà cung ứng là đầu vào quan trọng, quyết định lớn đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp; Khi các vật tư được cung cấp không có khả năng thay thế;Khi doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung ứng; Khi nhà cungứng có khả năng khép kín sản xuất hay thực hiện chính sách liên kết dọc

Nếu mối quan hệ giữa nhà cung ứng và doanh nghiệp là tốt, thân thiện thì cácdoanh nghiệp sẽ có nguồn nguyên liệu ổn định, từ đó giúp cho quá trình sản xuất kinhdoanh được diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ, và đúng kế hoạch Nếu số lượng nhà cung ứngcho các doanh nghiệp nhiều hơn thì nguy cơ rủi ro, và phụ thuộc vào các nhà cung ứngcủa các doanh nghiệp cũng giảm bớt Do đó, sự đa dạng về nguồn cung ứng cũng như tìmkiếm được nhà cung ứng đủ tiềm lực là vấn đề sống còn và quyết định đến thành côngcủa bất kì doanh nghiệp nào Hiện nay nguyên vật liệu sản xuất của ngành da giầy chiếmđến 80% giá trị của sản phẩm trong đó ngành sản xuất da đóng vai trò quan trọng nhất

Trang 31

Mỗi năm nguyên liệu chủ yếu để sản xuất giầy là chất liệu da và giả da có nhu cầukhoảng 350 triệu feet vuông trong khi đó các nhà máy thuộc da của Việt Nam và nướcngoài đầu tư tại Việt Nam mới chỉ sản xuất và đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu dathuộc của cả nước, 80% còn lại phải nhập khẩu Đặc biệt chất liệu giả da đang được sửdụng nhiều cho giầy thể thao, mặc dù chiếm tỷ trọng xuất khẩu gần bằng 50% giá trị dagiầy xuất khẩu nói chung, nhưng cũng sử dụng đến 80% nguyên liệu nhập ngoại Cácnguyên liệu phụ trợ (như keo dán, chỉ khâu, nút, nhãn hiệu, cót…), có đến 70%-80% phảinhập khẩu từ các nước châu Á như: Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc…Hiện nay, cácdoanh nghiệp Việt Nam mới chỉ sản xuất được một vài mặt hàng rất hạn chế như nhãn,ren, dây giầy nhưng lại bỏ qua những loại phụ kiện tinh xảo là các sản phẩm nhựa có xi

mạ như khoen, móc, cườm, các vật trang trí trên giầy, đặc biệt là giầy nữ và giầy trẻ em

Đế giầy là khâu nguyên phụ liệu được doanh nghiệp trong nước chủ động sản xuất cũngmới chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu sản xuất của ngành giầy dép

Hiện nay chúng ta chủ yếu nhập khẩu nguyên vật liệu của Trung Quốc, Đài Loan,Hàn Quốc, Hồng Kông…trong đó nhập khẩu của các công ty Trung Quốc luôn chiếm tỉ

lệ cao Đây là một khó khăn rất lớn của các doanh nghiệp Việt Nam khi mà chính TrungQuốc lại là đối thủ cạnh tranh lớn nhất tại thị trường EU Ngoài những nguồn nhập khẩutrên, các doanh nghiệp giầy dép của Việt Nam cũng phải nhập khẩu một số nguyên phụliệu về sản xuất gia công từ các nhà cung ứng của Anh, Tây Ban Nha, Nhật Bản, HoaKì… Do vậy, có thể thấy sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng nước ngoài của các doanhnghiệp Việt Nam là rất lớn Chính vì vậy trong thời gian tới các công ty cần tập trung tìmnguồn nguyên liệu thay thế trong nước cũng như có chiến lược xây dựng vùng nguyênvật liệu để đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu Bên cạnh khó khăn trongviệc lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, các doanh nghiệp kinh doanh giầy dépcủa Việt Nam còn gặp khó khăn khi tiếp cận với nguồn vốn vay cũng như lãi suất vaytrong nước còn cao hơn các nước khác cũng tăng thêm khó khăn cho các doanh nghiệptrong việc đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất, tiếp cận thị trường

Sức ép của khách hàng: Khách hàng là danh từ chung để chỉ những người hay tổ

chức mua sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp Khách hàng bao gồm: người tiêu

Trang 32

dùng trực tiếp; các trung gian phân phối (các nhà bán sỉ, bán lẻ và đại lý); khách hàngcông nghiệp, khách hàng cơ quan Nếu khách hàng là người mua với khối lượng lớn sovới doanh thu của toàn bộ ngành, khi đó họ sẽ có quyền ép giá nhất định Các doanhnghiệp Việt Nam hiện nay phần lớn đều là sản xuất gia công cho các công ty nước ngoài,hoặc xuất khẩu trực tiếp thì các khách hàng EU cũng luôn là khách hàng mua với sốlượng khá lớn nên sức ép của các khách hàng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu củaViệt Nam là rất lớn Vì vậy, để mất bất kì khách hàng nào cũng đều là một tổn thất mà rấtkhó để có thể khôi phục được.

Khi sản phẩm của doanh nghiệp cung cấp chiếm một tỷ trọng lớn và quyết địnhđến thu nhập, tổng chi phí của doanh nghiệp thì họ cũng sẽ tìm cách gây sức ép đối vớidoanh nghiệp để được lợi; Khi khách hàng không bị ràng buộc và có thể chuyển sangmua sản phẩm của các doanh nghiệp khác với giá rẻ hơn một cách dễ dàng thì các doanhnghiệp trong ngành tìm cách đối phó với nhau và buộc phải giảm giá hàng loạt; Khikhách hàng có thu nhập thấp thường tạo áp lực buộc các doanh nghiệp sản xuất cung cấpvới giá rẻ hơn; Khi khách hàng có đủ thông tin về nhu cầu, giá cả trên thị trường, về chiphí của người sản xuất thì khả năng ép giá của họ càng mạnh Do hạn chế trong việc tiếpcận thị trường cũng như khó khăn về vốn, yếu kém trong thiết kế và phụ thuộc vàonguyên liệu từ nước ngoài nên hầu hết doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép của Việt Namđều phải nhận gia công cho các nhà nhập khẩu EU, điều đó làm ảnh hưởng tới giá trị giatăng mà Việt Nam được hưởng cũng như bị lệ thuộc vào giá mà các nhà nhập khẩu ápđặt Mặt khác, phần lớn sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam đều là sản phẩm tiêuchuẩn hoá không phân biệt, nên nếu khách hàng thấy sản phẩm của doanh nghiệp khôngđáp ứng được các yêu cầu mà họ đặt ra cũng như nếu giá cả sản phẩm của doanh nghiệpkhông cạnh tranh thì các khách hàng có thể dễ dàng đổi sang nhà sản xuất khác thoả mãnnhu cầu của họ tốt hơn, do đó trong trường hợp này quyền lực của khách hàng là rất lớn.Một điểm nữa là các sản phẩm của các doanh nghiệp cả xuất khẩu gia công hay xuất khẩutrực tiếp phần lớn là được xuất sang EU qua các mạng lưới tiêu thụ giầy dép của họ rồimới được phân bổ cho các đại lí bán buôn, bán lẻ sau đó mới đến tay người tiêu dùng Do

Trang 33

vậy, ngoài việc nhập hàng của các công ty Việt Nam, các kênh phân phối của EU cònnhập hàng của rất nhiều quốc gia khác, cụ thể các sản phẩm của Việt Nam hiện nay chỉchiếm khoảng 14% tổng nhu cầu nhập khẩu của EU trong năm 2012 và đến năm 2013 là16% thị phần của EU, trong khi hiện nay EU đang chiếm khoảng 55% kim ngạch xuấtkhẩu của Việt Nam, năm 2010 Việt Nam xuất sang EU 2,255 tỷ USD giá trị giầy dép thìđến năm 2013 kim ngạch này đã tăng lên 2,964 tỷ USD Do vậy, có thể thấy quyền lựccủa các khách hàng từ EU đối với công ty là rất lớn.

Tuy các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã làm ăn với các đối tác EU từ khá lâusong do luôn bị động trong việc làm ăn với họ, lại thêm việc tình hình sản xuất và xuấtkhẩu thế giới luôn có nhiều biến động, bên cạnh đó sự chủ động và linh hoạt, kinhnghiệm xuất khẩu của các doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh chính là những nguyên nhânkhiến việc thay đổi các nhà cung ứng khác của các đối tác EU càng dễ dàng, hay nói cáchkhác là việc dễ dàng tạo dựng mối quan hệ với các nhà cung khác ngoài các doanh nghiệpViệt Nam càng khiến cho quyền lực của các khách hàng EU càng cao Chính vì thế màcác doanh nghiệp Việt Nam luôn phải cố gắng hết sức để duy trì và phát triển quan hệlàm ăn lâu dài với các đối tác để tránh nguy cơ bị mất khách hàng vào tay các đối thủcạnh tranh

Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu cung cấp sản phẩm qua đơn đặthàng, gia công sản phẩm cho công ty nước ngoài Trong năm 2013 các khách hàng lớncủa thị trường giày dép Việt Nam phải kể đến đó là: Anh (558 triệu USD); Đức (392 triệuUSD); Italia (241 triệu USD); Tây Ban Nha (204 triệu USD); Pháp (195 triệu USD).Ngoài ra ta cũng đã xuất sang: Hoa Kỳ (1,075 triệu USD); Nhật Bản (138 triệu USD);Trung Quốc (107 triệu USD) Có thể nói đây là những khách hàng lớn, thường xuyên vàrất có uy tín của các doanh nghiệp Việt Nam Song bên cạnh đó đây cũng là các kháchhàng có yêu cầu cao cả về sản phẩm cũng như quy trình sản xuất và xuất nhập khẩu Cáccông ty này đặt hàng, từ mẫu mã sản phẩm cho đến chất lượng sản phẩm, tính năng haybao bì nhãn mác đều làm theo đơn đặt hàng Họ sẽ đưa sản phẩm của công ty đến tayngười tiêu dùng EU thông qua các đại lý bán buôn, bán lẻ của họ Các sản phẩm xuất

Trang 34

sang EU chủ yếu mang nhãn hiệu của các công ty nổi tiếng như: Nike, Reebook,Converse…ưu điểm của hình thức này là các sản phẩm của Việt Nam được biết đến nhờtên tuổi của công ty này nên có sức tiêu thụ cao hơn các sản phẩm của Trung Quốc, TháiLan, Ấn Độ….

Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế: Những sản phẩm thay thế cũng là một trong

những lực lượng tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành Sựsẵn có của các sản phẩm thay thế trên thị trường là mối đe doạ trực tiếp đến khả năngphát triển, khả năng cạnh tranh và mức lợi nhuận của các doanh nghiệp Đặc biệt nhữngsản phẩm có có xu hướng thay thế hoàn toàn sản phẩm của doanh nghiệp đang kinhdoanh thì khi đó doanh nghiệp còn đứng trước nguy cơ đe dọa sự tồn tại của doanhnghiệp, ngành Việc phải đối mặt với các sản phẩm thay thế trở thành vấn đề chung củatoàn ngành

Trong những năm gần đây thị trường giầy dép EU ngày càng chú trọng đến chấtlượng và mẫu mã sản phẩm Mặt khác do EU mới thông qua luật REACH áp dụng vớicác mặt hàng hóa chất, người dân Châu Âu ngày càng ưa chuộng các sản phẩm sử dụngnguyên vật liệu sạch, thân thiện với môi trường, bảo vệ sức khoẻ con người Do vậy, đểđáp ứng nhu cầu đó nhiều sản phẩm mang nhãn hiệu không gây hại tới môi trường đangđược người dân Châu Âu rất ưa chuộng và sử dụng thay thế cho các sản phẩm truyềnthống Đối với mặt hàng giầy dép do sự phong phú về kiểu dáng, mẫu mã cũng nhưnguyên vật liệu sản xuất như tơ, sợi hoá học siêu nhẹ…do vậy mà sức ép của các sảnphẩm thay thế không hề nhỏ Sự đa dạng của các sản phẩm thay thế ngày càng tăng trongkhi các sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là theo đơn đặt hàng nên mẫu

mã, kiểu cách là do khách hàng yêu cầu, rất ít sự sáng tạo trong việc thiết kế các sảnphẩm mới mà chỉ tập trung vào các sản phẩm vốn đã quen thuộc với khách hàng Điềunày làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh cũng như cànglàm gia tăng nguy cơ từ các sản phẩm thay thế

Trang 35

Nói tóm lại, khi đánh giá các nhân tố tác động đến sức cạnh tranh thì các doanhnghiệp cần phải xem xét đầy đủ các nhân tố tác động, từ đó mà sàng lọc để tìm ra cácbiện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho chính các doanh nghiệp.

1.2.2 Nhóm nhân tố bên trong

Như đã đề cập ở trên, cạnh tranh trong thương trường không phải là loại trừ đốithủ của mình, mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị cao hơn hoặc mới

lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn người khác

Cạnh tranh không phải chỉ là những hành động mang tính thời điểm mà là cả mộtquá trình tiếp diễn không ngừng: khi các doanh nghiệp đều phải đua nhau để phục vụ tốtnhất khách hàng thì điều đó có nghĩa là doanh nghiệp phải thường xuyên mang lại giá trịgia tăng về lợi ích khách hàng

Xuất phát từ đặc điểm và nội dung hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thểxác định các nhân tố bên trong chủ yếu trực tiếp ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh củadoanh nghiêp như sau:

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh thực chất là

chiến lược cạnh tranh Thể hiện tư duy, tầm nhìn, sức mạnh và hệ thống giải pháp cạnhtranh thị trường

Năng lực tài chính: Phải có sự bảo đảm cần thiết về năng lực tài chính thì mới có

thể duy trì được lợi thế cạnh tranh Khả năng thanh khoản luôn là thách thức đối với cácdoanh nghiệp, vì vậy một nền tảng tài chính vững chắc là nhân tố quan trọng để tạo lập vịthế cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực quản lý và điều hành kinh doanh: Chất lượng của bộ máy quản lý doanh

nghiệp, đặc biệt là đội ngũ quản trị cấp cao là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong thànhbại của doanh nghiệp trên thị trường

Năng lực Marketing: Hoạt động tiếp thị trước hết là thu thập và xử lý thông tin về

thị trường mua, bán, thông tin về tâm lý và thị hiếu khách hàng, về giá cả, đối thủ cạnhtranh, có ý nghĩa quan trọng đến việc ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Phát

Trang 36

động thị trường, định vị sản phẩm, địh vị thương hiệu, tạo nên hiệu ứng tích cực của thịtrường cũng là nhân tố rất quan trọng tạo nên năng lực cạnh tranh thị trường của doanhnghiệp

Khả năng liên kết và hợp tác với các doanh nghiệp khác: Tình trạng tranh mua

tranh bán ở thị trường nội địa, tranh bán tranh mua trên thị trường thế giới sẽ đưa tới chỗgiảm đáng kể sức cạnh tranh của doanh nghiệp Do dó, cần phát huy vai trò của các hiệphội ngành hàng, tạo thành sự hiệp đồng chặt chẽ khi đưa sản phẩm ra thị trường thế giới

Đảm bảo chữ tín trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt có ý nghĩa quan trọng hàng

đầu Những hành động bất tín, gian lận, chỉ có thể đem lại lợi ích nhỏ nhoi trước mắt,song về lâu dài sẽ mất bạn hàng và chỗ đứng trên thị trường

Trình độ công nghệ: Công nghệ sản xuất có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới sức

cạnh tranh của doanh nghiệp Vì nó trực tiếp tác động đến chất lượng và giá thành sảnphẩm

Chất lượng đội ngũ lao động: Trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ của người

lao động và lòng hăng say làm việc của họ là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến sức cạnhtranh của doanh nghiệp Bởi vì khi tay nghề cao, chuyên môn cao lại cộng thêm lònghăng say nhiệt tình lao động thì tăng năng suất lao động là tất yếu Đây là tiền đề đểdoanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh

Tinh thần doanh nghiệp: Sức mạnh của doanh nghiệp không phải chỉ tồn tại trong

một số cá nhân hay một nhóm mà trong sự đoàn kết, nhất trí hết mình vì sự phát triển củadoanh nghiệp Tinh thần doanh nghiệp hội tụ bản lĩnh và ý chí tập thể

Quản trị chi phí thấp sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, đặc biệttiết kiệm các nguồn lực một cách tối đa sẽ giúp cho doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm

Chấp nhận mạo hiểm, rủi ro trong kinh doanh: Chấp nhận mạo hiểm cũng là một

năng lực, một phẩm chất của các nhà kinh doanh Vượt qua và thành công sẽ tạo ra vị thếmới, sinh khí mới cho doanh nghiệp Có thể nói cạnh tranh là một cuộc chơi của nhữngngười dám chấp nhận mạo hiểm

Trang 37

Tóm lại, các nhân tố bên trong của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định và bảođảm tính bền vững đối với năng lực cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp Tuy nhiên, ởmỗi doanh nghiệp không thể hội đủ các yếu tố cạnh tranh mà vấn đề là mỗi doanh nghiệpphải xác định rõ các yếu tố cơ bản, cốt lõi để phát huy và tạo lập ưu thế cạnh tranh củamình trên thị trường

1.3 CÁC TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH

đang bị chèn ép, thị phần bị thu hẹp bởi các đối thủ cạnh tranh

1.3.2 Trình độ kỹ thuật công nghệ

Kỹ thuật công nghệ là một trong những yếu tố cơ bản của sản xuất, do vậy nóphản ánh một phần năng lực sản xuất của doanh nghiệp Mặt khác, trình độ trang bị và sửdụng công nghệ có liên quan đến năng suất, chất lượng, chủng loại sản phẩm, giá cả sảnphẩm nên nó được xem như là một trong những yếu tố quan trọng phản ánh khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp Nếu hệ thống máy móc thiết bị công nghệ được doanhnghiệp trang bị đầy đủ, hiện đại và việc sử dụng nó hợp lý, tiết kiệm sẽ góp phần nângcao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và ngược lại

1.3.3 Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là tiêu chí quan trọng nhất để khẳng định năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Chất lượng cho khách hàng và cũng là sự cam kết của doanhnghiệp.Trong xã hội phát triển, yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, quốc gia là phải

Trang 38

cung ứng những sản phẩm có chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu ngày càng khắt khecủa người tiêu dùng Người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm, dịch

vụ cùng loại nhưng có chất lượng cao hơn Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trênthị trường thế giới, hàng nông sản muốn tiêu thụ được phải đảm bảo được chất lượngtheo chuẩn mực chung và phải vượt lên so với chuẩn mực chung Chất lượng vượt trộinhững sự khác biệt hữu ích so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh trên thịtrường Như vậy, chất lượng của sản phẩm phải luôn gắn chặt với sự phù hợp sở thích vàđảm bảo đủ độ tin cậy cho người tiêu dùng

Ngày nay, trên thị trường các nước phát triển, xu hướng cạnh tranh không chỉ bằngchất lượng mà còn gắn với các yếu tố về môi trường và an toàn sản phẩm, đặc biệt đốivới hàng nông sản Để có thể cạnh tranh được trên các thị trường lớn như EU, Mỹ vàNhật Bản, các mặt hàng nông sản vừa phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, vừa phảithỏa mãn các yêu cầu liên quan đến đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và thân thiện vớimôi trường

Con đường chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp chỉ có thể là phải thường xuyênđổi mới và hoàn thiện về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, tạo những nét riêng độc đáo,hấp dẫn người mua Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ nhãn hiệu, uy tín sản phẩmtrong điều kiện ngày càng có nhiều sản phẩm giống nhau, hàng thật, hàng giả lẫn lộn

1.3.4 Giá cả sản phẩm

Giá cả sản phẩm là công cụ cạnh tranh đặc biệt của thị trường Các doanh nghiệpphải tìm cách duy trì mức cạnh tranh tương đối về giá Trong điều kiện bình thường thìchi phí sản xuất và cạnh tranh về chi phí sản xuất là tiêu điểm mà các doanh nghiệphướng tới để gia tăng năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường

1.3.5 Hệ thống phân phối

Hệ thống phân phối hàng hóa phải là sợi dây kết nối với người tiêu dùng Năng lựccạnh tranh thật sự của doanh nghiệp luôn thể hiện rõ rệt và trực tiếp trên hệ thống phân

Trang 39

phối Tổ chức và quản trị tốt hệ thống phân phối luôn là ưu thế cạnh tranh mà các doanhnghiệp phải nắm lấy và làm chủ, đặc biệt là khi xâm nhập vào thị trường quốc tế

1.3.6 Năng suất lao động

Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp và có tính khái quát toàn diện nhất về nănglực cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp Năng suất phản ánh trình độ và năng lực củadoanh nghiệp trong mối tương quan với các doanh nghiệp cạnh tranh cùng ngành

1.3.7 Doanh thu và lợi nhuận

Doanh thu và lợi nhuận có thể coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranhtổng hợp Bởi suy cho cùng, năng lực cạnh tranh của ngành chính là khả năng duy trì vàtăng thêm lợi nhuận Mà doanh thu là nhân tố tạo nên lợi nhuận Để đo lường một sự tăngtrưởng và phát triển của ngành hiện nay, người ta vẫn dùng các số liệu thống kê kimngạch xuất khẩu qua các năm (năm sau so với năm trước), mà kim ngạch xuất khẩu cũngchính là doanh thu của ngành ở thị trường nước ngoài Qua đó ta thấy, doanh thu là mộtchỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh của ngành Cần lưu ý chỉ tiêu doanhthu, phản ánh năng lực cạnh tranh chỉ doanh thu của doanh nghiệp tăng lên là do sảnphẩm bán ra tăng chứ không phải do giá cả tăng

1.3.8 Khả năng cung ứng

Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp, nó được thể hiện thông qua các quy định về chất lượng, số lượng, thời gian giaohàng, điều kiện thanh toán, các dịch vụ trong bán và sau bán Hiện nay các doanhnghiệp xuất khẩu nông sản Việt nam gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề cung ứng Đốivới thị trường EU và Mỹ họ có những đòi hỏi rất chặt chẽ về số lượng, các quy định vềnhãn hiệu hàng hoá, về xuất xứ sản phẩm

Thường xuyên thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết về giao hàng sẽ làm cho đốitác hài lòng và giữ được thị trường và ngược lại

Trang 40

1.3.9 Chi phí sản xuất dựa trên lợi thế so sánh

Nguồn gốc của khả năng cạnh tranh về chi phí của sản phẩm là lợi thế so sánh củađất nước trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó Mặc dù chi phí liên quan đếnnhiều yếu tố nhưng thường được đánh giá ở góc độ quản lý Nếu như quản lý tốt sẽ giúpcho việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của các doanh nghiệp trở lên hợp lý, tiếtkiệm Việc tiết kiệm chi phí sản xuất sẽ góp phần hạ giá thành của sản phẩm và làm tăngkhả năng cạnh tranh về giá trên thị trường

1.3.10 Thương hiệu và uy tín

Thương hiệu và uy tín của sản phẩm hàng hóa chính là sự tổng hợp các thuộc tínhcủa sản phẩm như chất lượng, lợi ích, mẫu mã và dịch vụ của sản phẩm Thương hiệukhông những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này vớisản phẩm của doanh nghiệp khác mà còn thể hiện sự tín nhiệm của khách hàng đối vớisản phẩm và tổ chức cung ứng sản phẩm cho khách hàng, nó là tài sản vô hình mà bất kỳchủ thể kinh doanh nào cũng phải có và phải phấn đấu để đạt giá trị càng cao

Ngày nay, phần lớn các hàng hóa xuất khẩu trên thị trường quốc tế đều có thươnghiệu Thương hiệu của hàng hóa đã trở thành tài sản vô cùng quý giá và là vũ khí quantrọng trong cạnh tranh Một doanh nghiệp cũng như một sản phẩm, một ngành kinh tếnếu như có thương hiệu tốt thì năng lực cạnh tranh của nó càng cao và ngược lại Điều đó

có nghĩa là, nếu một sản phẩm nào đó đã có được uy tín và hình ảnh tốt đối với người tiêudùng thì sản phẩm đó có một lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với sản phẩm của các đối thủcạnh tranh

Như vậy, trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt, muốnđứng vững được trên thị trường buộc các doanh nghiệp phải tạo dựng cho hàng hóa củamình một thương hiệu mạnh, ghi dấu ấn trong lòng khách hàng Đó là một trong các tiêuchí quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh và sự tồn tại của hàng xuất khẩu trên thịtrường

Ngày đăng: 26/06/2016, 14:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. M. Porter (1999), Chiến lược cạnh tranh, Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội 2. Philip Kotler (2003), Quản trị chiến lược, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
3. PGS.TS Nguyễn Thị Hường (2003), Giáo trình kinh doanh quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
4. GS.TS Trần Minh Đạo - TS Vũ Trí Dũng (2002), Marketing quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, Hà NộiTài liệu công ty cung cấp Khác
1. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty các năm 2010 - 2013 Khác
2. Báo cáo tình hình sử dụng lao động trong công ty giai đoạn 2010 - 2013 3. Báo cáo xuất khẩu của công ty các năm 2010 - 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Các lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành - Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU
Hình 1.1 Các lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành (Trang 26)
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2011 - 2013 - Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2011 - 2013 (Trang 54)
Bảng 2.2: Sản lượng tiêu thụ của công ty Giầy Thượng Đình giai đoạn 2011-2013 - Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU
Bảng 2.2 Sản lượng tiêu thụ của công ty Giầy Thượng Đình giai đoạn 2011-2013 (Trang 56)
Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu sang một số nước thuộc thị trường EU của Công ty - Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU
Bảng 2.4 Kim ngạch xuất khẩu sang một số nước thuộc thị trường EU của Công ty (Trang 57)
Bảng 2.5: Số lượng và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của công ty sang thị trường  EU - Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU
Bảng 2.5 Số lượng và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của công ty sang thị trường EU (Trang 58)
Sơ đồ 2.2: Quy trình sản xuất  của công ty giầy Thượng Đình 2.2. 2. Nguồn cung cấp nguyên vật liệu - Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU
Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất của công ty giầy Thượng Đình 2.2. 2. Nguồn cung cấp nguyên vật liệu (Trang 61)
Bảng 2.8: Bảng tổng hợp về lao động của công ty giai đoạn 2011-2013 - Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp về lao động của công ty giai đoạn 2011-2013 (Trang 63)
Bảng 2.11: Giá cả bình quân sản phẩm giầy vải và giầy thể thao của công ty và một - Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU
Bảng 2.11 Giá cả bình quân sản phẩm giầy vải và giầy thể thao của công ty và một (Trang 65)
Bảng 2.13- Tỉ lệ sản phẩm đạt chất lượng của công ty và các quốc gia khác trên thị - Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Giầy Thượng Đình trên thị trường các nước EU
Bảng 2.13 Tỉ lệ sản phẩm đạt chất lượng của công ty và các quốc gia khác trên thị (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w