MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ HỘI NHẬP 7 1.1. Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 7 1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 13 1.3. Các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh 20 1.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia thành công trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của chè xuất khẩu và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 24 Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CHÈ VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 29 2.1. Vị trí, vai trò của ngành chè trong nền kinh tế 29 2.2. Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chè Việt Nam 39 2.3. Thực trạng sản xuất kinh doanh của ngành chè Việt Nam 48 2.4. Đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam 54 Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CHÈ TRONG THỜI GIAN TỚI 59 3.1. Định hướng phát triển ngành chè đến năm 2020 59 3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam 75 KẾT LUẬN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Trang Bảng 2.1: Thị trường tiêu dùng chè của thế giới, xếp theo thứ tự tăng dần 34 Bảng 2.2: Thị trường xuất khẩu chè năm 2014 53 KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CBCNV Cán bộ công nhân viên CCI Chỉ số năng lực cạnh tranh hiện hành EC Cộng đồng Châu Âu EU Liên minh Châu Âu FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài FTA Hiệp định thương mại tự do GATT Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch GCI Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng GDP Tổng sản phẩm quốc nội GSP Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập ISO Tiêu chuẩn quốc tế KN Kim ngạch KTQT Kinh tế quốc tế MTV Một thành viên NN PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn PTNT Phát triển nông thôn TNHH Trách nhiệm hữu hạn XK Xuất khẩu VAT Thuế giá trị gia tăng SA 8000 Hệ thống trách nhiệm xã hội WEF Diễn đàn kinh tế thế giới WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
TRONG NỀN KINH TẾ HỘI NHẬP
7
1.1 Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 71.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 131.3 Các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh 201.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia thành công trong việc nâng cao năng lực
cạnh tranh của chè xuất khẩu và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
24
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CHÈ VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CHÈ TRONG THỜI GIAN
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Thị trường tiêu dùng chè của thế giới, xếp theo thứ tự tăng dần 34Bảng 2.2: Thị trường xuất khẩu chè năm 2014 53
Trang 4KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CCI Chỉ số năng lực cạnh tranh hiện hành
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp QuốcFDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Hiệp định thương mại tự do
GATT Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
GCI Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng
GSP Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
SA 8000 Hệ thống trách nhiệm xã hội
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Xuất phát từ một nước nền nông nghiệp lâu đời Việt nam đang bước vào thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy,phát triển nông nghiệp còn giữ vai trò rất quan trọng (cả về kinh tế lẫn xã hội), nhất làtrong giai đoạn tích lũy ban đầu, khi mà các nguồn lực đất đai, lao động, truyền thống sảnxuất ) và lợi thế so sánh đang nằm trong nông nghiệp, nông thôn, trong lúc công nghiệp
và dịch vụ chưa phát triển tới mức có thể tạo ra lượng công ăn việc làm chiếm tỷ trọng ápđảo trong nền kinh tế quốc dân
Trong số những chủng loại cây trồng, con-vật nuôi ở Việt nam, sản phẩm nôngnghiệp và có nguồn gốc từ nông nghiệp, cây chè và các sản phẩm từ cây chè có truyềnthống lâu đời, người dân trong nước và trên thế giới sử dụng khá rộng rãi Bởi vậy, ngànhchè hiện nay đang có một vị trí nhất định trên thị trường trong nước và thế giới Ngoài
ra, do đặc điểm sinh trưởng của cây chè rất phù hợp với những vùng đất trung du, miềnnúi, nền về mặt xã hội nó còn là cây có ý nghĩa quan trọng giúp đồng bào vùng cao xóađói, giảm nghèo trên cơ sở tham gia vào các vùng sản xuất chè để xuất khẩu, tạo công ănviệc làm cho lao động tại chỗ
Trong những năm đổi mới cơ chế quản lý của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nóichung, cũng như các ngành hàng nói riêng, ngành chè đã trải qua nhiều bước đổi mới,hoàn thiện các mô hình quản lý theo hướng thích hợp hơn với cơ chế thị trường và bướcđầu đã thu được những thành tích nhất định, thể hiện trên nhiều mặt, như: tăng diện tích,nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng, đa dạng hóa mặt hàng, mở rộng thị trường,tăng giá trị xuất khẩu, xuất hiện nhiều nhân tố mới trong sản xuất, kinh doanh và quản lýngành chè
Tuy nhiên, so với tiềm năng phát triển (điều kiện tự nhiên, lao động, công nghệ );cũng như so với khả năng phát triển ngành chè của một số nước trong khu vực có nhữngđiều kiện tự nhiên, xã hội tương đồng, thì ngành chè Việt Nam chưa thực sự ngang tầm,chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong và ngoài nước Điểm yếu tồn tại trongxuất khẩu chè của Việt Nam trong nhiều năm qua là năng lực cạnh tranh chưa cao bởi
Trang 7hạn chế về chất lượng sản phẩm, chủng loại thiếu đa dạng, năng suất thấp, chưa xây dựngđược chiến lược thương hiệu thật sự hiệu quả Do vậy, tuy là nước đứng thứ 5 trên thếgiới về xuất khẩu chè nhưng giá trị gia tăng thấp, thiếu tính bền vững Để góp phần giúpcho ngành chè Việt Nam phát triển, gia tăng kim ngạch xuất khẩu trên cơ sở nâng cao
năng lực cạnh tranh, tác giả đã chọn vấn đề “Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam trong điều kiện hiện nay” làm
đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Trường
2 Tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới cũng đã có một số nghiên cứu của một số cá nhân và tổ chức liênquan đến vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh Các nghiên cứu về nâng cao lợi thế và khảnăng cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường có thể tổng kết thành 03 trường pháivới 03 cách tiếp cận khác nhau đó là:
- Trường phái nghiên cứu lợi thế cạnh tranh và định vị doanh nghiệp, điển hình làcác nghiên cứu của Micheal Porter (1980, 1985, 1986) Các nghiên cứu theo trường pháinày đưa ra nhiều mô hình phân tích về lợi thế cạnh tranh và định vị doanh nghiệp trên thịtrường nhưng nhược điểm là không đề cập đến cách thức mà doanh nghiệp cần phải làm,các kỹ năng cần phải có để đạt được các lợi thế cạnh tranh
- Các nghiên cứu của Barney (1991), Hamel and Prahalad (1994), teece, Pisano vàShuen (1997) tập trung nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên cơ sởcoi nguồn lực của doanh nghiệp như là yếu tố sống còn trong cạnh tranh Các nghiên cứutheo trường phái này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác nguồn lực doanhnghiệp để có được lợi thế cạnh tranh
- Trường phái nghiên cứu quá trình hoạch định và triển khai chiến lược cạnh tranhcủa các doanh nghiệp dựa trên cấu trúc doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp Trườngphái này tập trung nghiên cứu và phân tích quá trình kinh doanh, các phương pháp xâydựng và hoạch định chiến lược kinh doanh chứ không đề cập đến định vị doanh nghiệp
và các hoạt động thực thi chiến lược Điển hình các nghiên cứu thuộc trường phái này là
Trang 8các nghiên cứu của các học giả Ghosal và Barret (1997), Collins và Porras (1994), Miller
và Whitney (1999), Peters (1991)
Mặc dù cũng đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề cạnhtranh và nâng cao năng lưc cạnh tranh như trên nhưng cho đến hiện tại cũng chưa có mộtnghiên cứu nào của các chuyên gia, nhà khoa học quốc tế về việc nâng cao năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè của Việt Nam Những tài liệu liên quan mà cáctác giả ngoài nước nghiên cứu và công bố có giá trị tham khảo tốt để tác giả hoàn thànhbáo cáo khoa học của đề tài này
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trên thực tế đã có một số công trình nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức ViệtNam về việc nâng cao năng lực cạnh tranh nói chung và năng lực cạnh tranh của một sốsản phẩm xuất khẩu nói riêng, trong đó có sản phẩm chè như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số B2004-40-41 của nhóm tác giả ởTrường Đại học ngoại thương do TS Nguyễn Hữu Khải làm chủ nhiệm với tựa đề: “Một
số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Namtrong những năm đầu thế kỷ 21” Đề tài này các tác giả đã khái quát về năng lực cạnhtranh của mặt hàng chè xuất khẩu Việt Nam trong những năm cuối của thế kỷ 20, sau khiViệt Nam đã tham gia là thành viên của một số tổ chức kinh tế như AFTA, WTO Tuynhiên ở thời điểm này, sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế của thế giới còn nhiềuhạn chế, mới ở những bước đi đầu tiên Đề tài của nhóm tác giả kể trên, sau khi đánh giánăng lực cạnh tranh của mặt hàng chè xuất khẩu của Việt Nam đã đưa ra một số giải phápnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng này trong những năm đầu tiên của thế
kỷ 21 Đề tài kể trên là một công trình nghiên cứu có giá trị tốt để chúng tôi thực hiện đềtài nghiên cứu khoa học của mình như là một sự tiếp nối của giai đoạn tiếp theo mà đề tàitrên đã thực hiện Cụ thể là đề tài của chúng tôi sẽ đánh giá ở phạm vi rộng hơn đó lànăng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp trong giai đoạn những năm đầu của thế kỷ 21,
từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệpxuất khẩu chè của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2015 trở đi Đây là giai đoạn có
Trang 9những bối cảnh mới đó là sự hội nhập kinh tế của nước ta ngày càng sâu rộng, cộng đồngkinh tế ASEAN dự kiến được thành lập, FTA giữa Việt Nam và EU cũng như giữa ViệtNam và Hàn Quốc dự kiến được ký kết, TPP giữa Việt Nam và 20 nước thành viên củakhu vực Châu Á - Thái Bình Dương dự kiến cũng kết thúc đàm phán và ký kết.
- Đề tài luận văn tốt nghiệp đại học với tựa đề “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu chètại Tổng công ty chè Việt Nam giai đoạn 2001 - 2005” Đề tài này có phạm vi nghiên cứutrong phạm vi của Tổng công ty chè Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 21 Nội dungcủa đề tài cũng là những gợi ý tốt để chúng tôi tham khảo, phát triển mở rộng phạm vinghiên cứu không chỉ đối với các đơn vị thành viên của Tổng công ty chè Việt Nam màcòn đối với các đơn vị sản xuất và xuất khẩu chè ngoài Tổng công ty, đồng thời giai đoạn
mà đề tài chúng tôi sẽ thực hiện là đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệpxuất khẩu chè Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 - 2014, trên cơ sở đó đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này sau năm 2015,thời kỳ mà nền kinh tế của Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới
Bên cạnh những đề tài kể trên còn có những đề tài có liên quan khác như: Đề tàinghiên cứu khoa học cấp Bộ “Những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩucho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”
do PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh và nhóm tác giả Trường Đại học Thương mại thực hiệnnăm 2006; Sách chuyên khảo “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiệntoàn cầu hóa” của tác giả Trần Sửu - Trường Đại học Ngoại thương thực hiện năm 2005;Sách chuyên khảo “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Dệt May để thànhcông tại thị trường EU” của tác giả Nguyễn Hoàng - Trường Đại học Thương mại thựchiện năm 2006…Các công trình nghiên cứu khoa học kể trên đã đề cập đến năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp nói chung và một số doanh nghiệp thuộc ngành Dệt May,Thủ công mỹ nghệ, Đồ gỗ, Nhựa gia dụng, Thủy sản, Hóa chất, Cơ khí, Dược nói riêng
mà không đề cập đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam
Do đó, đây là những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị về phương pháp luận khoahọc, là tài liệu tham khảo tốt về mặt lý luận để tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu khoahọc của mình
Trang 10Tóm lại, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan như đã
kể trên nhưng chưa có một nghiên cứu nào đầy đủ về việc nâng cao năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp xuất khẩu chè sau khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tếthế giới trong những năm gần đây, đặc biệt là những năm khủng hoảng kinh tế toàn cầu
và FTA giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã được ký kết cũng như sắp tới một loạt hiệp địnhkhác sẽ dự kiến được ký kết trong tương lai gần bao gồm: Cộng đồng kinh tế ASEAN(AEC), Hiệp định FTA giữa Việt Nam và EU, TPP giữa Việt Nam và 11 nước thành viênlớn trên thế giới Do vậy, cần phải có nghiên cứu đầy đủ về thực trạng năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp thích hợpnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh chècủa Việt Nam khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới kéo theo sựcạnh tranh ngày càng trở lên gay gắt hơn, đòi hỏi phải tranh thủ khai thác những thuận lợi
và vượt qua những thách thức lớn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích các “nút thắt” cạnh tranh của ngànhchè Việt Nam, trên cơ sở đó tìm ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tếcủa Việt Nam vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng hơn Để đạt được mục đíchtrên, báo cáo nghiên cứu có các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh vànăng lực cạnh tranh xuất khẩu
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuấtkhẩu chè Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ rõ những điểm mạnh,điểm yếu và nguyên nhân gây ra những điểm yếu đó
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp, kiến nghị có cơ sở khoa học và có tính khảthi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Namtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận và thực tiễn vềnăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong hoạt động xuấtkhẩu chè và các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩuchè Việt Nam Cụ thể là:
Giới hạn nội dung: Tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu và khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệpn xuất khẩu chè, không đi sâu nghiên cứu chi tiết những vấn
đề về kỹ thuật sản xuất, không nghiên cứu hoạt động tiêu thụ ở thị trường trong nước
Giới hạn thời gian nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực
trạng xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè từ năm 2011đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả lấy phương pháp duy vật biện chứng và phương phápduy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng các phươngpháp: Phương pháp so sánh, liên hệ; Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương phápthống kê; Phương pháp chuyên gia, Phương pháp nghiên cứu tài liệu…
6 Nội dung đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, sơ đồ,bảng biểu, báo cáo đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp xuất khẩu trong nền kinh tế hội nhập
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam trong thời gian tới
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
TRONG NỀN KINH TẾ HỘI NHẬP
1.1 TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Các học thuyết về kinh tế thị trường, dù trường phái nào cũng đều thừa nhận rằng:cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà ở đó cung - cầu vàgiá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của cơ chế thịtrường, cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khácnhau, nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh, đặc biệt là phạm vi của thuật ngữnày Chúng ta có thể dẫn ra như sau:
Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư
bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thuđược lợi nhuận siêu ngạch”
Theo Từ điển kinh doanh của Mariam Webster xuất bản năm 1992 thì: “Cạnh
tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giànhcùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”
Theo Từ điển Bách Khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là
hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, giữa cácnhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, nó được chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằmgiành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”
Theo cuốn Kinh tế học của M.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các
doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”
Trang 13Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh
và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa
các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nângcao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể”
Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cạnh tranh, chúng ta có thể rút ranhững nội hàm cơ bản của cạnh tranh kinh tế:
Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần
thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh kinh tế là nhắm vào một đối tượng cụ
thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm, dự án ); một loạtđiều kiện có lợi (một thị trường, một khách hàng ) Mục đích cuối cùng là kiếm được lợinhuận cao
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung
mà các bên tham gia phải tuân thủ như: Đặc điểm sản phẩm, thị trường, các tiêu chuẩnpháp lý, các thông lệ kinh doanh
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể kinh doanh tham gia cạnh tranh trên
4 phương diện chủ yếu: Cạnh tranh giá trị sử dụng sản phẩm; Cạnh tranh giá bán sảnphẩm; Cạnh tranh về phân phối sản phẩm; Cạnh tranh về truyền thông và khuếch trương
Từ những cách tiếp cận trên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, khái niệm
cạnh tranh nên được hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất
1.1.2 Năng lực cạnh tranh và các cấp độ cạnh tranh
Nếu hiểu cạnh tranh là cuộc ganh đua gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinhdoanh trên thị trường Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành được lợi thế về phíamình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị
Trang 14thế của mình trên thị trường Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủthểnhằm kiến tạo năng lực cạnh tranh của chủ thể đó Khi muốn có khả năng duy trì vịthế của một hàng hóa nào đó nói chung, hàng nông sản nói riêng trên thị trường, mà hànghóa này phải thuộc một doanh nghiệp nào đó, một nước nào đó thì người ta cũng dùng
thuật ngữ “sức cạnh tranh của hàng hóa”, đó cũng là thuật ngữ dùng để chỉ mức độ hấp
dẫn của hàng hóa đó đối với khách hàng Như vậy, khi nghiên cứu sức cạnh cạnh tranhcủa một mặt hàng nào đó, cần phải xem xét nó trong môi trường cạnh tranh năng lựcquốc gia, cạnh tranh ngành và doanh nghiệp
1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia
Theo định nghĩa của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF - World Economic Forum)thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng của một nền kinh tế có thể tạo ratăng trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới.Ngoài những yếu tố về vị trí địa lý kinh tế, tài nguyên thiên nhiên năng lực cạnh tranhcủa quốc gia chịu sự chi phối bởi các nhóm nhân tố:
- Nhóm 1: Mức độ mở của nền kinh tế, bao gồm độ mở của thương mại và đầu tư(thuế quan và hàng rào phi thuế quan, chính sách xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, đầu tưtrực tiếp của nước ngoài)
- Nhóm 2: Vai trò và hoạt động của chính phủ (mức độ can thiệp của Nhà nước,năng lực của Chính phủ, quy mô của Chính phủ, chính sách tài khóa, hệ thống thuế, lạmphát)
- Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính (khả năng hoạt động của trung gian tài chính,rủi ro tài chính, hiệu quả cạnh tranh, đầu tư và tiết kiệm)
- Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ (năng lực công nghệ nội sinh, công nghệchuyển giao, mức độ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai)
- Nhóm 5: Các yếu tố về kết cấu hạ tầng (chất lượng hệ thống giao thông vận tải,mạng viễn thông, điện, nước, kho tàng và các phương tiện vật chất)
- Nhóm 6: Quản lý kinh doanh, quản lý nhân lực
Trang 15- Nhóm 7: Các yếu tố về lao động (số lượng lao động, trình độ tay nghề và năngsuất lao động, hiệu quả và tính linh hoạt của thị trường lao động, chương trình xã hội)
- Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế (chất lượng của các thể chể pháp lý)
Từ năm 2000, WEF điều chỉnh lại các nhóm tiêu chí, gộp thành ba nhóm lớn đểđánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia là: Sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ; tài chính;quốc tế hoá Trong đó, trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đã tăng mạnh từ1/9 lên 1/3, với hai chỉ số mới - chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng (GrowthCompetitiveness Index - GCI) và chỉ số năng lực cạnh tranh hiện hành (CurrentCompetitiveness Index - CCI) Theo phân tích và đánh giá của WEF thì sức vươn lêntrong hội nhập, cạnh tranh của nền kinh tế nước ta chưa mạnh, trong khi xu thế hội nhậpkinh tế quốc tế đang đặt ra yêu cầu rất cao đối với năng lực cạnh tranh của các quốc gia
và năng lực cạnh tranh của cấp quốc gia ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp
Một số nhà kinh tế khác lại đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của quốc gia dựatrên năng suất lao động, M Porter cho rằng: “Khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnhtranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động” Ông đề cao vai trò của doanh nghiệp trongcạnh tranh quốc gia và cho rằng năng suất lao động trong một quốc gia phụ thuộc vào khảnăng của từng doanh nghiệp của nó đạt được các mức năng suất cụ thể và tăng được mứcnăng suất đó như thế nào Muốn duy trì và nâng cao được năng suất lao động, từng doanhnghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất bằng cách nâng cao chất lượng sảnphẩm, cải tiến kỹ thuật, hạ thấp chi phí, bổ sung các đặc điểm cần thiết để đáp ứng nhucầu ngày càng khắt khe của thị trường trong và ngoài nước
Uỷ ban về Cạnh tranh Công nghiệp Hoa kỳ đã đưa ra khái niệm “ở quy mô mộtquốc gia, năng lực cạnh tranh được hiểu là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường
tự do và công bằng có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thịtrường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của nhân dân nước đó”.Theo quan điểm này thì cạnh tranh của một quốc gia được hiểu là khả năng của quốc gia
đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống của người dân, có nghĩa là
Trang 16đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của thu nhập bìnhquân trên đầu người theo thời gian
Như vậy, dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng đa số các quan niệm đềuthống nhất, năng lực cạnh tranh của quốc gia phụ thuộc vào khả năng khai thác các cơ hội
trên thị trường Do đó, có thể hiểu, năng lực cạnh tranh của quốc gia là tổng thể sức mạnh và ảnh hưởng của nền kinh tế quốc dân trong đời sống kinh tế quốc tế mà điều biểu hiện rõ nhất là thương hiệu thương mại quốc gia được thế giới ngưỡng mộ, tín nhiệm.
1.1.2.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Về khái niệm này, phần lớn các tác giả đều gắn năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường hoặc gắn năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó chiếm giữ thông qua khả năng tổ chức,quản trị kinh doanh hướng vào đổi mới công nghệ, giảm chi phí nhằm duy trì hay giatăng lợi nhuận, bảo đảm sự tồn tại, phát triển bền vững của doanh nghiệp
Do tính đa dạng và phức tạp của cạnh tranh kinh doanh, không thể có một kháiniệm cạnh tranh doanh nghiệp chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp Trong điềukiện và thực tế cạnh tranh của mình, thì doanh nghiệp phải tự định nghĩa năng lực cạnhtranh cho mình Song trên nhận thức chung nhất, chúng ta có thể xem xét năng lực cạnhtranh doanh nghiệp trên 4 phương diện sau:
Một là, cạnh tranh phải đứng trên quan điểm khách hàng Phải lấy yêu cầu và sự
thỏa mãn của khách hàng là chuẩn mực đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Hai là, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc thu hút khách hàng phải là thực
lực của doanh nghiệp Thực lực này chủ yếu được tạo thành từ những ưu thế so sánh màdoanh nghiệp cung ứng cho khách hàng
Ba là, khi nói tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp luôn hàm ý so sánh với doanh
nghiệp hữu quan (các đối thủ cạnh tranh) cùng hoạt động trên thị trường Muốn tạo nênnăng lực cạnh tranh thực thụ, thực lực của doanh nghiệp phải vượt trội lên đối thủ bằng
ưu thế riêng có của mình
Trang 17Bốn là, các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có quan hệ ràng
buộc nhau Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh khi nó có khả năng thoả mãnđầy đủ nhất tất cả những yêu cầu của khách hàng Song khó có doanh nghiệp nào có đượcyêu cầu này, thường thì có lợi thế về mặt này, lại có thế yếu về mặt khác Bởi vậy, việcđánh giá đúng đắn những mặt mạnh và mặt yếu của từng doanh nghiệp có ý nghĩa trọngyếu với việc tìm các giải pháp tăng năng lực cạnh tranh
Do đó, chúng ta có thể hiểu: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hiện thực lực
và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để đạt mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.
1.1.2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Theo một số tác giả, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội của nó (vềcác chỉ tiêu) so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thịtrường Khái niệm này cho thấy, việc xác định sản phẩm có năng lực cạnh tranh haykhông trên thị trường, là xác định mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm
về chất lượng, giá cả, công nghệ chế tạo, dịch vụ sau bán hàng so với sản phẩm cùngloại mà đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường Biểu hiện tập trung nhất là uy tínthương hiệu sản phẩm
Một số tác giả khác lại cho rằng: một hàng hóa được coi là có sức cạnh tranh khi
nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tínhđộc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với các hàng hóa cùng loại.Hay nói cách khác, sức cạnh tranh của hàng hóa được hiểu là tất cả những đặc điểm, yếu
tố, tiềm năng mà hàng hóa đó có thể duy trì và củng cố chỗ đứng của mình trên thị trườngtrong một thời gian dài Sức cạnh tranh của hàng hóa còn được thể hiện thị phần của mặthàng đó trên thị trường, hay nói cách khác đó là sức mua đối với hàng hóa đó trên thịtrường, là mức độ chấp nhận của người tiêu dùng
Trang 18Như vậy, mặc dù vẫn chưa thống nhất khái niệm, song có thể hiểu rằng, năng lựccạnh tranh của sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố chính như: tính hữu dụng thay thếcho công dụng kinh tế của một loại sản phẩm so với sản phẩm tương tự của doanh nghiệpkhác: yếu tố về chất lượng của sản phẩm; yếu tố về giá cả của sản phẩm Và các yếu tốkhác như: kiểu dáng, tính năng sử dụng, kiểu dáng, mẫu mã, hình thức độc đáo hay sựkhác biệt, thương hiệu, bao bì của sản phẩm, phương thức tiêu thụ, quảng cáo, bán hàng
Tóm lại, các cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau,tạo điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tế có năng lựccạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có sức cạnh tranh, ngược lại để tạođiều kiện cho doanh nghiệp có sức cạnh tranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tếphải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, nền kinh tếphải ổn định, bộ máy Nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyênnghiệp
Mặt khác, tính năng động, nhạy bén trong quản lý doanh nghiệp cũng là một yếu
tố quan trọng, vì trong cùng một môi trường kinh doanh có doanh nghiệp rất thành côngtrong khi doanh nghiệp khác lại thất bại Là tế bào của nền kinh tế nên sức cạnh tranh củadoanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia
Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnhtranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Doanh nghiệp có thểkinh doanh một hay một số sản phẩm và dịch vụ có năng lực cạnh tranh Ngược lại, nănglực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá cao khi năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.2.1 Nhóm nhân tố bên ngoài
Như đã đề cập ở trên, sức cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực nội sinh (bêntrong) của doanh nghiệp đứng trước cơ hội và thách thức của môi trường kinh doanh và
áp lực cạnh tranh từ phía thị trường
Trang 19Tuy nhiên, những khả năng này lại bị tác động đồng thời bởi nhiều yếu tố bênngoài ở trong nước và quốc tế Vì vậy, khi phân tích tới các yếu tố cấu thành và ảnhhưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp, phải đề cập tới các nhân tố tác động bênngoài.
1.2.1.1 Những nhân tố vĩ mô
Nhân tố kinh tế: Đây là nhóm các nhân tố và điều kiện ràng buộc rất phong phú.
Môi trường chính sách thị trường và các chính sách kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng quantrọng đến thách thức, ràng buộc nhưng đồng thời lại là nguồn khai thác cơ hội hấp dẫnđối với mỗi doanh nghiệp
Nhân tố chính trị, pháp luật: Một thể chế chính trị, luật pháp rõ ràng, rộng mở và
ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp nói chung,doanh nghiệp xuất khẩu chè nói riêng tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả
Nhân tố khoa học và công nghệ: Đối với những nước chậm và đang phát triển, giá
và chất lượng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay,
xu hướng cạnh tranh đang chuyển dần từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng,cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ cao Kỹ thuật
và công nghệ mới sẽ giúp cho các cơ sở sản xuất trong nước trang bị và tái trang bị toàn
bộ cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân Đây là tiền đề để các doanh nghiệp
ổn định và nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và quốc tế Dogặp khó khăn về vốn nên phần lớn doanh nghiệp sản xuất chè Việt Nam đang phải sửdụng thiết bị công nghệ chưa đồng bộ, còn lạc hậu tới trên dưới 20 năm nên ảnh hưởngtới năng suất và chất lượng sản phẩm
Nhân tố nhân khẩu học: Đây là nhân tố tạo lập quy mô thị trường, được đề cập trên
các khía cạnh: Quy mô và tốc độ tăng trưởng dân số; cơ cấu dân số; những thay đổi tronggia đình và di chuyển nơi cư trú; những thay đổi trong phân phối lại thu nhập; trình độhọc vấn; nghề nghiệp của các tầng lớp dân cư
Nhân tố tự nhiên: Là một yếu tố đầu vào hết sức quan trọng của nhiều ngành kinh
tế như: nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng, du lịch, vận tải, chế biến Trong rất nhiều
Trang 20trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để hìnhthành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ Bên cạnh đó, nhân tố tự nhiên còntác động làm thay đổi nhu cầu của khách hàng nên các nhà sản xuất kinh doanh phải chú
ý tới yếu tố này để tạo ra những sản phẩm phù hợp
Nhân tố văn hóa - xã hội: Đây là nhóm yếu tố quan trọng tạo lập nên những chuẩn
mực về nhân cách, đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, phong tục tập quán, thị hiếu thói quen,trình độ nhận thức của người tiêu dùng, nó mang tính bền vững cao và tác động trongphạm vi rộng nên là cơ sở để cho các nhà quản lý lựa chọn và điều chỉnh các quyết địnhkinh doanh
Nhân tố quốc tế: Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì chiến lược kinh
doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp cho dù kinh doanh ở thị trường trong nước haytrên thị trường nước ngoài cũng đều bị chi phối bởi những vấn đề chung của quan hệ vàmôi trường kinh tế - chính trị quốc tế Khi mối quan hệ giữa các quốc gia trở nên thùđịch, thì sự mâu thuẫn giữa hai Chính phủ có thể hoàn toàn phá hủy các mối quan hệ kinh
tế giữa hai nước Ngược lại, nếu mối quan hệ chính trị song phương được cải thiện sẽthúc đẩy thương mại phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh
1.2.1.2 Những nhân tố vi mô
Các nhân tố vi mô có phạm vi ảnh hưởng hẹp và không tương tự nhau đối vớinhững doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành và cùng thị trường kinh doanh Trongcùng một ngành kinh doanh, các doanh nghiệp cùng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cóthể thay thế lẫn nhau nhằm đáp ứng cùng một nhu cầu nào đó của người tiêu dùng
Theo Michael Poter, trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh” (1985) và “Chiến lượccạnh tranh” (1980) đã đưa ra mô hình 5 lực lượng cạnh tranh trong ngành kinh doanh baogồm (xem Hình 1.1):
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện
nay chưa xuất hiện trên thị trường nhưng có khả năng cạnh tranh trong tương lai Khảnăng cạnh tranh của đối thủ này được đánh giá qua việc rào cản ngăn chặn việc gia nhậpvào ngành, có nghĩa là một doanh nghiệp phải tốn kém nhiều hay ít để tham gia vào
Trang 21ngành kinh doanh Nếu phí tổn gia nhập ngành càng cao, rào cản ngăn chặn gia nhập sẽcàng cao và ngược lại
Hình 1.1: Các lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành
Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành: Là các doanh nghiệp đã
có vị thế chắc chắn trên thị trường cùng ngành kinh doanh, nếu mức cạnh tranh giữa họcàng cao, giá bán sẽ càng giảm, đưa đến mức lợi nhuận giảm Do đó, cạnh tranh về giábán là nguy cơ đối với doanh nghiệp
Sức ép của nhà cung ứng: Nhà cung cấp là chỉ những cá nhân hay tổ chức cung
ứng các loại yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp như: nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩmhay dịch vụ cho doanh nghiệp; lao động; máy móc thiết bị kỹ thuật hay tiền vốn chodoanh nghiệp Giữa các nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thươnglượng về giá cả, chất lượng và thời hạn giao hàng Các nhà cung ứng có thế lực mạnh khi
họ có những điều kiện sau: khi họ độc quyền cung cấp một loại vật tư thiết yếu cho doanhnghiệp thì khả năng tác động của họ rất lớn; khi doanh nghiệp không phải là khách hàngquan trọng của nhà cung cấp; khi loại vật tư mà họ cung cấp lại là yếu tố đầu vào quan
Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm,
dịch vụ thay thế
Của người cung ứng
Quyền lực Thương lượng
Nguy cơ đe doạ từ những đối thủ cạnh tranh mới Quyền lực
Thương lượng
Của người mua
NGƯỜI MUA
CÁC ĐỐI THỦ TIỀM ẨN
CÁC ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH
CUỘC CẠNH TRANH GIỮA CÁC ĐỐI THỦ HIỆN TẠI
SẢN PHẨM THAY THẾ
NGƯỜI
CUNG
ỨNG
Trang 22trọng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh, hoặc đến chất lượng sảnphẩm của doanh nghiệp thì khi đó nhà cung cấp sẽ có thế lực đáng kể đối với doanhnghiệp Các nhà cung ứng thường gây sức ép đối với doanh nghiệp trong những tìnhhuống như: Nhà cung ứng có lợi thế hơn nếu họ độc quyền cung cấp vật tư; Khi sảnphẩm của nhà cung ứng là đầu vào quan trọng, quyết định lớn đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp; Khi các vật tư được cung cấp không có khả năng thay thế;Khi doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung ứng; Khi nhà cungứng có khả năng khép kín sản xuất hay thực hiện chính sách liên kết dọc.
Nếu mối quan hệ giữa nhà cung ứng và doanh nghiệp là tốt, thân thiện thì các doanhnghiệp sẽ có nguồn nguyên liệu ổn định, từ đó giúp cho quá trình sản xuất kinh doanhđược diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ, và đúng kế hoạch Nếu số lượng nhà cung ứng cho cácdoanh nghiệp nhiều hơn thì nguy cơ rủi ro, và phụ thuộc vào các nhà cung ứng của cácdoanh nghiệp cũng giảm bớt Do đó, sự đa dạng về nguồn cung ứng cũng như tìm kiếmđược nhà cung ứng đủ tiềm lực là vấn đề sống còn và quyết định đến thành công của bất
kì doanh nghiệp nào
Sức ép của khách hàng: Khách hàng là danh từ chung để chỉ những người hay tổ
chức mua sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp Khách hàng bao gồm: người tiêudùng trực tiếp; các trung gian phân phối (các nhà bán sỉ, bán lẻ và đại lý); khách hàngcông nghiệp, khách hàng cơ quan Nếu khách hàng là người mua với khối lượng lớn sovới doanh thu của toàn bộ ngành, khi đó họ sẽ có quyền ép giá nhất định
Khi sản phẩm của doanh nghiệp cung cấp chiếm một tỷ trọng lớn và quyết địnhđến thu nhập, tổng chi phí của doanh nghiệp thì họ cũng sẽ tìm cách gây sức ép đối vớidoanh nghiệp để được lợi; Khi khách hàng không bị ràng buộc và có thể chuyển sangmua sản phẩm của các doanh nghiệp khác với giá rẻ hơn một cách dễ dàng thì các doanhnghiệp trong ngành tìm cách đối phó với nhau và buộc phải giảm giá hàng loạt; Khikhách hàng có thu nhập thấp thường tạo áp lực buộc các doanh nghiệp sản xuất cung cấpvới giá rẻ hơn; Khi khách hàng có đủ thông tin về nhu cầu, giá cả trên thị trường, về chiphí của người sản xuất thì khả năng ép giá của họ càng mạnh
Trang 23Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế: Những sản phẩm thay thế cũng là một trong
những lực lượng tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành Sựsẵn có của các sản phẩm thay thế trên thị trường là mối đe doạ trực tiếp đến khả năngphát triển, khả năng cạnh tranh và mức lợi nhuận của các doanh nghiệp Đặc biệt nhữngsản phẩm có có xu hướng thay thế hoàn toàn sản phẩm của doanh nghiệp đang kinhdoanh thì khi đó doanh nghiệp còn đứng trước nguy cơ đe dọa sự tồn tại của doanhnghiệp, ngành Việc phải đối mặt với các sản phẩm thay thế trở thành vấn đề chung củatoàn ngành
Nói tóm lại, khi đánh giá các nhân tố tác động đến sức cạnh tranh thì các doanhnghiệp cần phải xem xét đầy đủ các nhân tố tác động, từ đó mà sàng lọc để tìm ra cácbiện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho chính các doanh nghiệp
1.2.2 Nhóm nhân tố bên trong
Như đã đề cập ở trên, cạnh tranh trong thương trường không phải là loại trừ đốithủ của mình, mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị cao hơn hoặc mới
lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn người khác
Cạnh tranh không phải chỉ là những hành động mang tính thời điểm mà là cả mộtquá trình tiếp diễn không ngừng: khi các doanh nghiệp đều phải đua nhau để phục vụ tốtnhất khách hàng thì điều đó có nghĩa là doanh nghiệp phải thường xuyên mang lại giá trịgia tăng về lợi ích khách hàng
Xuất phát từ đặc điểm và nội dung hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thểxác định các nhân tố bên trong chủ yếu trực tiếp ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh củadoanh nghiêp như sau:
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh thực chất là
chiến lược cạnh tranh Thể hiện tư duy, tầm nhìn, sức mạnh và hệ thống giải pháp cạnhtranh thị trường
Năng lực tài chính: Phải có sự bảo đảm cần thiết về năng lực tài chính thì mới có
thể duy trì được lợi thế cạnh tranh Khả năng thanh khoản luôn là thách thức đối với các
Trang 24doanh nghiệp, vì vậy một nền tảng tài chính vững chắc là nhân tố quan trọng để tạo lập vịthế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực quản lý và điều hành kinh doanh: Chất lượng của bộ máy quản lý doanh
nghiệp, đặc biệt là đội ngũ quản trị cấp cao là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong thànhbại của doanh nghiệp trên thị trường
Năng lực Marketing: Hoạt động tiếp thị trước hết là thu thập và xử lý thông tin về
thị trường mua, bán, thông tin về tâm lý và thị hiếu khách hàng, về giá cả, đối thủ cạnhtranh, có ý nghĩa quan trọng đến việc ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Phátđộng thị trường, định vị sản phẩm, định vị thương hiệu, tạo nên hiệu ứng tích cực của thịtrường cũng là nhân tố rất quan trọng tạo nên năng lực cạnh tranh thị trường của doanhnghiệp
Khả năng liên kết và hợp tác với các doanh nghiệp khác: Tình trạng tranh mua
tranh bán ở thị trường nội địa, tranh bán tranh mua trên thị trường thế giới sẽ đưa tới chỗgiảm đáng kể sức cạnh tranh của doanh nghiệp Do đó, cần phát huy vai trò của các hiệphội ngành hàng, tạo thành sự hiệp đồng chặt chẽ khi đưa sản phẩm ra thị trường thế giới
Đảm bảo chữ tín trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt có ý nghĩa quan trọng hàng
đầu Những hành động bất tín, gian lận, chỉ có thể đem lại lợi ích nhỏ nhoi trước mắt,song về lâu dài sẽ mất bạn hàng và chỗ đứng trên thị trường
Trình độ công nghệ: Công nghệ sản xuất có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới sức
cạnh tranh của doanh nghiệp Vì nó trực tiếp tác động đến chất lượng và giá thành sảnphẩm
Chất lượng đội ngũ lao động: Trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ của người
lao động và lòng hăng say làm việc của họ là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến sức cạnhtranh của doanh nghiệp Bởi vì khi tay nghề cao, chuyên môn cao lại cộng thêm lònghăng say nhiệt tình lao động thì tăng năng suất lao động là tất yếu Đây là tiền đề đểdoanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh
Trang 25Tinh thần doanh nghiệp: Sức mạnh của doanh nghiệp không phải chỉ tồn tại trong
một số cá nhân hay một nhóm mà trong sự đoàn kết, nhất trí hết mình vì sự phát triển củadoanh nghiệp Tinh thần doanh nghiệp hội tụ bản lĩnh và ý chí tập thể
Quản trị chi phí thấp sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, đặc biệttiết kiệm các nguồn lực một cách tối đa sẽ giúp cho doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm
Chấp nhận mạo hiểm, rủi ro trong kinh doanh: Chấp nhận mạo hiểm cũng là một
năng lực, một phẩm chất của các nhà kinh doanh Vượt qua và thành công sẽ tạo ra vị thếmới, sinh khí mới cho doanh nghiệp Có thể nói cạnh tranh là một cuộc chơi của nhữngngười dám chấp nhận mạo hiểm
Tóm lại, các nhân tố bên trong của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định và bảođảm tính bền vững đối với năng lực cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp Tuy nhiên, ởmỗi doanh nghiệp không thể hội đủ các yếu tố cạnh tranh mà vấn đề là mỗi doanh nghiệpphải xác định rõ các yếu tố cơ bản, cốt lõi để phát huy và tạo lập ưu thế cạnh tranh củamình trên thị trường
1.3 CÁC TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH
đang bị chèn ép, thị phần bị thu hẹp bởi các đối thủ cạnh tranh
Trang 261.3.2 Trình độ kỹ thuật công nghệ
Kỹ thuật công nghệ là một trong những yếu tố cơ bản của sản xuất, do vậy nóphản ánh một phần năng lực sản xuất của doanh nghiệp Mặt khác, trình độ trang bị và sửdụng công nghệ có liên quan đến năng suất, chất lượng, chủng loại sản phẩm, giá cả sảnphẩm nên nó được xem như là một trong những yếu tố quan trọng phản ánh khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp Nếu hệ thống máy móc thiết bị công nghệ được doanhnghiệp trang bị đầy đủ, hiện đại và việc sử dụng nó hợp lý, tiết kiệm sẽ góp phần nângcao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và ngược lại
1.3.3 Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là tiêu chí quan trọng nhất để khẳng định năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Chất lượng cho khách hàng và cũng là sự cam kết của doanhnghiệp Trong xã hội phát triển, yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, quốc gia là phảicung ứng những sản phẩm có chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu ngày càng khắt khecủa người tiêu dùng Người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm, dịch
vụ cùng loại nhưng có chất lượng cao hơn Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trênthị trường thế giới, mặt hàng chè xuất khẩu muốn tiêu thụ được phải đảm bảo được chấtlượng theo chuẩn mực chung và phải vượt lên so với chuẩn mực chung Chất lượng vượttrội những sự khác biệt hữu ích so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh trênthị trường Như vậy, chất lượng của sản phẩm phải luôn gắn chặt với sự phù hợp sở thích
và đảm bảo đủ độ tin cậy cho người tiêu dùng
Ngày nay, trên thị trường các nước phát triển, xu hướng cạnh tranh không chỉ bằngchất lượng mà còn gắn với các yếu tố về môi trường và an toàn sản phẩm, đặc biệt đốivới hàng nông sản như chè Để có thể cạnh tranh được trên các thị trường lớn như EU,
Mỹ và Nhật Bản, chè Việt Nam vừa phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, vừa phảithỏa mãn các yêu cầu liên quan đến đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và thân thiện vớimôi trường
Trang 27Con đường chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp chỉ có thể là phải thường xuyênđổi mới và hoàn thiện về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, tạo những nét riêng độc đáo,hấp dẫn người mua Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ nhãn hiệu, uy tín sản phẩmtrong điều kiện ngày càng có nhiều sản phẩm giống nhau, hàng thật, hàng giả lẫn lộn.
1.3.4 Giá cả sản phẩm
Giá cả sản phẩm là công cụ cạnh tranh đặc biệt của thị trường Các doanh nghiệpphải tìm cách duy trì mức cạnh tranh tương đối về giá Trong điều kiện bình thường thìchi phí sản xuất và cạnh tranh về chi phí sản xuất là tiêu điểm mà các doanh nghiệphướng tới để gia tăng năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường
1.3.5 Hệ thống phân phối
Hệ thống phân phối hàng hóa phải là sợi dây kết nối với người tiêu dùng Năng lựccạnh tranh thật sự của doanh nghiệp luôn thể hiện rõ rệt và trực tiếp trên hệ thống phânphối Tổ chức và quản trị tốt hệ thống phân phối luôn là ưu thế cạnh tranh mà các doanhnghiệp phải nắm lấy và làm chủ, đặc biệt là khi xâm nhập vào thị trường quốc tế
1.3.6 Năng suất lao động
Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp và có tính khái quát toàn diện nhất về nănglực cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp Năng suất phản ánh trình độ và năng lực củadoanh nghiệp trong mối tương quan với các doanh nghiệp cạnh tranh cùng ngành
1.3.7 Doanh thu và lợi nhuận
Doanh thu và lợi nhuận có thể coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranhtổng hợp Bởi suy cho cùng, năng lực cạnh tranh của ngành chính là khả năng duy trì vàtăng thêm lợi nhuận Mà doanh thu là nhân tố tạo nên lợi nhuận Để đo lường một sự tăngtrưởng và phát triển của ngành hiện nay, người ta vẫn dùng các số liệu thống kê kimngạch xuất khẩu qua các năm (năm sau so với năm trước), mà kim ngạch xuất khẩu cũngchính là doanh thu của ngành ở thị trường nước ngoài Qua đó ta thấy, doanh thu là mộtchỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh của ngành Cần lưu ý chỉ tiêu doanh
Trang 28thu, phản ánh năng lực cạnh tranh chỉ doanh thu của doanh nghiệp tăng lên là do sảnphẩm bán ra tăng chứ không phải do giá cả tăng.
1.3.8 Khả năng cung ứng
Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp, nó được thể hiện thông qua các quy định về chất lượng, số lượng, thời gian giaohàng, điều kiện thanh toán, các dịch vụ trong bán và sau bán Hiện nay các doanhnghiệp xuất khẩu chè Việt nam gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề cung ứng Đối với thịtrường EU và Mỹ họ có những đòi hỏi rất chặt chẽ về số lượng, các quy định về nhãnhiệu hàng hoá, về xuất xứ sản phẩm
Thường xuyên thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết về giao hàng sẽ làm cho đốitác hài lòng và giữ được thị trường và ngược lại
1.3.9 Chi phí sản xuất dựa trên lợi thế so sánh
Nguồn gốc của khả năng cạnh tranh về chi phí của sản phẩm là lợi thế so sánh củađất nước trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó Mặc dù chi phí liên quan đếnnhiều yếu tố nhưng thường được đánh giá ở góc độ quản lý Nếu như quản lý tốt sẽ giúpcho việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của các doanh nghiệp trở lên hợp lý, tiếtkiệm Việc tiết kiệm chi phí sản xuất sẽ góp phần hạ giá thành của sản phẩm và làm tăngkhả năng cạnh tranh về giá trên thị trường
1.3.10 Thương hiệu và uy tín
Thương hiệu và uy tín của sản phẩm hàng hóa chính là sự tổng hợp các thuộc tínhcủa sản phẩm như chất lượng, lợi ích, mẫu mã và dịch vụ của sản phẩm Thương hiệukhông những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này vớisản phẩm của doanh nghiệp khác mà còn thể hiện sự tín nhiệm của khách hàng đối vớisản phẩm và tổ chức cung ứng sản phẩm cho khách hàng, nó là tài sản vô hình mà bất kỳchủ thể kinh doanh nào cũng phải có và phải phấn đấu để đạt giá trị càng cao
Ngày nay, phần lớn các hàng hóa xuất khẩu trên thị trường quốc tế đều có thươnghiệu Thương hiệu của hàng hóa đã trở thành tài sản vô cùng quý giá và là vũ khí quan
Trang 29trọng trong cạnh tranh Một doanh nghiệp cũng như một sản phẩm, một ngành kinh tếnếu như có thương hiệu tốt thì năng lực cạnh tranh của nó càng cao và ngược lại Điều đó
có nghĩa là, nếu một sản phẩm nào đó đã có được uy tín và hình ảnh tốt đối với người tiêudùng thì sản phẩm đó có một lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với sản phẩm của các đối thủcạnh tranh
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt, muốnđứng vững được trên thị trường buộc các doanh nghiệp phải tạo dựng cho hàng hóa củamình một thương hiệu mạnh, ghi dấu ấn trong lòng khách hàng Đó là một trong các tiêuchí quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh và sự tồn tại của hàng xuất khẩu trên thịtrường
1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA THÀNH CÔNG TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHÈ XUẤT KHẨU VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Qua nghiên cứu các tài liệu gần đây cho thấy, chính phủ các nước có nguồn sảnxuất và xuất khẩu chè lớn trên thế giới đều rất quan tâm đến việc nâng cao lợi thế của sảnphẩm thông qua phát triển các vùng sản xuất tập trung cho xuất khẩu, đầu tư vào côngnghệ chế biến, đầu tư cho khâu xúc tiến xuất khẩu, phát triển thương hiệu sản phẩm, thựchiện các chính sách tài chính, tín dụng phù hợp để hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu Trênthực tế các nước sản xuất chè lớn như Ấn Độ, Srilanca, Kenia đã đạt được những thànhtựu rất đáng kể trong xuất khẩu chè và trở thành những quốc gia chi phối thị trường chèthế giới
1.4.1 Kinh nghiệm của Srilanka
Srilanka là quốc gia sản xuất chè truyền thống với quy mô công nghiệp từ rất sớm(ngay từ năm 1867 chè đã được sản xuất ở quy mô hàng hóa) Đến nay, diện tích trồngchè tại nước này đã đạt trên 212.000 ha, tổng sản lượng đạt trên 310.000 tấn Đây là mặthàng có thế mạnh về xuất khẩu và là một trong những mặt hàng tạo nguồn thu ngoại tệchính của Srilanka (chiếm 16% tổng kim ngạch xuất khẩu với hơn 1,4 tỷ USD) Thànhcông nổi bật trong việc xuất khẩu chè của nước này là trở thành nguồn cung cấp nhiều
Trang 30loại chè (chè đen, chè túi lọc, chè ướp hương, chè gói, chè khử chất caffein) vào nhiều thịtrường tại các khu vực địa lý khác nhau như: Nga, Cộng đồng các Quốc gia độc lập(thuộc Liên Xô cũ), các Tiểu vương quốc Ả Rập, Jordan, Ai Cập Do sự đa dạng mặthàng và đa dạng thị trường nên các doanh nghiệp xuất khẩu của Srilanka ít bị tác độngbất lợi cho sự biến động về nhu cầu của thị trường Các công ty xuất khẩu chè củaSrilanka đã thiết lập được sự liên kết vững chắc với các nhà phân phối, người nhập khẩutại các thị trường tiêu thụ, chính sách chất lượng được coi trọng và tuân thủ triệt để nênchè của Srilanka đã xây dựng được uy tín, thương hiệu cao trên thị trường thế giới Để cóđược kết quả này là do: Thứ nhất, có chính sách phát triển ngành chè hợp lý; Thứ hai,cách tổ chức quản lý ngành chè chặt chẽ, khoa học trong tất cả các công đoạn của chuỗigiá trị như: Trồng và chăm sóc, thu hoạch và chế biến, đóng gói, bảo quản và phân phốitiêu thụ, quảng bá; Thứ ba, đội ngũ thương nhân có trình độ cao, am hiểu thị trường, cónhiều kinh nghiệm trong điều hành kinh doanh
1.4.2 Kinh nghiệm của Kenya
Mặc dù chè mới được trồng ở Kenya từ năm 1903 nhưng lại được biết đến là quốcgia có có năng suất và tốc độ phát triển nhanh hàng đầu về diện tích chè trên thế giới Chècủa Kenya đã nổi tiếng từ lâu về độ trong, có màu đẹp, hương vị đặc trưng và rất được ưachuộng nên đã chiếm lĩnh được các thị trường tiêu thụ quan trọng nhất của thế giới như:Anh, Pakistan, Ai Cập Chè ở Kenya được canh tác chủ yếu ở quy mô trang trại hộ giađình (chiếm khoảng 60%) do Cơ quan phát triển chè Kenya (KTDA) quản lý, còn lạiđược trồng trên quy mô lớn tại các đồn điền do các công ty đa quốc gia quản lý KTDAhoạt động như một công ty môi giới, họ thường ky hợp đồng 3 năm/lần với các nhà máychế biến và được hưởng % trên kg chè bán ra đồng thời cũng quyết định số lượng chè bán
ra qua sàn đấu giá hay bán trực tiếp Về phía quản lý nhà nước, Kenya lập ra Ủy ban chè(KTB) Cơ quan này có nhiệm vụ xây dựng và điều chỉnh quy hoạch trồng, sản xuất vàthương mại chè, đồng thời cũng tiến hành nghiên cứu và quảng bá cho chè KTB được cảnhà nước và người trồng chè trả phí
Trang 31Tuy có nhiều thành công nhưng sự phát triển của ngành chè Kenya cũng có nhữnghạn chế nhất định, đó là: Tại những vườn chè quy mô trang trại hộ gia đình, hệ thốngđường vận chuyển, cơ sở hạ tầng, kho tàng còn hạn chế nên làm chậm trễ trong việc vậnchuyển dẫn đến giảm chất lượng của chè thanh phẩm; Mặc dù Kenya có cơ quan chuyêntrách về nghiên cứu sản phẩm chè (KTB) nhưng chất lượng nghiên cứu về lĩnh vực chếbiến, phương thức gia tăng giá trị cho sản phẩm còn chưa thật sự mạnh; Việc quá phụthuộc vào kênh đấu giá làm cho khả năng phát triển kỹ thuật bán hàng hiện đại như phânkhúc thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm để tạo ra lợi thế cạnh tranh nên sản phẩm chècủa Kenya không có sự đa dạng hóa; Khoảng 60% diện tích chè được trồng bởi các hộnông dân quy mô nhỏ và được quản lý bởi KTDA nên họ không có nhiều động lực trongviệc sản xuất các loại chè khác nhau.
1.4.3 Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ấn Độ bắt đầu sản xuất chè công nghiệp từ thập niên 30 của thế kỷ XIX đến nay
và trở thành nước sản xuất chè lớn nhất thế giới, đứng thứ 4 về xuất khẩu Ấn Độ nổitiếng với các vùng chè chất lượng cao như: Assam, Darjeeling, Cachar, Doars Hiện naydiện tích trồng chè của Ấn Độ lên tới trên 500.000 ha, tạo việc làm cho hơn 1 triệu laođộng, chủ yếu là các vùng nông thôn có thu nhập thấp, đem lại hơn 600 triệu USD mỗinăm từ xuất khẩu Có được kết quả này là do: Thứ nhất, Ấn Độ có chính sách hoàn chỉnhquy định điều tiết ngành công nghiệp chè một cách chặt chẽ và có hệ thống Ngoài ra còn
có các chính sách hỗ trợ đào tạo kỹ thuật trong việc trồng và chế biến chè, hỗ trợ nghiêncứu các giống mới cho năng suất và chất lượng cao, hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệptrong việc đổi mới hệ thống công nghệ chế biến; Thứ hai, đa dạng hóa chủng loại sảnphẩm và phương thức chế biến để tạo ra những loại chè có giá trị gia tăng cao như chè túilọc, chè uống liền, chè ướp hương; Thứ ba, các kênh tiêu thụ sản phẩm hoàn thiện kết nối
cả trong nước và ngoài nước; Thứ tư, hệ thống kiểm soát chất lượng chè hoàn chỉnh từkhâu trồng đến chế biến, đóng gói; Thứ năm, chú trọng nghiên cứu thị trường thế giới vàquảng bá sản phẩm chè để phân khúc thị trường, thiết lập các văn phòng đại diện tại cácthị trường nhập khẩu lớn như: Luân Đôn, Brussels, NewYork, Du Bai, Moscow; Thứ sáu,
Trang 32thành lập nhiều trung tâm, viện nghiên cứu về chè để nghiên cứu các lĩnh vực liên quanđến sản xuất, chế biến chè.
1.4.4 Bài học rút ra cho Việt Nam
Qua nghiên cứu kinh nghiệm về xuất khẩu chè của các quốc gia xuất khẩu lớn trênthế giới, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm để giúp cho ngành chè củaViệt Nam phát triển vững chắc đó là :
Thứ nhất, kinh nghiệm từ Srilanka và Ấn Độ cho thấy cần phải xây dựng hệ thống
luật, chính sách phát triển ngành chè đồng bộ, có cơ sở khoa học Trong đó, cần chú trọngtới việc quy hoạch vùng trồng chè để nâng cao năng suất, chất lượng; Sắp xếp lại, giảm
số lượng nhà máy chế biến, trong đó nhà máy chế biến phải có liên kết với vùng nguyênliệu và nghiêm chỉnh áp dụng tiêu chuẩn thực hành sản xuất nhằm đảm bảo điều kiện vệsinh an toàn cho sản xuất Chính phủ nên sớm có chính sách tạo thuận lợi cho các doanhnghiệp chè và nông dân liên kết, nông dân có thể mua cổ phần trong nhà máy chè, làmchủ sản phẩm chè xuất khẩu Cần xây dựng một hệ thống các biện pháp khuyến khích cácnhà máy đang sẵn áp dụng chứng nhận (không chỉ là VietGAP) Các biện pháp khuyếnkhích có thể gồm hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ nghiên cứu giống chè có năng suất và chất lượngcao, tăng cường tiếp cận với nguồn vốn, đánh thuế thấp hơn, hỗ trợ đào tạo, hoàn thiện cơ
sở hạ tầng…Thông qua các kênh khuyến nông hiện có, Chính phủ cần tuyên truyền phổbiến tới cộng đồng về sản xuất chè bền vững
Thứ hai, cần đa dạng sản phẩm và thị trường nhằm đa dạng khách hàng mục tiêu,
đồng thời giảm thiểu những rủi ro từ việc biến động thị trường Trong đó, tập trung đầu
tư mới và nâng cấp các nhà máy chế biến theo hướng hiện đại, sản xuất các sản phẩm cógiá trị gia tăng cao cũng như tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa ngườitrồng chè với các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh, phát triển ổn định, tăng thu nhập cho người trồng chè Ngành chè cần nâng caochất lượng chè bằng cách kiểm soát tốt hơn chất lượng nguyên liệu chè búp tươi; đồngthời, tăng cường kiểm tra, kiểm soát hệ thống cung cấp thuốc bảo vệ thực vật, chú trọngđầu tư cho tìm hiểu thị trường để đáp ứng đúng nhu cầu về sản phẩm của khách hàng
Trang 33Nhà nước cần quản lý chặt chẽ các cửa hàng kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Cácdoanh nghiệp chế biến cần phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức tập huấn cho ngườitrồng chè về thuốc bảo vệ thực vật và cách dùng Về thị trường xuất khẩu, các doanhnghiệp cần chủ động hơn trong việc khai phá thị trường mới Đối với các doanh nghiệpcùng có chung một thị trường xuất khẩu cần có sự liên kết và hợp tác chặt chẽ, nhất làyếu tố về giá.
Thứ ba, tăng cường quảng bá, xúc tiến thương mại nhằm nâng cao uy tín, thương
hiệu của ngành chè Việt Nam Để thực hiện được điều này bên cạnh việc doanh nghiệpluôn coi trọng khâu nghiên cứu thị trường, giữ đúng cam kết như hợp đồng đã ký kết, cầnphải có sự hỗ trợ của nhà nước thông qua các cơ quan liên quan như Bộ Công Thương,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, đồng thờiphải nâng cao vai trò của Hiệp hội chè Việt Nam
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CHÈ VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGÀNH CHÈ TRONG NỀN KINH TẾ
2.1.1 Chè trong nhu cầu của người tiêu dùng trên thế giới
Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu Theo nhiều tư liệulịch sử, Trung Quốc là nước đầu tiên chế biến chè để uống sau đó nhờ những đặc tính tốtcủa nó, chè dần dần trở thành thức uống phổ biến trên thế giới Ngày nay chè được phổbiến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca-cao Tác dụng chữa bệnh và chất dinhdưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định, như sau:
- Cafein và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khả năngkích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn,tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớtmệt nhọc sau những lúc làm việc căng thẳng
- Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả,
lỵ, thương hàn Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè, đặc biệt là chè xanh để chữa bệnhsỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày Theo xác nhận của M.N Zaprometop thìhiện nay chưa tìm ra được chất nào lại có tác dụng làm vững chắc các mao mạch tốt nhưcatechin của chè Dựa vào số liệu của Viện nghiên cứu y học Leningrat (nay là Xanh Pê-téc-bua), khi điều trị các bệnh cao huyết áp và neprit mạch thì hiệu quả thu được có triểnvọng rất tốt, nếu như người bệnh được dùng catechin chè theo liều lượng 150mg trongmột ngày E.K Mgaloblisvili và các cộng tác viên đã xác định ảnh hưởng tích cực củanước chè xanh tới tình trạng chức năng của hệ thống tim mạch, sự cản các mao mạch,trao đổi muối - nước, tình trạng của chức năng hô hấp ngoại vi, sự trao đổi vitamin C,
Trang 35trạng thái chức năng của hệ thống điều tiết máu.v.v Chè còn chứa nhiều loại vitaminnhư vitamin A, B1, B2, B6, vitamin PP và nhiều nhất là vitamin C.
- Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng chống phóng xạ.Điều này đã được các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việc chứng minh chè có tácdụng chống được chất Stronti (Sr) 90 là một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm Qua việcquan sát thống kê nhận thấy nhân dân ở một vùng ngoại thành Hirôsima có trồng nhiềuchè, thường xuyên uống nước chè, vì vậy rất ít bị nhiễm phóng xạ hơn các vùng chungquanh không có chè Các tiến sĩ Teidzi Ugai và Eisi Gaiasi (Nhật Bản) đã tiến hành cácthí nghiệm trên chuột bạch cho thấy với 2% dung dịch tanin chè cho uống sẽ tách ra được
từ cơ thể 90% chất đồng vị phóng xạ Sr - 90 Trong lịch sử cũng như những thập niên gầnđây, chè và các sản phẩm của chè đã trở thành một mặt hàng ưa chuộng, không thể thiếuđược trong thức uống của mọi người Ngoài ra, chè còn có tác dụng chữa bệnh, bồi bổsức khỏe cho con người
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, từ xa xưa đã biết dùng chè để phahãm làm nước uống hàng ngày, trở thành tập tục và đi vào nghệ thuật ẩm thực dùng tronggiao tiếp, tiệc tùng v.v là nguồn vui trong sinh hoạt đời sống không thể thiếu
Cây chè có tên khoa học Camellia sinensis, họ chè Nước ta có hai loại chè, chèViệt Nam (Camellia vietnamensis) và chè Bắc (Camellia Tonkinensis) Chè được trồng vàmọc tự nhiên tại các vùng đồi núi phía Bắc, nhiều ở Lạng Sơn và Hà Giang
Theo các nhà khoa học, thành phần hóa học của chè chủ yếu là tanin chiếm 20%, cafeine 1-6% Ngoài ra còn chứa theophyline, theobsonine và xanthine Trong tanincủa chè thành phần chủ yếu là gallorfl, epigalocatahol, galloy - L - epiecitecline và L -epicatechol Để tồn tại cafeine đã kết hợp với tanin Hàm lượng cafein cao ở lá chè non.Khi chè lên men thì hàm lượng cafein lại càng tăng cao hơn Hương thơm của chè chính
10-là lượng tinh dầu thơm có ở chè 0,6% Khi sao khô chỉ còn lại 0,006% Tinh dầu thơmcủa chè đó là chất volatile oils Trong chè còn chứa các chất như triterpenoid, saporin,cagenin - ở triterpenoid và saponin có Theasapogenol E và theafolisaponin - hàm lượngvitamin C có khoảng 130-180mg%, một lượng nhỏ caroten, flavolnoid, flavolnoid
Trang 36querutin và kaemplerol Những chất này kết hợp với flavolnoid và acid gallic để tạothành một số este
Theo Đông y chè vị đắng, ngọt, hơi chua, hàn, không độc, tác dụng vào gan, lách,phổi, thận Nhờ các thành phần hóa học có trong chè mà nó đã có nhiều tác dụng phòng
và chữa bệnh Chẳng hạn chất cafeine tác dụng lên hệ thần kinh trung khu gây hưng phấntinh thần, tư duy hoạt bát Có khả năng hồi phục sức khỏe nhanh sau khi lao động mệtmỏi chỉ cần uống một cốc nước chè đường pha thêm chút sữa Cafeine làm tăng cường cobóp cơ vân, làm hạn chế hấp thụ canxi ở ruột, làm ức chế tái hấp thu của ống nhỏ thậngây lợi niệu Làm tăng cường sự phân tiết trong dạ dày vì vậy khi mắc bệnh đường tiêuhóa không nên uống nhiều nước chè
Cafeine cùng với theophyline trực tiếp gây hưng phấn tâm trạng, kích thích maomạch làm hưng phấn trung khu vận động huyết quản Chất theophyline của chè còn làmnhão cơ trơn vì thế dùng để chữa chứng đau gan và hô hấp hổn hển Nhưng khi dùngnhiều chè lại gây mất ngủ, làm tim đập mạnh, đau đầu, ù tai hoa mắt nên không dùngquá nhiều chè trong ngày Nước chè còn tác dụng ức chế kìm hãm sự phát triển của vikhuẩn kháng khuẩn, đặc biệt đối với lị trực trùng nhờ chất tanin có trong nước chè Nướcchè xanh có hiệu nghiệm hơn chè khô
Ngoài ra còn thấy chè có tác dụng làm giảm huyết áp, trị bệnh hoại huyết vàphong thấp nặng Làm mau lành các vết thương, lở loét Nước chè có khả năng phòngchống ung thư nhờ các chất như theophyline, cafeine, Theobronine có trong chè xanh,chè khô nên đã kích thích tế bào cơ thể sinh sản ra Interferon trong máu Chính chất này
đã ức chế sự phát triển và phân chia của các tế bào ung thư Vì vậy hàng ngày uống 10chén nước chè trở lên thì có khả năng phòng chống ung thư Do đó có thể sử dụng nướcchè uống rộng rãi trong các nhà máy xí nghiệp độc hại để dự phòng ung thư và thải độc
Gần đây, Fujiki cùng nhiều nhà khoa học Nhật Bản, các nhà khoa học thuộc Việnhàn lâm Hoàng gia Anh đã công bố nước chè xanh ngăn chặn sự phát triển các loại ungthư gan, ung thư dạ dày vì ở chè có chất gallat epigallocatecline là hợp chất chính chốngung thư Hạt chè cũng chứa saponin, khi thủy phân saponin có chất théasapogenin A, B,
Trang 37C và camellia sapogenol C, A, camelliasapogenol II cùng ít hóa hợp chất flavonol, mầmcủa hạt chè chứa theanin Hạt chè vị đắng, hàn, có ít độc Theo sách "Cây thuốc TrungQuốc" dùng làm thuốc chữa cho người hen suyễn khó thở, chỉ dùng hạt tốt mới thu hoạchtrong năm Dùng hạt chè cùng cây bách hợp 2 thứ bằng nhau, nghiền nhỏ trộn đều làmthành viên hoàn uống với nước sôi để nguội ngày 2 lần mỗi lần chừng 2-3 gam Chữa trị
ho có đờm, thở hổn hển, thở gấp dùng hạt rang lên xay nghiền nhỏ trộn với bột nếp rồiuống với nước chín Rễ chè có stachyos, raffinose, saccharose, glucose, fructose và mộtlượng nhỏ hợp chất phenol, cũng theo sách "Cây thuốc Trung Quốc" dùng để chữa lở loétmiệng, chữa vẩy nến, chữa bệnh đau tim Ngoài ra còn chữa trị nhiều bệnh khác Tómlại, cây chè không những là thức uống thông dụng, mà còn trở thành dược liệu quý giúpcon người chữa được nhiều bệnh
Nhiều nước chè được sử dụng như một thứ đồ uống chính trong các bữa ăn hànhngày, thậm chí còn hình thành chè đạo, văn hóa chè, như ở Liên Bang Nga và các nướcCộng đồng các quốc gia độc lập SNG, Nhật Bản, Các nước Trung Đông, Ấn Độ, TrungQuốc và cả ở Việt Nam
Đối với các nước chè là cây công nghiệp dài ngày, tương đối dễ trồng, cho thuhoạch quanh năm, thời gian đầu tư cơ bản ban đầu không quá dài ngày, sau ba năm là cóthể thu hoạch được Đặc biệt cây chè lại có thể trồng được rất tốt ở những vùng có khíhậu nhiệt đới, như ở châu Á và châu Phi, trong khi đó đời sống càng lên cao nhu cầu cácthức uống càng lớn, trong đó các quốc gia giàu có, công nghiệp phát triển chủ yếu lại tậptrung ở nhiều khu vực mà điều kiện khí hậu, tự nhiên không cho phép trồng chè Nhiềunước đang phát triển nhờ đó đã biến lĩnh vực trồng chè và xuất khẩu chè thành mộtnguồn thu ngoại tệ quan trọng, tiêu biểu nhất là Kenia và Sri-Lanka
Trên thế giới người ta đã chế tạo được trên dưới 3000 loại sản phẩm chè khácnhau, mỗi loại có những đặc tính riêng, tên gọi riêng và đáp ứng những nhu cầu rất đadạng của người tiêu dùng Mặc dầu vậy, vẫn chỉ có ba loại chè cơ bản, là chè đen (chiếmkhoảng 80% sản lượng và 90% khối lượng buôn bán sản phẩm chè trên thế giới), chèxanh, chè ô-long (70% khối lượng chè xanh và chè ô-long được sản xuất và tiêu thụ ngay
Trang 38trên thị trường Trung Quốc) Các sản phẩm chè khác nhau được phân biệt bởi trạng tháilên men trong quá trình chế biến Chè đen được ô-xi hóa và lên men hoàn toàn Nước chèmàu hổ phách và có hương vị đậm Trong đó, cũng phân biệt hai loại chè đen khác nhau
là CTC và Orthordox tùy theo công nghệ chế biến Chè xanh không thực hiện quá trìnhlên men, có hương vị nhẹ với màu xanh, vàng nhạt Chè xanh chủ yếu được ưa chuộng tạicác nước phương Đông Nhưng do tình năng khử độc, giảm chất phóng xạ và hạn chếung thư của chủng loại chè xanh nên nó đang được sử dụng rộng rãi dần trên toàn thếgiới Chè ô-long là loại chè bán lên men, là sự pha trộn giữa chè xanh và chè đen về mầusắc và mùi vị Loại chè ô-long rất được ưa chuộng tại Trung Quốc Ngoài ra, người ta cònpha trộn chè với các loại dược thảo khác nhau để có những sản phẩm có tính năng tácdụng đa dạng đối với sức khỏe con người
Theo thống kê của Tổ chức nông lương thế giới (FAO), trong thập niên cuối củathế kỷ XX sản lượng chè thế giới đang có tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm là1,81% (cho đến 1999), trong khi đó sức tiêu dùng lại có tốc độ tăng trưởng cao hơn,khoảng 2,05%/năm trong khoảng thời gian từ nay tới năm 2020
Như vậy, tuy trước mắt cung vẫn lớn hơn cầu rất đáng kể, các nhà sản xuất vàcung ứng đang cạnh tranh nhau mãnh liệt trên thị trường chè, nhưng xét về lâu dài nănglực sản xuất chè thế giới sẽ không đủ đáp ứng cầu về chè nếu tính cả các yếu tố về tăngdân số, về ý thức tiêu dùng, và diện tích trong chè cũng sẽ bị thu hẹp dần
Năng lực sản xuất chè phân bố không đều ở các quốc gia và châu lục, chất lượngcũng như năng suất cũng vậy Cho đến thời điểm hiện nay, nước sản xuất nhiều chè nhất
là Ấn Độ, sản lượng chè của nước này vào năm 2008 đã đạt 870 ngàn tấn Nước sản xuấtlớn thứ hai là Trung Quốc, sản lượng đã đạt đến 665 ngàn tấn Nước đứng hàng thứ ba vàsản xuất chè nằm cách rất xa nước thứ hai đó là Kenya, sản lượng mỗi năm đạt khoảng294,2 ngàn tấn Tiếp đến là Sli-Lanka: 280 ngàn tấn Các nước có sản lượng đứng thứnăm, sáu, bảy, tám lần lượt là Việt Nam, Indonesia, Argentina, Bangladesh
Trang 39Thị trường tiêu dùng sản phẩm chè cũng được phân bố không đều ở các quốc gia
và châu lục Nếu lấy toàn bộ lượng tiêu dùng chè thế giới là 100% thì thị trường tiêudùng chè được phân bố như sau (xem Bảng 2.1):
Bảng 2.1: Thị trường tiêu dùng chè của thế giới, xếp theo thứ tự tăng dần
Tên nước Phần trăm tỷ lệ so với toàn bộ thế giới
Nguồn: FAO (2013), Global commodity market
Nếu tính theo mức độ sử dụng chè trên đầu người, thì nước có tỷ lệ cao nhất làIreland, mức tiêu dùng bình quân đầu người đạt khoảng 3 Kg/năm, Vương quốc Anh: 2,5
Kg, Thổ Nhĩ Kỳ: 2,1 Kg Mặc dầu Ấn Độ là nước tiêu thụ chè lớn nhất, nhưng nếu tínhbình quân đầu người nước này cũng chỉ đạt chưa đầy 0,7 Kg mỗi năm Hoa kỹ cũng vậy,thói quen uống chè của người Mỹ cũng thuộc vào loại trung bình, đạt khoảng 0,3Kg/người/năm, thấp hơn rất nhiều so với Australia và New Zealand (1,1 Kg/người/năm)
Nước nhập khẩu nhiều chè nhất hiện nay là Nga và các nước thuộc Cộng đồng cácquốc gia độc lập SNG, mỗi năm nhập khẩu khoảng 180 ngàn tấn Tiếp đến là Vương
Trang 40quốc Anh khoảng gần 150 ngàn tấn và theo thứ tự giảm dần là Pakistan, Hoa Kỳ (100ngàn tấn), Hy Lạp (70 ngàn tấn), Nhật Bản (49 ngàn tấn), Iraq (45 ngàn tấn), Ma-rốc (42ngàn tấn), Australia (gần 20 ngàn tấn)
Những phân tích trên đây chứng tỏ ngành sản xuất chè đang có nhiều tiềm nănglớn trong tương lai Trước mắt, các nhà sản xuất và xuất khẩu chè phải tăng cường hơnnữa các khâu chọn giống, cải tạo đất, cải tiến công nghệ cả trong trồng trọt lẫn chế biến,nhất là các công nghệ sinh học tiên tiến nhằm đa dạng hóa sản phẩm theo hướng xuấtkhẩu chè sạch, chè có hương hoa quả, chè giàu vi ta min, chè chuyên dụng trong chữabệnh để không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh mở rộng thị trường
2.1.2 Chè trong nhu cầu của người tiêu dùng tại Việt Nam
Cây chè đã có lịch sử lâu đời ở Việt Nam Phần đông dân số ở các vùng nông thôn
sử dụng chè tươi (chỉ phần lá già ở các địa phương phía Bắc, sử dụng cả cành, hoa và quả
ở các địa phương miền Trung) để làm đồ uống, giải khát hằng ngày Chè chế biến tiêudùng trong nước trước đây chủ yếu là chè búp, chè móc câu có công nghệ sao thủ công làchính, nhưng cũng gần giống như công nghệ chế biến chè xanh Chè được trồng tập trungchủ yếu ở vùng trung du, miền núi Bắc Bộ (khoảng 66% diện tích chè cả nước) và vùngTây Nguyên (18,5% diện tích chè cả nước)
Việt Nam có những vùng tiểu khí hậu cho phép sản xuất được những loại chè cóhương vị đặc biệt, nhiều người ưa chuộng và có tác dụng tốt cho sức khỏe, như vùng TânCương tỉnh Thái Nguyên Việt Nam cũng có những giống chè có giá trị cao như chè santuyết Trong đồ uống bằng chè, hiện nay ở thị trường Việt Nam xuất hiện rất đa dạng cả
về chủng loại, chất lượng cũng như nguồn gốc sản xuất, như chè Lipton, chè Dilhma, chèôlong Bản thân chè nhúng cũng có rất nhiều loại của chính Việt Nam sản xuất, kể cảchè có sự pha trộn với một số thảo mộc có lợi cho sức khỏe, như cỏ ngọt Nhiều vùng đã
du nhập cả giống chè ôlong để trồng và phục vụ xuất khẩu
Trong bản đồ sản xuất chè của thế giới, Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1,4% sảnlượng chè thế giới, với diện tích trồng chè cả nước khoảng trên 135 ngàn héc-ta, hàngnăm xuất khẩu khoảng 140.000 tấn chè (số liệu năm 2013) Trong cơ cấu về loại đất,