CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 1.1. Khái niệm cơ bản 1.1.1.Đa dạng sinh học Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm Đa dạng sinh học (biodiversity, biological diversity) có nghĩa là: sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần, thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái . Khoản 16 – điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ: • Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm. • Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. • Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau. 1.1.2. Bảo tồn đa dạng sinh học Khoản 1 điều 3 Luật đa dạng sinh học năm 2008: “Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền”. 1.1.3.Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền. 1.2.Nội dung vấn đề Vấn đề được đề cập chủ yếu thông qua Luật đa dạng sinh học Việt Nam với các quy định cụ thể trong từng lĩnh vực như: Đối với việc quy hoạch bảo tồn thiên nhiên: “Quy định việc xây dựng và nội dung quy hoạch tổng thể bảo tồn thiên nhiên hoặc quy hoạch đa dạng sinh học quốc gia; Trách nhiệm lập và phê duyệt quy hoạch bảo tồn thiên nhiên hoặc đa dạng sinh học của các ngành liên quan; Các định hướng trung hạn và dài hạn cho việc thành lập các khu bảo tồn, các hành lang sinh thái và các hệ thống, các khu nhạy cảm môi trường; Các nguyên tắc thành lập và hoạt động của các hệ thống quan trắc, thu thập dữ liệu, đăng ký và đánh giá các giá trị thiên nhiên; Xây dựng các kế hoạch vùng và kế hoạch quản lý đa dạng sinh học; Xác định các lĩnh vực và đối tượng ưu tiên cho bảo tồn; Quy định cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện các kế hoạch trên; Xây dựng cơ chế đánh giá kinh tế đa dạng sinh học và lồng ghép nó vào lợi ích quốc gia; Khuyến khích sự tham gia của các cơ quan trung ương và địa phương vào các chương trình, kế hoạch quản lý bảo tồn đa dạng sinh học; Tổ chức thực hiện các kế hoạch, quy hoạch bảo tồn thiên nhiên hoặc đa dạng sinh học”. 1 Đối với việc thành lập và quản lý các khu bảo tồn: Khu bảo tồn bao gồm: khu dữ trữ sinh quyển, khu bảo vệ thiên nhiên, khu di sản thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan và vườn quốc gia. Luật Đa dạng sinh học của Việt Nam quy định về việc phân loại, tiêu chí và thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên; xác định ranh giới và phân khu chức năng trong khu bảo tồn; ban quản lý khu bảo tồn và quy chế quản lý khu bảo tồn; quy trình, thủ tục thành lập khu bảo tồn; cơ chế hỗ trợ cộng đồng xung quanh và vùng lân cận khu bảo tồn; Quy định cấp phép cho các hoạt động trong khu bảo tồn; mối quan hệ giữa các khu bảo tồn (quốc gia và địa phương) để tránh sự mâu thuẫn và trùng lặp về các biện pháp bảo vệ và quản lý; xây dựng kế hoạch quản lý, cơ chế quản lý và bảo vệ chung. Đối với việc quản lý hệ sinh thái và vùng sinh thái: Để quản lý và bảo tồn các hệ sinh thái, cần quy định việc kết hợp cảnh quan vào các công trình mới đối với các khu định cư bên ngoài các khu bảo tồn thiên nhiên, nhằm hài hoà chức năng và thẩm mỹ với các giá trị thiên nhiên và môi trường nhân tạo; Quy định việc xây dựng quy hoạch cảnh quan đối với các khu vực cần bảo vệ và đánh giá tác động môi trường; Lập danh mục các hệ sinh thái bị đe dọa và các hệ sinh thái cần được bảo vệ; Trong xây dựng và quản lý, áp dụng các kỹ thuật thân thiện với môi trường và đa dạng sinh học. Đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật: Các đối tượng cần quản lý và bảo vệ là các loài động vật, thực vật hoang dã quý hiếm, bị đe doạ hoặc các loài thuộc danh mục Sách Đỏ và nguồn gen của chúng; các loài cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế, các loài bản địa và nguồn gen của chúng. Phân loại các loài sinh vật theo mức độ bị đe doạ (theo Sách Đỏ); Xây dựng danh mục các loài quý hiếm, các loài bị đe doạ (nguy cấp) và các loài cần được bảo vệ; Xây dựng và thực hiện các chương trình bảo vệ và phát triển các loài thuộc danh mục cần bảo vệ; Quy định về tiêu chuẩn bảo vệ các loài; Kiểm soát việc sử dụng, khai thác, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, buôn bán và trao đổi các loài động vật, thực vật và các bộ phận của các loài hoang dã quý hiếm, bị đe dọa hoặc thuộc danh mục cần bảo vệ; Quản lý các công cụ và biện pháp săn bắn và đánh bắt các loài hoang dã; Nhân giống và nuôi nhốt các loài động vật hoang dã quý hiếm; Quản lý việc sử dụng các loài sinh vật cho mục đích nghiên cứu khoa học, văn hoá, giáo dục và mỹ học; Bảo vệ và phát triển các giống cây trồng, vật nuôi bản địa và tạo các nguồn gen mới; Kiểm soát việc nhập nội các nguồn gen không phải là bản địa; Thành lập và quản lý các ngân hàng gen của các loài động vật, thực vật hoang dã quý hiếm và các loài cần bảo vệ, các loài cây trồng, vật nuôi bản địa, các loài có giá trị kinh tế; Quản lý việc cấp phép và sử dụng giấy phép săn bắn, đánh bắt, thuần dưỡng, gây giống, xuất khẩu, nhập khẩu, du nhập hoặc tái du nhập và sử dụng các loài hoang dã; Quy định trả phí sử dụng tài nguyên hoang dã để bảo vệ và quản lý chúng; Bảo tồn nội vi, bảo tồn ngoại vi.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 2
1.1.Khái niệm cơ bản 2
1.1.1.Đa dạng sinh học 2
1.1.2.Bảo tồn đa dạng sinh học 2
1.1.3.Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học 3
1.2.Nội dung vấn đề 3
1.3.Vai trò của pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học 5
CHƯƠNG II 7
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7
2.1 Khái quát về đặc điểm tình hình 7
2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên 7
2.1.2 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội 8
2.2 Thực trạng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay 9
2.2.1 Thực trạng đa dạng sinh học ở Việt Nam 9
2.2.2 Thực trạng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam 14
2.3 Nguyên nhân 22
CHƯƠNG III 23
QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 23
3.1.Quan điểm của Đảng về xây dựng pháp luật bảo tồn đa dạng sinh học 23
3.2 Định hướng đến năm 2020 24
3.3 Giải pháp 26
KẾT LUẬN 29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ LỤC 31
Trang 2CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG
SINH HỌC Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm cơ bản
1.1.1.Đa dạng sinh học
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm "Đa dạng sinh học"
(biodiversity, biological diversity) có nghĩa là: sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật
là một thành phần, thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái
Khoản 16 – điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005: “Đa dạng sinh học
là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên"
Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:
Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên tráiđất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm
Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa cácloài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng nhưkhác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể
Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã màtrong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như cácquần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng vớinhau
1.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học
Khoản 1- điều 3 Luật đa dạng sinh học năm 2008: “Bảo tồn đa dạng sinh
học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc
thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền”.
Trang 31.1.3.Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học
Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học là hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật quy định về việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiênquan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thườngxuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáocủa tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý,hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền
1.2.Nội dung vấn đề
Vấn đề được đề cập chủ yếu thông qua Luật đa dạng sinh học Việt Namvới các quy định cụ thể trong từng lĩnh vực như:
Đối với việc quy hoạch bảo tồn thiên nhiên: “Quy định việc xây dựng và
nội dung quy hoạch tổng thể bảo tồn thiên nhiên hoặc quy hoạch đa dạng sinhhọc quốc gia; Trách nhiệm lập và phê duyệt quy hoạch bảo tồn thiên nhiên hoặc
đa dạng sinh học của các ngành liên quan; Các định hướng trung hạn và dài hạncho việc thành lập các khu bảo tồn, các hành lang sinh thái và các hệ thống, cáckhu nhạy cảm môi trường; Các nguyên tắc thành lập và hoạt động của các hệthống quan trắc, thu thập dữ liệu, đăng ký và đánh giá các giá trị thiên nhiên;Xây dựng các kế hoạch vùng và kế hoạch quản lý đa dạng sinh học; Xác địnhcác lĩnh vực và đối tượng ưu tiên cho bảo tồn; Quy định cơ chế phối hợp liênngành để thực hiện các kế hoạch trên; Xây dựng cơ chế đánh giá kinh tế đadạng sinh học và lồng ghép nó vào lợi ích quốc gia; Khuyến khích sự tham giacủa các cơ quan trung ương và địa phương vào các chương trình, kế hoạch quản
lý bảo tồn đa dạng sinh học; Tổ chức thực hiện các kế hoạch, quy hoạch bảo tồnthiên nhiên hoặc đa dạng sinh học” [1]
Đối với việc thành lập và quản lý các khu bảo tồn: Khu bảo tồn bao
gồm: khu dữ trữ sinh quyển, khu bảo vệ thiên nhiên, khu di sản thiên nhiên, khubảo vệ cảnh quan và vườn quốc gia
Luật Đa dạng sinh học của Việt Nam quy định về việc phân loại, tiêu chí
và thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên; xác định ranh giới và phân khu chứcnăng trong khu bảo tồn; ban quản lý khu bảo tồn và quy chế quản lý khu bảotồn; quy trình, thủ tục thành lập khu bảo tồn; cơ chế hỗ trợ cộng đồng xungquanh và vùng lân cận khu bảo tồn; Quy định cấp phép cho các hoạt động trongkhu bảo tồn; mối quan hệ giữa các khu bảo tồn (quốc gia và địa phương) để
Trang 4tránh sự mâu thuẫn và trùng lặp về các biện pháp bảo vệ và quản lý; xây dựng
kế hoạch quản lý, cơ chế quản lý và bảo vệ chung
Đối với việc quản lý hệ sinh thái và vùng sinh thái: Để quản lý và bảo tồn
các hệ sinh thái, cần quy định việc kết hợp cảnh quan vào các công trình mớiđối với các khu định cư bên ngoài các khu bảo tồn thiên nhiên, nhằm hài hoàchức năng và thẩm mỹ với các giá trị thiên nhiên và môi trường nhân tạo; Quyđịnh việc xây dựng quy hoạch cảnh quan đối với các khu vực cần bảo vệ vàđánh giá tác động môi trường; Lập danh mục các hệ sinh thái bị đe dọa và các
hệ sinh thái cần được bảo vệ; Trong xây dựng và quản lý, áp dụng các kỹ thuậtthân thiện với môi trường và đa dạng sinh học
Đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật: Các đối
tượng cần quản lý và bảo vệ là các loài động vật, thực vật hoang dã quý hiếm, bị
đe doạ hoặc các loài thuộc danh mục Sách Đỏ và nguồn gen của chúng; các loàicây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế, các loài bản địa và nguồn gen của chúng.Phân loại các loài sinh vật theo mức độ bị đe doạ (theo Sách Đỏ); Xây dựngdanh mục các loài quý hiếm, các loài bị đe doạ (nguy cấp) và các loài cần đượcbảo vệ; Xây dựng và thực hiện các chương trình bảo vệ và phát triển các loàithuộc danh mục cần bảo vệ; Quy định về tiêu chuẩn bảo vệ các loài; Kiểm soátviệc sử dụng, khai thác, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, buôn bán và trao đổicác loài động vật, thực vật và các bộ phận của các loài hoang dã quý hiếm, bị đedọa hoặc thuộc danh mục cần bảo vệ; Quản lý các công cụ và biện pháp săn bắn
và đánh bắt các loài hoang dã; Nhân giống và nuôi nhốt các loài động vật hoang
dã quý hiếm; Quản lý việc sử dụng các loài sinh vật cho mục đích nghiên cứukhoa học, văn hoá, giáo dục và mỹ học; Bảo vệ và phát triển các giống câytrồng, vật nuôi bản địa và tạo các nguồn gen mới; Kiểm soát việc nhập nội cácnguồn gen không phải là bản địa; Thành lập và quản lý các ngân hàng gen củacác loài động vật, thực vật hoang dã quý hiếm và các loài cần bảo vệ, các loàicây trồng, vật nuôi bản địa, các loài có giá trị kinh tế; Quản lý việc cấp phép và
sử dụng giấy phép săn bắn, đánh bắt, thuần dưỡng, gây giống, xuất khẩu, nhậpkhẩu, du nhập hoặc tái du nhập và sử dụng các loài hoang dã; Quy định trả phí
sử dụng tài nguyên hoang dã để bảo vệ và quản lý chúng; Bảo tồn nội vi, bảotồn ngoại vi
Trang 5Đối với việc tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích: Công nhận các quyền
sở hữu và các trách nhiệm đối với các nguồn gen; xây dựng cơ chế khuyếnkhích việc sử dụng tri thức và công nghệ truyền thống, bảo đảm cộng đồng cóquyền tiếp cận và sử dụng hợp lý các nguồn gen, bảo vệ tri thức truyền thống vàcông nghệ do họ quản lý; quy định những người tiếp cận và thu thập hoặc thăm
dò sinh học với mục đích thương mại phải trả phí và chia sẻ công bằng và hợp
lý các lợi ích về việc chuyển giao công nghệ và chia sẻ kiến thức và khoa học;quy định quyền trao đổi các nguồn gen và vật liệu di truyền; cấp phép đối vớiviệc tiếp cận các nguồn gen
Đối với việc điều tra, nghiên cứu, quan trắc và quản lý thông tin về đa dạng sinh học:
Hỗ trợ và khuyến khích điều tra, nghiên cứu, thăm dò, tiếp cận, tạo vàchuyển giao công nghệ thích hợp đối với đa dạng sinh học; đăng ký và lưu trữcác kết quả nghiên cứu; cấp phép nghiên cứu và thăm dò sinh học;
Xây dựng cơ chế phối hợp hài hoà giữa các cấp để hỗ trợ thực hiện côngtác giám sát, quan trắc; kiểm kê các nguồn đa dạng sinh học; quan trắc hiệntrạng và diễn biến các hệ sinh thái cũng như số lượng, mức độ bị đe dọa của cácloài sinh vật; xây dựng cơ chế quan trắc và các bộ chỉ thị để xác định hiện trạngbảo tồn các thành phần đa dạng sinh học; báo cáo tình trạng bảo tồn thiên nhiên
và đánh giá tác động môi trường; tăng cường và cơ chế hoạt động của các trạmquan trắc về đa dạng sinh học; quy định về giám sát, quan trắc đa dạng sinh học;
Quy định về việc xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạngsinh học; Cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin giữa các Bộ, ngành: Quy định
về thu thập, đăng ký và phân tích thông tin, dữ liệu; Hợp tác trong lĩnh vựckiểm kê đa dạng sinh học
Đối với các nguồn lực cho đa dạng sinh học: Thành lập Quỹ bảo tồn đa
dạng sinh học quốc gia để sử dụng vào việc quản lý và bảo tồn đa dạng sinhhọc; Xây dựng cơ chế thu và sử dụng Quỹ; Tăng cường phát huy tác dụng củaQuỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam; Xây dựng đề án 1% ngân sách cho công tácbảo vệ môi trường và các nguồn thu từ các dịch vụ đa dạng sinh học; Quy định
cơ chế thu và chi Quỹ cho công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học
Đối với việc quản lý thực hiện: Quy định thẩm quyền và trách nhiệm cho
các cơ quan đồng thực hiện; Bộ chủ quản có trách nhiệm thống nhất quản lý các
Trang 6hoạt động và kiểm soát các hoạt động liên quan; Chỉ đạo giáo dục và tuyêntruyền bảo tồn đa dạng sinh học.
1.3.Vai trò của pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học
Pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, thểhiện rõ nét trên ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, pháp luật góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhànước, quản lý xã hội về đa dạng sinh học Hệ thống pháp luật là “con đường”, làcái “khung pháp lý” do Nhà nước vạch ra để mọi tổ chức, mọi công dân dựa vào
đó mà tổ chức, hoạt động và phát triển Thông qua công cụ pháp luật mà nhànước có thể quản lý và ngăn chặn các hành vi phá hủy đa dạng sinh học; đồngthời có những biện pháp xử phạt nghiêm khắc với những đối tượng có hành vi
vi phạm
Thứ hai,pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật, văn hoá pháp lýcủa mọi thành viên trong xã hội về bảo vệ sự đa dạng sinh học Trong lĩnh vựcbảo tồn đa dạng sinh học, pháp luật chính là cơ sở, là căn cứ để thực hiện côngtác bảo tồn đa dạng sinh học
Thứ ba, pháp luật đa dạng sinh học chính là một công cụ tuyên truyền,giáo dục pháp luật hiệu quả đến mọi người dân thông qua nhiều hình thức, biệnpháp khác nhau để mọi người có những hiểu biết cơ bản về đa dạng sinh học, từ
đó có ý thức bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ sự đa dạng sinh học nóiriêng
Trang 7
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH
HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Khái quát về đặc điểm tình hình
2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên
Nước Việt Nam nằm ở đông nam lục địa châu Á, bắc giáp nước Cộnghòa nhân dân Trung Hoa, tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào vàvương quốc Campuchia, đông và nam giáp Biển Đông (Thái Bình Dương), códiện tích 329.600 km2 đất liền, gần 700.000 km2 thềm lục địa với nhiều đảo,quần đảo
Địa hình vùng đất liền của Việt Nam khá đặc biệt với hai đầu phình ra(Bắc bộ và Nam bộ), ở giữa thu hẹp và kéo dài (Trung bộ) Địa hình miền Bắctương đối phức tạp Rừng núi trải dài từ biên giới Việt Trung cho đến tây ThanhHóa với nhiều núi cao như Phanxipăng (3.142m), nhiều khu rừng nhiệt đới, vànhiều dãy núi đá vôi như Cao Bằng, Bắc Sơn, Hòa Bình, Ninh Bình, Phong Nha
- Kẻ Bàng với hàng loạt hang động, mái đá Cùng với nhiều loại thực vậtkhác nhau, rừng Việt Nam còn có hàng trăm giống động thực vật quý hiếm;nhiều loại đá, quặng, tạo điều kiện đặc biệt thuận lợi cho sự sinh sống và pháttriển con người
Biển Việt Nam bao bọc phía đông và nam đất liền nên từ lâu đời đượcngười Việt Nam gọi là biển Đông Việt Nam có khoảng 3.200 km bờ biển,700.000 km2 thềm lục địa với nhiều đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa,Phú Quốc, Côn Sơn Biển đông là một phần của Thái Bình Dương với diện tích3.447.000 km2 , là biển lớn hàng thứ ba trong số các biển có trên bề mặt TráiĐất, kéo dài khoảng từ vĩ độ 30o Bắc (eo Gaspo) tới vĩ độ 26o Bắc (eo Đài Loan)
và từ kinh độ 100o Đông (cửa sông Mê nam, vịnh Thái Lan) tới kinh độ 12oĐông (eo Minđôrô) Bờ phía bắc và phía tây của Biển Đông bao gồm : mộtphần lãnh thổ phía nam Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan,Malaixia, Inđônêxia Bờ phía đông là vòng cung đảo kéo đài từ Đài Loan quaquần đảo Philippin đến Calimantan, khiến cho Biển Đông gần như khép kín
Phần biển Đông của Việt Nam là ngư trường phong phú và là con đườnggiao lưu hàng hải quốc tế rất thuận lợi nối liền Ấn Độ Dương và Thái BìnhDương Bờ biển Việt Nam là những điểm du lịch hấp dẫn có di sản thiên nhiên
Trang 8thế giới là Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh Trong nước biển và thềm lụcđịa của Việt Nam có nhiều tài nguyên quý Là một nước ven biển, Việt Nam cóđiều kiện thuận lợi phát triển du lịch, an dưỡng, nghỉ mát; địa hình ven biển đadạng với các hệ sinh thái ven biển phát triển cùng với nguồn tài nguyên khoángsản, thủy hải sản phong phú.
Nằm trong khoảng 8"30' - 23"22' độ vĩ bắc với một chiều dài khoảng
1650 km, Việt Nam thuộc khu vực nhiệt đới gần xích đạo Nhờ gió mùa hàngnăm, khí hậu điều hòa, ẩm, thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật Miền Bắc,khí hậu ẩm, độ chênh lớn: ở Hà Nội, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 12,
5o; nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 29,3o Miền Trung(Huế), nhiệt độchênh lệch dao động trong khoảng 20- 30o C Ở thành phố Hồ Chí Minh, nhiệt
độ chênh lệch giảm dần dao động giữa 26-29,8o C Những tháng 6,7,8 ở Bắc
và Trung bộ là tháng nóng nhất, trong lúc ở Nam bộ,nhiệt độ điều hòa hơn Mùaxuân, mùa hạ, mưa nhiều, lượng nước mưa trong năm có khi lên rất cao: Hà Nội
là 2,741 mm, Huế lượng mưa trung bình là 2.900 mm, thành phố Hồ Chí Minhtrung bình là 2.000 mm mỗi năm Điều kiện khí hậu thuận lợi tạo điều kiện cho
hệ động thực vật phát triển với thảm thực vật rừng nhiệt đới và á xích đạothường xanh
2.1.2 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội
Nước ta là một nước đông dân, với dân số hiện nay là gần 89 triệu người,đứng thứ ba khu vực Đông Nam Á và thứ 13 thế giới
Có nhiều thành phần dân tộc, với 54 dân tộc sống khắp vùng lãnh thổ củađất nước trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với 87% và các dân tộc khác chiếm13% Thành phần dân tộc đa dạng sẽ góp phần làm đa dạng bản sắc văn hóa dântộc cùng những kinh nghiệm trong sản xuất
Dân số tăng nhanh, mỗi năm dân số nước ta tăng thêm trung bình hơn 1triệu người
Cơ cấu dân số nước ta thuộc loại trẻ, nhóm tuổi từ 0 đến 14 tuổi chiếm27%, nhóm tuổi từ 15 đến 59 tuổi chiếm 64% do đó nước ta có nguồn lao độngdồi dào với nguồn nhân lực trẻ
Cơ sở hạ tầng khá thuận lợi với hệ thống đường giao thông được nângcấp nhiều, ở những vùng đệm tại các vườn quốc gia có cơ sở hạ tầng khá thuận
Trang 9lợi, các xã đều có đường liên xã đã được trải nhựa, xe ô tô về đến trung tâm xã,đường từ trung tâm xã đến các thôn còn là đường cấp phối và đường đất.
2.2 Thực trạng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Thực trạng đa dạng sinh học ở Việt Nam
Đa dạng các hệ sinh thái của Việt Nam
Hệ sinh thái trên cạn
Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phầnloài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vậthoang dã và vi sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học Các kiểu hệ sinh thái tựnhiên khác có thành phần loài nghèo hơn Kiểu hệ sinh thái nông nghiệp và khu
đô thị là những kiểu hệ sinh thái nhân tạo, thành phần loài sinh vật nghèo nàn
Xét theo tính chất cơ bản là thảm thực vật bao phủ đặc trưng cho rừngmưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng kín vùngthấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao Trong
đó, các kiểu và kiểu phụ thảm thực vật sau đây có tính đa dạng sinh học cao hơn
và đáng chú ý hơn cả: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừngthưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm á nhiệt đới núithấp; kiểu phụ rừng trên núi đá vôi
Hệ sinh thái đất ngập nước
Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy,than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạmthời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cảnhững vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp"
Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái,thuộc hai nhóm ĐNN: ĐNN nội địa và ĐNN ven biển, trong đó có một số kiểu
có tính đa dạng sinh học cao:
Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn có các chức năng và giá trịnhư cung cấp các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ,bãi ăn và ương các loài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác;xâm chiếm và cố định các bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lạitác động của sóng biển và bão tố ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài độngvật hoang dã bản địa và di cư (chim, thú, lưỡng cư, bò sát)
Trang 10Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á.
U Minh Thượng và U Minh Hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùngđầm lầy than bùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long của ViệtNam
Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam Do đặc tínhpha trộn giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rấtphong phú bao gồm các loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn Cấu trúc quần xãsinh vật đầm phá thay đổi theo mùa rõ rệt
Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biểnven bờ, đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới Quần xã rạn san
hô rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn.Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và đặc biệt loài thúbiển Dugon
Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống cácđảo rất phong phú Vùng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá cómức độ đa dạng sinh học rất cao với các hệ sinh thái đặc thù như rạn san hô, cỏbiển Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng bằngsông Hồng và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long:
ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha.Đây là nơi tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vậtvùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim nước
ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha.Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồnsông Mê Công Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng lànhững vùng có tiềm năng sản xuất cao Có ba hệ sinh thái tự nhiên chính ở đồngbằng sông Cửu Long, đó là hệ sinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái rừngtràm ở vùng ngập nước nội địa và hệ sinh thái cửa sông
Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của mình.Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vàotừng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên
Hệ sinh thái biển
Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộngtrên 1 triệu km2 với nguồn tài nguyên sinh vật biển khá phong phú Trong vùng
Trang 11biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc sáu vùng đa dạng sinh học biển khác nhau.
Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ đadạng sinh học cao trên thế giới với dự tính có thể có tới 20.000 - 30.000 loàithực vật Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ đa dạng sinh học (chiếm 6,5%
số loài có trên thế giới)
Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn
Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đã ghinhận có 15.986 loài thực vật ở Việt Nam Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậcthấp và 11.458 loài thực vật bậc cao Trong số đó có 10 % số loài thực vật làđặc hữu
Khu hệ động vật: cho đến nay đã thống kê được 307 loài giun tròn, 161loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọnhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310loài và phân loài thú
Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương - Mã Lai của IUCN,Việt Nam được xem là nơi giàu về thành phần loài và có mức độ đặc hữu cao sovới các nước trong vùng phụ Đông Dương Động vật giới Việt Nam có nhiềudạng đặc hữu: hơn 100 loài và phân loài chim, 78 loài và phân loài thú đặc hữu.Riêng trong số 25 loài thú linh trưởng đã được ghi nhận thì ở Việt Nam có tới
16 loài, trong đó có 4 loài và phân loài đặc hữu của Việt Nam, 3 phân loài chỉphân bố ở Việt Nam và Lào, 2 phân loài chỉ có ở vùng rừng hai nước Việt Nam
- Campuchia
Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa
Trang 12Các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũngnhư hệ động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loài cây cỏ ngập nước vàbán ngập nước, động vật không xương sống và cá.
Vi tảo: đã xác định được có 1.438 loài tảo thuộc 259 chi và 9 ngành;Cho đến nay đã thống kê và xác định được 794 loài động vật khôngxương sống Trong đó, đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác nhỏ, có 54loài và 8 giống lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam Riêng hai nhóm tôm, cua(giáp xác lớn) có 59 loài thì có tới 7 giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lầnđầu tiên được mô tả Trong tổng số 147 loài trai ốc, có 43 loài (29,2% tổng sốloài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều là những loài đặc hữu của ViệtNam hay vùng Đông Dương Điều đó cho thấy sự đa dạng về mức độ đặc hữucủa khu hệ tôm, cua, trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam là rất lớn
Theo các dẫn liệu thống kê, thành phần loài cá các thủy vực nước ngọtnội địa Việt Nam bao gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và
18 bộ Riêng họ cá chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam Phần lớn các loài đặc hữu đều có phân
bố ở các thủy vực sông, suối, vùng núi
Đa dạng loài trong các hệ sinh thái biển và ven bờ
Đặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt Nam thể hiện rõ ở đặc tính nhiệtđới, đặc tính hỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu và đặc tính khác biệt bắc - nam Trongvùng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn
20 kiểu hệ sinh thái điển hình và thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau,trong đó có hai vùng biển: Móng Cái - Đồ Sơn, Hải Vân - Vũng Tàu có mức độ
đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại Đặc biệt, tại vùng thềm lục địa có 9vùng nước trồi có năng suất sinh học rất cao, kèm theo là các bãi cá lớn Tổng
số loài sinh vật biển đã biết ở Việt Nam có khoảng 11.000 loài, trong đó cá(khoảng 130 loài kinh tế) có 2.458 loài; rong biển có 653 loài; động vật phù du
có 657 loài; thực vật phù du có 537 loài; thực vật ngập mặn có 94 loài; tôm biển
có 225 loài
Các nghiên cứu về biến động nguồn lợi đã cho thấy danh sách khu hệ cábiển của Việt Nam đến tháng 1/2005 là 2.458 loài, tăng 420 loài so với danhsách được lập năm 1985 (có 2.038 loài) và đã phát hiện thêm 7 loài thú biểnmới
Trang 13Một số loài sinh vật mới được phát hiện trong thời gian gần đây ở ViệtNam Trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ các kết quả điều tra cơ bản các vùnglãnh thổ khác nhau ở Việt Nam, một số loài mới được phát hiện và mô tả, trong
đó có nhiều chi mới, loài mới cho khoa học Một số các nhóm sinh vật trướcđây chưa được nghiên cứu, nay đã có những dẫn liệu bước đầu như nhóm giápxác bơi nghiêng ở biển, dơi, kiến, ốc ở cạn
Một số kết quả điều tra cơ bản gần đây về các loài quý hiếm cũng chothấy quần thể loài Rái cá lông mũi - loài tưởng đã tuyệt chủng, nay lại thấy ởkhu bảo tồn U Minh Thượng (Kiên Giang) Các loài mới được phát hiện đã làmphong phú thêm cho sinh giới của Việt Nam, trong khi một số loài khác, đặcbiệt các loài có giá trị kinh tế đã biết lại có xu hướng giảm số lượng hoặc cónguy cơ tuyệt chủng
Đa dạng nguồn gen trong nông nghiệp
Theo đánh giá của Jucovski (1970), Việt Nam là một trong 12 trung tâmnguồn gốc giống cây trồng của thế giới Mức độ đa dạng sinh học của hệ thựcvật cây trồng ở Việt Nam cao hơn nhiều so với dự đoán
Nguồn gen giống cây trồng
Ở Việt Nam, hiện nay đang sử dụng trong sản xuất nông nghiệp 16 nhómcác loài cây trồng khác nhau như cây lương thực chính, cây lương thực bổ sung,cây ăn quả, cây rau, cây gia vị, cây làm nước uống, cây lấy sợi, cây thức ăn giasúc, cây bóng mát, cây công nghiệp, cây lấy gỗ với tổng số trên 800 loài câytrồng với hàng nghìn giống khác nhau Có ba nhóm cây trồng đang được nôngdân sử dụng
Các giống cây trồng bản địa: Nhóm giống cây trồng này hiện nay đangchiếm vị trí chủ đạo đối với nhiều loại cây trồng Trong số nhóm giống câytrồng này có những giống đã được nông dân sử dụng và lưu truyền hàng nghìnnăm nay
Các giống cây trồng mới: Là những giống cây có khả năng cho năng suấtcao và có một số đặc tính tốt khác như: phẩm chất nông sản tốt, khả năng chốngchịu sâu bệnh cao được các nhà khoa học chọn lọc, lai tạo thành Những nămgần đây các giống cây trồng được các nhà khoa học chọn lọc và lai tạo mớicũng như các loại giống cây trồng được nhập nội, trước khi đưa ra sản xuất rộngrãi, được hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét
Trang 14công nhận như lúa: 156 giống; ngô: 47 giống; đậu tương: 22 giống; cao su: 14giống; cà phê: 14 giống Các giống cây trồng được nông dân ở các tỉnh biêngiới trao đổi với nhau qua biên giới hoặc mua bán qua đường tiểu ngạch.
Hiện nay, Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đang bảo tồn 12.300 giốngcủa 115 loài cây trồng Đây là tài sản quý của đất nước, phần lớn không còntrong sản xuất và trong tự nhiên nữa Một bộ phận quan trọng của số giống này
là nguồn gen bản địa với nhiều đặc tính quý mà duy nhất chỉ nước ta có
Về vật nuôi
Hiện nay Việt Nam có 14 loài gia súc và gia cầm đang được chăn nuôichủ yếu bao gồm 20 giống lợn trong đó có 14 giống nội, 21 giống bò (5 giốngnội), 27 giống gà (16 giống nội), 10 giống vịt (5 giống nội), 7 giống ngan (3giống nội), 5 giống ngỗng (2 giống nội), 5 giống dê (2 giống nội), 3 giống trâu(2 giống nội), 1 giống cừu, 4 giống thỏ (2 giống nội), 3 giống ngựa (2 giốngnội), bồ câu, hươu và nai (có khoảng 10 ngàn con hươu nai được nuôi trongtoàn quốc)
2.2.2 Thực trạng pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của đa dạng sinh học, Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm công tác bảo tồn và phát triển bền vững đa dạngsinh học bằng nhiều biện pháp như công bố các khu vườn quốc gia, ban hànhcác chính sách, văn bản pháp luật, ban hành Sách đỏ Việt Nam và tham gia cáccông ước quốc tế trong lĩnh vực đa dạng sinh học
Tuy nhiên, trước khi ban hành Luật đa dạng sinh học, Việt Nam chưa có
hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học thống nhất Các quy phạm pháp luật về
đa dạng sinh học đang nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giátrị pháp lý khác nhau và mỗi văn bản chỉ đề cập đến một hoặc vài khía cạnh của
đa dạng sinh học, điều này đã làm hạn chế hiệu lực và hiệu quả của việc ápdụng pháp luật trên thực tế
Hiến pháp năm 1980, tại Điều 36 quy định “Các cơ quan Nhà nước, xínghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thựchiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ và cải thiện môi trường sống”
Hiến pháp năm 1992, tại Điều 29 cũng quy định “Cơ quan Nhà nước, đơn
vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy