MỞ ĐẦU Lý chọn đề tài Giáo dục vấn đề chiến lược cấp thiết quốc gia Để đáp ứng tình hình đó, có không tiểu thuyết viết đề tài này, đặc biệt bật số tiểu thuyết “Quái nhân” Hữu Đạt Tiểu thuyết viết thực trạng ngành giáo dục Việt Nam nói chung, tầng lớp trí thức nói riêng Yếu tố thứ hai ngôn ngữ đối thoại Ngôn ngữ đối thoại có vai trò quan trọng việc truyền đạt tư tưởng, cảm xúc tâm lý nhân vật Trong “Thi pháp tiểu thuyết”, M Bakhtin khẳng định vai trò đối thoại: “Đối thoại chất ý thức, chất sống người… Sống tức tham gia đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý… Con người tham gia đối thoại toàn người toàn đời mình: mắt, môi, tay, tâm hồn, tinh thần, hành vi Nó trút hết người vào lời nói tiếng nói gia nhập dàn đối thoại sống người, gia nhập hội thảo giới… Bản ngã không chết Cái chết Con người nói lời mình, thân lời nói lại mãi thoại không kết thúc.” Trong hầu hết tác phẩm văn học, đối thoại – giao tiếp nhân vật yếu tố quan trọng, cấu thành nên văn Đề tài đời nhằm phân tích ngôn ngữ đối thoại nhân vật tiểu thuyết “Quái nhân” Hữu Đạt Vì phân tích bước đầu nên không tránh khỏi hạn chế định Tuy vậy, hy vọng đề tài góp thêm ngữ liệu vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học định hình phong cách ngôn ngữ nhà văn Hữu Đạt Mục đích, nhiệm vụ 2.1 Mục đích Mục đích nghiên cứu đề tài tìm hiểu nét đặc trưng ngôn ngữ đối thoại nhân vật tiểu thuyết “Quái nhân” nhà văn Hữu Đạt Qua đó, rút vai trò ngôn ngữ đối thoại việc xây dựng tính cách, tâm lý nhân vật 2.2 Nhiệm vụ - Khảo sát đoạn đối thoại tiểu thuyết “Quái Nhân” Hữu Đạt - Bước đầu định hình phong cách ngôn ngữ nhà văn Hữu Đạt Đối tượng phạm vi 3.1
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục là vấn đề chiến lược và cấp thiết của mọi quốc gia Để đáp ứng tình hình đó,
đã có không ít tiểu thuyết viết về đề tài này, đặc biệt nổi bật trong số đó là tiểu thuyết
“Quái nhân” của Hữu Đạt Tiểu thuyết viết về thực trạng của ngành giáo dục Việt Nam nói chung, và tầng lớp trí thức nói riêng
Yếu tố thứ hai là về ngôn ngữ đối thoại Ngôn ngữ đối thoại có vai trò quan trọng
trong việc truyền đạt tư tưởng, cảm xúc và tâm lý của nhân vật Trong “Thi pháp tiểu
thuyết”, M Bakhtin khẳng định vai trò của đối thoại: “Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người… Sống tức là tham gia đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý… Con người tham gia cuộc đối thoại ấy bằng toàn bộ con người và toàn bộ cuộc đời mình: bằng mắt, môi, tay, tâm hồn, tinh thần, hành vi Nó trút hết con người nó vào lời nói và tiếng nói của nó gia nhập dàn đối thoại của cuộc sống con người, gia nhập cuộc hội thảo thế giới… Bản ngã không chết Cái chết chỉ là sự
ra đi Con người ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc thoại không bao giờ kết thúc.” Trong hầu hết các tác phẩm văn học,
đối thoại – giao tiếp giữa các nhân vật là yếu tố quan trọng, cấu thành nên văn bản
Đề tài này ra đời nhằm phân tích ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong tiểu thuyết
“Quái nhân” của Hữu Đạt Vì đây là những phân tích bước đầu nên không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tuy vậy, chúng tôi hy vọng là đề tài này sẽ góp thêm ngữ liệu vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học và định hình phong cách ngôn ngữ của nhà văn Hữu Đạt
2 Mục đích, nhiệm vụ
2.1 Mục đích
Trang 2Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này là tìm hiểu những nét đặc trưng trong ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong tiểu thuyết “Quái nhân” của nhà văn Hữu Đạt Qua đó, chúng tôi rút ra vai trò của ngôn ngữ đối thoại trong việc xây dựng tính cách, tâm lý nhân vật.
2.2 Nhiệm vụ
- Khảo sát các đoạn đối thoại trong tiểu thuyết “Quái Nhân” của Hữu Đạt
- Bước đầu định hình phong cách ngôn ngữ nhà văn Hữu Đạt
3 Đối tượng và phạm vi
3.1 Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngôn ngữ đối thoại của nhân
vật
3.2 Phạm vi: Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung khảo sát các đoạn đối thoại
trong tiểu thuyết “Quái Nhân” của nhà văn Hữu Đạt
4 Ý nghĩa
4.1 Ý nghĩa lý luận
Tạo cơ sở lý luận cho việc hình thành những tư liệu, cứ liệu về ngôn ngữ đối thoại
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Giúp cho việc cảm nhận về tác phẩm của nhà văn Hữu Đạt thêm toàn diện hơn
- Tìm hiểu và định hình phong cách nhà văn
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích cuộc thoại:
Trang 3Chúng tôi sử dụng phương pháp này để chỉ ra đặc điểm về cấu trúc, đặc điểm lời thoại của nhân vật, mục đích giao tiếp của nhân vật qua hình thức của các lời thoại.
- Phương pháp miêu tả:
Chúng tôi chọn ra những cuộc thoại tiêu biểu dựa trên những tiêu chí khảo sát để tiến hành miêu tả đặc điểm nhằm rút ra những nét riêng trong ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong tiểu thuyết
Phần 1: Cơ sở lý thuyết và một số vấn đề liên quan
Khái niệm, đặc điểm, biểu hiện của đối thoại Khái niệm lượt lời và cặp thoại
Giới thiệu tác giả, tác phẩm
Phần 2: Nội dung chính
Khảo sát và phân tích ngôn ngữ đối thoại thông qua nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Từ đấy, chúng tôi xem xét tính cách nhân vật và định hình phong cách nhà văn Hữu Đạt
Trang 4a Nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau
VD: Cuộc đối thoại, Người đối thoại, Đoạn đối thoại trong vở kịch
b Bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp
VD: Chủ trương không đối đầu, mà đối thoại
- Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học cho rằng: “ Đối thoại là một trong các dạng thức của lời nói, trong đó có sự hiện diện của người nói và người nghe, mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếp chuyện và xoay quanh một chủ đề hạn chế của cuộc thoại Đối thoại có đặc điểm là các phát ngôn có tính chất riêng biệt, ngắn gọn, có các kết cấu cú pháp đơn giản, sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ…”
- Đối thoại xuất hiện trong giao tiếp, thực hiện chức năng giao tiếp một cách trực tiếp Hình thức đối thoại là những phát ngôn trực tiếp đựợc nói ra trong một ngữ cảnh nhất định nhằm một mục đích nhất định và có hiệu lực nhất định Về dấu hiệu hình thức để nhận biết đối thoại, trong môt tác phẩm văn học, lời thoại của nhân vật được tác giả truyền đạt trực tiếp, được hình thức hóa bởi các dấu câu kết hợp với sự xuống dòng để phân biệt với ngôn ngữ của người dẫn
Trang 5chuyện Khi xuất hiện đối thoại, ở lời dẫn của tác giả sẽ có một số động từ quen thuộc như: nói, bảo, mắng, hỏi…
I.1.2. Đặc điểm
Ngôn từ đối thoại biểu hiện sự giao tiếp qua lại (thường là giữa hai phía) trong đó sự chủ động và sự thụ động được chuyển đổi luân phiên từ phía bên này sang phía bên kia (giữa những người tham gia giao tiếp); mỗi phát ngôn đều được kích thích bởi phát ngôn có trước và là phản xạ lại phát ngôn có trước ấy
Thuận lợi nhất cho ngôn từ đối thoại là các kiểu tiếp xúc không mang tính quan phương, tính công cộng; là kiểu trò chuyện giản dị bằng khẩu ngữ, là không khí bình đẳng về tinh thần và đạo đức giữa những người phát ngôn
Đặc trưng cho ngôn từ đối thoại là sự luân phiên của các phát ngôn ngắn, của những người phát ngôn khác nhau Tuy vậy, yếu tố đối thoại cũng có mặt ở lời nói của một người khi được kích thích bởi nét mặt và cử chỉ, như những tín hiệu, thông điệp, của người cùng trò chuyện
I.1.3. Biểu hiện
Tính đối thoại trong văn học được biểu hiện dưới hai hình thái cơ bản: lời văn hai giọng và tiểu thuyết đa thanh
- Lời văn hai giọng
Bakhtin đã nêu ra hàng loạt kiểu lời văn hai giọng như lời phong cách hóa, lời nhại, lời kể khẩu ngữ, lời tranh luận ngầm, v.v… và tiến hành hệ thống hóa các hình thức ấy Sự đối thoại xâm nhập vào trong từng phát ngôn, trong từng từ được gọi là “tiểu đối thoại” (khác với đối thoại thông thường)
- Đa thanh
Trang 6Đa thanh (hay còn dịch là phức điệu) là hình thức tiểu thuyết trong đó các nhân vật xuất hiện như là các ý thức độc lập, bình đẳng với ý thức tác giả trong quan hệ đối thoại Trong hình thức này Bakhtin nói về nhân vật như là nói với nhân vật, trước mặt nhân vật Nhân vật không chấp nhận người khác khái quát về mình sau lưng mình, và tranh lấy quyền nói lời cuối cùng về mình.
I.1.4. Quan hệ đối thoại và độc thoại
Đối thoại mang màu sắc chủ quan và bộc lộ đặc tính của những chủ thể phát ngôn, vì vậy, bên cạnh độc thoại, đối thoại trở thành nhân tố tổ chức nhiều văn bản ngôn từ nhất là văn bản của các tác phẩm văn học (các tác phẩm ngôn từ nghệ thuật), nơi chúng hiện diện với tư cách là đối tượng của sự miêu tả
Mọi ngôn từ thực hành đều mang tính đối thoại theo nghĩa rộng, do chúng được bao hàm trực tiếp hay gián tiếp vào các quá trình giao tiếp Tuy nhiên, tùy thuộc vào tính chất của việc thực hiện chức năng giao tiếp mà có thể phân biệt thành các phát ngôn đối thoại hay độc thoại
Đối thoại, và cả độc thoại, trong thành phần của các tác phẩm văn học có thể thu hút, bao gồm lẫn nhau Người đối thoại có thể dễ dàng đưa vào đối thoại những phát ngôn mang tính độc thoại và điều này đặc biệt thường gặp trong kịch Các độc thoại trần thuật (tức là trần thuật của chính tác giả) có khi cũng bao gồm cả những đối thoại của những người mà lời dẫn truyện nói đến Lời độc thoại phi trần thuật đôi khi lại trở thành lời đối thoại bên trong, do chứa đựng "lời lẽ của những kẻ khác", nó hiện diện như một cuộc truyện trò tưởng tượng
I.1.5. Ứng dụng
Ngôn từ đối thoại, và cả độc thoại, đóng vai trò quan trọng rất mực trong nỗ lực hướng tới thính giác của người cảm thụ tác phẩm Sử dụng các hình thức khác nhau của đối thoại và độc thoại, văn học hiện diện như nghệ thuật tái tạo những tiếng nói của con người, lưu giữ trong nó sự phong phú của
Trang 7ngôn từ nói miệng của các thời đại, các dân tộc, các nền văn hóa khác nhau
Là phương tiện nghệ thuật chủ yếu để tái tạo hành vi của con người và các giao tiếp về tinh thần giữa họ, ngôn từ nghệ thuật trở thành đối tượng miêu
tả quan trọng nhất trong mọi thể loại và thể tài văn học Dù vậy, trong mỗi thể tài lượng định của đối thoại, độc thoại có khác biệt: các phát ngôn của nhân vật trong tác phẩm tự sự và kịch thường là phát ngôn đối thoại hoặc độc thoại, thì lời nói của nhân vật người kể chuyện, hoặc nhân vật trữ tình, thường thiên về độc thoại
I.2. Khái niệm lượt lời, cặp thoại
- Lượt lời: là đơn vị cơ bản hội thoại mà nói như Đỗ Hữu Châu đó
là “chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình” Lượt lời được xác định là một lần nói xong của một bên giao tiếp trong khi các bên kia không nói, và khi có lời hồi đáp là đánh dấu một lượt lời tiếp theo Lượt lời sẽ không được hình thành khi nhiều ngưuời cùng nói một lúc Việc xác định lượt lời cũng tức là có sự xuất hiện của luân phiên lượt lời, các bên giao tiếp có sự luân phiên liên tục, chủ động về lượt lời hồi đáp để bảo đảm hội thoại không bị gián đoạn Sự luân phiên lượt lời trong hội thoại hoạt động theo cơ chế chuyển giao lượt lời, còn gọi là sự trao lời Khi người nói đang giữ lượt lời, nếu không có ý định tiếp tục nói
sẽ chủ động chuyển lời cho các bên khác đang tham gia hội thoại Sự chuyển lời này có thể trực tiếp bằng lời, sự chỉ định hoặc chuyển bằng hình thức gián tiếp như ngữ điệu, lời xác nhận kết thúc lượt lời của mình để có tính chất thông báo cho các bên khác tiếp tục nhận lượt lời để hồi đáp, duy trì cuộc thoại Trong quá trình tương tác hội thoại, cả hai bên tham gia sẽ cũng theo dõi lượt lời của đối phuơng để có sự hồi đáp chuẩn xác Bởi vậy, khi trao lời, nếu càng nắm rõ được đặc tính, tâm lý…liên quan đến đối tượng thì sự trao lời càng diễn ra thành công, góp phần tạo nên thành công của cuộc thoại
Trang 8- Cặp thoại: Hai lượt lời có liên quan trực tiếp và đứng kề nhau làm nên một cặp thoại, chẳng hạn như các cặp thoại tiêu biểu:
Chào – chào
Trao – nhận
Hỏi – đáp
Xin lỗi – chấp nhận xin lỗi
Yêu cầu – chấp thuận
- Quê quán: Ba Vì, Hà Nôi
- Chủ nhiệm bộ môn Việt ngữ học, khoa Ngôn ngữ học trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG Hà Nội
- Giáo sư thỉnh giảng tại các trường:
Đại học Paris VII – Cộng hòa Pháp
Đại học Ngoại ngữ Thượng Hải – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Đại học Phnompeenh – Cămpuchia
Đại học Ngoại giao QT Matxcơva – Liên bang Nga
- Là tác giả của nhiều tập truyện ngắn, tiểu thuyết, sân khấu, điện ảnh, lý luận phê bình, đồng thời còn là tác giả của nhiều bài báo khoa học, giáo trình, chuyên khảo, chuyên luận về phong cách học và ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ nghệ thuật phục vụ cho giảng dạy và đào tạo các thế hệ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ khoa học trong nước và quốc tế
- Tác giả đoạt giải cuộc thi sáng tác thơ nhân kỉ niệm 15 năm ngày thành lập Hội Thanh niên Việt Nam
2.1.2. Các tác phẩm đã công bố
A. Sáng tác văn chương
Trang 91. Dưới cờ đại nghĩa (ca kịch cải lương) VHNT, 1979
2. Chuyện thường ngày ở huyện (kịch nói) THTW, 1980
3. Vì tôi yêu (kịch nói) Đoàn kịch nói HSB dàn dựng, 1981
4. Tình ca Cao nguyên (kịch nói) THTW, 1982
5. Ngọn lửa tình yêu (tiểu thuyết) Nxb QĐND, 1987
6. Phôn na ky ry (tiểu thuyết) Nxb Phụ nữ, 1987
7. Tiếng gọi vùng đất chết (tiểu thuyết) Nxb QĐND, 1990
8. Hai đầu của bức thư tình (tiểu thuyết) Nxb Hội Nhà văn, 1991
9. Các con đại tá (tiểu thuyết hai tập) Nxb QĐND, 1996
10. Phía sau giảng đường (tiểu thuyết) Nxb CAND, 1997
11. Nước mắt cô đào (chèo) Đoàn chèo Hà Tây dàn dựng, 1998
12. Tuổi yêu (tập truyện ngắn) Nxb Văn học, 2000
13. Dòng xoáy cuộc đời (tiểu thuyết) Nxb CAND, 2003
14. Chuyện người mình ở nước Nga (tiểu thuyết) Nxb LĐ, 2003
15. Hồi ức tuổi mười ba (tập truyên ngắn) Nxb Hà Nội, 2004
16. Những kẻ giấu mặt (tiểu thuyết) Nxb CAND, 2005
17. Những kẻ giấu mặt (tiểu thuyết) Nxb LĐ tái bản, 2006
18. Cổng trường thời mở cửa (phim truyện dài tập) THTW, 2007
19. Cổng trường thời mở cửa (tiểu thuyết) Nxb CAND, 2008
Trang 10B. Giáo trình, sách chuyên luận và công trình nghiên cứu
20. Tiếng Việt tập I và II sách dạy tiếng Việt cho HS Căm Phu Chia (viết chung) Nxb GD HN và Nxb GD phnoompeenh, 1987
21. Tiếng Việt thực hành CĐSP HN, 1994
22. Ngôn ngữ thơ Việt Nam Nxb GD, 1996
23. Tiếng Việt thực hành Nxb GD, 1997
24. Cơ sở tiếng Việt Nxb GD, 1998
25. Nhà văn, sự sáng tạo nghệ thuật Nxb Hội Nhà văn, 1999
26. Phong cách học tiếng Việt hiện đại Nxb Khoa học Xã hội, 1999
27. Ngôn ngữ thơ Việt Nam Nxb Khoa học Xã hội, 2000
28. Tiếng Việt thực hành Nxb VHTT, 2000
29. Ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp của người Việt Nxb VHTT, 2000
30. Phong cách học và phong cách chức năng tiếng Việt Nxb VHTT, 20002.2. Tác phẩm
Nội dung tác phẩm:
Tiểu thuyết “Quái nhân” viết về một vài khía cạnh “nổi cộm” của tầng lớp trí thức cao cấp trong môi trường giáo dục đại học Tác phẩm thu hút người đọc bởi một giọng văn nhẹ mà thấm, dí dỏm mà sâu sắc để chỉ ra thực trạng của việc đào tạo đại học và sau đại học của nước ta Đó là những toan tính, âm mưu tranh quyền đoạt vị, hay những cuộc vận động hành lang, những âm mưu chia rẽ nội
bộ của một bộ phận những kẻ hạn chế về năng lực nhưng lại đầy ắp tham vọng tiến thân Không chỉ vậy, cuốn tiểu thuyết của Hữu Đạt còn nói tới những vấn đề
Trang 11đang tồn tại trong xã hội hiện nay như: ảnh hưởng của lối sống”cởi mở” và thực
dụng đến nếp sống, nếp nghĩ, nếp sinh hoạt của tầng lớp trí thức, giới trẻ, quan chức, công chức; sự cách biệt giữa các thế hệ; trách nhiệm giáo dục của cha mẹ
II. Nội dung chính
1. Nghiên cứu định lượng
- Tiểu thuyết sử dụng 101 cuộc đối thoại
- Không gian cuộc đối thoại được nhà văn sử dụng rất đa dạng như:
+ Trong giấc mơ, không gian tưởng tượng (2)
Ví dụ:
• Giáo sư Trọng mơ thấy mình đến Điện linh ứng và đối thoại với Đốp
• Đốp gặp giáo sư Trọng tại Điện Linh Ứng
+ Trong điện thoại
Ví dụ:
• Giáo sư Trọng gọi điện nhắc nhở Đốp nhanh chóng làm giáo sư
- Ngoài những trường hợp đặc biệt trên, đa số các cuộc đối thoại đều xảy ra trong không gian bình thường như: trong văn phòng, trong nhà, ngoài đường, trên giường,…
- Nhân vật sử dụng đối thoại nhiều nhất: Đốp (56/101) chiếm 55.4%
- Nội dung cuộc đối thoại:
• Hướng về giảng dạy
• Hướng về nghiên cứu
• Hướng về khoa
• Hướng về con người
• Mang tính đời thường
• Hướng về chức quyền
- Người tham gia đối thoại
• Giáo sư + Giáo Sư
• Giảng viên + Sinh viên
• Người yêu – người yêu
• Giáo sư – Thánh quân
• Người – Trời
- Cách xưng hô
Trang 12- Trong các cuộc đối thoại, tính cách nhân vật được thể hiện qua hai cách: nhân vật tự bộc lộ tính cách của mình hoặc thông qua lời kể của nhân vật khác.
2. Nghiên cứu định tính
- Hệ thống nhân vật trong tác phẩm khá đông đảo và phong phú Hầu hết họ là nhà giáo, nhà khoa học làm việc trong môi trường giáo dục đại học
- Các nhân vật trong tác phẩm được chia làm hai tuyến nhân vật chính:
Một nhóm là các nhà giáo, nhà khoa học chân chính thực sự, họ đam mê với nghề, say mê nghiên cứu Trước âm mưu tranh quyền đoạt vị của những kẻ không có tài nhưng đam mê tham vọng, quyền lực, họ phản ứng bằng thái độ bức xúc, tức giận và cả nỗi ngao ngán, thở than, trong nỗi buồn vô vọng