1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYEN DE TOT NGHIEP một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn công thương chi nhánh ba đình, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay

141 581 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 879,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của luận văn Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới, lĩnh vực tài chính – ngân hàng tại Việt Nam đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong sự hưng thịnh của nền kinh tế nước nhà. Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới ( WTO), hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trong những năm qua hết sức sôi động và giàu tính cạnh tranh. Với chức năng là một trung gian tài chính kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng thương mại đã cung cấp một loạt các dịch vụ quan trọng giúp các chủ thể kinh tế tham gia thanh toán nhanh chóng, tiết kiệm chi phí trong mua bán hàng hóa, nắm bắt được cơ hội kinh doanh, luân chuyển vốn đảm bảo hoạt động sản xuất được liên tục, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển nói riêng và nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên, trong tất cả các sản phẩm dịch vụ tiện ích mà các ngân hàng thương mại đã cung cấp, sản phẩm tín dụng ngân hàng luôn chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng thương mại, bởi tầm quan trọng và những tính năng ưu việt riêng của nó, nhờ có hoạt động tín dụng mà vốn được chu chuyển từ những người tạm thời dư thừa vốn sang những người đang thiếu vốn cần sử dụng để đầu tư mang lại lợi nhuận cho bản thân họ và góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời đây cũng là hoạt động chính mang lại lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển và hưng thịnh cho các ngân hàng trong thời gian qua. Đặc biệt, trong điều kiện cạnh tranh về vốn giữa các ngân hàng thương mại đang diễn ra vô cùng quyết liệt, chi phí huy động vốn tăng cao, chi phí bình quân đầu vào tăng trong khi đó tình hình cho vay các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh kém hiệu quả. Hệ quả là nợ xấu, nợ quá hạn có xu hướng tăng lên. Với tầm quan trọng như vậy, sau một thời gian học tập tìm hiểu nghiên cứu, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn công thương Chi nhánh Ba Đình, trong điều kiện cạnh tranh trên Thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới, lĩnh vực tàichính – ngân hàng tại Việt Nam đang đóng một vai trò ngày càng quan trọngtrong sự hưng thịnh của nền kinh tế nước nhà Việt Nam đã trở thành thànhviên của tổ chức thương mại thế giới ( WTO), hoạt động kinh doanh của cácngân hàng thương mại trong những năm qua hết sức sôi động và giàu tínhcạnh tranh Với chức năng là một trung gian tài chính kinh doanh trên lĩnhvực tiền tệ, ngân hàng thương mại đã cung cấp một loạt các dịch vụ quantrọng giúp các chủ thể kinh tế tham gia thanh toán nhanh chóng, tiết kiệm chiphí trong mua bán hàng hóa, nắm bắt được cơ hội kinh doanh, luân chuyểnvốn đảm bảo hoạt động sản xuất được liên tục, tạo điều kiện cho các doanhnghiệp phát triển nói riêng và nền kinh tế nói chung

Tuy nhiên, trong tất cả các sản phẩm dịch vụ tiện ích mà các ngân hàngthương mại đã cung cấp, sản phẩm tín dụng ngân hàng luôn chiếm một tỷtrọng lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng thương mại, bởi tầm quantrọng và những tính năng ưu việt riêng của nó, nhờ có hoạt động tín dụng màvốn được chu chuyển từ những người tạm thời dư thừa vốn sang những ngườiđang thiếu vốn cần sử dụng để đầu tư mang lại lợi nhuận cho bản thân họ vàgóp phần vào sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời đây cũng là hoạt độngchính mang lại lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đảm bảocho sự tồn tại, phát triển và hưng thịnh cho các ngân hàng trong thời gian qua.Đặc biệt, trong điều kiện cạnh tranh về vốn giữa các ngân hàng thươngmại đang diễn ra vô cùng quyết liệt, chi phí huy động vốn tăng cao, chi phíbình quân đầu vào tăng trong khi đó tình hình cho vay các doanh nghiệp sảnxuất và kinh doanh kém hiệu quả Hệ quả là nợ xấu, nợ quá hạn có xu hướngtăng lên

Trang 2

Với tầm quan trọng như vậy, sau một thời gian học tập tìm hiểu nghiên

cứu, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình, trong điều kiện cạnh tranh trên Thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên

cứu

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Thực trạng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng giữa các NHTM ViệtNam hiện nay

- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá một số chỉ tiêu tín dụng giữa cácngân hàng hiện nay

- Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đề ra một số giải pháp nâng caohiệu quả tín dụng của NHTMCP Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đìnhtrong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu các

giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng của ngân hàng TMCP Sài Gòn côngthương - Chi nhánh Ba Đình trong điều kiện cạnh tranh

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: hoạt động tín dụng của các ngân

hàng trong thị trường tiền tệ của Việt Nam

Đề tài không đi sau vào nghiên cứu các nghiệp vụ khác của các ngânhàng, cũng như chi tiết các nghiệp vụ tín dụng của các ngân hàng mà chỉ quantâm đến các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tín dụng của ngân hàngTMCP Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu là duy vật biện chứng và duyvật lịch sử là chủ yếu Cùng với đó là các phương pháp như phương pháp

Trang 3

tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương phápthống kê và dự báo… để nghiên cứu đối tượng của đề tài.

5 Những đóng góp của luận văn:

- Hệ thống hóa được các lý luận hoạt động tín dụng của các ngân hàngtrong điều kiện cạnh tranh

- Xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tín dụng của cácngân hàng TMCP Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình nói riêng vàcác ngân hàng thương mại nói chung trong điều kiện cạnh tranh trong thịtrường tiền tệ của Việt Nam

- Đề xuất các quan điểm nhằm nâng cao hoạt động tín dụng của cácngân hàng thương mại

6 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chiathành 3 phần:

Chương 1: Tổng quan về nghiệp vụ tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM trong điều kiện cạnh tranh giữa các NHTM trên thị trường tiền tệ ở Việt Nam hiện nay.

Chương 2 Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình trong điều kiện cạnh tranh tự

do trên thị trường tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình, trong điều kiện cạnh tranh tự do trên thị trường tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

Trang 4

Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CẢU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN CẠNH TRANH TỰ DO GIỮA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TRÊN THỊ TRƯỜNG VỐN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

1.1 Khái quát về nghiệp vụ tín dụng của NHTM.0

Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Cácngân hàng có thể được định nghĩa qua các chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò

mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đangkhông ngừng thay đổi Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính, bao gồm cả cáccông ty chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang

cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng Ngược lại, ngân hàng đang đốiphó với các đối thủ cạnh tranh ( các tổ chức tài chính phi ngân hàng ) bằngcách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứngkhoán, tham gia các hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thựchiện nhiều dịch vụ môi giới khác

Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tàichính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, thanh toán và thực hiện nhiều chứcnăng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi

“ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàngvới nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền vay này để cấptín dụng số tiền vay này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán”Ngân hàng thương mại ( NHTM) được hiểu theo nhiều cách khác nhau ởcác nước trên thế giới thì khái niệm này dùng để chỉ một số tổ chức tài chính-tiền tệ mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là nhận tiền gửi từ các cá

Trang 5

nhân hay các tổ chức kinh tế, cho các tổ chức này vay lại Các ngân hàngkhông được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác như đầu tư tài chính,cùng các dịch vụ cho các nhóm ngành nghề riêng biệt Trong khi đó ở một sốnước khác thì lại cho rằng ngân hàng thương mại là ngân hàng được phépkinh doanh tổng hợp các loại dịch vụ ngân hàng.

Do đó, ở Việt Nam các ngân hàng thương mại thường được hiểu nhưmột ngân hàng thực hiện các dịch vụ tổng hợp đề kinh doanh tiền tệ như nhậngửi của khách hàng để cho vay, cung cấp lại vốn đầu tư… và chịu sự giám sátchặt chẽ của nhà nước

Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinhdoanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, không trực tiếp sản xuất ra của cải vậtchất như các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất- kinh doanh nhưng tạođiều kiện thuận lợi cho quá tình sản xuất, lưu thông và phân phối sản phẩm xãhội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, tổchức kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinhtế

Ngân hàng thương mại đã hình thành và phát triển hàng trăm năm gắnliền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Sự phát triển hệ thống ngân hàngthương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển củanền kinh tế hàng hóa, ngược lại nền kinh tế hàng hóa phát triển đến giai đoạncao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện

và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được

Theo pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chínhngày 24/5/1990 ( Điều 1 Khoản 1), định nghĩa NHTM: “ NHTM là một tổchức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu thường xuyên là nhận tiền gửicủa khách dưới những hình thức khác nhau với trách nhiệm hoàn trả và sửdụng số tiền đó để cho vay, để chiết khấu và để làm phương tiện thanh toán”

Trang 6

Như vây, NHTM sẽ tiến hành hoạt động huy động những nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi của các tổ chức cá nhân chuyển đến những người có nhu cầu vềvốn cho đầu tư sản xuất.

1.1.1 Nghiệp vụ huy động vốn.

Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại là nghiệp vụ thu hút, huy động toàn bộ các nguồn tiền tệ trong nền kinh tế, số vốn huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng.

Huy động vốn là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từcác tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiệncác nghiệp vụ tín dụng, thanh toán các nghiệp vụ kinh doanh khác và đượclàm vốn để kinh doanh

Huy động vốn là hoạt động tạo vốn cho NHTM, nó đóng vai trò quantrọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng

Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: Nhận tiền gửi, phát hànhcác giấy tờ có giá ra công chúng, vay từ các tổ chức khác, tài trợ bằng vốnchủ sở hữu của ngân hàng

Tuy nhiên, dưới bất kỳ hình thức huy động nào thì NHTM đều phải trảmột chi phí nhất định, đó là chi phí huy động vốn hay gọi là chi phí đầu vàocủa NHTM Các chi phí này được bù đắp thông qua việc cho vay và đầu tưcủa ngân hàng thương mại

Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay đầu tư

và cung cấp các dịch vụ khác Huy động vốn – hoạt động tạo nguồn vốn chongân hang thương mại đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hiệuquả hoạt động của ngân hàng

Trang 7

Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau,ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có tráchnhiệm

hoàn trả cả gốc và lãi đến kỳ hạn ( đối với tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi

họ có nhu cầu rút vốn để chi trả ( đối với tiền gửi không có kỳ hạn) Vốn huyđộng đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh củaNHTM

Hoạt động huy động vốn luôn biến động, nên ngân hàng không đượcphép sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp

lý để đảm bảo khả năng thanh toán Huy động vốn bao gồm các nguồn:

1.1.1.1 Huy động vốn từ tiền gửi.

Để huy động vốn, các ngân hàng đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi khácnhau cho khách hàng lựa chọn Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà các ngânhàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơnvới nhu cầu của khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán Căn

cứ vào nguồn hình thành, vốn tiền gửi của các NHTM bao gồm tiền gửi của tổchức kinh tế, tiền gửi dân cư và tiền gửi khác

-Tiền gửi của tổ chức kinh tế

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một

bộ phận vốn nhàn rỗi tạm thời như: khấu hao đã trích nhưng chưa đến lúc sửdụng, tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên liệu, trả lương, các quỹ đầu tưphát triển, phúc lợi khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến…Để đảmbảo an toàn tài sản và đồng vốn vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi sốvốn đó vào ngân hàng Hoặc để thuận tiện cho quá trình sử dụng vốn, đơn vị

có thể thanh toán qua ngân hàng cũng như sử dụng các dịch vụ ngân hàngkhác Khi đó họ cần phải gửi vốn vào ngân hàng Tổ chức kinh tế có thể gửi

Trang 8

vốn vào ngân hàng dưới hình thức: Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳhạn với các kỳ hạn khác nhau Đồng thời ngân hàng sẽ mở cho các đơn vị cáctài khoản tương ứng để thuận tiện trong việc sử dụng.

+ Tiền gửi không kỳ hạn

Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút tiền rabất kỳ lúc nào và ngân hàng luôn có nghĩa vụ phải thỏa mãn các nhu cầu đó.Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán

Đối với tiền gửi không kỳ hạn, mặc dù việc gửi và rút tiền có thể thựchiện vào bất kỳ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước, nhưng trên thực tếluôn có sự chênh lệch về thời gian và số lượng giữa việc gửi và rút tiền, chonên tại mỗi ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửi không kỳ hạn và ngânhàng có thể sử dụng để cho vay Lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp, thậmchí có những khoản tiền gửi ngân hàng không phải trả lãi Cho nên nguồn vốnnày giúp cho ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh

và đầu tư

+ Tiền gửi có kỳ hạn

Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền

Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã thỏa thuận,nhưng trên thực tế để thu hút loại tiền gửi này với kỳ hạn dài, các ngân hàngthường cho phép rút tiền trước thời hạn nhưng khách hàng chỉ được hưởng lãisuất không kỳ hạn hoặc hưởng lãi suất tương ứng theo loại kỳ hạn nhất định

do ngân hàng quy định

Nguồn vốn này có độ ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình

sử dụng Vì vậy có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửi này, các ngân hàngthường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau phù hợp với thời gian vốn nhàn rỗi

Trang 9

ở các đơn vị, mỗi kỳ hạn có một mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳhạn càng dài lãi xuất càng cao.

-Tiền gửi dân cư

Tiền gửi dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân

cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và đểthanh toán Tiền gửi của dân cư bao gồm hai loại : tiền gửi tiết kiệm và tiềngửi thanh toán

+ Tiền gửi tiết kiệm

Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân hàng Với loạitiền gửi này, người gửi được ngân hàng giao cho một sổ tiết kiệm, trong thờigian gửi tiền, sổ tiết kiêm có thể dùng làm vật cầm cố hoặc được chiết khấu

để vay vốn ngân hàng

Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiềngửi tiết kiệm có kỳ hạn với các chu kỳ khác nhau

-Tiền gửi thanh toán

Các cá nhân trong xã hội cũng có nhu cầu và được pháp luật cho phépthanh toán qua ngân hàng Khi đó họ cũng mở tài khoản tiền gửi thanh toántại ngân hàng và gửi tiền vào đó để đáp ứng nhu cầu thanh toán cũng như để

sử dụng những tiện ích khác cí liên quan của ngân hàng

Giống như tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm ( kể cảkhông kỳ hạn và có kỳ hạn) và tiền gửi thanh toán của dân cư tạo nên nguồnvốn hoạt động của NHTM

-Tiền gửi khác

Ngoài hai loại tiền gửi trên tại các ngân hàng thương mại còn có thêmcác khoản tiền gửi khác như:

Trang 10

Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác

Tiền gửi của Kho bạc nhà nước

Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội…

1.1.1.2 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá.

Trái phiếu ngân hàng: Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ ( cả gốc

và lãi) của ngân hàng phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu Mụcđích của ngân hàng khi phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung vàdài hạn Việc phát hành trái phiếu, các NHTM chịu sự quản lý trên thị trườngchứng khoán và có thể bị chi phối bởi uy tín của ngân hàng

Kỳ phiếu ngân hàng: Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn ( trong 1năm) Nó có đặc điểm giống như trái phiếu nhưng có thời hạn ngắn hơn tráiphiếu, vì vậy nó được sử dụng cho mục đích huy động vốn ngắn hạn của ngânhàng

Phát hành chứng chỉ tiền gửi: Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửiđịnh kỳ ở một ngân hàng, người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãitheo kỳ và nhậ đủ vốnkhi đến hạn Chứng chỉ tiền gửi sau khi phát hành đượclưu thông trên thị trường

Đối tượng mua kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi làcác tổ chức, cá nhân Ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu nhập tạmthời chưa sử dụng đến để mua, trên thực tế đây còn là kênh đầu tư của người

có vốn trong xã hội khi họ không có khả năng và cơ hội đầu tư trực tiếp Các

kỳ phiếu, trái phiếu này có khả năng chyển đổi dễ dàng ra tiền khi cần thiếtbằng cách bán, chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại ngânhàng

Với việc phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn, ngân hàng có

Trang 11

chủ động trong sử dụng Hình thức này thường được thực hiện khi ngân hàng

đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời gian giải ngân nhanh của khách hàng, hay sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốntrong toàn hệ thống mà vẫn còn thiếu và được sự đồng ý của Thống đốc ngânhàng nhà nước

Tổng huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi tráiphiếu ngân hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất huyđộng Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi gặp ngân hàng thiếu vốn mà vốn

tự có và vốn huy động không đủ trang trải Như vây, khi huy động vốn dướihình thức này, các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khốilượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động, khi đã huyđộng đủ khối lượng theo dự kiến các ngân hàng sẽ dừng việc huy động kỳphiếu, trái phiếu

1.1.1.3 Mua trên thị trường liên ngân hàng – vốn vay của ngân hàng trung ương

Trong quá trình kinh doanh của các NHTM luôn có tình trạng tạm thờithừa, thiếu vốn, đó là huy động vốn nhưng chưa cho vay hết, hay khi kháchhành có nhu cầu vay lớn nhưng nguồn vốn lại không đủ, hoăc người gửi rúttiền trước thời hạn trong khi đó vốn cho vay chưa đến lúc thu hồi Khi đó cácNHTM có thể gửi vào các tổ chức tín dụng ( TCTD) khác để hưởng lãi, hay đivay vốn để tận dụng cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo khả năng thanh toán.NHTM có thể vay vốn ở các TCTD khác hoặc vay vốn ở ngân hàng trungương

Vốn vay của tổ chức tín dụng khác

Hầu hết các NHTM được tổ chức thành hệ thống gồm nhiều chi nhánh

và hạch toán kinh doanh toàn ngành, thực hiện điều chuyển vốn giữa các chi

Trang 12

nhánh qua hội sở chính, khi thiếu vốn các chi nhánh nhận được vốn điềuchuyển từ hội sớ chính Vì vậy việc vay vốn của TCTD khác trong và ngoàinước thường chỉ thực hiện ở ngân hàng trung ương của từng hệ thống.

Vốn vay của ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàngcho vay cuối cùng trong nền kinh tế Vì vậy, các NHTM có thể được ngânhàng trung ương cho vay vốn khi cần thiết Ở Việt Nam hiện nay ngân hàngnhà nước ( NHNN) cho các NHTM vay vốn ngắn hạn dưới hình thức sau:-Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và cá giấy tờ có giá trị ngắnhạn

-Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giángắn hạn khác

Ngoài ra, HNNN còn cho NHTM vay bổ sung vốn thiếu hụt trong thanhtoán bù trừ Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính phủ chấpthuận, NHNN tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho

hệ thống

Vốn vay của TCTD khác là vay của ngân hàng trung ương thườngchiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn kinh doanh của NHTM, cho nên ngoài tácdụng góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh của ngân hàng, nócòn có ý nghĩa trong việc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và nângcao hiệu quả sử dụng vốn của NHTM

Tóm lại nghiệp vụ huy động vốn là công cụ chính đối với hoạt độngkinh doanh của các ngân hàng thương mại Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọnglớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng, NHTM tuân thủ theo quy luật về mức vốn

Trang 13

huy động tối đa không được vượt quá 20 lần vốn tự có, đồng thời mở tàikhoản tiền gửi tại NHNN để duy tri ở đó khối lượng dự trữ bắt buộc.

1.1.2 Nghiệp vụ cho vay vốn đầu tư

1.1.2.1 Nghiệp vụ cho vay

a/ Khái niệm về nghiệp vụ cho vay: Cho vay là sự chuyển nhượng tạm

thời giá trị người sử hữu ( HNTM) sang người sử dụng ( người vay),sau mộtthời gian nhất định thu về với lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu

Hoạt động cho vay là hoạt động các NHTM cho khách hàng vay một

số tiền đế sử dụng trong một thời gian nhất định, khi hết thời hạn vay kháchhàng phải trả lại ngân hàng một khoản tiền bao gồm cả phần gốc và phần lãivay Đây là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, nó mang lại nguồn thu chủyếu cho NHTM Hoạt động cho vay của NHTM được phân loại theo nhiềucách khác nhau

b/ Phân loại cho vay của ngân hàng thương mại.

-Phân loại theo thời hạn cho vay

+ Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn không quá 12 thángđược dùng để cho vay bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầuthanh toán cho sinh hoạt cá nhân Với loại cho vay này ít rủi ro cho ngân hàng

vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra, nếu có thì ngân hàng có thể dựtính được

+ Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60tháng thường được dùng để cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến vàđổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình quy mô nhỏ của các doanh

Trang 14

nghiệp, cho vay xây dựng nhà ở hoặc mua sắm hàng tiêu dùng có giá trị lớncủa cá nhân Loại cho vay này có độ rủi ro không cao vì ngân hàng có thể tínhtoán được những biến động có thể xảy ra.

+ Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng, được sửdụng để cho vay các dự án đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất

có quy mô lớn Loại cho vay này có độ rủi ro cao vì ngân hàng khôngthể dự đoán được hết những biến động xảy ra trong một thời gian dài thựchiện dự án

-Phân loại theo chủ thể cho vay

+ Cho vay thương mại: Là hoạt động cho vay mà NHTM cung cấp vốncho khách hàng, doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinhdonah của các doanh nghiệp Cho vay thương mại là hoạt động ra đời tươngđối sớm Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu màthực tế là cho vay đối những người bán ( người bán chuyển các khoản phảithu cho ngân hàng để lấy tiền trước) Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đốivới các khách hàng ( là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm

mở rộng sản xuất kinh doanh

+ Cho vay ngân hàng: Là hình thức cho vay thể hiện mối quan hệ chovay giữa ngân hàng với doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội…

+ Cho vay Nhà nước: Là hình thức cho vay thể hiện mối quan hệ giữaNhà nước với các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội….Nhà nước vừa làngười vay vừa là người cho vay

-Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay

+ Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà các NHTM cung cấp vốncho đối tượng khách hàng là các cá nhân và các hộ gia đình nhằm thỏa mãn

Trang 15

người đi vay sử dụng tiền vay vào các hoạt động không sinh lời, nguồn trả nợđộc lập so với việc sử dụng tiền vay, vì thế nó có đặc điểm sau:

Lãi suất của các khoản cho vay tiêu dùng cao hơn cho vay kinh doanh.Điều này xuất phát từ các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro và chi phí caohơn Cho vay tiêu dùng thường nhạy cảm theo chu kỳ, tăng lên khi nền kinh

tế tăng trưởng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái, mặt khác người tiêudùng ít nhạy cảm so với lãi suất, họ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàngtháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng cho vay

Cho vay tiêu dùng thường có tài sản bảo đảm Do người vay không sửdụng khoản vay trong hoạt động kinh doanh nên việc trả nợ của khách hàngphụ thuộc vào các nguồn thu nhập khác, sự kiểm soát các nguồn này nhiềukhi gặp khó khăn hơn

+ Cho vay sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại cho vay các doanhnghiệp và chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hóa,dịch vụ Nguồn trả nợ từ hoạt động này là kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh Chính vì vậy ngân hàng phải có đầy đủ các thông tin cần thiết vềkhách hàng của mình, về phương án sản xuất của khách hàng

-Phân loại theo đối tượng cho vay

+ Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản lưu động: Là loại cho vay được

sử dụng nhằm bù đắp vốn lưu động tạm thời thiếu hụt cho doanh nghiệp hoặccác chủ thể kinh tế khác Đây là loại cho vay có độ rủi ro thấp vì vốn lưu động

là loại vốn luân chuyển trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh nên ngân hàng

có thể theo dõi thường xuyên và nếu có biến động xảy ra thì kịp thời thu hồivốn

+ Cho vay để bù đắp về yêu cầu tài sản cố định: Là loại cho vay để muasắm tài sản cố định, đổi mới và cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng

Trang 16

các công trình của doanh nghiệp hoặc chủ thể kinh tế khác Loại vay nàyđược thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn Hình thức cho vaynày có mức độ rủi ro cao, khả năng thu hổi vốn chậm.

-Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay

+ Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Cho vay có bảo đảm là việc cho vayvốn của NHTM mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kếtthực hiện bằng tài sản thế chấp, cầm cố, tài sản hình thành từ vốn vay hoặcbảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba Việc cho vay có tài sản bảo đảm ápdụng đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng

+ Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: NHTM cho vay dựa vào uytín của khách hàng, đó là người trung thực trong kinh doanh, khả năng tàichính lành mạnh, có tín nhiệm với ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay,hoàn trả nợ vay…

-Phân loại cho vay theo lãnh thổ hoạt động

+ Cho vay nội địa: Là loại cho vay phát sinh trong phạm vi lãnh thổquốc gia

+ Cho vay quốc tế: Là loại cho vay phát sinh giữa các quốc gia với nhauhoặc giữa quốc gia với tổ chức tài chính cho vay quốc tế

-Ngoài các cách phân loại trên còn có các loại cho vay sau:

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi:

Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuậncho khách hàng chi vượt quá số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán vớimột hạn mức nhất đinh và trong một thời hạn quy định

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Cho vay theo hạn mức tín

Trang 17

vay vốn trong một hạn mức nhất định, trong một khoản thời gian nhất định.Khách hàng phải trả chi phí cam kết cho ngân hàng trên cơ sở hạn mức tíndụng đang sử dụng.

+ Cho vay nghiệp vụ phát hành va sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàngchấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vu hạn mứctín dụng của thẻ để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền rút tiềnmặt tại máy rút tiền tự động

1.1.2.2 Nghiệp vụ đầu tư:

Khái niệm về đầu tư: Đầu tư là nghiệp vụ theo đó NHTM bỏ vốn kinhdoanh vào các lĩnh vực, NHTM sẽ trở thành người sở hữu các tài sản theo tỷ

lệ góp vốn Các lĩnh vự đầu tư:

-Đầu tư chứng khoán

-Góp vốn vào doanh nghiệp

-Đầu tư vào các dự án

Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay,

nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại Trongnghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn địnhkhác để đầu tư dưới hình thức như:

-Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty, hùn vốn mua cổ phầnchỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng

-Mua trái phiếu Chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu côngty…

Trang 18

Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thunhập, mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng

sẽ được phân tán, đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro rất thấp.Các nguyên tắc của tín dụng đầu tư:

+ Tín dụng đầu tư phải bám sát phương hướng mục tiêu kế hoạch nhànước và có hiệu quả

Đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và tín dụng đầu tư nói riêng đềunhằm mục đích tăng cường cơ sở vật chất của nền kinh tế xã hội, làm tăngnăng lực sản xuất của các tổ chức kinh tế, thúc đẩy lực lượng sản xuất pháttriển Trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận độngtheo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước thì hoạt động đầu tư nóichung đều có thể tiến hành theo quy luật của thị trường Nhưng đầu tư củanhà nước và đầu tư qua tín dụng phải là đầu tư có định hướng, để đảm bảocho các ngành, các thành phần kinh tế, các vùng, các địa phương có điều kiện

để phát triển Vì vậy có thể coi đây là nguyên tắc quan trọng của tín dụng đầutư

-Nghiệp vụ bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng là một dạng dịch vụ ngânhàng hiện đại, xuất hiện vào những năm 60 ở một thị trường nội địa nước Mỹ.Sau đó được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế Bảo lãnh ngânhàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng ( bên bảo lãnh) với bên cóquyền ( bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiệnkhong đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hnag phảinhận nợi và hoàn trả nợ cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay

Nghiệp vụ bảo lãnh bao gồm các loại sau: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnhthanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…

-Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ

Trang 19

Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua bán ngoại tệ): mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác, và hưởngphí dịch vụ Các NHTM không chi mua bán ngoại tệ ở trong nước mà conkinh doanh mua bán ngoại tệ trên thị trường quốc tế để hưởng chênh lệch tỷgiá, tại những thị trường khác nhau và thời điểm khác nhau.

-Nghiệp vụ cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản

mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Thanh toán qua ngân hàng

đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức à người gửi tiền khôngcần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho kháchhàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền

1.1.2.3 Các nghiệp vụ sử dụng vốn khác

-Nghiệp vụ ủy thác và tư vấn

Do tính chuyên môn hóa cao, đội ngũ cán bộ có trình độ cao và có nhiềukinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính nên các NHTM được các doanh nghiệpnhờ quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính của mình Dịch vụ ủy thácphát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác đầu tư…thậmchí được ủy thác ngay cả trong di chúc Nhiều khách hàng còn coi ngân hàngnhư một chuyên gia tư vấn tài chính cho họ

-Nghiệp vụ bảo hiểm

NHTM bán bảo hiểm cho khách hàng, đảm bảo hoàn trả cho khách hàngtrong trường hợp khách hàng bị rủi ro như chết, tai nạn, bệnh hiểm nghèo…-Nghiệp vụ đại lý

NHTM quy mô lớn, với các chi nhánh rộng khắp, cung cấp dịch vụ đại

lý cho các ngân hàng nhỏ chưa có điều kiện thiết lập chi nhánh Khi đó, các

Trang 20

NHTM lớn hơn sẽ tiến hành các hoạt động thay các ngân hàng nhỏ như thanhtoán hộ, phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi…

1.1.3 Vai trò của nghiệp vụ tín dụng trong các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM

1.1.3.1 Tín dụng ngân hàng giống như kênh bơm vốn cho các doanh nghiệp và là công cụ chủ yếu để tài trợ, đầu tư cho các ngành, các vùng kinh kế kém phát triển.

Để tồn tại và phát triển được trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệpkhông những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chếquản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán mà còn phải không ngừng cải tiếnmáy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệumới….Những hoạt động này đòi hỏi một lượng vốn đầu tư nhiều khi vượt quákhả năng vốn tự có của doanh nghiệp Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệptìm đến ngân hàng xin vay vốn để thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình Thôngqua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, đápứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất Từ đó cácdoanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất một cách thích hợp, tăng năngsuất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế

1.1.3.2 Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng.

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng là hoạt động kinhdoanh chủ yếu của NHTM Điều đó buộc các NHTM càng phải thực hiệnđúng nguyên tắc đi vay để cho vay Thông qua chức năng phân phối lại vốntheo nguyên tắc có hoàn trả tín dụng, các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi được

Trang 21

đưa vào luân chuyển và sử dụng hợp lý trong quá trình sản xuất, các nguồnlực của nền kinh tế được đưa vào vận động và di chuyển đến những nơi màchúng có thể sử dụng hiệu quả hơn Khi khối lượng sản xuất tăng lên, nhu cầu

về vốn theo đó cũng tăng lên và nhu cầu đó được thỏa mãn một phần qua cáchình thức tín dụng

1.1.3.3 Tín dụng ngân hàng là một công cụ để Nhà nước tiến hành điều hòa, lưu thông tiền tệ và từ đó điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.

Ngân hàng bằng các nghiệp vụ của mình có thể huy động vốn hoặc cungcấp vốn cho nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế nên có thể điều hòalượng tiền tệ trong lưu thông góp phần thực hiện chính sách tài chính quốcgia Hơn nữa ngân hàng với các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặtcũng góp phần ổn định lưu thồng tiền tệ Nhà nước cũng sử dụng chính sáchtín dụng như một đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển thựchiện kiểm soát và phân công kinh tế, điều chỉnh sự phát triển và cơ cấu củatoàn bộ nền kinh tế quốc dân

1.1.3.4 Tín dụng ngân hàng có tác dụng quan trọng trong việc tổ chức quản lý, sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất.

Nhờ kênh tín dụng ngân hàng mà nhu cầu vốn khả năng tự có của chủđầu tư được đáp ứng kịp thời Do tín dụng là quan hệ vay mượn có lợi tức trảthêm nên nó đòi hỏi người sử dụng vốn phải hoạt động kinh doanh có hiệuquả cao nhất có thể Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp buộcphải chú ý đến việc tích cực giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động,tăng nhanh quay vòng vốn …để có doanh lợi cao, sau khi hoàn trả cho ngânhàng vốn đã vay cùng lãi vay vẫn còn lợi nhuận của doanh nghiệp

1.1.3.5 Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan

hệ giao lưu kinh tế quốc tế.

Trang 22

Ngày nay, trong các mối quan hệ kinh tế, sự hợp tác bình đẳng cùng cólợi giữa các tổ chức kinh tế, cac nước trên thế giới và cả trong khu vực đangphát triển rất đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức Đây là nhân tố quan trọngtạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế quốc gia, đặc biệt là đối với các nướcđang phát triển Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh hàng hóa xuất nhậpkhẩu là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng trong đó vốn là nhân tố quyếtđịnh cho sự thành công Nhưng không thể có một tổ chức hay cá nhânnòa tự mình có thể đảm bảo đủ vốn cho hoạt động kinh doanh Ngân hàng với

tư cách là một tổ chức kinh tế kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động tíndụng sẽ hỗ trợ đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhậpkhẩu thông qua tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh, thanh toán

1.2 HIỆU QUẢ TÍN DỤNG VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Hiệu quả huy động vốn và các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại.

1.2.1.1 Khái niệm về hiệu quả huy động vốn

Hiệu quả huy động vốn của NHTM là tập hợp các tiêu chí chỉ rõ sự giatăng ổn định của nguồn vốn, cơ cấu hợp lý, chi phí huy động vốn thấp, tỷ lệvốn được sử dụng cao và rủi ro thấp nhất

Hiệu quả huy động vốn: là việc lượng vốn của ngân hàng huy động từcác nguồn, được ngân hàng kinh doanh bằng các hình thức kinh doanh bằngcác hình thức kinh doanh đảm bảo chi trả đủ phần lãi suất huy động, đủ chiphí kinh doanh thu lợi nhuận cho ngân hàng, đáp ứng yêu cầu kinh doanh củangân hàng

Trang 23

Về phía xã hội: Để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, cầm một lượng vốn rất lớn làm tiền để vật chất, vốn để xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, cơ sở kinh doanh

Về phía ngân hàng: Để tiến hành kinh doanh có hiệu quả, đa dạng cáchình thức kinh doanh để nâng cao sức cạnh tranh và lợi nhuận ngân hàng cần

có 1 lượng vốn lớn huy động từ các nguồn trong nước

Vốn trong nước phần lớn nằm trong các hộ gia đình dưới dạng tiếtkiệm dự phòng Hơn nữa vốn của các tổ chức kinh tế xã hội không phải lúc nào cũng được sử dụng theo mùa vụ, theo chu kỳ kinh doanh của mỗidoanh nghiệp Do đó lượng vốn nhàn rỗi trong khu vực này cũng rất lớn.Nhiệm vụ to lướn của mỗi ngân hàng là phải tập trung và thu hút các nguồnvốn lớn này để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, các công trìnhkinh tế xã hội, biến chúng thành những đồng vốn mang lại hiệu quả kinh tế xãhội

Để đạt được điều đó thì ngân hàng phải có công tác huy động vốn phùhợp và có hiệu quả Hiệu quả của công tác huy động vốn phải xuất phát từnhu cầu kinh doanh của ngân hàng Vốn huy động của ngân hàng phải có sựtăng trưởng, ổn định về số lượng để có thể thỏa mãn các nhu cầu cho vay,thanh toán cũng như hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của ngânhàng

Tuy nhiên vốn huy động phải được ổn định về mặt thời gian Nếu ngânhàng huy động được một lượng vốn lớn mà không ổn định về mặt thời gian,thường xuyên có một lượng tiền lớn có khả năng bị rút ra thì lượng vốn dànhcho vay, cho đầu tư sẽ không lớn Như vậy hiệu quả sử dụng sẽ không cao vàngân hàng phải thường xuyên đối đầu với vốn để thanh khoản và ngược lại

1.2.1.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM

Trang 24

Để công tác huy động vốn ngày càng hiệu quả cao đòi hỏi lãnh đạo ngânhàng phải có chiến lược huy động vốn đúng đắn, có nghĩa là: lãi suất huyđộng hợp lý để kích thích khách hàng gửi tiền, đồng thời cũng phải xác địnhchính xác kỳ hạn của nguồn tiền đó Thực hiện tốt các yêu cầu trên nguồn vốnhuy động sẽ được sử dụng có hiệu quả cao hơn, mang lại hiệu quả cao chongân hàng Hiệu quả huy động vốn là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay.Hiệu quả huy động vốn được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

a Tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn

Tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn được tính bằng tỷ lệ giữa hiệu số củahuy động vốn trong năm n với vốn huy động trong năm n-1 chia cho vốn huyđộng trong năm n

Huy động vốn năm n- huy động vốn năm “ n-1”

Tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động =

Trang 25

khoản chi phí liên quan đến quảng cáo, maketing, lương của cán bộ , chi phíquản lý và các chi phí khác.

Trang 26

1.2.1.3 Ý nghĩa của nâng cao hiệu quả huy động vốn

cơ cấu vốn huy động sẽ trực tiếp quyết định đến quy mô và cơ cấu tíndụng của NHTM Các ngân hàng không thể cho vay dài hạn với quy mô lớntrong khi vốn huy động nhỏ và thời hạn ngắn

Thông qua hoạt động huy động vốn cũng thể hiện uy tín, quy mô, sứccạnh tranh của NHTM trên thị trường Bởi vốn huy động trên tổng nguồn vốn

là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng Mộtngân hàng có nguồn vốn ngày càng gia tăng (đặc biệt là vốn dài hạn) khẳngđịnh uy tín và sức cạnh tranh của mình Khách hàng có tin tưởng mới gửi tiềnvào ngân hàng và nguồn vốn gia tăng thể hiện ngân hàng đó có vị thế trên thịtrường Và điều này cũng sẽ tạo điều kiện tốt cho ngân hàng trong các lĩnhvực khác như nghiệp vụ cho vay, phát triển các sản phẩm mới,…

Huy động vốn giúp tăng cường mở rộng mối quan hệ giữa ngân hàngvới ngân hàng và với các tổ chức tài chính khác trong nền kinh tế Sự liên kết,điều hòa vay mượn các nguồn vốn lẫn nhau sẽ làm gia tăng vòng quay củađồng tiền, tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế Các ngân hàng dưthừa vốn tạm thời sẽ có cơ hội cho các ngân hàng thiếu vốn tạm thời vay đểlấy lãi Không những thế nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ huyđộng vốn trong hoạt động kinh doanh của mình các ngân hàng có thể liên kết,thỏa thuận với nhau mức lãi suất trần, sàn các phương thức huy động để tránh

Trang 27

tế lẫn nhau.

- Đối với khách hàng

Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng giảm được chi phí cơ hội của việcgiữ tiền mặt.Thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng người gửi tiền cóthể gửi tiền nhàn dỗi, không sử dụng đến vào ngân hàng để thu lợi nhuận

bằng việc chi trả lãi suất từ phía ngân hàng.Hoạt động tín dụng của ngân hàng

đã tạo cho người tiêu dùng một kênh đầu tư cho danh mục đầu tư của mình Hoạt động đầu tư, gửi tiếp kiệm qua ngân hàng được coi là một kênhđầu tư ít rủi ro nhất Khi nền kinh tế gặp khó khăn, các kênh đầu từ khác nhưđầu tư bất động sản, đầu tư vàng, ngoại tệ, đầu tư chứng khoán đều không cóhiệu quả thì tín dụng ngân hàng được coi là an toàn và hiệu quả nhất

Tóm lại, hoạt động huy động vốn là cơ sở, tiền đề nó tạo ra nguồn vốncho hoạt động kinh doanh của NHTM Nó tác động không chỉ cho vay, đầu tư

và các nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM mà còn ảnh hưởng sâu sắc đếnnền kinh tế quốc dân Nguồn vốn huy động của NHTM gia tăng thể hiện sựtích lũy tập trung vốn đạt hiệu quả cao tạo điều kiện để phát triển kinh tế đấtnước Nhưng điều này sẽ hạn chế việc phát triển các cơ sở sản xuất, kinhdoanh của tư nhân Lãi suất gia tăng sẽ thúc đẩy nguồn vốn huy động gia tăngnhưng sẽ hạn chế đầu tư dân cư Như vậy có thể nói huy động vốn phù hợpvới mục tiêu kinh doanh của ngân hàng và đáp ứng được nhu cầu phát triểncủa nền kinh tế thực sự là một vấn đề quan trọng không chỉ đối với các nhàngân hàng mà còn đối với các nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tếcủa quốc gia

1.2.2 Hiệu quả cho vay và các tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay 1.2.2.1 Khái niệm về hiệu quả cho vay

Hiệu quả cho vay là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa kết quả

Trang 28

thu được với chi phí bỏ ra.

Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì khái niệm về hiệu quảđược phản ánh khác nhau

HQCV là tập hợp các tiêu chí chỉ rõ sự gia tăng của dư nợ cho vay với sản phẩm cho vay đa dạng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của nền kinh tế với rủi ro cho vay thấp nhất.

1.2.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay của NHTM

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của bất cứ tổchức kinh doanh nào cũng phải mang lại hiệu quả, nếu đơn vị đó không manglại hiệu quả thì đơn vị đó sẽ không tồn tại lâu được và việc giải thể là điềukhông thể tránh khỏi Không chỉ riêng Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều

vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận mà ngay cả Ngân hàng cũng hoạt động trên

cơ sở này Bởi vì đó là điều kiện quyết định sự phát triển lâu dài của của đơn

vị Để thấy được hiệu quả ta cần phân tích một số chỉ tiêu tài chính làm cơ sởcho việc đánh giá hiệu quả cho vay của Ngân hàng

Trang 29

Tính toán được tỷ lệ vốn được sử dụng trong một kỳ kinh doanh thìNHTM mới đầu tư cho vay đạt hiệu quả và thu được lợi nhuận

b/ Rủi ro cho vay

Rủi ro cho vay là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hợpđồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại

Rủi ro cho vay là loại rủi ro cơ bản nhất của ngân hàng Nguyên nhângây nên rủi ro thường do:

- Người vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tài chính nênkhông có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng

- Do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng đã cho khách hàngkinh doanh kém hiệu quả vay vốn, nên việc thi nợ gặp nhiều khó khăn đếnhạn khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng

- Cán bộ ngân hàng bất cập về trình độ, vi phạm đạo đức trong kinhdoanh, dẫn đến cho vay khống , cho vay không đúng mục đích kinh doanh…

- Giá trị đảm bảo tiền vay không đáp ứng được yêu cầu thu nợ củangân hàng…

c/ Rủi ro lãi suất

Lãi suất là giá cả của sản phẩm ngân hàng, nên có tác dụng trực tiếpđến giá trị tài sản Có, tài sản Nợ của ngân hàng Mọi sự thay đổi của lãi suấtđều có thể tác động đến việc tăng, giảm thu nhập, chi phí và lợi nhuận củangân hàng

Rủi ro lãi suất là rủi ro do sự biến động của lãi suất gây lên Nếu ngânhàng có tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất lớn hơn tài sản Có nhạy cảm với lãisuất, thì khi lãi suất tăng thì lợi nhuận cỉa ngân hàng sẽ bị giảm Ngược lại lãisuất giảm sẽ làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng

Trang 30

d/ Rủi ro hối đoái

Rủi ro hối đoái là rủi ro do sự biến động của tỷ giá hổi đoái gâynên Những rủi ro này có thể phát sinh trong tất cả cac nghiệp vụ có liên quanđến ngoại tệ của ngân hàng như: cho vay, huy động vốn bằng ngoại tệ, muabán ngoại tệ, đầu tư chứng khoán bằng ngoại tệ…

e/ Một số chỉ tiêu khác

- Chỉ tiêu lơi nhuận thu được từ hoạt động cho vay: Là tỷ số giữa lơinhuận thu được từ hoạt động cho vay với tổng thu nhập của đơn vị trong mộtthời kỳ

Ngoài các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay ở năm tài chính nói trênngười ta còn sử dụng đến một số chỉ tiêu khác khi xem xét mặt hoạt động nàytrong một quá trình nhiều năm đến thời điểm nghiên cứu, cụ thể là:

Trang 31

Phân tích tình hình nợ quá hạn để biết thêm chất lượng tín dụng, khảnăng rủi ro, hiệu quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng, từ đó có biện phápkhắc phục trong tương lai

nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100

(%) Tổng dư nợ

Tỷ lệ thu hổi nợ quá hạn trong kỳ: Tỷ lệ này cho ta biết mức độ quản

lý nội bộ của ngân hàng đối với nợ quá hạn

Doanh số thu nợ quá hạn trong kỳ

tỷ lệ thu hồi nợ quá hạn = x 100

Dư nợ quá hạn đầu kỳ+ DS chuyển nợ quá hạn trong kỳ

Chỉ tiêu quay vòng vốn cho vay: được tính bằng doanh số thu nợ trên dư

Trang 32

Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn: Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ giữatổng dư nợ cho vay trên tổng nguồn vốn huy động.

Tổng dư nợ cho vay

Hiệu suất sử dụng vốn =

Tổng nguồn vốn huy động

Chỉ tiêu này thể hiện số phần trăm vốn huy động được sử dụng chohoạt động cho vay Trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng, hoạt động chovay thường chiếm tới 70% tổng tài sản Có của ngân hàng

1.2.2.3 Ý nghĩa nâng cao hiệu quả cho vay vủa NHTM

- Đối với ngân hàng

Nâng cao hiệu quả cho vay ngân hàng sẽ làm tăng uy tín của mình, từ

đó thu hút được nhiều khách hàng, tăng nguồn vốn tín dụng và khả năng cungcấp dịch vụ của ngân hàng Hơn thế nữa nâng cao hiệu quả tín dụng còn giúpngân hàng thực hiện tốt hai mục tiêu đặt ra là lợi nhuận và an toàn

Nâng cao hiệu quả cho vay giúp ngân hàng nâng cao trình độ nghiệp

vụ, có thêm kinh nghiệm quý trong việc xử lý tình huống, có óc phán đoán tốt

từ đó nâng cao uy tín của ngân hàng, mở rộng môi trường hoạt động củamình

Nâng cao hiệu quả cho vay giúp cho ngân hàng thực hiện tố nhiệm vụcấp trên giao, góp phần thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế đất nước

Trang 33

- Đối với đơn vị vay vốn ngân hàng

Nâng cao hiệu quả cho vay sẽ giúp doanh nghiệp, hộ kinh doanh …mởrộng đầu tư sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tăng lợi nhuận doanh nghiệp vàtiếp tục được ngân hàng cấp vốn với mức lãi suất ưu đãi hơn

Nâng cao hiệu quả cho vay đối với các đơn vị vay vốn ngân hàng đểsản xuất kinh doanh như các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, cáccông ty chế biến nông sản…hoặc các doanh nghiệp có vòng vốn quay vốn lưuđộng thậm chí các khoản vốn vay nhận được từ ngân hàng có ý nghĩa quantrọng trong việc giúp cho quá tình sản xuất kinh doanh được liên tục, không

bị gián đoạn

- Đối với nền kinh tế xã hội

Nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng góp phần hoàn thành tốt cácmục tiêu kinh tế xã hội như ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, thayđổi cơ cấu và tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóađất nước, tăng năng suất lao động xã hội, giải quyết việc làm cho dân cư trongcộng đồng

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NHTM TRONG ĐIỀU KIỆN CẠNH TRANH TỰ DO TRÊN THỊ TRƯỜNG VỐN.

1.3.1 Cạnh tranh giữa các NHTM trên thị trường vốn Việt Nam hiện nay

1.3.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là điều tất yếu và là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế thịtrường Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gia kinh doanh cũng đều đối mặtvới cạnh tranh Trong xu thế nền kinh tế ngày càng phát triển, thì cạnh tranh

Trang 34

đã trở thành một vấn đề trọng tâm trong chiến lược kinh doanh của các doanhnghiệp Bởi chỉ có khả năng cạnh tranh thì mới có thể đứng vững được trênthị trường.

Từ khi nền kinh tế vận hành, cạnh tranh đã trở thành vấn đề được nhiềunhà kinh tế và các nhà nghiên cứu quan tâm Đến nay, khái niệm “cạnh tranh”được tiếp cận theo nhiều góc độ, được đứng trên nhiều quan điểm khác nhau Trước đây, khi mới bắt đầu nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã quanniệm một cách máy móc và cho rằng cạnh tranh là một thuộc tính cố hữu củanền kinh tế tư bản chủ nghĩa Cách hiểu này chỉ phản ánh được một cáchphiến diện của khái niệm cạnh tranh, bởi lúc đó, người ta đã bỏ ngỏ cạnhtranh dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, và cho rằng dưới chế độ đó, thay vàocạnh tranh chỉ có thi đua xã hội chủ nghĩa Theo thời gian cùng với sự trưởngthành

về mặt lý luận và nhận thức, người ta đã dần bổ sung và hoàn thiện khái niệmcạnh tranh

Trong lý thuyết cổ điển, vấn đề cạnh tranh được tiếp cận theo cách nhìnnhận của nhà kinh tế học Adam Smith là: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kìnhđịch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loạitài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”

Khi bàn về chủ nghĩa tư bản, theo quan điểm của Các Mác, “cạnh tranh

tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự phấn đấu gay gắt giữa các nhà tư bảnnhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

để thu lợi nhuận siêu ngạch” Trong khái niệm này, Các Mác đã nêu ra vấn đềcạnh tranh trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cạnh tranh diễn ra trong nền kinh tếvới chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất

Trang 35

Theo định nghĩa trong cuốn từ điển kinh doanh được xuất bản năm 1992

ở Anh thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường chính là “sự ganh đua, sự kìnhđịch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng mộtloại về phía mình”

Dưới góc độ kinh tế thuần tuý, cạnh tranh có thể được hiểu là “sự tranhgiành thị trường (khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp”,nói cách khác là “sự đấu tranh giữa các doanh nghiệp nhằm giành giật nhữngđiều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để kiếm lời”

Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học, khái niệm cạnh tranh được đề cập

“là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia và nó nảysinh khi hai hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng cóthể giành được”

Theo cách tiếp cận trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu, khái niệm

“cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăngtrưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của GDP trên đầu người theothời gian”

Dưới góc nhìn của Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của tổng thống Mỹ,khái niệm cạnh tranh với một quốc gia được hiểu là: “Cạnh tranh đối với mộtquốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và côngbằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi củathị trường quốc tề đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế củanhân dân nước đó”

Theo quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam thì khái niệm cạnh tranhđược cho là “vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hoá, dịch vụ, đó là con

Trang 36

đưòng cũng như là phương thức để giành lấy lợi nhuận cao cho các chủ thểnền kinh tế”.

Với khái niệm canh tranh, có quan điểm lại cho rằng: “Cạnh tranh đốivới một quốc gia là khả năng của nước đó đã đạt được những thành quả nhanh

và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao,được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầungười theo thời gian”

Ngoài ra, còn có khái niệm khác về cạnh tranh là” Cạnh tranh có thểđịnh nghĩa như một khả năng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lạicác đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và

có lợi nhuận” Nhiều nhà nghiên cứ đã cho rằng, một doanh nghiệp sẽ cạnhtranh thành công khi sở hữu những lợi thế mà đối thủ của họ không có được.Tuy nghiên, lợi thế đó có thể bị lu mờ dần theo thời gian, và trong điều kiệnbiến đổi liên tục của thị trường, thì dù sớm hay muộn, doanh nghiệp đó cũng

bị mất dần đi lợi thế cạnh tranh đó

Như vậy, khái niệm cạnh tranh được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm,nhiều giác độ và tùy theo phạm vi, mục đích và lĩnh vực nghiên cứu Nhưngnhìn chung có thể hiểu một cách chung nhất là “sự ganh đua, đấu tranh gaygắt và quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trườnghàng hoá nào đó nhằm giành giật thị trường và khách hàng, thông qua đó tiêuthụ được nhiều hàng hoá và thu được lợi nhuận cao”

Thực chất của cạnh tranh chính là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữacác chủ thể khi tham gia vào một thị trường Các chủ thể khi tham gia vào thịtrường luôn muốn tối đa hoá lợi ích của mình Với các doanh nghiệp, lợinhuận luôn là mục tiêu quan trọng, là kết quả mong đợi sau quá trình kinhdoanh Còn với khách hàng, hàng hoá chất lượng tốt, giá cả hợp lý, nhiều tiệních, giá trị sử dụng cao lại luôn là sự lựa chọn tối ưu Đây là quá trình mà các

Trang 37

chủ thể kinh tế sử dụng các biện pháp để giành và chi phối thị trường, thu hút

và giữ khách hàng, đồng thời đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất, để nâng cao vị thếcủa mình.Có thể nói rằng, cạnh tranh là một phương thức vận động của thịtrường Thị trường và cạnh tranh luôn gắn liền với nhau Không có cạnh tranhthì không có nền kinh tế thị trường, và nói đến thị trường cũng đồng nghĩa nóitới sự cạnh tranh Chính vì vậy, khi kinh doanh trên bất cứ thị trường nào, thìdưới các phương thức khác nhau, tuỳ theo các mức độ khác nhau, cạnh tranhluôn xuất hiện và diễn ra ngày càng mạnh mẽ

Như vậy, cạnh tranh được tiếp cận theo nhiều góc độ, phạm vi và mụcđích nghiên cứu Nhìn chung, có thể thống nhất các khái niệm đó ở một sốđiểm đó là:

- Về mục tiêu của cạnh tranh: Tối đa hoá lợi nhuận và nâng cao hiệu quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao mức sống của quốc gia,

- Phương pháp thực hiện: Tận dụng và khai thác lợi thế so sánh củamình trong việc cung ứng sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh

- Thời gian: Cạnh tranh là một quá tình, vì thế nó đòi hỏi sự liên tục,bất kỳ sự gián đoạn nào cũng để tuột mất vị trí cạnh tranh của doanh nghiệptrong nền kinh tế

1.3.1.2.Các loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Cạnh tranh được tiếp cận theo nhiều quan điểm và theo nhiều lĩnh vực,

và theo nhiều mục đích khác nhau Chính vì thế, việc phân loại hoạt độngcạnh tranh cũng rất đa dạng, được chia thành nhiều căn cứ khác nhau

Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế

Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là hoạt động cạnh tranh trong đó cácdoanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong cùng một lĩnh vực, về cùng một loạisản phẩm, dịch vụ

Trang 38

Cạnh tranh giữa các ngành: là hoạt động cạnh tranh trong đó các doanhnghiệp cạnh tranh với nhau ở các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, các ngànhkinh tế khác nhau.

Căn cứ vào hình thái cạnh tranh:

Cạnh tranh hoàn hảo: là loại cạnh tranh tự do, các doanh nghiệp có quy

mô vừa và nhỏ tham gia sản xuất, kinh doanh các sản phẩm tương tự nhau vềphẩm chất, quy cách, mẫu mã trên thị trường

Cạnh tranh không hoàn hảo là loại cạnh tranh trong đó một hoặc mộtvài tập đoàn thống trị độc quyền sản xuất và kinh doanh sản phẩm trong cáclĩnh vực như ô tô, dầu khí…Ngày nay, loại cạnh tranh này ngày càng trở nênphổ biến Trong thị trường này, phần lớn các sản phẩm không đồng nhất vớinhau Một loại sản phẩm nhưng được phân thành nhiều cấp độ chất lượngkhác nhau

Căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia.

Cạnh tranh giữa những người bán với nhau

Đây là cuộc cạnh tranh gay gắt, và chiếm nhiều nhất trên thị trường Khinền kinh tế càng phát triển, cuộc cạnh tranh này diễn ra càng mạnh mẽ vàquyết liệt, với nhiều cấp độ, cách thức và phương pháp khác nhau Để tranhgiành thị trường nội địa và quốc tế, các doanh nghiệp đều phải điều chỉnhchiến lược cạnh tranh của mình nhằm giành và giữ được thị trường, từngbước thâm nhập vào thị trường của đối thủ cạnh tranh

Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

Cuộc cạnh tranh này thường diễn ra khi mà cung nhỏ hơn cầu Chênhlệch cung cầu (cung < cầu) càng lớn, thì mức độ cạnh tranh diễn ra càng gaygắt Điều này làm cho hàng hoá ngày càng trở nên khan hiếm, giá cả tăng vọt.Tuy nhiên, người mua thường muốn mua được những sản phẩm hợp với nhu

Trang 39

cầu và thị hiếu của mình, và để có được những sản phẩm đó, họ vẫn sẵn sangtrả mức giá cao hơn để sở hữu được sản phẩm đó.

Cạnh tranh giữa người bán và người mua

Đây là cạnh tranh trong đó diễn ra việc mua rẻ bán đắt trên thị trường.Người mua luôn muốn có sản phẩm phù hợp nhu cầu, thị hiếu của mình vớichất lượng tốt, nhưng giá cả thấp nhất có thể Còn người bán, để tối đa hoá lợinhuận của mình, luôn muốn sản phẩm với giá cao nhất có thể Kết quả củaquá trình mua bán đó là giá cả cuối cùng khi hai bên đã thống nhất và thoảthuận với nhau

Căn cứ vào mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế:

Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước: là loại cạnh tranh trong đóNhà nước tham gia vào định hướng, điều chỉnh và giới hạn bằng các thể chế,pháp luật và chính sách

Cạnh tranh tự do: là loại cạnh tranh trong đó, Nhà nước không thamgiao vào điều chỉnh, điều tiết và có các biện pháp giới hạn

Căn cứ vào phạm vi địa lý

Cạnh tranh trên phạm vi từng quốc gia

 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước

 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước vànước ngoài trên phạm vi một quốc gia

Cạnh tranh trên phạm vi quốc tế:

 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc nhóm nước phát triển vớinhau Các doanh nghiệp này có tiềm lực tài chính mạnh, có mạng lưới kinhdoanh rộng khắp và trình độ công nghệ rất cao

 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc nhóm nước đang phát triểnvới nhau Trong loại hình cạnh tranh này, các doanh nghiệp thường công có

sự chênh lệch lớn về tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ, tận dụng được lợithế nguồn nhân công rẻ, và lợi thế về tài nguyên thiên nhiên trong nước mình

Trang 40

 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc nhóm nước phát triển vàđang phát triển Sự cạnh tranh này được đánh giá là gay gắt nhất bởi sự chênhlệch sâu sắc về trình độ công nghệ giữa các bên.

Căn cứ vào chiến lược cạnh tranh

Cạnh tranh trực diện: Là cạnh tranh trong đó, các doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh trực tiếp, công khai ganh đua, đấu tranh với nhau giành đượcnhững điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

Cạnh tranh không trực diện: Là loại cạnh tranh trong đó, các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh không thể hiện sự ganh đua, đấu tranh công khaivới nhau, mà quá trình cạnh tranh diễn ra ngầm nhằm giành những điều kiệnthuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

1.3.1.3 Cạnh tranh trong ngành ngân hàng.

- Cạnh tranh từ các ngân hàng mới

Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnhtranh sẽ càng lúc càng gia tăng Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộcvào “ độ cao” rào cản gia nhập Ngành ngân hàng cũng đã có những thay đổi

cơ bản khi các tổ chức nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàngViệt Nam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài

- Cạnh tranh và nguy cơ bị thay thế

Cơ bản mà nói các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam

có thể xếp vào 5 loại:

+ Là nơi nhận các khoản tiền ( lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)

+ Là nới giữ tiền (tiết kiệm…)

+ Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán

+ Là nơi cho vay tiền

+ Là nơi hoạt động kiều hối

Ngày đăng: 25/06/2016, 22:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức chi nhánh Ngân hàng Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình HN - CHUYEN DE TOT NGHIEP   một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn công thương   chi nhánh ba đình, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức chi nhánh Ngân hàng Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình HN (Trang 52)
Bảng 2.2 Kết quả huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn công thương - CHUYEN DE TOT NGHIEP   một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn công thương   chi nhánh ba đình, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.2 Kết quả huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn công thương (Trang 63)
Bảng 2.6 Kết quả cho vay tại NHTMCP Sài Gòn công thương - Chi  nhánh Ba Đình - CHUYEN DE TOT NGHIEP   một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn công thương   chi nhánh ba đình, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.6 Kết quả cho vay tại NHTMCP Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình (Trang 73)
Bảng 2.9: Tỷ lệ nợ quá hạn của NHTMCP Sài Gòn công thương - - CHUYEN DE TOT NGHIEP   một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn công thương   chi nhánh ba đình, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.9 Tỷ lệ nợ quá hạn của NHTMCP Sài Gòn công thương - (Trang 78)
Bảng 9. Kết quả cho vay của NHTMCP Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình - CHUYEN DE TOT NGHIEP   một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn công thương   chi nhánh ba đình, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 9. Kết quả cho vay của NHTMCP Sài Gòn công thương - Chi nhánh Ba Đình (Trang 110)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w