1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT

109 771 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 768,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT Ở ẦU 1. í do chọn đề tài Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, nữ sĩ Mộng Tuyết (1914- 2007) tuy chỉ giữ một vị trí khiêm nhường, song với những đóng góp loại biệt cho lịch sử văn học dân tộc và nền văn hóa Nam Bộ, bà đã sớm tạo ra cho mình một chỗ đứng riêng không ai thay thế được. Tên tuổi Mộng Tuyết sớm được công chúng trong Nam ngoài Bắc biết đến qua những tác phẩm in trên các tờ báo lớn đương thời như: Nam P on tạp 0c í, Tiểu t u ết t ứ Năm, H Nội báo, Đôn Tâ , Con On , S n , Trun Bắc c ủ n ật, Tri Tân… đặc biệt là qua giải thưởng cao quý do tổ chức văn chương danh giá nhất lúc bấy giờ là Tự lực văn đoàn trao tặng cho tập thơ “P ấn ươn rừn ” của nàng thiếu nữ nơi cực Nam Tổ quốc. Những năm đầu thế kỷ XX, khi nền văn học Quốc ngữ còn phôi thai, Mộng Tuyết đã là một trong những nhà thơ nữ hiếm hoi bên cạnh những Ngân Giang, Đạm Phương, Tương Phố, Nguyễn Thị Kiêm, Mộng Sơn, Vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ. Trong suốt 80 năm cầm bút, nữ sĩ đã tạo được cho mình một tấm hộ chiếu tâm hồn riêng, một phong cách nghệ thuật riêng. Những tác phẩm của bà, dù thơ hay văn xuôi đều mang vẻ đẹp trong sáng của ngôn ngữ, hình ảnh; đều thể hiện sự chân thật trong cảm xúc, khiến cho người đọc vô cùng thích thú. Riêng về thơ của bà, Hoài Thanh và Hoài Chân, trong cuốn T n ân V ệt Nam đã có nhận xét như sau: “…Còn t ơ, oặc n ẹ n n í ởn, oặc m súc lâm l , oặc n ớ n un bát n át, oặc xôn xao rạo rực, tổn c i l lời một t iếu nữ, k i tự tìn , k i đùa iỡn, k i tạ lòn n ười u...” [47,359] Đông Hồ, người thầy – người bạn đời của nữ sĩ, trong lời tựa cuốn D má trăn non của nàng thì cho rằng: “Văn Mộn Tu ết đẹp cũn n ư t ơ Mộn Tu ết”[64,7]. Đặt cây bút tài hoa này trong cái nôi văn học miền Nam, ông càng làm rõ thêm vị trí quan trọng của tác giả: “Miền Nam, miền ít văn c ươn , ít t i oa tự 2 xưa na , n ười con trai a c ữ đ l iếm m n ười con ái a c ữ lại c n iếm lắm” [64,7]. Những ý kiến trên cho thấy, đóng góp của bà thật sự đáng quý, sự nghiệp văn chương của bà xứng đáng được giới thiệu rộng rãi tới toàn bộ công chúng. Việc nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của nữ sĩ Mộng Tuyết không chỉ giúp người đọc thấy rõ hơn những đóng góp đặc sắc của cây bút nữ đất mũi Hà Tiên mà còn thấy được vị trí của nữ phái trên văn đàn và cũng sẽ tìm thấy được những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn những người dân trên mảnh đất phương Nam, qua đó góp phần lấp đầy những khoảng trống trong lịch sử văn học nước nhà; đồng thời còn là một cách hữu hiệu để mỗi người đọc có thể di dưỡng tâm hồn. ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT

Trang 2

Lêi c¶m ¬n

Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thị Trâm –

người đã tận tình hướng dẫn, quan tâm và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện

và hoàn thành luận văn này

Em xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

H Nội, t án 7 năm2015

Tá giả luận văn

Tạ Thị Xáu

Trang 3

ộng uyết

(1914 - 2007)

Trang 4

Tên tuổi Mộng Tuyết sớm được công chúng trong Nam ngoài Bắc biết

đến qua những tác phẩm in trên các tờ báo lớn đương thời như: Nam P on tạp

0c í, Tiểu t u ết t ứ Năm, H Nội báo, Đôn Tâ , Con On , S n , Trun Bắc

c ủ n ật, Tri Tân… đặc biệt là qua giải thưởng cao quý do tổ chức văn chương

danh giá nhất lúc bấy giờ là Tự lực văn đoàn trao tặng cho tập thơ “P ấn ươn

rừn ” của nàng thiếu nữ nơi cực Nam Tổ quốc

Những năm đầu thế kỷ XX, khi nền văn học Quốc ngữ còn phôi thai, Mộng Tuyết đã là một trong những nhà thơ nữ hiếm hoi bên cạnh những Ngân Giang, Đạm Phương, Tương Phố, Nguyễn Thị Kiêm, Mộng Sơn, Vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ Trong suốt 80 năm cầm bút, nữ sĩ đã tạo được cho mình một tấm hộ chiếu tâm hồn riêng, một phong cách nghệ thuật riêng Những tác phẩm của bà, dù thơ hay văn xuôi đều mang vẻ đẹp trong sáng của ngôn ngữ, hình ảnh; đều thể hiện sự chân thật trong cảm xúc, khiến cho người đọc vô cùng thích

thú Riêng về thơ của bà, Hoài Thanh và Hoài Chân, trong cuốn T n ân V ệt

Nam đã có nhận xét như sau: “…Còn t ơ, oặc n ẹ n n í ởn, oặc m súc

lâm l , oặc n ớ n un bát n át, oặc xôn xao rạo rực, tổn c i l lời một t iếu

nữ, k i tự tìn , k i đùa iỡn, k i tạ lòn n ười u ” [47,359]

Đông Hồ, người thầy – người bạn đời của nữ sĩ, trong lời tựa cuốn D má

trăn non của nàng thì cho rằng: “Văn Mộn Tu ết đẹp cũn n ư t ơ Mộn

Tu ết”[64,7] Đặt cây bút tài hoa này trong cái nôi văn học miền Nam, ông càng làm

rõ thêm vị trí quan trọng của tác giả: “Miền Nam, miền ít văn c ươn , ít t i oa tự

Trang 5

xưa na , n ười con trai a c ữ đ l iếm m n ười con ái a c ữ lại c n iếm

Nhưng đáng tiếc, cho đến nay hầu như chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống sự nghiệp thơ văn của bậc tài nữ đất phương Nam

Với mong muốn làm chiếc cầu nối đưa tác phẩm văn chương của tác giả

đến gần hơn với những người yêu văn chương nghệ thuật để “rồi các bạn sẽ

man về t eo mìn một tấm lòn t t đẹp n ất trần ian” (Đông Hồ), chúng tôi

đã chọn đề tài Sự n ệp t ơ văn ủ nữ sĩ Mộn Tuyết làm đề tài luận văn

thạc sĩ của mình

2 ịch sử vấn đề

Trong quá trình nghiên cứu, bước đầu chúng tôi đã tìm được một số tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu

Có thể xem cuốn T n ân V ệt m của Hoài Thanh, Hoài Chân là tài

liệu nghiên cứu đầu tiên về Mộng Tuyết Trong cuốn sách này, tác giả dành ba

trang để giới thiệu về nữ sĩ, với hai bài thơ của bà là Dươn liễu tân t an , Vì

an T ọ Xuân Đó là hai tác phẩm được trích từ tập thơ P ấn ơn rừn , một

sáng tác đã được Tự lực văn đoàn khen ngợi vào năm 1939… Trong mấy trang

Trang 6

sách ấy, Hoài Thanh – người có con mắt xanh đã dùng những lời lẽ rất đẹp và

tinh tế để nói về văn chương Mộng Tuyết: “N ười xem t ơ bỗn t ấ lòn run

run n ư k i được đọc t ơ tìn ửi c o một n ười bạn: n ười t ấ mìn đ p ạm

v o c ỗ ri n tâ của một tâm ồn, tron ta dườn n ư nắm cả một niềm ân ái” Nhà phê bình cũng đã chỉ ra được nét đặc sắc của văn thơ Mộng Tuyết và

đó cũng chính là nét độc đáo riêng của thơ văn phụ nữ: “tu bìn dị m có một

vẻ u kiều ri n tưởn n òi bút đ n ôn k ó có t ể viết ra được”

Sau bài viết mang tính chuyên nghiệp của nhà phê bình Hoài Thanh, phải

kể đến lời giới thiệu cuốn sách D má trăn non của Đông Hồ với tên gọi:

Đôn P ươn có n ữn n ười con ái a c ữ Trong bài viết này, Đông Hồ đã

nhận xét: “Văn Mộn Tu ết l t ứ văn đẹp v tin , đâ đó k ôn t iếu ì n ữn

ý t ơ tron trẻo, văn ai đọc đến m k ôn t ấ lòn đượm một tìn u p ơi

p ới v cảm một m i cảm ần ụi, t ân mật n ất với lòn mìn ” Với tấm lòng

tri kỷ và thái độ đặc biệt nâng niu, trân trọng một tài năng mới hé lộ, lấy lòng mình để hiểu lòng người, thi nhân Đông Hồ đã khuyến khích bạn đọc hãy đến với cuốn sách để phát hiện những bí mật trong tâm hồn của nữ sĩ Mộng Tuyết,

để “đem về một tấm lòn t t đẹp n ất trần ian”

Ngoài hai bài viết quan trọng của hai nhà văn hóa lớn là Hoài Thanh và Đồng Hồ, còn có không ít bài viết khác của một số tác giả được in trong các cuốn sách của Mộng Tuyết; những bài viết của người thân, bạn bè khi bà dời cõi tạm ra đi vào cõi vĩnh hằng (2007) và mục Mộng Tuyết do Vũ Thanh biên soạn

(Từ điển Văn ọc, bộ mới, NXB Thế Giới, 2004, trang 999)

Bên cạnh phát hiện về nét đáng yêu của thơ Mộng Tuyết: “Trước cái buồn

cô đơn da diết của t ơ ca đươn t ời, n ữn b i t ơ của Mộn Tu ết nổi l n với tìn cảm ồn n i n, n í n ản đượm vẻ n ọt n o ạn p úc của một cô ái

k u các”, Vũ Thanh còn khẳng định: “Tìn cảm của n t ơ k ôn c ỉ k ép lại quẩn quan tron cái tôi ri n tư m còn n ạ cảm, rộn mở trước nỗi t n

Trang 7

k ổ của đồn b o mìn …” Và cho rằng, phong cách nghệ thuật của bà là khá

thống nhất, cả trong thơ, trong văn, trong kịch, trong tùy bút…“Đó l iọn t ơ

đán u…Tru ện n ắn, kịc vui, tù bút…của Mộn Tu ết cũn man t eo cái

n ẹ n n t an t oát của t ơ b ”

Về giải nhất văn chương của Mộng Tuyết trên báo S n , nhà văn Thái Phỉ Nguyễn Đức Phong bình luận: “P ải l bộ óc của một t i sĩ mới tạo n n được

một cõi tìn li kì, nó c ỉ có ở tron lý tưởn m ản ưởn của văn t ơ v tiểu

t u ết c âu Âu K ôn nữa t ì cô Mộn Tu ết p ải do trườn Trí Đức ọc xá ở

H Ti n đ o tạo n n mới viết được một t ứ văn ọn ẽ, rõ r n lại điểm c út mùi t ơ n ọt n o, m dịu”

Bài viết “Một t oán với nữ sĩ Mộn Tu ết đất H Ti n v “Đôn Hồ t i

n ân kỉ niệm đườn ” của Hoàng Quốc Hải đăng trên tạp c í N văn năm 1998

là những tản mạn của cây bút này khi đến thăm Mộng Tuyết tại nhà lưu niệm Đông Hồ Tại đây “văn sĩ đất Thăng Long” đã được đón tiếp ân cần và cởi mở, được thấy những kỉ vật, những tập sách của đôi vợ chồng thi nhân Đọc cuốn

D má trăn non của nữ sĩ trong một không gian đầy ắp những kỷ niệm văn

chương, Quốc Hải xúc động bầy tỏ: “Ở đâ ta bắt ặp một tâm ồn tron sán ,

một t iếu nữ n ìn đời qua lăn kín m u ồn …c o ta t ấ lại cả một t ế iới

t an bìn Ta ìn dun tron cái t ế iới đó con n ười được trân trọn , tâm

ồn tron vắt n ư p a l , mặt đất tr n n ập nắn ấm, oa v n ạc Nói các

k ác,“Trăn non” c ín l mản ồn nữ sĩ k i đan t ời xuân sắc”

Lê Thị Thanh Tâm khi nói về ba tập hồi ký ú Mộn ơn Hồ của nữ

sĩ đã gợi nhắc lại mối tình thiên thu của Mộng Tuyết – Đông Hồ từ những ngày

đầu gặp mặt đến khi theo bóng hạc vút bay và đã tỏ ra thật sự “ấn tượn về m i

tìn t ơ, một cặp t i t i, một đôi lứa tìm t ấ n au tron sự n iệp v sự t ăn

oa, c ín l Cái Đẹp… l sự Hiển lin ”

Trang 8

Mộng Tuyết được nhà nghiên cứu Đoàn Lê Giang đánh giá là: “t i sĩ t i

oa n ất, có bản sắc n ất tron n óm H Ti n, v l nữ t i sĩ xuất sắc n ất của

p on tr o T ơ mới to n qu c Nói n ư t ế tôi có n ĩ đến Man Man , Hằn

P ươn , Vân Đ i, An T ơ”

Sau khi Mộng Tuyết qua đời, có rất nhiều bài tưởng niệm về bà.Như những nén tâm hương, các bài viết này đã gợi nhắc lại bao kỉ niệm đẹp, đánh giá, nhấn mạnh vai trò, sự đóng góp của bà về hai lĩnh vực văn chương và văn hóa Đó là bài viết của các tác giả: Huỳnh Thu, Nguyễn Định Quốc, Đoàn Minh Tuấn Đó còn là cụm bài tưởng niệm của các thành viên trong thi đàn Quỳnh Dao và của con cháu dòng họ Lâm đất mũi Đọc chúng, ta có cảm giác, Mộng Tuyết và văn nghiệp của bà như đang sống mãi trong niềm tiếc nuối, nhớ thương

của mọi người với hình ảnh “Bậc nữ sĩ văn c ươn tao n , đức ạn son

to n, đem t ơ văn p ổ biến sâu rộn c o mọi n ười đều biết đến H Ti n… xứn đán bậc nữ lưu cao quý” (Thích nữ Như Hải) “T ế ệ văn c ươn ôm

na v mai sau sẽ luôn n ớ đến nữ sĩ Mộn Tu ết với n ữn tran t ơ văn đằm

t ắm v con n ười n ân ậu đ đứn vữn tr n văn đ n Việt Nam đầu t ế kỉ 20” (Trương Thanh Hùng – chủ tịch hội Văn học nghệ thuật tỉnh Kiên Giang)…

Nhìn chung, những ý kiến của các tác giả từ trước đến nay cơ bản thống nhất khi đánh giá về đóng góp và vị trí của nữ sĩ, song những nhận xét còn có phần sơ sài, thiếu hệ thống và chưa đầy đủ

Trên cơ sở những ý kiến của người đi trước, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu

về văn tài của bà, với mong muốn làm sáng tỏ hơn giá trị và những đóng góp của Mộng Tuyết cho sự nghiệp văn học nước nhà nói chung và nền văn học Nam bộ nói riêng

Trang 9

- Đặt tác phẩm Mộng Tuyết trong cái nền chung của đời sống văn học đương thời để thấy được nét đặc sắc và giá trị của thơ văn tác giả trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật

- Đánh giá những đóng góp của nữ sĩ cho sự phát triển của nền văn học nước nhà nói chung và sự phát triển của văn chương Nam Bộ nói riêng

4 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Toàn bộ những sáng tác của Mộng Tuyết bao gồm cả hai lĩnh vực: thơ văn (trong đó có cả dịch thuật) Gồm các tác phẩm đã được xuất bản sau đây:

- Bôn oa đua nở (1930)

- Lời oa (1934), NXB Trường Phát

- P ấn ươn rừn (1939), được giải “Khen tặng” của Tự Lực Văn đoàn

- Đườn v o H Ti n (1960), tùy bút, NXB Bốn Phương

- N n Ái Cơ tron c ậu úp (1961), tiểu thuyết lịch sử, NXB Bốn Phương

- Dưới mái trăn non (1969), NXB Mặc Lâm

- Tru ện cổ Đôn Tâ (1969), NXB Mặc Lâm

- Hươn â mùi n ớ (1970), NXB Mặc Lâm

- Gầ oa cúc (1996), NXB Văn Nghệ

- Núi Mộn ươn Hồ (1998), hồi ký ba tập, NXB Trẻ

Ngoài ra, nữ sĩ còn có một số tác phẩm in chung với các tác giả khác, như

những bài thơ trong tập Hươn Xuân (1943) in chung với Vân Đài và Hằng Phương

Để hiểu sâu được cuộc đời và sự nghiệp thơ văn cũng như những nét đặc sắc, độc đáo của văn chương Mộng Tuyết, ngoài những sáng tác của bà, chúng tôi còn quan tâm đến những bài viết về liên quan đến tác giả Gồm những bài nghiên cứu phê bình về Mộng Tuyết, những bài thơ xướng họa giữa bà và bạn

bè Đặt nữ sĩ Mộng Tuyết trong thời đại của bà, luận văn ít nhiều cũng quan tâm tới một số sáng tác của các nhà văn, nhà thơ đương thời, đặc biệt là những cây

bút nữ như Ngân Giang, Đạm Phương, Tương Phố, Anh Thơ, Hằng Phương…

Trang 10

5 óng góp của luận văn

- Tổng soát lại toàn bộ sự nghiệp thơ văn, chỉ ra những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn thơ Mộng Tuyết

- Đặt Mộng Tuyết trong hoàn cảnh xã hội đầu thế kỉ XX để thấy được vai trò, vị trí của bà đối với lịch sử phát triển của nền văn hóa, văn học cả nước nói chung, văn chương Nam Bộ và sự phát triển của nền văn hóa đất Mũi Hà Tiên

nói riêng

6 hương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, để hoàn thành đề tài Sự n iệp t ơ văn của

nữ sĩ Mộn Tu ết người viết sẽ sử dụng linh hoạt một số phương pháp nghiên

cứu chủ yếu sau:

- P ươn p áp tiểu sử ọc

Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu những yếu tố tạo nên con người và văn chương Mộng Tuyết

- P ươn p áp n i n cứu văn ọc sử

Sử dụng phương pháp này với mục đích định vị vị trí của Mộng Tuyết trong nền văn học dân tộc và văn học miền Nam những năm đầu thế kỉ XX

- P ươn p áp t n k

Đây là một trong những phương pháp định lượng quan trọng trong quá

trình nghiên cứu để giúp những kết luận mà đề tài đưa ra sẽ có sức thuyết phục

- P ươn p áp p ân tíc – tổn ợp

Qua phân tích những nét đặc sắc về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của những tác phẩm văn thơ của tác giả, luận văn sẽ tổng hợp để nêu bật giá trị của đời văn Mộng Tuyết

- P ươn p áp so sán – đ i c iếu

Đặt Mộng Tuyết trong đội ngũ sáng tác đương thời, so sánh những đóng góp của bà với các nhà văn, nhà thơ khác trong giai đoạn văn học đầu thế kỉ XX

Trang 11

để thấy được những đóng góp loại biệt không thể thay thế của bà cho lịch sử văn học Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung

7 ấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

hương 1: Nền văn học Quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX và nữ sĩ

Trang 12

1.1.1.1 Tìn ìn x ội Việt Nam đầu t ế kỷ XX

Tháng 2 năm 1859, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ Với tinh thần yêu nước nồng nàn, nhân dân Nam Bộ và nhân dân cả nước đã anh dũng đứng lên đấu tranh chống lại quân xâm lược Song vì nhiều nguyên nhân, năm

1862, Pháp đã chiếm được toàn bộ 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường Từ

đó phần đất đai phì nhiêu rộng lớn ấy của Tổ quốc Việt Nam đã bị coi là “vùng thuộc Pháp” Năm 1867 triều đình Huế lại cắt nốt cho Pháp 3 tỉnh miền Tây Nam

Kỳ Và như thế, cuộc bình định của Pháp đã hoàn thành ở vùng đất Nam Kỳ

Sau khi chiếm được các tỉnh, chúng lập trường dạy Quốc ngữ và chữ Pháp ở những nơi đông dân cư, định các ngạch thuế và định ngân sách cho các thuộc địa

Bước tiếp theo, Pháp chiêu dụ những người có học ra làm quan, song không thành, chúng phải dựa vào một số bồi bếp, thông ngôn, giáo dân và bọn

lưu manh, đưa họ ra làm tổng lý và nhân viên văn phòng C ín n ữn n ười

n tiếp xúc đầu ti n với văn óa t ực dân, ọc c ữ Qu c n ữ, đọc sác báo

Qu c n ữ v trở t n một bộ p ận côn c ún mới của văn ọc Qu c n ữ ở Nam Bộ tron t ời kỳ đầu

Trang 13

Chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp tiếp tục xâm lược Bắc Kỳ và Trung

Kỳ Có thể nói, sự xuất hiện của thực dân Pháp là một biến thiên lớn nhất trong lịch sử dân tộc từ mấy chục thế kỷ qua, không chỉ làm thay đổi sơn hà mà còn làm đổi thay số phận mỗi cá nhân Những người nông dân nghèo khổ dời khỏi ruộng đồng tìm đến thành thị để kiếm sống Ít người trong số họ được “may mắn” vào làm trong các công xưởng, nhà máy hay đồn điền của thực dân Nhiều người không kiếm được việc làm phải biến thành những anh bồi, những phu xe, những vú em, con sen, những người buôn thúng bán bưng và một bộ phận trở thành lưu manh, gái điếm Tầng lớp tiểu tư sản và dân nghèo đông đảo, ngày một nhiều lên.Họ có cuộc sống bấp bênh ở đô thành xa hoa nhưng cũng đầy cạm bẫy Cuộc sống đô thị với sức mạnh của đồng tiền đã làm nhân tâm con người nhiều phen điên đảo, nhân phẩm bị dày xéo, chà đạp Để giữ tấm lòng trong sạch thì khả năng chết đói có thể xảy ra, để được hưởng “lương Tây” thì phải chịu biết bao nhục nhã Nhiều giá trị con người dường như bị đảo lộn!

1.1.1.2 N ữn đổi t a về văn óa

Xâm chiếm Nam Kỳ thực dân Pháp muốn xóa bỏ ngay ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong đời sống của người Việt, kéo họ về phía Pháp Chữ Hán dần mất ưu thế trong đời sống Thi hương được xóa bỏ sớm nhất ở Nam Bộ, rồi đến Bắc Bộ và cuối cùng là Trung Bộ Những trí thức Nho học đau buồn trước

sự suy tàn của đạo học nhưng cũng cố thực hiện phương châm “giấy rách phải giữ lấy lề” Thấy rõ ngay âm mưu của thực dân Pháp trong việc phổ biến chữ Quốc ngữ, lúc đầu, với thái độ cực đoan, họ đã tẩy chay tất cả gì gắn với thực dân, trong đó có chữ Quốc ngữ Nhưng dần dần, bộ phận cư dân đô thị ngày càng thấy được sự tiện lợi của các đồ dùng do thực dân mang đến, đồng thời cũng thấy sự hấp dẫn của sinh hoạt văn hóa theo kiểu phương Tây Cái mới, cái đẹp, theo quan niệm cũ dường như đã bị rạn nứt Bây giờ cái mới, cái đẹp, đồ

Tây, văn minh Tây đã được nhìn theo hướng khác Hoài Thanh viết: “C ún ta

Trang 14

ở n Tâ , đội mũ Tâ , đi i Tâ , mặc áo Tâ , c ún ta dun đèn điện, đồn

ồ, ô – tô, xe lửa, xe đạp… Nói l m sao c o xiết n ữn t a đổi về vật c ất

p ươn Tâ đ đưa tới iữa c ún ta, c o đến n ữn nơi an cùn n õ ẻm, cuộc s n cũn k ôn iữ n u n ìn n trước, n o dầu Tâ , di m Tâ , n o vải Tâ , c ỉ Tâ , kim Tâ , đin Tâ …” [47,16] Rõ ràng, sức hấp dẫn của cái

mới đã lôi kéo được đa số người dân thành thị vào lối sống mới khác xa cuộc sống của trí thức Nho học ngày xưa Nó làm thay đổi cả cuộc sống tinh thần, tâm lý, thị hiếu, cách suy nghĩ… của họ

Những sự thay đổi của xã hội từ khi thực dân Pháp xâm lược đã tạo ra những con người khác trước, những nhân vật khác trước, làm nảy sinh một nền văn hóa hoàn toàn khác trước Và nền văn học mới với những thay đổi rất căn bản đã ra đời nhằm phục vụ thị hiếu của lớp công chúng mới với nhiều tư tưởng hiện đại và khác lạ

1.1.2 Đặ đ ểm p át tr ển ủ nền văn m

1.1.2.1 Văn ọc c u ển từ p ạm trù trun đại san p ạm trù iện đại

Hiện đại hóa nền văn học đầu thế kỷ XX, theo Nguyễn Đăng Mạnh chính

là cuộc Âu hóa nền văn học dân tộc, đưa nền văn học nước nhà từ một nền văn học được viết dưới ánh sáng quan điểm mĩ học phương Đông sang một nền văn học được viết dưới ánh sáng quan điểm mĩ học phương Tây Công cuộc Hiện đại hóa nền văn học đã đưa Văn học Việt Nam từ nền văn học có tính chất khu vực chuyển sang một nền văn học có tính chất phổ quát toàn cầu Cuộc cách mạng trong văn học này đã làm thay đổi tận gốc toàn bộ những nhân tố làm nên nền văn học dân tộc Đó là sự đổi thay về mô hình tác giả và công chúng, về quan niệm thẩm mĩ và cảm hứng nghệ thuật, về ngôn ngữ và thể loại,về hình thức in

ấn xuất bản

Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX và đặc biệt là chặng đường từ 1932 đến 1945 đã phát triển với một tốc độ thực sự mau lẹ, đã hình thành được một

Trang 15

mô hình tác giả và bạn đọc kiểu mới Quá trình hiện đại hóa giống như một cuộc phục hưng lớn đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo của cả nền văn học dân tộc Công lao to lớn ấy trước hết thuộc về đội ngũ những người cầm bút Chính họ

đã tạo ra cách viết văn làm báo một thời – cái thời văn báo bất phân trên mọi phương diện: nội dung, hình thức, đề tài, ngôn ngữ, thể loại

Lực lượng sáng tác thời kì này rất đông đảo với nhiều gương mặt sáng giá, nhiều nghệ sĩ đa tài Nếu đem so sánh với thời kì Trung đại, chúng ta mới có thể thấy được sự phát triển nhanh chóng của đội ngũ văn nghệ sĩ nước nhà lúc này Số lượng nhà văn đã tăng lên đột biến theo cấp số nhân Riêng phong trào Thơ Mới, Hoài Thanh đã lựa chọn được hơn 60 nhà thơ tiêu biểu Nhưng điều đáng bàn là mỗi nhà văn tài năng ấy đã tạo ra cho mình một phong cách nghệ

thuật độc đáo riêng: “C ưa bao iờ n ư bâ iờ n ười ta t ấ cùn một lần xuất

iện tr n văn đ n ồn t ơ rộn mở n ư T ế Lữ, ùn trán n ư Hu T ôn , tron sán n ư N u ễn N ược P áp, kì dị n ư C ế Lan Vi n, qu mùa n ư

N u ễn Bín , ảo n o n ư Hu Cận…v băn k oăn t iết t a rạo rực n ư Xuân Diệu…”[47,20]

Dưới tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan, đội ngũ nhà văn Việt Nam đã phát triển vô cùng mạnh mẽ

Không chỉ phát triển về số lượng, mô hình nhà văn và công chúng bạn đọc cũng có sự thay đổi lớn về chất lượng: Từ những nhà Nho thời Trung đại, nay chuyển sang tầng lớp trí thức Tây học Sống trong môi trường mới, được đào tạo trong một nhà trường mới, được giao lưu ngày càng sâu rộng với phương Tây, ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã nhanh chóng hình thành một mô hình tác giả và độc giả kiểu mới với những nhu cầu văn hóa khác xa với người viết và người đọc thời Trung đại

Tầng lớp này sẽ đem đến một hơi thở mới cho nền văn học

Trang 16

Đổi mới n ôn n ữ v t ể loại

Cuộc đổi mới văn học đầu thế kỉ XX được bắt đầu từ đổi mới văn tự: từ chữ Hán, chữ Nôm, sang chữ Quốc ngữ theo hệ La tinh

Ra đời vào cuối thế kỉ XVII với mục đích truyền đạo, nhưng cho mãi đến cuối thế kỉ XIX, chữ Quốc ngữ không thể phát triển nổi vì sự phản ứng mạnh mẽ của người bản địa Ngay khi xâm chiếm Việt Nam, thực dân Pháp đã mang theo mưu đồ sử dụng chữ Quốc ngữ làm công cụ nô dịch và đồng hóa nhân dân bản xứ

Sau khi chinh phục và bình định Việt Nam, người Pháp càng tăng cường ráo riết thực hiện kế hoạch của mình Chính sách được thực hiện bắt đầu ở khu vực hành chính: Toàn bộ công văn, giấy tờ đều phải viết bằng chữ Quốc ngữ Trong Nghị định ngày 6 tháng 4 năm 1878, thực dân Pháp đặt ra một yêu cầu:

“Kể từ n 1-1-1882, k ôn một tu ển dụn n o được t i n , k ôn một

t ăn trật n o được c o p ép tron n ạc p ủ, u ện, tổn , đ i với bất cứ ai ở tron tìn trạn k ôn viết được c ữ Qu c n ữ”[60]

Sự phát triển của chữ Quốc ngữ so với mấy thế kỉ trước là do những chính sách đãi ngộ rất hấp dẫn của Pháp đưa ra để khuyến khích người dân chăm chỉ học và sử dụng chữ Quốc ngữ Ngoài ra còn phải kể đến những đóng góp rất quan trọng của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác Nhưng sự phát triển nhanh chóng vượt bậc của chữ Quốc ngữ còn do một nhân tố chủ quan

có tính chất quyết định: Đó là sự tự giác tiếp nhận của người bản địa Trước đây,

vì lòng tự tôn dân tộc, đa số người Việt đã tẩy chay thứ chữ “cua bò” của phương Tây.Nhưng qua thực tế, người ta đã dần dần nhận thấy ưu thế của thứ chữ mới đó, vì vậy họ đã ra sức học tập, trau dồi cách diễn đạt, cải tiến từng bước câu văn xuôi để nó trở nên ngày một hoàn thiện Trong những điều kiện thuận lợi ấy, đầu thế kỉ XX, chữ Quốc ngữ đã phát triển rất mạnh mẽ và nhanh chóng trở thành thứ văn tự chính thức trên phạm vi toàn quốc Việc phổ biến và phát triển rộng rãi chữ Quốc ngữ đã làm cho văn học được dân chủ hóa, là cơ sở giúp cho văn học phát triển đột biến vào những năm 30 của thế kỉ này

Trang 17

Cùn với sự đổi t a của n ôn n ữ l sự t a đổi của ệ t n t ể loại.Đâ cũn l một đổi t a k ôn kém p ần quan trọn Bởi lịch sử văn học

chính là sự nối tiếp nhau của các thể loại Trong một hoàn cảnh mới, do yêu cầu của một nền văn học mới, toàn bộ hệ thống thể loại văn học của phương Đông

đã được thay thế bằng hệ thống thể loại văn học của phương Tây Khái niệm văn của phương Đông xưa vốn rất rộng, bao gồm cả bộ phận văn học chức năng (Cáo, hịch, chiếu, biểu, chế, chỉ, dụ, sắc thừa, tấu sớ, văn tế…) cùng nhiều thể loại văn học nghệ thuật (thơ, văn, phú, lục…) Hệ thống thể loại ấy nay đã bị triệt tiêu rồi dần dần đã mất hẳn vai trò lịch sử Đồng thời là sự xuất hiện của những thể loại văn học nghệ thuật mới như tiểu thuyết, thơ trữ tình, kịch nói… văn chính luận (chứng minh, giải thích, phân tích, bình luận…) và nhiều thể loại báo chí như: Phóng sự, kí sự, hồi kí, hồi ký, bút ký, chân dung…

Tiếp theo là sự đổi mới quan hệ giữa các thể loại và vị trí từng thể loại Trong văn học cổ Trung đại, thể loại văn học cũng được phân chia theo thứ bậc: trên – dưới, thấp – cao Nằm ở vị trí trung tâm của hệ thống văn học trung đại là những thể loại văn học chức năng, những chính kinh, liệt truyện, ngôn chí, thuật hoài… Văn thơ châm biếm, trào phúng và những thể loại phản ánh đời sống bằng hư cấu nghệ thuật đều là những loại hạ đẳng nằm ở ngoại vi của hệ thống văn học ấy

Đến thời kì hiện đại, trọng lực của hệ thống thể loại chuyển từ thơ sang văn xuôi Văn xuôi xưa vốn không chiếm vị trí quan trong, nay được đặc biệt quan tâm Đáng chú ý là do sự phát triển của mình, văn học từ một khối mang tính nguyên hợp: Văn - sử - triết bất phân theo kiểu phương Đông, lúc này đã đủ sức tách ra thành những ngành riêng và lại được tách ra thành nhiều chuyên ngành hẹp: Sáng tác, lí luận, nghiên cứu, phê bình, dịch thuật… Điều đó chứng

tỏ văn học đã trưởng thành và bước sang thời kì hiện đại Đầu những năm ba mươi, ngành lí luận đã đạt được những thành tựu vững vàng, đánh dấu bằng

Trang 18

cuốn P ê bìn và ảo luận của Thiếu Sơn (1933) Từ đây văn học bắt đầu trở

thành một hoạt động xã hội có cơ quan ngôn luận riêng, đồng thời xuất hiện nhiều khuynh hướng, trào lưu văn học khác nhau, tạo nên những xung đột, đẩy mạnh quá trình văn học phát triển và góp phần làm cho thể chính luận nhanh chóng trưởng thành

Cùng với quá trình vận động của xã hội, sự thay đổi nhu cầu thị hiếu của con người, là sự ra đời của hệ thống bưu chính, hiệu sách, nhà in, nhà xuất bản, những tiền đề vật chất cần thiết để có thể hình thành một nền văn học hiện đại

Nghề in khắc bản gỗ của chúng ta ra đời rất sớm và đã góp một phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển của văn học nước nhà, nhưng dù sao đó cũng chỉ là một nghề thủ công

Cho đến năm 1861, ở Nam kì bắt đầu xuất hiện xưởng in Tipo, với 4 công nhân đưa từ Pháp sang Nghề in chữ đúc (tipo) du nhập vào Việt Nam (tại Sài

Gòn), đi theo đạo quân của tướng BôNa (Bonard) Ấn phẩm đầu tiên là tờ Côn

báo của quân đội viễn chinh Pháp ở Nam kỳ Năm 1865 xuất hiện một nhà in

khác của chính quyền Pháp, in tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ: Tờ G Địn

báo Cho đến cuối thế kỉ XIX, ở Việt Nam đã có cả một hệ thống các nhà in

phần lớn của tư bản Pháp như: Imprimerie Impériale (Nhà in Hoàng gia) năm

1867 tại Sài Gòn, Imprimerie Mission năm 1884 tại Sài Gòn… Nhà in sớm nhất

ở Hà Nội là Nhà in Viễn Đôn thành lập năm 1905 Rồi đến nhà in Nordemann (1905), nhà in Đôn Kin (1907)… cũng ở Hà Nội

Bên cạnh hệ thống nhà in là một loạt nhà xuất bản với các phương tiện ấn loát hiện đại, có thể nhanh chóng cho ra đời hàng loạt ấn phẩm, vừa rẻ vừa nhà nhanh vừa chính xác vừa đẹp nên có thể phổ cập được rộng rãi hơn so với lỗi khắc mộc bản trước đây Nếu không có các nhà in, nhà xuất bản thì văn học khó

có thể phát triển mạnh mẽ, bởi vì các cơ sở văn hóa này không chỉ có công phát

Trang 19

hiện ra tác phẩm, nâng đỡ các tài năng mà còn làm nhiệm vụ nhân bản, truyền

bá và đưa tác phẩm đến tận tay bạn đọc, là chiếc cầu nối giữa người sáng tác và

độc giả Phải kể đến những nhà xuất bản tiêu biểu nhất như Tân Dân, H n

T u n, Min Đức, C ân P ươn , Nam Ký… những nhà xuất bản đã có công

không nhỏ trong việc tạo dựng nền văn học mới

Đầu thế kỉ XX, khi văn học Việt Nam chuyển từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại, quan niệm thẩm mĩ có rất nhiều thay đổi Đó là một sự đổi mới toàn bộ hệ thống quan niệm về chức năng, bản chất, nguồn gốc, đối tượng, nhiệm vụ … của văn học và cách tiếp nhận tác phẩm văn học

Rõ ràng, sự thay đổi cơ bản về đời sống xã hội, sự du nhập và ảnh hưởng mạnh của văn hóa phương Tây đã làm cho quan điểm thẩm mĩ của con người

thay đổi Là người trong cuộc, hơn ai hết, tác giả Tiến t u Lưu Trọng Lư đã

cảm nhận được một cách tường tận sự khác biệt trong quan niệm mĩ học giữa

hai thế hệ nhà Nho và trí thức Tây học Theo ông: “Các cụ ta ưa n ữn m u đỏ

c oét; ta lại ưa n ữn m u xan n ạt…các cụ bân k uân vì tiến trùn đ m

k u a; ta nao nao vì tiến lúc đún n ọ N ìn một cô ái xin xắn, n â t ơ, các cụ coi n ư đ l m một điều tội lỗi; ta t ì ta c o l mát mẻ n ư đứn trước một cán đồn xan Cái ái tìn của các cụ t ì c ỉ l sự ôn n ân, n ưn đ i với ta t ì trăm ìn muôn trạn : cái tìn sa đắm, cái tìn t oản qua, cái tìn

ần ụi, cái tìn xa xôi…cái tìn tron iâ p út, cái tìn n n t u…”[47,17]

Như vậy, đầu thế kỉ XX đã xuất hiện một quan niệm nghệ thuật về cái đẹp hết sức mới mẻ mà quan niệm nghệ thuật về cái đẹp lại chính là hạt nhân chủ yếu của tư duy văn học Đó là dấu hiệu cho thấy văn học dân tộc lúc này đã bắt đầu giã từ một truyền thống văn học vùng Đông Á để đi vào một phạm trù khác Một phạm trù văn học mới thật sự đã ra đời

Trang 20

Đề t i v cảm ứn n ệ t uật

Sang đầu thế kỉ XX, với sự thắng thế của thể loại tiểu thuyết và Thơ mới, diện mạo của văn học đã thay đổi rất căn bản Dưới sự tác động của tiểu thuyết - thể loại thống soái, cùng với yêu cầu của hiện thực cuộc sống, văn học đã nhanh chóng chuyển từ đề tài có tính chất sử thi, với nội dung yêu nước sang mảng đề tài thế sự, đời tư Nếu cuối thế kỷ XIX văn học thiên về cảm hứng yêu nước, thì lúc này lại thiên về cảm hứng nhân văn Từ những điều trọng đại của mỗi quốc gia, văn học hướng tới nỗi đau tinh thần của mỗi cá nhân, từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô, cho nên giọng điệu, sắc diện của thế giới văn học tất yếu sẽ thay đổi Giọng văn hùng tráng quen thuộc như một âm hưởng chủ đạo sẽ được thay thế bằng giọng buồn thương bi ai thậm chí não nề rầu rĩ, tạo nên một gương mặt, một dáng vẻ riêng của thời đại

Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam đã chuyển sang phạm trù hiện đại, đã thật sự xuất hiện một nền văn học mới Đối với toàn bộ lịch sử văn học, đó là một bước chuyển cực kì sâu sắc Bắt đầu từ đây không chỉ là một giai đoạn mới

mà là một thời kỳ mới, là sự bắt đầu của một thời đại văn học mới

1.1.2.2 Văn ọc iện đại n an c ón đạt được n ữn t n tựu rực rõ

Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến khoảng 1932 đã đạt được những thành tựu hết sức rực rỡ: phong phú, đa diện, đa dạng và hết sức phức tạp với nhiều khuynh hướng khác nhau

Văn học phát triển mạnh mẽ trên cả hai phương diện: Sáng tác và lý luận học thuật, nghiên cứu, phê bình Sự phát triển của ngành nghiên cứu văn học đã sản sinh ra nhiều nhà nghiên cứu chuyên nghiệp như Thiếu Sơn, Trương Tửu, Hải Triều, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính…

Trong khu vực sáng tác, không chỉ thơ mà cả văn xuôi, kịch nói đều đạt nhiều thành tựu Ở mỗi lĩnh vực, mỗi thể loại đều phát triển Nổi lên những tên tuổi lớn, những cây bút tài năng với những phong cách hết sức độc đáo Về văn

Trang 21

xuôi tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… Về thơ bắt đầu là Tản Đà, đến Thế Lữ, Huy Cân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Bích Khê… Tất cả không chỉ tạo nên phong cách cá nhân, phong cách vùng miền mà đã làm thành phong cách thời đại

1.1.3 Văn m Bộ đầu t ế ỉ XX

Truyền thống văn học ở Nam Bộ tuy chưa có bề dày như ở Trung và Bắc

Bộ nhưng cũng đã có một số thành tựu nhất định và mang dáng vẻ riêng Do vậy cũng cần điểm qua đôi nét về diện mạo chung của văn học Nam Bộ

Ở Nam Bộ, hai bộ phậnvăn học dân gian và văn học viết tồn tại đồng thời, thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau Văn học dân gian phát triển khá mạnh, nhất

là các loại hình dân ca, hò, vè, truyện kể Văn học viết Nam Bộ tuy còn non trẻ nhưng cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định Trước khi Pháp xâm lược các hiện tượng văn học đáng chú ý nhất ở Nam Bộ là sáng tác của nhóm “Chiêu Anh Các” và “Gia Định tam gia thi xã” Nhóm “Chiêu Anh Các” ra đời khoảng năm 1793 ở Hà Tiên với hai nhà thơ tiêu biểu là Mạc Thiên Tích và Nguyễn Cư Trình Nhóm “Gia Định tam gia thi xã” ra đời khoảng 40 năm sau nhóm trên Ba nhà thơ tiêu biểu của nhóm này là: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh Đến những năm Pháp xâm lược, văn học yêu nước nở rộ với các nhà thơ tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa… Những năm cuối thế kỉ XIX, văn học Hán - Nôm không còn phù hợp và mất ưu thế.Nó dần rút lui và nhường bước cho văn học quốc ngữ

Văn học Quốc ngữ Nam Bộ hình thành từ cuối thế kỉ XIX, cho đến đầu thế kỷ XX đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trở thành bộ phận tiên phong của văn học dân tộc Tất cả các phong trào văn hóa thời Pháp xâm lược như: viết báo, viết tiểu thuyết, làm thơ Mới và cả in ấn, xuất bản đều bắt đầu từ Nam Bộ Chính những hoạt động văn hóa mang tính chất mở đường ấy đã làm cho nền

Trang 22

văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX phát triển rất mạnh với hàng mấy chục tác gia, hàng trăm bộ tiểu thuyết ngay từ khi các miền khác ở đất nước chưa biết “tiểu thuyết” là gì Những tên tuổi lớn của văn học Quốc ngữ Nam Bộ là: Trương Vĩnh Ký – nhà văn hóa, người viết ký sự Quốc ngữ đầu tiên; Nguyễn Trọng Quản – nhà tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên; Trương Minh Ký – nhà văn, dịch giả văn học Pháp đầu tiên; Huỳnh Tịnh Của – nhà ngữ văn học Quốc ngữ tiên phong; Trần Chánh Chiếu – nhà văn Minh tân; Lương Khắc Ninh – nhà thơ nhà báo duy tân; Hồ Biểu Chánh - nhà tiểu thuyết xã hội – đạo lý cự phách; rồi Trương Duy Toản - nhà văn dã sử võ hiệp; Lê Hoằng Mưu – nhà tiểu thuyết tiên phong và táo bạo; Nguyễn Chánh Sắc - nhà tiểu thuyết võ hiệp, nhà dịch thuật truyện Tàu trứ danh v.v

Những nhà văn ấy đã xây dựng nền móng đầu tiên, từ đó phát triển ra miền Bắc, miền Trung, tạo thành tòa lâu đài của nền văn học thế kỉ XX

Từ năm 1932 trở đi, nền văn học mới trên cả nước khởi sắc với hai hiện

tượng đáng chú ý: Phong trào Thơ Mới mở ra từ tờ P ụ nữ tân văn ở Sài Gòn do

nhà văn - học giả Phan Khôi và nữ sĩ Manh Manh người Gò Công khởi xướng

và bảo vệ; N óm Tự lực văn đo n được thành lập ở Hà Nội do Nhất Linh, Khái

Hưng đứng đầu Mặc dù không còn giữ được vai trò tiên phong như trước, khi văn đàn đã xuất hiện những nhà văn lớn thế hệ mới: Nhất Linh, Khái Hưng,

Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…, nhưng văn học

Nam Bộ vẫn tiếp tục tiến triển Các nhà văn đàn anh của văn học Nam Bộ vẫn tiếp tục sáng tác, sáng tác rất khỏe và có nhiều thành tựu đáng kể: Hồ Biểu Chánh tiếp tục sáng tác những tiểu thuyết xã hội - đạo lý xuất sắc; Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên trở thành những nhà văn hàng đầu về tiểu thuyết lịch sử; Phú Đức, Nguyễn Thế Phương dẫn đầu về tiểu thuyết trinh thám - vụ án, Việt Đông

thành lập “Việt Đôn văn tập” xuất bản hàng tuần để cạnh tranh với “Tiểu t u ết

T ứ Bả ” và “Tiểu t u ết T ứ Năm” ở Hà Nội… Bên cạnh đó, nhiều gương mặt

Trang 23

mới xuất hiện: Nữ sĩ Manh Manh, người làm chấn động văn đàn với những bài viết và diễn thuyết ủng hộ, bảo vệ Thơ Mới tấn công Thơ cũ; Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Hồ Văn Hảo, Khổng Dương, Sơn Khanh… những nhà Thơ Mới Nam Bộ tiêu biểu Sự trưởng thành của văn học Nam Bộ được đánh dấu bằng sự xuất hiện những nhà nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp: Thiếu Sơn, Trúc Hà, Kiều Thanh Quế, Phan Văn Hùm, Ca Văn Thỉnh…

Có thể hình dung thơ mới Nam Bộ 1932-1945 qua một số nhóm sau đây:

Với bài Một l i t ơ mới trìn c án iữa l n t ơ, trên báo P ụ nữ tân

văn số 122 (10/3/1932), Phan Khôi đã tuyên chiến công khai với Thơ cũ P ụ nữ tân văn được thành lập năm 1929 quy tụ các cây bút Tây học và tiến bộ nhất bấy

giờ: Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Manh Manh

Tờ báo P ụ nữ tân văn trở thành cơ quan đấu tranh cho tiến bộ xã hội,

cho nữ quyền và cho nền văn học mới Nó dám công khai tấn công vào thơ cũ, phá vỡ khuôn khổ cũ để đi tìm chân trời mới biểu đạt tự do tình cảm cảm con

người Quy tụ trong nhóm P ụ nữ tân văn còn có các nhà thơ: Lư Khê (phu

quân của Nguyễn Thị Kiêm), Hồ Văn Hảo, Vân Đài, Huy Hà, Nguyễn Hữu Trí, Khổng Dương, Sơn Khanh…

Nhóm văn chương này xoay xung quanh Đông Hồ và trường Trí Đức học xá

Bị thuyết phục bởi Nam p on tạp c í, Đông Hồ Lâm Tấn Phác mở

trường Trí Đức học xá ở Hà Tiên để dạy tiếng Việt và chủ trương viết văn viết

báo bằng một thứ tiếng Việt “chuẩn” như Nam p on tạp c í Khi phong trào

Thơ Mới bột phát, ông nhanh chóng chuyển hướng sang thơ mới và ủng hộ thơ

mới bằng tập Cô ái xuân có khuynh hướng lãng mạn với hồn thơ mới mẻ trẻ trung khác hẳn tập Lin P ượn trước đó Năm 1935 ông lập ra tờ báo S n quy

tụ khá đông đảo văn hữu Bắc Trung Nam

Trang 24

Châu tuần xung quanh “Hà Tiên tứ tuyệt” có: Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc Hà, Lư Khê

Đó là những thành viên tích cực nhất với nhiều sáng tác thể hiện thế giới quan, cá tính riêng của mình trong làng văn Nam Bộ thời bấy giờ

Văn học miền Nam tuy không có sự phát triển rực rỡ như Bắc và Trung

Bộ nhưng nó đã góp một phần không nhỏ vào công cuộc đổi mới nền văn học và

đem đến một diện mạo o n to n mới mẻ v tiến bộ c o nền văn ọc nước n

1.2 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nữ sĩ ộng uyết

1.2.1 Cuộ đ

Nữ sĩ Mộng Tuyết, tên thật là Thái Thị Út, sinh ngày 9/1/1914, tại làng

Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên (nay là tỉnh Kiên Giang), mất ngày 1 tháng 7 năm 2007 là một nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nam Bộ nổi danh từ thời tiền chiến Các bút hiệu

khác của bà là: H Ti n cô, N n Út, Bác T ảo Sươn , Bân Bân nữ sĩ, T ất

Tiểu Muội Mộng Tuyết là thành viên của nhóm "Hà Tiên tứ tuyệt" gồm: Đông

Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê và Trúc Hà, trong đó bà là tên tuổi sáng giá hơn cả Gần một thế kỷ qua, bà được coi là bậc tài nữ của đất mũi, là niềm tự hào của quê hương văn vật Hà Tiên, một phần máu thịt không thể thiếu được của Hà Tiên.Thậm chí nói đến Mộng Tuyết là nói đến Hà Tiên và tất nhiên nói đến Hà Tiên thì không thể thiếu Mộng Tuyết

Mộng Tuyết còn có biệt hiệu Lâm Thái Úc Cái tên này được ghép bởi hai từ: họ Lâm (họ của Đông Hồ) và họ Thái của bà Năm 1926, sau khi tốt nghiệp chương trình Pháp cấp tiểu học, Mộng Tuyết học tập làm văn ở Trí Đức học xá – trường đầu tiên duy nhất của Hà Tiên dạy chữ Quốc ngữ do thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác sáng lập và làm trưởng giáo Cuối năm 1928, Mộng Tuyết thi đỗ bằng sơ học Pháp Việt (Certificate d’ étude Primaire) được bổ đi dạy học ở Phú Quốc nhưng vì xa xôi nên không đi Mộng Tuyết ở nhà học chữ Hán để học nghề thuốc Đông y Mộng Tuyết bắt đầu viết văn và có những bài đăng trên báo

Trang 25

Nam Phong từ năm 1930 với tập Bôn oa đua nở Năm 1939 tập thơ P ấn ươn rừn dự cuộc thi thơ của Tự lực văn đoàn được nhận giải Lời k en tặn

của ban giám khảo Ngoài sáng tác thơ, văn, kịch, Mộng Tuyết còn dịch thơ, viết báo và viết khảo cứu văn học Tên tuổi bà sớm được công chúng trong Nam ngoài Bắc biết đến qua những tác phẩm in trên các tờ báo lớn đương thời như:

Nam p on tạp c í, Tiểu t u ết t ứ Năm, H Nội báo, Đôn Tâ , Con On ,

S n , Trun Bắc c ủ n ật, Tri Tân… Mộng Tuyết tích cực tham gia phong trào

Thanh niên Tiền phong ủng hộ kháng chiến Năm 1969 là một bước ngoặt trong cuộc đời nữ sĩ khi mà thi sĩ Đông Hồ - người bạn đời yêu dấu của bà ra đi đột ngột Đông Hồ mất là một nỗi đau sâu thẳm trái tim, mà nỗi nhớ ông vẫn thường trực trong bà suốt những năm về sau Phần còn lại của cuộc đời, Mộng Tuyết dành trọn tâm huyết để lo việc di quan Đông Hồ về Hà Tiên, thành lập kỉ niệm đường, thu thập lưu giữ những tác phẩm văn chương của người chồng, người thầy tài danh và viết hồi ký về ông Ngày 01/7/2007, nữ sĩ đã an nhiên qua đời tại chính ngôi nhà tưởng niệm người chồng - người bạn văn tri kỷ, lý tưởng của

bà ở Hà Tiên, hưởng thọ 94 tuổi

Cuộc đời Mộng Tuyết gắn bó với mảnh đất Hà Tiên - nơi đã chứng kiến mối tình thơ mộng của đôi tài tử giai nhân đất mũi Tại đây, cả hai đã chào đời, kết hôn và rồi được được chôn cất, thanh thản bên nhau vào cõi vĩnh hằng

Từ nhỏ, Mộng Tuyết đã yêu thích văn chương thơ phú Do luôn có ý thức hiếu học và cầu thị, bà trở thành người con gái hay chữ nỗi tiếng khắp vùng Mộng Tuyết học bằng sơ học Pháp ở trường, lại theo học Quốc ngữ với thầy Đông Hồ ở Trí Đức học xá và nàng thường làm thơ, viết văn nhờ ông thầy chỉ giáo Suốt thời gian cô gái theo đuổi mộng văn chương, bên cạnh cô luôn có người thầy tận tình chỉ bảo và nâng đỡ Mối cảm tình đó lúc đầu là tình thầy trò rồi bạn văn chương chữ nghĩa, dần trở thành tình tri kỉ, và tình yêu đến lúc nào

mà Mộng Tuyết chẳng hay Mối tình đó cứ âm ỉ cháy, và được Thất Tiểu Muội

Trang 26

giữ mãi trong lòng chưa khi nào dám để hé ra Có thể nói Đông Hồ đã trở thành nhân vật chính trong những sáng tác văn chương của nữ sĩ Ông là người tình lí tưởng mà Mộng Tuyết hằng mơ ước Cuộc đời đã an bài số phận Mộng Tuyết trở thành kế thất thứ hai của thi sĩ - thầy giáo Đông Hồ (vợ đầu của Đông Hồ là Linh Phượng, kế thất thứ nhất là chị Năm Nhàn Liên của Mộng Tuyết).Từ đó cả trong bước đường đời và sự nghiệp của nữ sĩ luôn có bóng dáng người bạn đời

mà bà hết lòng yêu thương kính trọng này

Mộng Tuyết cùng một lúc làm tròn nhiều vai trong cuộc sống Bà vừa là một người vợ hiền đảm đang, vừa là một người phụ nữ tháo vát, biết kinh doanh;

bà mở tiệm may trong Yiễm Yiễm thương điếm, cùng gia đình thành lập Nhà xuất bản Bốn Phương, Yiễm Yiễm thư trang, Thư Lâm Ấn thư quán Bà còn một hội trưởng tích cực của nhóm thơ Quỳnh Dao - một nhóm thơ có tiếng khắp Nam kỳ

Những năm đầu thế kỷ XX, khi nền văn học Quốc ngữ còn phôi thai, Mộng Tuyết đã là một trong những nhà thơ nữ hiếm hoi bên cạnh những Ngân Giang, Đạm Phương, Tương Phố, Nguyễn Thị Kiêm, Mộng Sơn, Vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ và góp phần không nhỏ vào sự thành công của văn học vùng

Hà Tiên nói riêng, văn học miền Nam, văn học cả nước nói chung

đi Nhưng dù ở thời kỳ sáng tác nào, trong thơ văn của bà cũng đều có bóng

dáng của người tình lí tưởng mà bà yêu thương suốt cuộc đời

Trang 27

Mộng Tuyết bắt đầu cầm bút sáng tác văn chương từ rất sớm Đó là khi cô học trò bắt đầu đăng kí học ở trường Trí Đức học xá với ông thầy Đông Hồ Cảm mến tài năng của người thầy, cô học trò nữ cũng muốn thầy dạy cho làm thơ Từ đó Mộng Tuyết viết những bài thơ, bài luận con con gửi cho thầy sửa giúp

Là một cô gái trẻ với tâm hồn mộng mơ và căng tràn sức sống, nàng bước chân vào cuộc đời với một trái tim trong sáng, nồng nàn tình yêu Mộng Tuyết hít thở bầu không khí của thời đại với những mới mẻ nhộn nhịp của làng văn, nàng lại được sống trong khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ xứ Phương thành, vì vậy mà trái tim nàng luôn muốn ca lên khúc ca chan chứa tình yêu qua những tác phẩm văn chương Mộng Tuyết viết rất nhiều thơ về tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống và tình yêu đôi lứa Với nàng, vạn vật đều có tâm hồn và đều

có những nét đáng yêu riêng Nàng ca ngợi chúng bằng một sự say sưa tha thiết với giọng văn trong sáng, nhẹ nhàng

Thời kỳ này, Mộng Tuyết có các tập Bôn oa đua nở, Lời oa là tập hợp

những bài thơ của nàng đã được thầy giáo Đông Hồ chọn lựa gửi đăng trên tờ

Nam P on tạp c í Năm 1939, tập thơ P ấn ươn rừn của cô Thái Thị Út dự

cuộc thi thơ của Tự lực văn đoàn đã được đánh giá cao và được nhận Lời k en

tặn trang trọng của ban giám khảo Năm 1943, nàng in chung với các nữ sĩ Vân

Đài, Hằng Phương, Anh Thơ tập thơ Hươn Xuân Tất cả những sáng tác ấy đã

càng làm toát lên vẻ đẹp vừa dịu dàng, vừa ngây thơ của một tâm hồn trẻ trung trong sáng như pha lê của người tài nữ xứ Hà Tiên

Mộng Tuyết là một người con gái nhạy cảm và thủy chung Từ những ngày còn là một cô bé học dưới mái trường Trí Đức học xá, cô đã đem lòng cảm mến người thầy tài danh, nhưng tình cảm ấy được Mộng Tuyết gìn giữ trong lòng mà không dám thể hiện Nhưng như nhà thơ Huy Cận nói, mối tình Mộng

Tuyết – Đông Hồ là “m i du n tìn đời cũn l du n văn tự” Họ đến với

Trang 28

nhau từ văn chương và trở thành người bạn đời gắn bó của nhau Mối tình giữa

họ là một mối duyên tình cao thượng đẹp đẽ như trong tiểu thuyết, thật hiếm thấy giữa đời thường

Có thể nói, thời kỳ được ở bên cạnh Đông Hồ, với tư cách là phu nhân của nhà thơ là những nốt vui nhất trong cả một bản nhạc dài trong cuộc đời Mộng Tuyết, là quãng thời gian đắc ý nhất trong cuộc đời bà Họ luôn vui vẻ bên nhau mọi lúc, cùng nhau đi mọi nơi, thưởng ngoạn nhiều cảnh đẹp, gặp nhiều bạn văn chương

Đông Hồ không chỉ luôn bên cạnh Mộng Tuyết ở cuộc đời thực mà còn in bóng trong những sáng tác của nữ sĩ Thời kỳ này, cây bút thiếu nữ đa cảm và thơ ngây dạo trước đã trở thành cây bút phụ nữ với suy nghĩ chín chắn hơn, thực

tế hơn và đầy ắp tình yêu thương, chứa chan lòng nhân hậu bao dung Bà thường viết về những phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, những nơi mà hai người cùng nhau thưởng ngoạn; về những tình cảm bạn bè tri kỉ Lúc này, trong thơ, truyện ngắn của bà thì tràn ngập tình yêu thương say đắm với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau Đây chính là thời kỳ bút lực Mộng Tuyết dồi dào, sung mãn nhất

Sáng tác thời kỳ này của Mộng Tuyết có: kí sự lịch sử N n Ái Cơ tron

c ậu úp, Đườn v o H Ti n, Dưới mái trăn non, Tru ện cổ Đôn Tâ …

Năm 1969 là một bước ngoặt trong cuộc đời bà Đó là khi thi sĩ Đông Hồ đột ngột ra đi ngay trên bục giảng Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn Nỗi đau mất mát đã đánh dấu một thời kỳ mới trong cả cuộc đời và sự nghiệp của nữ sĩ.Hơn ba mươi năm còn lại của cuộc đời, Mộng Tuyết sống trong niềm thương nỗi nhớ Không lúc nào và hoạt động nào bà không nhớ và không hướng về linh hồn người chồng đã khuất của mình Từ khi ấy, nỗi buồn, niềm thương nhớ như phủ kín tâm hồn Thất Tiểu Muội Văn chương của bà không còn có cái ngây thơ trong sáng và đầy yêu thương hạnh phúc như những thời kỳ trước; nó phảng

Trang 29

phất nỗi buồn bàng bạc, niềm nhung nhớ khôn nguôi Thậm chí giọng điệu trong thơ văn của bà còn mang một nỗi u sầu dằng dặc

Những năm này, bà viết tập thơ Gầ oa cúc, năm 1998 bà cho ra đời bộ

ba tập hồi kí Núi Mộn Gươn Hồ trên 800 trang

- P ấn ươn rừn (1939), được giải “Khen tặng” của Tự Lực Văn đoàn

- Hươn Xuân (1943), NXB Nguyễn Du

- Đườn v o H Ti n (1960), tùy bút, NXB Bốn Phương

- N n Ái Cơ tron c ậu úp (1961), tiểu thuyết lịch sử, NXB Bốn Phương,

- Dưới mái trăn non (1969), NXB Mặc Lâm

- Tru ện cổ Đôn Tâ (1969), NXB Mặc Lâm

- Hươn â mùi n ớ (1970), NXB Mặc Lâm

- Gầ oa cúc (1996), NXB Văn Nghệ

- Núi Mộn ươn Hồ (1998), hồi ký ba tập, NXB Trẻ

- Mười k úc đoạn trườn (2005), thơ cứu đói, Xí nghiệp in Fahasa

Ngoài ra còn có một số tác phẩm được in chung và in rải rác trên các báo khác nhau

1.2.2.3 N ữn n ân t tạo n n t i năn của nữ sĩ Mộn Tu ết

Mộng Tuyết là một người phụ nữ có trái tim đa cảm và một tâm hồn mơ mộng, trong sáng Nàng đến với cuộc đời với tấm lòng rộng mở đầy yêu thương.Chính sự tinh tế nhạy cảm trong tâm hồn nàng đã hòa điệu với cuộc sống

và chảy tràn ra thành những dòng văn, những ý thơ đẹp và hết sức đáng yêu

Trang 30

Thơ đến với Mộng Tuyết như một lẽ tự nhiên: “N ôn n ữ nước k ác đem

dùn l m t ơ, k ôn biết có k í k ó k ăn a k ôn , k ôn biết, c ớ n ôn n ữ Việt Nam mìn đem dùn l m t ơ, ìn n ư l một sự vận dụn dễ d n Bởi

t an âm tiến Việt sẵn có cun bậc, sẵn i u n ạc điệu M n ạc điệu với t i điệu có k ác ì n au Buột miện nói l t n tục n ữ, l n tiến át l t n ca dao, cất iọn l t n k úc n ạc, t ì cứ tự n i n n âm n a l t n t ơ! V

n ười n âm n a tự n i n l t n t i sĩ !”[64,284]

Hơn mười tuổi, Mộng Tuyết đã học hàm thụ chữ Quốc Ngữ với thầy giáo – thi sĩ Đông Hồ và được thầy dạy cho làm thơ Từ đó nàng thi sĩ nhỏ thường mang những bài thơ, bài luận con con của mình tới nhờ thầy sửa giúp Rồi cũng

có bài đạt, thầy lựa mà cho in thành tập “Bôn oa đua nở” Dần dà, cô trò nhỏ

đã làm được thơ khá thuần thục, mà lại còn xuất khẩu thành thơ mỗi khi đứng trước cảnh đẹp hay có chuyện gì xúc động

Để đáp tạ công lao dạy dỗ làm thơ của thầy, khi người thầy kính quý trở thành anh rể của mình, nàng cảm động đã viết bài thơ để chúc phúc cho anh chị

Đó là bài“Mừn an Trác C i tục u ền c ị N n Li n xuất iá”:

N n n dâ tơ n ẹ p ím loan

U n ươn r n i k úc iao oan

K ói trầm lò cũ ươn c n đượm Vần n u ệt xuân xưa bón lại tròn Vui c ị, tìn c ị tron c t n ục Mừn an , an n ĩa c n c i lan Trăm năm ia t ất n ười m đẹp Tran điểm ồ Đôn cậ bón sen

Và khi đứng trước một khung cảnh thơ mộng, tâm hồn rất dễ rung động của cô gái bé nhỏ lại thốt lên thành thơ:

Từ lâu mâ nước n ữn mơ m n ,

Trang 31

Ôm ấp non sôn iấc mộn v n Rượu biệt S i t n sa c ưa tỉn Biển trời trăn ió k ác N a Tran

Mộng Tuyết sinh ra và lớn lên trên vùng đất Hà Tiên xinh đẹp “du n dán

đán u…Biển rừn ồ núi bao bọc quan đâ , n ư c iếc nôi m ái của đứa i nhi”[14,17] Vùng đất quê hương ấy của nữ sĩ đã được nhiều người ca ngợi Nơi ấy

tuy không phải tuyệt sắc nhưng với Mộng Tuyết và những văn nhân thuở ấy, vùng đất hoang sơ có nhiều lí do để trở thành một vùng đất đáng yêu, đáng nhớ:

“H Ti n dễ u, dễ cảm n iễm n ười, vì ở đó núi rừn k ôn cao rậm

lắm, đến c o n ười n ắm i ùn , biển ồ k ôn sâu rộn lắm, đến c o n ười

n ìn kin sợ Ở đó n ư một cản iả sơn t ân mật, tron oa vi n, mỗi cản n ỏ

n ỏ xin xin vừa đủ c o tầm n oạn t ưởn

Ở đó, kỳ t ú t a , n ư ồm ầu đủ ết

Có một ít an sâu độn iểm của Lạn Sơn CÓ một ít n ọn đá c ơi vơi iữa biển của Hạ Lon Có một ít núi vôi của Nin Bìn , một ít t ạc t ất môn của Hươn Tíc Một ít Tâ Hồ, một ít Hươn Gian Có một ít c ùa c iền của Bắc Nin , lăn tẩm của T uận Hóa Có một ít Đồ Sơn Cửa Tùn , có một ít N a Tran Lon Hải

Ở đâ , k ôn có một cản n o to lớn đầ đủ; ở đâ c ỉ n ỏ n ắn xin xin m cản n o cũn có”[14,18]

Hà Tiên thường được nhắc đến nhiều với mười cảnh sắc hữu tình Đó là:

Kim Dữ lan đ o, Bìn San điệp t ú , Ti u tự t ần c un , Gian t n dạ cổ,

T ạc độn t ôn vân, C âu n am lạc lộ, Đôn Hồ ấn n u ệt, Nam P trừn

ba, Lộc trĩ t ôn cư v Lư k n ư bạc Mạc Thiên Tích đã làm thơ vịnh từng

cảnh một, xong lại có bài tổng vịnh “H Ti n t ập cản tổn vịn ” để tổng kết

cho dễ nhớ danh xưng của cả mười địa điểm này:

Trang 32

Mười cản H Ti n rất ữu tìn Non non nước nước ẫm n n xin Đôn Hồ Lộc Trĩ luôn iòn c ả Nam P Lư K một mạc xan

Ti u tự Gian t n c uôn tr n ỏi

C âu n am Kim dữ cá c im quan Bìn san T ạc độn l rườn cột Sừn sựn muôn năm cũn để d n

Chính vì những nét thân mật và duyên dáng ấy mà Hà Tiên dễ được yêu,

dễ được nhớ, lại “lưu luyến dễ say lòng” Thi sĩ Đông Hồ cũng cho rằng:“C ín

n ờ n ữn tín các đặc t ù đó của dan t ắn , m H Ti n l một miến đất

m u mỡ c o ạt i n văn c ươn , văn ọc dễ p át sin ”

Không chỉ được hít thở bầu không khí thanh khiết và sống giao hòa với thiên nhiên tươi đẹp, Mộng Tuyết còn được sống trong một gia đình trọng chữ nghĩa văn chương Là con gái út trong một gia đình sáu người con, tuy điều kiện không phải giàu sang nhưng mọi người ai cũng khuyến khích việc học hànhcủa Mộng Tuyết Thuở nhỏ, Tuyết ham học và học giỏi Cô bé sớm đã bộc lộ khiếu văn chương và ngôn ngữ (từ năm học lớp ba mà viết chính tả chẳng mấy khi có lỗi, nửa lỗi, một lỗi là nhiều, trong lúc cả lớp đều sai từ năm đến mười lỗi trở lên) Tuyết được cha quan tâm, ủng hộ nên ngoài việc học chính khóa ở trường,

cô còn được cha đưa đi học thêm buổi tối ở trường Trí Đức học xá để học thêm Quốc Ngữ do thầy Đông Hồ giảng dạy Vừa có người cha cất công tuần vài lần đưa cô con gái đi học buổi tối, ngồi đợi tan buổi học, rồi lại đưa con về; Mộng Tuyết lại vừa nhận được sự cổ vũ, động viên và mong mỏi của người chị thứ

năm trong gia đình “C ị v n k ôn được ọc, n n vẫn mon có được một cô em

ọi l biết c ữ, k ôn đến nỗi ổ với qu ển sác câu t ơ”[64, 271] Vì vậy mà

chị “ ờ ữn với tuổi xuân m việc n án vác một lo Đ i với c a mẹ t ì trân

Trang 33

cam ôm sớm, đ i với em t ì để c o n t án t an n n m bút n i n m i miệt”.[64,271]

Có thể nói, sinh ra trong một gia đình hạnh phúc và hiếu học, Mộng Tuyết

đã nhận được nhiều sự ưu ái từ gia đình và được sống giữa một không khí trong lành, nên thơ của quê hương Hà Tiên văn vật, nhờ thế mà tâm hồn Mộng Tuyết

đã thơ mộng càng thêm mơ mộng và rung động

Mộng Tuyết sinh ra và lớn lên vào những năm đầu thế kỉ XX – một thời

kỳ lịch sử với nhiều biến động lớn Là một người nhạy bén và tiếp cận nhanh với nền văn hóa mới, Mộng Tuyết đã thu hút rất nhiều dấu ấn thời đại vào trong sáng tác của mình

Sinh ra giữa buổi giao thời, Mộng Tuyết vừa học chữ Nho, lại vừa trau dồi cho mình vốn liếng chữ Quốc ngữ Cô gái hay chữ ấy còn rất tích cực tham gia phong trào học, phổ biến, sử dụng chữ Quốc ngữ trong đời sống hàng ngày

và trong sáng tác nghệ thuật Những tác phẩm của Mộng Tuyết chủ yếu được viết bằng thứ văn tự mới và thấm đẫm quan điểm thẩm mỹ mới của thời đại Với Mộng Tuyết, sáng tác văn chương không chỉ mang chức năng tải đạo mà còn có chức năng nghệ thuật riêng của nó, là phương tiện thể hiện, bày tỏ cảm xúc của người viết Vì vậy mà trong sáng tác của Mộng Tuyết, bao giờ cũng ăm ắp cảm xúc Tất cả đã được bà viết với một niềm yêu thương, trân trọng đặc biệt

Có một điều rất cần phải bàn đến là ảnh hưởng của thời đại vào thơ văn Mộng Tuyết Khi cô bé Mộng Tuyết bắt đầu cầm bút là lúc nền văn học nước nhà đang phát triển hết sức sôi động Đặc biệt là sự xuất hiện tiểu thuyết “Tố

Tâm” của Hoàng Ngọc Phách, một cuốn tiểu thuyết “lập tức â xôn xao dư

luận một t ời”[42], nó được biết đến nhiều và gần như các bạn trẻ thời ấy ai

cũng từng chuyền tay nhau đọc Cuốn tiểu thuyết có tầm ảnh hưởng lớn, nó “đ

l m dấ l n một p on tr o đi tìm tự do cá n ân c o t an ni n nam nữ”[30]

Trang 34

Nó mang đến “một quan niệm mới về tìn u nam nữ, một quan niệm dồi d o,

p ức tạp, m n liệt cổ n ân c ưa từn biết đến”[30], một tình yêu tri kỉ, tình

yêu thơ mộng, ý thức “T Tâm” mang đến hơi thở mới cho tình yêu nam nữ đương thời Tình yêu ở đây “k ôn p ải sự đam m đầu m cu i mắt m l sự

òa ợp đồn điệu của n ữn tâm ồn Tron m i tìn u ền diệu ấ có sự bạo dạn đến liều lĩn của n ười con ái đ u n p ải sự rượu cấm của Trixtăn v Idơ Họ luôn s n ết mìn v đi tìm tìn u c ân t ực Điều đó dần trở t n

l i s n của n ười iện đại”[59,72]

Cùng với “T Tâm” trên văn đàn lúc bấy giờ xuất hiện rất nhiều tác phẩm văn chương mang nỗi sầu nhân thế (Tản Đà), Lin P ượn Ký (Đông Hồ, Nam phong 128, năm 1928), Giọt lệ t u (Tương Phố, Nam phong tạp chí số 131, năm 1928), Bể t ảm (Đoàn Như Khuê)… Rồi cả một phong trào Thơ mới với những

chủ soái: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử… Tất cả đã tạo nên một âm hưởng buồn thương bi ai ám ảnh đối với những thi nhân và con người thời đại Mang trong mình hơi thở của thời đại, cũng đến với tình yêu với tất cả tâm hồn nhưng cũng giống như Anh Thơ, văn chương Mộng Tuyết vẫn giữ được một giọng điệu riêng, một dáng vẻ yêu kiều riêng: không ủy mị, sầu não mà trong sáng, thánh thiện

Có thể nói, sinh ra trong một gia đình hạnh phúc và hiếu học, Mộng Tuyết

đã nhận được nhiều sự ưu ái từ gia đình và được sống giữa một không khí trong lành, nên thơ của quê hương Hà Tiên văn vật, nhờ thế mà tâm hồn Mộng Tuyết đã thơ mộng càng thêm mơ mộng Mặt khác, tài năng của nàng lại được đánh thức, nâng đỡ và nuôi dưỡng trong trong một thời đại thi ca rực rỡ đầu thế kỷ XX, khi

mà nền văn học nước nhà đang bước “n ữn bước của n ười tr n đôi i vạn

dặm” (Vũ Ngọc Phan), đặt biệt nàng may mắn có được một người thầy, người

bạn, người tình tri kỷrất yêu thơ văn là thi sĩ tài hoa Lâm Tấn Phác – Đông Hồ

Trang 35

Tất cả những yếu tố trên đã tích hợp tạo nên cho Hà Tiên đất mũi một tài năng độc đáo Mộng Tuyết với những áng văn bay bổng trữ tình vừa mang hơi thở hiện đại, vừa giữ được cái truyền thống đáng quý ngàn đời

1.2.2.4 K ái quát về iá trị t ơ văn v vị trí của Mộn Tu ết

Đầu thế kỉ XX, khi nền văn học chuyển mình sang phạm trù hiện đại, văn học miền Nam cũng đi vào quỹ đạo chung với những thành tựu không nhỏ, đã đóng góp một cách tích cực cho sự phát triển của nền văn học dân tộc đương thời Tuy nhiên cũng cần phải nói rằng, văn học miền Nam lúc ấy mới bước qua giai đoạn phôi thai nên diện mạo chung còn đang “non nớt”

Mộng Tuyết đến với làng văn khi phong trào sáng tác đang sôi nổi Như một cánh chim, nàng bay lượn trên bầu trời văn học và góp một phần không nhỏ vào bức tranh tươi đẹp ấy Mộng Tuyết chưa phải là người có vị trí số một trong làng văn, cũng chưa hẳn sáng tác của bà có vị trí cao nhất trong lòng bạn đọc; nhưng đối với nền văn học miền Nam nói riêng và văn học cả nước nói chung,

bà có một vị trí quan trọng với những đóng góp loại biệt không thể thay thế

Mộng Tuyết mang đến cho nền văn học miền Nam nói chung và Hà Tiên nói riêng một hồn thơ đẹp đẽ, trong sáng và tinh tế - cái điều mà xưa nay bộ phận văn chương miền Nam vốn đang còn thiếu Nhờ có nàng và các tác phẩm

dễ thương của nàng Út mà mảnh đất Hà Tiên mới được nhiều người biết đến, văn chương Hà Tiên nói riêng và văn chương Nam bộ nói chung mới khẳng định được nét độc đáo của mình

Trong khi nền văn hóa nước nhà vừa bước qua giai đoạn dài của tình trạng bất bình đẳng giới, cùng với cái chết vì hai chữ “ái tình” của Tố Tâm, tài năng của Mộng Tuyết như một lời khẳng định vừa chắc chắn vừa mềm mại về vị trí người phụ nữ trong xã hội bấy giờ Điều cần bàn là không đòi quyền sống một cách tiêu cực như Tố Tâm, người con gái đất mũi Hà Tiên đã có một hướng

đi tích cực mà hết sức hiệu quả Không chỉ vậy, nàng còn mang vào văn chương

Trang 36

một luồng gió mát với những câu từ nhẹ nhàng, trong sáng Lời dịu dàng của người phụ nữa vốn thường được ưa chuộng nay lại xuất hiện trong văn chương lại càng làm cho nó trở nên hấp dẫn

Là một trong bốn thành viên của nhóm H Ti n tứ tu ệt, Mộng Tuyết cùng

với Đông Hồ, Trúc Hà và Lư Khê đã góp một phần không nhỏ vào nền văn học chung của miền Nam và văn học vùng Hà Tiên nói riêng Bà mang vào trong sáng tác của mình những quan niệm hoàn toàn mới mẻ góp phần đổi mới quan niệm thẩm mĩ cũ: Người nữ trong thơ Mộng Tuyết với vẻ bề ngoài kín đáo, e ấp, hay xấu

hổ, nhưng bên trong tâm hồn thì thật mới Cô hay nói về đời sống sinh hoạt thường ngày rất con gái của mình: chải đầu, trang điểm, ngủ mơ, sửa lại áo xiêm…Cô hay ngắm nhìn vẻ đẹp của mình: một cái mũ thời trang, một cái áo mới, một kiểu tóc,

gương mặt, vầng trán (L m cô ái Huế, Em bị cười, Em trả t ù…) Tất cả những

điều ấy rất xa lạ với thơ cũ, một nền thơ ca trọng đạo lý, trọng chí khí, trọng sự cao

nhã Đọc đến bài thơ Em xấu ổ người ta phải kinh ngạc: chưa có bài thơ nào vừa

kín đáo, e ấp lại vừa táo bạo đầy vẻ sắc dục như thế

Không chỉ là một nhà văn, Mộng Tuyết còn là một nhà văn hóa của vùng đất Hà Tiên Bà có công lao không nhỏ trong việc cùng với nhà văn Đông Hồ thu thập tài liệu về lịch sử vùng đất Hà Tiên, về văn đàn Chiêu Anh Các và tìm

kiếm bản Nôm của “Son Tin bất dạ”…

Như vậy, Mộng Tuyết đóng một vai trò không hề nhỏ trong sự phát triển của nền văn học Hà Tiên nói riêng và văn học Nam Bộ nói chung Tác phẩm của

bà phải chăng là “n ữn trái dưa n on n ọt l m mát dịu lòn k ao k át của

n ười k ác bộ n ” Và “bạn đọc, n ười k ác qua c n vườn dưa N n Út, cửa vườn đ mở rộn rồi, é v o đi, các bạn t ử l m n ư n ữn ôn o n tron tru ện cổ tíc nọ, rồi các bạn sẽ man về t eo mìn một tấm lòn t t đẹp

n ất trần ian”.[64,8]

Trang 37

T ểu ết

Đầu thế kỉ XX, dưới tác động của những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội mới, nền văn học hiện đại Việt Nam đã hình thành và nhanh chóng phát triển đạt được thành tựu lớn

Đi đầu trong công cuộc đổi mới văn học, văn chương Nam Bộ đã khởi sắc với nhiều tác giả danh tiếng, trong đó có nữ sĩ Mộng Tuyết- một cây bút lạ vùng đất mũi Hà Tiên

Là một trong những nhà thơ nữ đầu tiêncủa phong trào Thơ Mới, với lối văn mang dáng vẻ yêu kiều, bà nhanh chóng tạo được sức hấp dẫn với đông đảo công chúng và nhận được nhiều lời khen ngợi, vì thế bà đã tạo cho mình được một vị trí riêng không ai thay thế được

Ngoài những đóng góp cho sự phát triển của nền văn học nước nhà nói chung nền văn học Nam Bộ nói riêng, tài nữ Mộng Tuyết còn có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa vùng Hà Tiên và còn góp công đưa văn học miền Nam từ nền văn học mang tính chất vùng miền trở thành nền văn học được toàn quốc hóa

Trang 38

ƢƠ 2

Ữ Ặ Ắ Ề ƢƠ Ệ U

ỦA Ơ Ă UYẾ

2.1 hững đề tài gần gũi mà thiêng liêng sâu nặng

Mộng Tuyết đến với văn chương bằng một tâm hồn trong sáng và một mối chân cảm đặc biệt Viết như là một cách để giãi bày tâm sự, nỗi niềm của mình trước cuộc sống, Mộng Tuyết đến với thơ rất tự nhiên Nó như tiếng thở của cuộc sống mà tâm hồn nhạy cảm khiến người thơ ấy hồn nhiên bắt nhịp được Thiết tha yêu cuộc sống và rất dễ rung cảm với những thay đổi tế vi trong cuộc sống, vì vậy mà nữ sĩ luôn khát khao muốn ghi lại tất cả những niềm rung

động ấy, để giữ lại nó, để nó không “tan mất n a ” Mộng Tuyết sáng tác thơ văn chỉ là để “ i lại n ữn ì đ c ín muồi n ư trái câ n ân sâm sắp rụn ,

k ôn biết dùn móc bạc m ái nó, rồi cũn k ôn biết dùn c ậu v n m

ứn nó t ì e nó c ui tuột ết xu n đất Cảm ứn cũn mon man , n át tiến độn v ưa lẩn tr n n ư quả n ân sâm”[64,472] Văn chương là những cảm

nghĩ được tác giả ghi lại để “tự mìn t ỏa m n c o n ữn bân k uân n ữn

t ắc mắc của tâm ồn” Vì vậy, thế giới văn chương của Mộng Tuyết là một thế

giới phản chiếu cuộc đời thực, nó là một thế giới vĩnh cửu và diễn ra chậm hơn

so với những gì thế giới thật đang diễn ra Rất ít hư cấu, nội dung trong văn chương Mộng Tuyết rất gần gũi với cuộc sống của bà Nó có thể là một cảnh đẹp, một người bạn tốt, một mối cảm tình gần gụi, một nỗi nhớ thương, một niềm bâng khuâng tiếc nuối chưa rõ hình hài… Tất cả những điều ấy trở đi trở lại trong văn chương Mộng Tuyết thông qua những đề tài về tình yêu thiên nhiên, tình yêu lứa đôi, tình cảm bạn bè và tình yêu đối với con người và non sông đất nước… - những đề tài gần gũi mà thiêng liêng sâu nặng

Trang 39

2.1.1 Vẻ đẹp ỳ t ú ủ Hà T ên và t ên n ên đất n

Là một người phụ nữ lãng mạn, Mộng Tuyết thường đặc biệt quan tâm đến vẻ đẹp của thiên nhiên Dường như suốt đời người nữ sĩ đã không ngừng làm một cuộc hành hương đi tìm cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp của tự nhiên và luôn sống trong mối giao hòa với thiên nhiên.Với bà, thiên nhiên không chỉ là môi trường khách quan mà nó còn có một vị trí hết sức thiêng liêng trong tâm hồn người nghệ sĩ Bởi vậy bà dành cả tình yêu và lòng mến mộ để thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên trong các sáng tác của mình và thật dễ dàng tìm thấy những khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, kỳ thú trong các tác phẩm của người phụ nữ có tâm hồn mơ mộng như Mộng Tuyết

2.1.1.1 Tìn u đ i với các lo i oa đẹp

Hoa vốn và một mẫu đề thường gặp trong thơ ca cổ, bởi "T ơ xưa t ườn

c uộn t i n n i n đẹp Mâ ió trăn oa tu ết núi sôn ”[27] Hoa theo quan

niệm phương Đông truyền thống được coi là biểu tượng của cái đẹp Là một người phụ nữ đa cảm, dịu dàng, tinh tế, Mộng Tuyết càng có một mối cảm tình đặc biệt với hoa Với người con gái lãng mạn ấy, hoa còn là người bạn tri kỉ gắn liền với những kỉ niệm đẹp trên quê hương Hà Tiên đầy hoa thơm cỏ lạ

Chẳng thế mà Thất Tiểu Muội đã là chủ nhân của một khu vườn tràn ngập hương hoa do chính tay nàng trồng Khu vườn ấy nhờ bàn tay chăm sóc chu đáo nên lúc nào cũng đượm sắc hương với một cái tên: “Vườn Muôn Hương” thật

gợi cảm Trong khu vườn “t ơm t ơm đẹp đẹp”, muôn loài hoa đều nhận được

sự ân cần, nâng niu của nàng Út: “N n Út tự ta sửa lại một vòi dưa tr n i n,

tự ta tỉa một lá sâu tron lu n cải, tự ta i s một ạt i n oa lạ mới ươn , tự ta cắm một t an tre để c o c n oa non tựa mìn v o sau n ữn cơn sươn nặn ạt”.[64,279] Những công lao mà nàng bỏ ra mỗi ngày đã được

đền đáp xứng đáng Nhiều buổi bình minh thơm đẹp, những bông hoa từ khu vườn đua nhau cùng gửi hương cho gió, tạo nên một không gian rất đỗi dịu

Trang 40

dàng Còn vị nữ chủ nhân Vườn Muôn Hương thì lặng lẽ thưởng thức và đắm

mình vào khung cảnh thiên nhiên thơ mộng ấy: “Đâu đâ , n e một mùi t ơm

náo nức dậ k ắp vườn Một mùi t ơm l lạ, vươn vướn có ơi bạc đ n ươn , t an ải ươn v một c út n ọc quế ươn … Hươn vươn t eo ió

ởi từ đâu lại Hươn từ n ữn n án xo i n án mận xù xì kia V nó l một

đ n cò trắn man đến một mùi ươn viễn xứ: n ữn đ n cò đôi cán trắn tin n ậm một điểm v n N ữn đóa oa iản dị đó đậu d i lơ lửn tr n một cọn cứn k ô Cọn một đóa, cọn ai đóa, cọn ba b n đóa Một bụi p on lan t ạc ộc l một đ n cò trắn n ả ươn ”.[64,280]

Vốn là người rất yêu thích hoa, vì vậy trong văn thơ của bà luôn luôn hiển hiện rất nhiều loài hoa: Nào là hoa cúc, hoa sen, bạch mai, hoàng lan, hoa hướng dương, hoa lan kiếng cò, lan thạch hộc, hoa vông, hoa vạn thọ, mai vàng, hoa đào, hoa thược dược, hoa hải đường, hoa giấy, hoa quỳnh, hồng hạnh, mẫu đơn, phù dung, hoa quỳ Mỗi loài một vẻ, thật là muôn hồng nghìn tía Nhưng trong các loài hoa, Mộng Tuyết có cảm tình hơn với những loài hoa dại Nàng yêu lắm

cái “sắc oa c ỉ đạm đạm, ươn oa c ỉ t an t an ” của chúng Nàng thích

thú vô cùng cái màu đỏ chói của giống vông đồng hoang dại, nàng rung rưng trước thứ hoa bạch tuyết sống tầm gửi trên cây xoài xanh um Nàng mải mê ngắm loài hoa lan kiếng cò, và cả những bông hoa tim tím của loài cây xấu hổ… Mộng Tuyết thích những gì đến tự nhiên mà không phải gượng ép, vì vậy nàng thích để cho hoa trong vườn mình nở tự do chứ không phải cắt, xén, phải hãm, phải giục giã, thúc ép

Mộng Tuyết đặc biệt yêu thích hoa Quỳnh Nên dù trong thơ hay văn của

nữ sĩ, loài hoa này cũng thường xuyên xuất hiện với một tần số lớn Và chính cái

vẻ e ấp của quỳnh hương đã mang lại cho nhà thơ nguồn cảm hứng bất tận để có những vần thơ thật đẹp, thật thơm:

Ngày đăng: 25/06/2016, 20:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w