1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du

120 1,8K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1 2. Đối tƣợng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu................................................ 2 3. Lịch sử vấn đề.............................................................................................. 3 4. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................... 10 5. Đóng góp mới của luận văn...................................................................... 11 6. Bố cục luận văn.......................................................................................... 11 CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC SO SÁNH VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỆN THƠ MƢỜNG: ÚT LÓT – HỒ LIÊU VỚI ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH CỦA NGUYỄN DU............................................. 12 1.1. Khái quát về Văn học so sánh............................................................... 12 1.1.1. Mục đích và nguyên tắc của Văn học so sánh ................................... 12 1.1.2. Các phương pháp và hướng nghiên cứu ............................................ 14 1.2. Mối quan hệ giữa truyện thơ Mƣờng: Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du................................................................. 16 1.2.1. Vài nét về lịch sử người Mường và mối quan hệ Việt – Mường..... 16 1.2.2. Tiền đề ra đời hai tác phẩm................................................................. 17 1.2.2.1. Cơ sở xã hội của hai tác phẩm........................................................... 17 1.2.2.2. Cơ sở văn hóa của hai tác phẩm........................................................ 21 1.2.3. Nguồn gốc cốt truyện của hai tác phẩm ............................................. 23 1.2.3.1. Nguồn gốc cốt truyện Út Lót – Hồ Liêu............................................. 23 1.2.3.2. Nguồn gốc cốt truyện Đoạn trường tân thanh................................... 24 1.2. Thể loại của hai tác phẩm ................................................................... 26 1.2.1. Út Lót – Hồ Liêu và thể loại truyện thơ các dân tộc thiểu số.......... 26 1.2.1.1. Vài nét về truyện thơ các dân tộc thiểu số ...................................... 26 1.2.1.2. Truyện thơ Mường.............................................................................. 27 1.2.2. Đoạn trường tân thanh và thể loại truyện Nôm .............................. 29 Tiểu kết chương I ........................................................................................... 31 Đề tài: So sánh truyện thơ Mường: Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du CHƢƠNG II: NỘI DUNG CỦA ÚT LÓT – HỒ LIÊU VÀ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH................................................................................ 32 2.1. Những câu chuyện tình yêu................................................................... 32 2.1.1. Hai tác phẩm – hai thiên tình ca......................................................... 32 2.1.1.1. Những mối tình vượt lễ giáo .............................................................. 32 2.1.1.2. Những mối tình chung thủy................................................................ 35 2.1.2. Hai tác phẩm – hai chuyện tình bi kịch.............................................. 47 2.1.2.1. Bi kịch lỡ duyên.................................................................................. 48 2.1.2.2. Bi kịch ngày tái ngộ............................................................................ 50 2.2. Những câu chuyện về số phận ngƣời phụ nữ, số phận con ngƣời .......... 54 2.2.1. Số phận người phụ nữ Mường dưới chế độ Nhà Lang trong Út Lót – Hồ Liêu ........................................................................................................... 54 2.2.2. Số phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến trong Đoạn trường tân thanh......................................................................................................... 56 2.3. Đặc điểm môi trường sinh hoạt.............................................................. 62 Tiểu kết chương II ......................................................................................... 68 CHƢƠNG III: NGHỆ THUẬT CỦA ÚT LÓT – HỒ LIÊU VÀ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH................................................................................ 69 3.1. Kết cấu cốt truyện .................................................................................. 69 3.1.1. Mô hình kết cấu cốt truyện của hai tác phẩm .................................... 69 3.1.1.1. Mô hình kết cấu của Út Lót – Hồ Liêu............................................... 69 3.1.1.2. Mô hình kết cấu cốt truyện Đoạn trường tân thanh .......................... 69 3.1.2. Một số nhận xét về kết cấu cốt truyện của hai tác phẩm ................... 71 3.1.2.1. Những điểm khác biệt......................................................................... 71 3.1.2.2. Những điểm tương đồng..................................................................... 74 3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật.............................................................. 76 3.2.1. Út Lót và Thúy Kiều............................................................................. 77 3.2.1.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình........................................................... 77 3.2.1.2. Nghệ thuật miêu tả về tài năng và phẩm chất.................................... 79 Đề tài: So sánh truyện thơ Mường: Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du 3.2.1.3. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật ................................................... 82 3.2.2. Hồ Liêu và Kim Trọng ......................................................................... 91 3.3. Ngôn ngữ ................................................................................................. 93 3.3.1. Sự tiếp thu có chọn lọc ngôn ngữ dân gian trong hai tác phẩm ....... 93 3.3.2. Về việc sử dụng ngôn ngữ văn chương trong hai tác phẩm.............. 98 Tiểu kết chương III...................................................................................... 108 KẾT LUẬN .................................................................................................. 109 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 111 Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Đề tài So sánh truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS TS Trần Mạnh Tiến – người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn em trong quá trình học tập và nghiên cứu Đồng thời, em cũng bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong khoa Ngữ Văn

đã giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường

Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới những người dân Mường ở địa phương Hòa Bình, Thanh Hóa đã giúp đỡ em trong quá trình khảo sát thực tế

và thu thập tài liệu

Em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè – những người đã luôn chia sẻ, động viên, giúp đỡ em để em có thể hoàn thành Luận văn này

Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2015

Nguyễn Thị Lan Anh

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp mới của luận văn 11

6 Bố cục luận văn 11

CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC SO SÁNH VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỆN THƠ MƯỜNG: ÚT LÓT – HỒ LIÊU VỚI ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH CỦA NGUYỄN DU 12

1.1 Khái quát về Văn học so sánh 12

1.1.1 Mục đích và nguyên tắc của Văn học so sánh 12

1.1.2 Các phương pháp và hướng nghiên cứu 14

1.2 Mối quan hệ giữa truyện thơ Mường: Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du 16

1.2.1 Vài nét về lịch sử người Mường và mối quan hệ Việt – Mường 16

1.2.2 Tiền đề ra đời hai tác phẩm 17

1.2.2.1 Cơ sở xã hội của hai tác phẩm 17

1.2.2.2 Cơ sở văn hóa của hai tác phẩm 21

1.2.3 Nguồn gốc cốt truyện của hai tác phẩm 23

1.2.3.1 Nguồn gốc cốt truyện Út Lót – Hồ Liêu 23

1.2.3.2 Nguồn gốc cốt truyện Đoạn trường tân thanh 24

1.2 Thể loại của hai tác phẩm 26

1.2.1 Út Lót – Hồ Liêu và thể loại truyện thơ các dân tộc thiểu số 26

1.2.1.1 Vài nét về truyện thơ các dân tộc thiểu số 26

1.2.1.2 Truyện thơ Mường 27

1.2.2 Đoạn trường tân thanh và thể loại truyện Nôm 29

Tiểu kết chương I 31

Trang 3

CHƯƠNG II : NỘI DUNG CỦA ÚT LÓT – HỒ LIÊU VÀ ĐOẠN

TRƯỜNG TÂN THANH 32

2.1 Những câu chuyện tình yêu 32

2.1.1 Hai tác phẩm – hai thiên tình ca 32

2.1.1.1 Những mối tình vượt lễ giáo 32

2.1.1.2 Những mối tình chung thủy 35

2.1.2 Hai tác phẩm – hai chuyện tình bi kịch 47

2.1.2.1 Bi kịch lỡ duyên 48

2.1.2.2 Bi kịch ngày tái ngộ 50

2.2 Những câu chuyện về số phận người phụ nữ, số phận con người 54

2.2.1 Số phận người phụ nữ Mường dưới chế độ Nhà Lang trong Út Lót – Hồ Liêu 54

2.2.2 Số phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến trong Đoạn trường tân thanh 56

2.3 Đặc điểm môi trường sinh hoạt 62

Tiểu kết chương II 68

CHƯƠNG III : NGHỆ THUẬT CỦA ÚT LÓT – HỒ LIÊU VÀ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH 69

3.1 Kết cấu cốt truyện 69

3.1.1 Mô hình kết cấu cốt truyện của hai tác phẩm 69

3.1.1.1 Mô hình kết cấu của Út Lót – Hồ Liêu 69

3.1.1.2 Mô hình kết cấu cốt truyện Đoạn trường tân thanh 69

3.1.2 Một số nhận xét về kết cấu cốt truyện của hai tác phẩm 71

3.1.2.1 Những điểm khác biệt 71

3.1.2.2 Những điểm tương đồng 74

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 76

3.2.1 Út Lót và Thúy Kiều 77

3.2.1.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình 77

3.2.1.2 Nghệ thuật miêu tả về tài năng và phẩm chất 79

Trang 4

3.2.1.3 Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật 82

3.2.2 Hồ Liêu và Kim Trọng 91

3.3 Ngôn ngữ 93

3.3.1 Sự tiếp thu có chọn lọc ngôn ngữ dân gian trong hai tác phẩm 93

3.3.2 Về việc sử dụng ngôn ngữ văn chương trong hai tác phẩm 98

Tiểu kết chương III 108

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học so sánh là bộ môn khoa học mới, lịch sử ra đời mới có trên dưới 100 năm nhưng nó đã có chỗ đứng trong văn học thế giới Văn học so sánh có tính quốc tế bởi nó dùng con mắt xuyên quốc gia để nghiên cứu các hiện tượng văn học và văn hóa liên quan đến nhau, phát hiện các mối liên hệ, các quy luật của văn học Ở Việt Nam, văn học so sánh là một vấn đề thời sự, được đem ra bàn luận nhiều Trong xu thế toàn cầu hóa, giao lưu và hội nhập, người Việt luôn hướng ra thế giới và thế giới cũng ảnh hưởng vào Việt Nam

Do đó việc nghiên cứu văn học so sánh sẽ giúp chúng ta mở rộng phương pháp nghiên cứu, nhận thức rõ hơn nhiệm vụ của lý luận văn học với các hoạt động văn học trong và ngoài nước trước tình hình giao lưu hội nhập thế giới hiện nay

Dân tộc Mường là một dân tộc thiểu số Việt Nam, có lịch sử hình thành sớm và có trình độ văn hóa phát triển đã sáng tạo nhiều sản phẩm văn hóa đa dạng và độc đáo, không chỉ khẳng định vị thế của người Mường mà còn đóng góp những tinh hoa văn hóa Mường vào nền văn hóa Việt Nam

Văn học dân gian Mường được nhắc đến nhiều nhất là mo Đẻ đất, đẻ nước, tác phẩm được coi là bộ sử thi lớn nhất trong mảng sử thi thần thoại của văn học Việt Nam Tiếp theo Đẻ đất, đẻ nước, văn học Mường còn có thể loại truyện thơ Từ điển văn học có viết: “Truyện thơ Mường là bước phát triển cao nhất của văn học dân tộc Mường trước 1945” [70, tr 1849]

Út Lót – Hồ Liêu là một trong những truyện tiêu biểu, được coi như

“Truyện Kiều” của người Mường Giữa tác phẩm này và Đoạn trường tân thanh của dân tộc Kinh có những điểm tương đồng về cốt truyện, nhân vật… Tác phẩm Út Lót – Hồ Liêu chưa được nghiên cứu đầy đủ, hệ thống, chỉ

được nhắc đến trong một số công trình cho nên ít người biết đến, chưa biết

Trang 6

được mối quan hệ của tác phẩm này với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn

Du Qua quá trình khảo sát chúng tôi thấy giữa hai tác phẩm này có những điểm tương đồng và khác biệt Việc tìm hiểu văn học Việt -Mường trong sự đối sánh sẽ giúp chúng ta hiểu hơn mối quan hệ gắn bó giữa hai dân tộc

Là người con của dân tộc Mường, được sinh ra và lớn lên trong

những câu hát Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, tôi nhận thấy, bản

sắc văn hóa Mường rất độc đáo, nhưng hiện đang thay đổi Công trình này

ra đời nhằm bắc một nhịp cầu giữa văn học người Việt với văn học của chính dân tộc mình để khám phá thêm những gần gũi trong quá khứ Trên

cơ sở đó, bản thân tôi luôn có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, “hòa nhập mà không hòa tan” cho học sinh thế hệ mới

Đoạn trường tân thanh tức Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác

đang được giảng dạy và học tập trong nhà trường phổ thông Vì vậy, việc mở rộng phạm vi nghiên cứu sẽ giúp cho việc hiểu biết về tác phẩm này được sâu sắc hơn, góp phần nâng cao hiệu quả của giảng dạy văn học truyền thống trong nhà trường

Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: So sánh truyện

thơ Mường: Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du

2 Đối tƣợng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu gồm hai tác phẩm truyện thơ Mường: Út Lót- Hồ Liêu và Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Các văn bản được chọn để tiến hành nghiên cứu so sánh gồm: Út Lót- Hồ Liêu do tác giả Minh Hiệu sưu tầm, biên soạn, chỉnh lý được in trong cuốn Tuyển tập truyện thơ Mường, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1963 và Đoạn trường tân thanh do Nguyễn

Thạch Giang biên khảo, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Công trình của chúng tôi dựa vào những vấn đề lí thuyết cơ bản của Văn

học so sánh, đồng thời khảo sát cơ sở văn hóa, xã hội, mối quan hệ giữa Út Lót- Hồ Liêu và Đoạn trường tân thanh Chúng tôi cũng đồng hành tập trung

vào tìm hiểu đặc điểm và giá trị nội dung của hai tác phẩm; đặc điểm và giá

trị nghệ thuật của hai tác phẩm: Út lót Hồ Liêu và Đoạn trường tân thanh

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi vừa khảo sát vừa phân tích, chỉ ra những nét tương đồng và

khác biệt của hai tác phẩm: Út lót Hồ Liêu và Đoạn trường tân thanh; phân

tích, lí giải nguyên nhân về văn hóa lịch sử xã hội và đặc điểm nghệ thuật giữa hai tác phẩm, nhận xét những nét tương đồng, khác biệt đó, đưa ra những kiến giải của mình Sau nữa là những thành công và hạn chế ở mỗi tác phẩm Qua đó cho thấy những nét gần gũi và khác biệt của hai truyền thống văn học hai dân tộc, hai loại hình: nghệ thuật dân gian và nghệ thuật bác học

3 Lịch sử vấn đề

3.1 Về lí thuyết văn học so sánh

Trước khi tiến hành khảo sát và so sánh hai tác phẩm Út Lót - Hồ Liêu

của dân tộc Mường với tác phẩm Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) của

Nguyễn Du, chúng tôi đã dựa vào những công trình nghiên cứu về lí thuyết

so sánh tiêu biểu của các tác giả sau đây:

Công trình Những vấn đề của Văn học so sánh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà

Nội (1998) của Nguyễn Văn Dân, đã đề cập tới đặc điểm của Văn học so sánh trên thế giới và ý nghĩa những thành tựu đó ở trong nghiên cứu văn học, đó là nguồn tài liệu giúp chúng tôi khảo sát những vấn đề cụ thể khi nghiên cứu

Công trình Từ văn học so sánh đến thi học so sánh (2002), Nxb Văn

học, Hà Nội của Phương Lựu trình bày sự vận động của đời sống văn học từ thực tiễn đến lí thuyết giúp chúng tôi hiểu sâu thêm những cơ sở lí luận để triển khai công trình nghiên cứu

Trang 8

Tiếp đó, là tập sách Văn học so sánh – nghiên cứu và triển vọng (2005)

do tác giả Trần Đình Sử, Lã Nhâm Thìn, Lê Lưu Oanh tuyển chọn giúp chúng tôi có cái nhìn sâu sắc hơn về Văn học so sánh

Gần đây xuất hiện một công trình dịch thuật Giáo trình văn học so sánh

(Lê Huy Tiêu dịch), Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội (2011) của tác giả Hồ

Á Mẫn, đã cung cấp thêm những tri thức về văn học so sánh cho chúng tôi ở các phương diện nội dung và hình thức cũng như các hiện tượng văn học Công trình cho thấy, văn học so sánh giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn

về phạm vi nền văn học của một dân tộc

Như vậy, các công trình lí luận văn học so sánh là những công cụ hỗ trợ đắc lực cho chúng tôi khi tìm hiểu các mối tương đồng và khác biệt của các nền văn học và các các phẩm văn học của dân tộc này với dân tộc khác

3.2 Tình hình nghiên cứu truyện thơ Mường: Út Lót- Hồ Liêu và Đoạn trường tân thanh

3.2.1 Các công trình nghiên cứu về truyện thơ Mường: Út Lót – Hồ Liêu Truyện thơ Mường nói chung và truyện thơ Út Lót- Hồ Liêu nói riêng

trong những thập kỷ qua đã giành được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu văn học Đặc biệt sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc ta, mở ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập tự do cho dân tộc, đó cũng là kỉ nguyên văn hóa mới Sau khi hòa bình lập lại đến nay, việc sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu văn học dân gian đặc biệt văn học các dân tộc ít người được Đảng và

Nhà nước chú trọng Truyện thơ Út Lót – Hồ Liêu được sưu tầm, giới thiệu

và xuất bản nhiều lần để đến tay bạn đọc Tuy nhiên việc nghiên cứu chưa thật cụ thể và công phu Đặc biệt, việc tìm hiểu truyện thơ này trong sự so sánh với các tác phẩm văn học khác thì hầu như chưa ai đề cập tới; mặc dù giữa hai tác phẩm, giữa dân gian và bác học này có những điểm tương đồng

Trang 9

Năm 1963, hai nhà nghiên cứu văn học dân gian Minh Hiệu và Hoàng

Anh Nhân đã sưu tầm và giới thiệu tập Truyện thơ Mường, trong đó gồm có 4 truyện: Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm – chàng Bồng Hương, Nàng con côi Mỗi truyện đều có lời giới thiệu khá chi tiết, giúp

chúng ta hiểu thêm về sự phong phú của truyện thơ dân gian Mường

Năm 1986, các tác giả lại một lần nữa giới thiệu Tuyển tập truyện thơ Mường (hai tập), so với trước thì có một số ý kiến mới Người biên soạn quan niệm sử thi Đẻ đất đẻ nước cũng là truyện thơ nên giành riêng tập I Tập II dành cho bốn truyện thơ: Út Lót – Hồ Liêu (bản dịch của Minh Hiệu), Nàng Nga – Hai Mối (Minh Hiệu sưu tầm, biên dịch, chỉnh lý), Nàng Ờm – chàng Bồng Hương (Hoàng Anh Nhân sưu tầm, biên dịch), Nàng con côi (Hoàng

Anh Nhân sưu tầm, dịch) Như vậy, quan niệm về thể loại của các nhà nghiên cứu đã rõ hơn

Tác giả Hoàng Anh Nhân đã đưa ra nhận xét tổng hợp về thể loại

truyện thơ như sau: “Cũng giống như văn học các dân tộc anh em khác trên đất nước ta, một truyện thơ dân gian Mường cũng thường là một bài ca về chủ nghĩa nhân đạo với những dáng vẻ khác nhau Đó là sự đòi hỏi về quan

hệ trong sáng giữa con người với con người, đòi hỏi được quyền yêu chính đáng, không có sự ép uổng lẫn nhau Đó cũng là sự quan tâm, che chở và giúp đỡ cho người bất hạnh và lên án những cái tàn bạo, trái ngược với tình người Cái thiện, cái đẹp dù nhiều lúc gặp khó khăn trắc trở, nhưng cuối cùng vẫn vượt lên cái ác, thắng cái xấu xa” [41, tr 85-86] Và mỗi tác phẩm

“còn thể hiện rất rõ ràng những khát vọng, những ước mơ chân chính và cũng rất đơn giản của con người: được tự do yêu đương, xây dựng hạnh phúc” [41, tr 178]

Cũng vào năm 1986, hai nhà sưu tầm Trần Thị Liên và Nguyễn Hữu

Kiên trong cuốn Văn hóa truyền thống Mường Đủ, xuất bản ở Thanh Hóa đã sưu tầm lại truyện thơ Út Lót – Hồ Liêu dưới dạng truyện cổ tích Cun Đủ,

Trang 10

Đạo già, truyền thuyết Út Lót – Hồ Liêu và cho biết một thời xưa trai gái

Mường Đủ - Mường Già nay thuộc xã Thạch Bình, cách Mường Đủ chưa đầy 1km, không bao giờ lấy nhau – tập quán này nảy sinh từ ngày Út Lót buông lời thề độc Duy trì tập quán này, nhân dân hai Mường của một thời muốn tin

và muốn mọi người cũng tin như mình rằng câu chuyện tình được truyện thơ

kể lại có căn rễ lịch sử của nó

Do tính chất truyền miệng nên truyện thơ này có nhiều dị bản khác nhau, có những đoạn có thể quên ở người này hoặc người khác và cũng có điểm được người đời sau bổ sung, nên giữa các dị bản có sự khác nhau về lời thơ, về một số chi tiết, và đôi chỗ còn khác nhau về mô tả tâm lí của nhân vật

Năm 1976, Tráng đồng (tập truyện thơ dân gian dân tộc Mường) do Mai

Văn Trí, Bùi Thiện sưu tầm, biên dịch, chú thích và giới thiệu được Nhà Xuất

bản Văn hóa, Hà Nội cho ra mắt bạn đọc Tập sách gồm ba truyện thơ: Tráng đồng, Cun Đủ Lang Dà, Vườn hoa núi Cối được sưu tầm ở Hòa Bình Đáng chú ý là, nếu những người sưu tầm, biên dịch khác cho rằng Út Lót – Hồ Liêu

và Nàng Nga – Hai Mối là hai tác phẩm riêng rẽ thì nhóm biên dịch sách này

căn cứ vào nhiều mối liên hệ trùng lặp và bằng vào sự kể lại của một số nghệ

nhân am hiểu nhiều truyện đã xếp vào một tác phẩm lấy tên là truyện Cun Đủ Lang Dà Từ việc sắp xếp hai truyện này vào một, tác giả cho rằng nàng Nga

– người vợ cha mẹ Hồ Liêu cưới cho là chị cả của Út Lót Tuy nhiên chúng tôi cho rằng, giả thuyết này không hợp lý, bởi vì nếu nàng Nga và Út Lót là hai chị em gái thì khi Út Lót đi chầu sẽ biết chị gái mình lấy chồng ở đâu và lấy ai? Hơn nữa khi nghe tin Hồ Liêu mất, Út Lót đến thăm và gặp nàng Nga, hai người không thể không nhận ra nhau Như vậy, ở đây chỉ là sự trùng lặp

về tên của hai nhân vật mà thôi

Năm 1979, Nhà Xuất bản Văn học in lần thứ hai tập VI có tên là Văn học dân tộc ít người của bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam Ở lần xuất bản này,

tập thể tác giả gồm có: Nông Quốc Chấn chủ biên, giới thiệu; Hoàng Thao,

Trang 11

Hà Văn Thư, Mạc Phi, Trần Văn Tấn biên soạn chú giải Tuyển tập lần này in thành hai quyển Ở quyển hai có 16 truyện thơ của năm dân tộc được trích in

Trong đó có bốn truyện thơ Mường: Út Lót - Hồ Liêu (Minh Hiệu sưu tầm, dịch), Huỳ Nga - Hai Mối (dịch theo bản sưu tầm của Đinh Công Niết), Nàng

Ờm - chàng Bồng Hương (Hoàng Anh Nhân sưu tầm, dịch), Vần va (Đinh Ân

sưu tầm, dịch)

Trong các năm 1990 - 1991, theo lời mời của Nhà xuất bản Khoa học

Xã hội, tác giả Đặng Nghiêm Vạn đã chủ trì một nhóm biên soạn gồm có Đặng Văn Lung, Lương Ninh, các nhà nghiên cứu Lục Văn Pảo, Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, Đặng Nghiêm Vạn và Lê Trung Vũ Đến cuối năm

1991, tuyển tập do nhóm biên soạn tiến hành đã hoàn thành Năm 1992, bộ

sách được công bố với tên gọi Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam Tuyển tập gồm bốn quyển, chỉ có bản dịch tiếng Việt, vì chưa có điều

kiện giới thiệu các tác phẩm bằng tiếng mẹ đẻ Trong quyển thứ hai của tuyển

tập có năm truyện thơ Mường: Tráng Đồng (sử dụng bản dịch của Mai Văn Trí và Bùi Thiện đã công bố năm 1976), Út Lót - Hồ Liêu (sử dụng bản dịch của Minh Hiệu đã công bố năm 1986), Vườn hoa núi Cối (sử dụng bản dịch của Mai Văn Trí, Bùi Thiện đã công bố năm 1976), Nàng Ờm - chàng Bồng Hương (sử dụng văn bản của Hoàng Anh Nhân công bố năm 1986 trong Tuyển tập truyện thơ Mường), Nàng Nga - Hai Mối (sử dụng văn bản của

Minh Hiệu công bố năm 1986)

Năm 1995, Nhà Xuất bản Văn hoá dân tộc công bố Tuyển tập truyện thơ dân gian Mường do Bùi Thiện sưu tầm, biên soạn, dịch Không có bản phiên

âm tiếng Mường, sách này giới thiệu bản dịch 12 truyện thơ (theo quan niệm của soạn giả) dưới đây:

1 Dạ Dần trồng hoa

2 Vua Dần vái thơi

Trang 12

3 Đón bông cơm vía lúa

11 Vườn hoa núi Cối

12 Cun Đủ lang Dà (gồm hai truyện Út Lót - Hồ Liêu (còn gọi là Út Khót - Hồ Liêu) và Nàng Nga - Hai Mối)

Tuy nhiên trong cuốn sách này có tám tác phẩm chúng tôi không quan niệm là truyện thơ (từ số 1 đến số 8) và cuốn sách này cũng chưa được biên tập cẩn thận Các truyện số 3 và số 4 có tên gọi ở lời nói đầu và mục lục khác với tên gọi ở bên trong (xem các trang 47, 58) Việc viết hoa, viết thường hết sức tuỳ tiện, thiếu nhất quán

Năm 2002, Nhà Xuất bản Đà Nẵng công bố bộ sách Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, nhóm biên

soạn còn có Lê Trung Vũ, Nguyễn Thị Huế, Đỗ Hồng Kỳ, Trần Thị An và Tăng Kim Ngân Bộ sách gồm bốn tập (sáu quyển) Tập 4 dành cho việc giới

thiệu truyện thơ, năm truyện thơ Mường được giới thiệu gồm: Tráng Đồng (sử dụng bản dịch của Mai Văn Trí và Bùi Thiện đã công bố năm 1976), Út Lót - Hồ Liêu (sử dụng bản dịch của Mai Văn Trí, Bùi Thiện đã công bố năm 1976), Nàng Ờm - chàng Bồng Hương (sử dụng bản dịch của Hoàng Anh Nhân đã công bố năm 1986), Nàng Nga - Hai Mối (sử dụng bản dịch của

Minh Hiệu đã công bố năm 1986)

Trang 13

Năm 2010, nhà sưu tầm Bùi Thiện tiếp tục cho ra mắt cuốn Truyện dân gian dân tộc Mường, trong tập hai phần truyện thơ có đưa ra tác phẩm Út Khót – Hồ Liêu (“Khót” có nghĩa chỉ vật quý, tên khác vì mỗi địa phương có

cách gọi khác nhau) Nhưng do vẫn giữ quan điểm từ trước đó nên Bùi Thiện

xếp Út Khót – Hồ Liêu và Nàng Nga – Hai Mối vào một tác phẩm Cun Đủ - Lang Dà Trong tác phẩm còn có chi tiết Út Lót khi giả trai lấy tên là Út Khứ 3.2.2 Các công trình nghiên cứu về Đoạn trường tân thanh

So sánh Đoạn trường tân thanh với một tác phẩm văn học nước ngoài

đã có nhiều công trình nghiên cứu có thể kể đến một số công trình lớn như So

sánh Truyện Kiều với Faust của Đức, So sánh Truyện Kiều với Epghenhi Onheghin của Nga, So sánh Truyện Kiều với Truyện Xuân Hương của Hàn

Quốc Các công trình so sánh loại hình này đã chỉ ra được những nét tương

đồng và dị biệt của Đoạn trường tân thanh với những nền văn học không có

ảnh hưởng hoặc ít nhiều có ảnh hưởng

So sánh Đoạn trường tân thanh với nguyên tác Kim Vân Kiều truyện

của Trung Quốc từ hướng nghiên cứu ảnh hưởng cũng dành được nhiều sự quan tâm của các tác giả, đáng chú ý trong số bài viết này, tác giả Kiều Thu Hoạch đã nhấn mạnh thêm sự tác động ngược trở lại của thể loại truyện Nôm

trong đó có Đoạn trường tân thanh đối với văn học dân gian, đặc biệt văn

học dân gian các dân tộc thiểu số như văn học dân gian Tày

Tóm lại, qua việc nhìn nhận toàn bộ các công trình nghiên cứu của các

tác giả chuyên sâu về văn học dân gian các dân tộc thiểu số, chúng tôi nhận

thấy: truyện thơ Mường Út Lót – Hồ Liêu mặc dầu đã được biên soạn, giới

thiệu đến bạn đọc nhiều lần nhưng nó chưa trở thành một đối tượng của văn học so sánh Các nhà sưu tầm, giới thiệu gần như không nói đến mối liên hệ của tác phẩm này với văn học các dân tộc khác hoặc có đặt vấn đề về mối liên hệ giữa văn học dân tộc thiểu số với văn học Việt trong các giáo trình,

Trang 14

các tổng tập, tuyển tập, các công trình nghiên cứu về văn học dân gian các dân tộc thiểu số nhưng việc nghiên cứu công phu với một tác phẩm truyện thơ cụ thể thì hầu như chưa có Vì vậy, luận văn này chính là một sự thể

nghiệm đầu tiên cho việc tìm hiểu so sánh truyện thơ Mường: Út Lót – Hồ Liêu với tác phẩm kiệt tác của dân tộc Kinh – Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện công trình này, chúng tôi chủ trương sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

4.1 Phương pháp so sánh

Do mục đích chính của luận văn là chỉ ra những tương đồng và khác biệt của hai tác phẩm nên trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu so sánh là phương pháp chủ yếu Khi cần thiết sử dụng thêm thao tác thống kê, phân loại

4.2 Phương pháp phân tích tác phẩm văn học

Luận văn của chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tác phẩm văn

học nhằm chỉ ra những đặc điểm về nội dung và kết cấu của hai tác phẩm: Út Lót – Hồ Liêu với tác phẩm Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Trong

đó, đặc biệt chúng tôi lưu ý đến phương pháp phân tích tác phẩm văn học

theo thể loại Cụ thể, phân tích tác phẩm văn học dân gian Út Lót – Hồ Liêu, với phân tích tác phẩm truyện Nôm Đoạn trường tân thanh

4.3 Phương pháp nghiên cứu văn hóa lịch sử

Do hai tác phẩm thuộc hai nền văn hóa của hai dân tộc khác nhau nên chúng tôi cho rằng, cần thiết phải đặt chúng vào môi trường văn hóa có tính

lịch sử để xem xét Vì Út Lót – Hồ Liêu là một tác phẩm văn học dân gian

của một dân tộc thiểu số, nên chúng tôi còn tiến hành điền dã ở một số địa

Trang 15

phương thuộc tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa để tìm hiểu thêm một số dị bản giúp cho việc nhìn nhận tác phẩm một cách bao quát hơn

Quá trình khảo sát, chúng tôi đặt tác phẩm vào môi trường diễn xướng

để có cái nhìn toàn diện Trong khi tiến hành việc phân tích, đối chiếu, so sánh các tình tiết, sự kiện trong hai tác phẩm trên, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu về dân tộc học, văn hóa học, tổng hợp, quy nạp…

5 Đóng góp mới của luận văn

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu so sánh hai tác phẩm văn học của

hai dân tộc: Út Lót – Hồ Liêu, truyện thơ dân gian nổi tiếng của người Mường với Đoạn trường tân thanh, một kiệt tác văn học viết của người Kinh

Từ việc chỉ ra những tương đồng và khác biệt của tác phẩm, chúng tôi muốn góp một cái nhìn mới vào việc khám phá những yếu tố đặc sắc, đặc điểm giao thoa văn học – văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Mường, làm cơ sở cho sự giao lưu văn học – văn hóa giữa các tộc người khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm ba chương:

Chương I: Khái quát về Văn học so sánh và mối quan hệ giữa truyện thơ

Mường: Út Lót – Hồ Liêu với Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Chương II: Nội dung của Út Lót – Hồ Liêu và Đoạn trường tân thanh Chương III: Nghệ thuật của Út Lót – Hồ Liêu và Đoạn trường tân thanh

Trang 16

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC SO SÁNH

VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỆN THƠ MƯỜNG: ÚT LÓT – HỒ LIÊU

VỚI ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH CỦA NGUYỄN DU

1.1 Khái quát về Văn học so sánh

1.1.1 Mục đích và nguyên tắc của Văn học so sánh

Tác giả Trần Đình Sử (2006) trong bài viết “Văn học so sánh trong bối cảnh giao lưu toàn cầu hôm nay” khẳng định: “Văn học so sánh là ngành nghiên cứu ra đời nhằm khám phá mối liên hệ văn học giữa các quốc gia hay liên quốc gia, bổ sung quan trọng cho hướng nghiên cứu văn học dân tộc biệt lập từ trước đến nay” [58, tr 8] Điều này cho thấy một cách rõ ràng vai trò

của sự ra đời của Văn học so sánh Có thể thấy, các nhà nghiên cứu tập trung vào hai mục đích cơ bản của Văn học so sánh:

Thứ nhất, xác định và khẳng định tính khái quát của văn học nhân loại,

hay nói cách khác, chứng minh tính nhân loại của văn học

Thứ hai, làm rõ tính đặc thù của các nền văn học dân tộc hay quy luật

về bản sắc dân tộc trong văn học

Từ đó có thể phân biệt một cách xác đáng hai cặp phạm trù: dân quốc tế, truyền thống-hiện đại, hướng vào một mục tiêu tích cực vì sự phát triển thống nhất, bền vững của một nền văn học thế giới trên cơ sở những nền văn học dân tộc đa dạng với bản sắc độc đáo riêng Cũng trong bài viết đã

tộc-dẫn, tác giả Trần Đình Sử cho rằng: “Văn học so sánh là lĩnh vực cho thấy mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học thế giới, đặc biệt cho thấy vị thế, thân phận và tính tự chủ của văn học Việt Nam trong văn học thế giới Nó làm thay đổi quan niệm về một nền văn học Việt Nam biệt lập” [58, tr 12]

Văn học so sánh giúp chúng ta đặt ra câu hỏi ta là ai, đến từ đâu, đang ở đâu

và sẽ đi đến đâu, giữa thế giới chúng ta đang ở vị trí nào, một cách đúng đắn

Trang 17

và tích cực Trong bài viết “Đặc trưng của Văn học so sánh”, nhà nghiên cứu Bửu Nam viết: “Quan niệm văn học thế giới như một giàn hợp xướng khổng

lồ của những khác biệt của các nền văn học quốc gia mà mỗi nền văn học như một nhạc cụ có âm sắc riêng trong dàn nhạc văn học của khu vực hòa âm thành các giai điệu đặc sắc gắn với tổng thể chung Văn học so sánh vừa tìm cái chung, cái tương đồng của các thực tại văn học có tính phổ quát, với phương pháp loại hình, vừa tìm được cái độc sáng, cái bản sắc, cái đa dạng, cái khác biệt trong cái chung đó với phương pháp khu biệt” [58, tr 30] Như

thế, nghiên cứu Văn học so sánh có ý nghĩa rất to lớn trong nghiên cứu văn học ở mỗi nước và trong nghiên cứu văn học thế giới, tức là khi đặt nền văn học các nước trong thế tương quan với nhau để phân tích, so sánh Tuy nhiên

cũng phải lưu ý rằng: “khi so sánh không nên tìm cách chứng minh rằng, tác phẩm của dân tộc này hay hơn dân tộc kia, bởi mỗi dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình mà hình thành quan điểm thẩm mỹ, truyền thống tâm lý- thẩm mỹ khác nhau Do đó, giá trị tác phẩm văn học của mỗi dân tộc phải được đo bằng chuẩn thước của chính dân tộc đó” [36, tr 134]

Rõ ràng, Văn học so sánh mang trong nó sứ mệnh vô cùng quan trọng

Và để thực hiện điều này, nó phải chấp nhận vận hành theo nguyên tắc mà

nhà nghiên cứu Bửu Nam nhân định: “Từ chối ranh giới để hướng đến những tập hợp văn học rộng lớn có tính quốc tế, xích gắn những hiện tượng văn học liên quốc gia vốn khá cách biệt trong không gian và thời gian, mở rộng việc

so sánh văn học với các lĩnh vực khác của nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, điện ảnh…) với các lĩnh vực diễn tả khác của nhân loại như triết học, tôn giáo, nhân loại, xã hội học…” [57, tr 29] Ta biết rằng phía sau thực tại văn học

của các dân tộc là một thực tại văn hóa đa dạng Văn học so sánh đạt đến độ sâu sắc khi nó mở rộng việc nghiên cứu văn học sang văn hóa và quan niệm

về một thế giới văn hóa thống nhất trong đa dạng nhiều bản sắc, nhiều dáng

vẻ Do chỗ bối cảnh văn hóa của các nền văn học, truyền thống văn hóa và

Trang 18

văn học có những mối liên hệ chặt chẽ và phức tạp từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ khu vực này sang khu vực khác, Văn học so sánh tất yếu phải chú

ý đến tính liên văn hóa, xuyên văn hóa của các hiện tượng văn học trong khi nghiên cứu chúng

1.1.2 Các phương pháp và hướng nghiên cứu

Mỗi nền văn học trước khi đi đến những liên hệ chung có tính toàn cầu phải trải qua giai đoạn tồn tại biệt lập trong ngôn ngữ dân tộc mình Chính vì thế nghiên cứu Văn học so sánh về cơ bản áp dụng hai phương pháp nghiên cứu sau: Nghiên cứu ảnh hưởng và tiếp nhận; nghiên cứu song hành

Nghiên cứu ảnh hưởng là khởi nguồn của Văn học so sánh, là phương

pháp được áp dụng ngay khi trong văn học xuất hiện ý thức so sánh, cũng là phương pháp được trường phái Văn học so sánh Pháp thống lĩnh suốt thời kỳ đầu của tiến trình phát triển Văn học so sánh mà mục tiêu là lấy văn học Pháp làm trung tâm Tất nhiên những kết luận của họ là có căn cứ và sự ảnh hưởng

đó có thể được chứng minh bằng những bằng chứng xác thực Thế nhưng chính điều này dẫn đến việc trước đây có một giai đoạn người ta xem thường

và thậm chí rất e ngại Văn học so sánh, vì nhìn ở một phương diện nào đó, Văn học so sánh chỉ có lợi cho những nền văn học lớn, các nền văn học nhỏ

và non trẻ sẽ bộc lộ mặt yếu kém, dẫn đến tâm lý tự ti hoặc tự tôn dân tộc, đặc biệt mặt tiêu cực khi nó làm nảy sinh tư tưởng nước lớn và dẫn đến tư tưởng

đô hộ về văn hóa, tinh thần

Nhưng đó chỉ là một mặt của phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng Với

lý thuyết tiếp nhận và tiếp biến văn hóa, tiếp nhận đã thành một bình diện lớn của Văn học so sánh, không chỉ là sự ảnh hưởng của A đến B mà sự tiếp nhận của B với A cũng là tiêu điểm mà Văn học so sánh quan tâm, vì nó cho thấy tầm đón nhận của nền văn học được tiếp nhận Và theo GS Trần Đình Sử, nó

phản ánh “mối duyên văn học của các dân tộc”, “là con đường tự làm giàu,

Trang 19

tự phát triển của văn học dân tộc” [58, tr.9] tất nhiên chỉ khi đó là sự chủ

động tiếp nhận, chứ không phải là việc bắt chước giản đơn

Nghiên cứu song hành được các học giả Mỹ đề xướng sau nhưng rõ

ràng chứng minh được ưu thế nổi bật của nó Thực chất đây là phương pháp nghiên cứu loại hình, đang mở ra một chân trời mới trong nghiên cứu Văn học so sánh, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc khám phá các quan hệ giá trị thẩm mĩ cộng đồng Các dân tộc trên thế giới có thể ở những khoảng không gian khác nhau nhưng tư duy, tình cảm, tâm lý, thẩm mỹ lại có nhiều nét tương đồng Vì suy cho cùng thì con người ở bất cứ nơi đâu và sống ở bất

cứ thời đại nào cũng luôn có những mối quan tâm giống nhau, sự khác có chăng là ở mức độ và cách thể hiện

Các nhà nghiên cứu Văn học so sánh theo quan điểm của phương pháp song hành cho rằng không có hiện tượng nào trong nền văn học của các dân tộc

mà lại không thể mang ra so sánh, tất nhiên điều đó không có nghĩa là so sánh tràn lan, tùy tiện mà đòi hỏi phải có mục đích xác lập quan hệ, có phạm vi xác định và giải quyết thỏa đáng vấn đề đặt ra thì sự nghiên cứu mới có ý nghĩa Phương pháp này thật sự đem đến cho Văn học so sánh sự mở rộng phạm vi nghiên cứu qua các giới hạn về không gian, thời gian và đặc biệt là sự đa dạng của các chủ đề nghiên cứu Nhận xét về vai trò của phương pháp nghiên cứu này khi nghiên cứu Văn học so sánh ở Việt Nam, tác giả Trần Đình Sử khẳng

định: “… Tăng cường nghiên cứu song hành văn học Việt Nam với văn học thế giới là con đường khám phá bản sắc dân tộc” [57, tr.11]

Trải qua một chặng đường phát triển khá phức tạp, Văn học so sánh được triển khai theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Ở đây, chúng tôi chỉ xin được đề cập đến một hướng nghiên cứu quan trọng, cũng là hướng nghiên

cứu có liên quan mật thiết đến đề tài – đó là hướng nghiên cứu liên ngành

(Theo tác giả Trần Đình Sử là nghiên cứu “siêu văn học”) So sánh các vấn

đề trong văn học có thể được liên hệ với các vấn đề trong lịch sử, xã hội học,

Trang 20

tâm lý học, các lĩnh vực nghệ thuật… sẽ giúp cho các vấn đề được đưa ra so sánh trở nên có chiều sâu hơn và được hiểu đúng đắn hơn Điều này đã được

tác giả Hồ Sĩ Vịnh khẳng định trong bài viết “Triết học văn hóa – một tiềm năng nghiên cứu văn hóa con người” trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (in lại trên trang web: http:/www.chungta.com): “Nói văn học dựa vào lịch sử, nhưng văn học trường tồn bất chấp sự thay đổi chế độ chính trị là nhờ hình tượng tính cách và những vấn đề triết học văn hóa hiện diện trong tác phẩm” Bởi vì cũng theo tác giả: “Lịch sử văn học là phân hệ của lịch sử văn hóa Văn học của một chế độ nhất định được quy định về mặt lịch sử các hiện tượng văn học, các tác phẩm, các giai đoạn và mọi giá trị văn học diễn ra trong thời kì đó” Tuy

nhiên, các hiện tượng được liên hệ nhất thiết phải mang tính nhân loại ở tầm khái quát cao Và trong trường hợp này thì người nghiên cứu vừa phải làm rõ hiện tượng văn hóa mang tính khái quát và một bên là các hiện tượng văn hóa chịu ảnh hưởng, ý nghĩa và vai trò của nó

1.2 Mối quan hệ giữa truyện thơ Mường: Út Lót – Hồ Liêu với

Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du

1.2.1 Vài nét về lịch sử người Mường và mối quan hệ Việt – Mường

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng tổ tiên chung của người Việt và người Mường là người Lạc Việt – chủ nhân nền văn hóa Đông Sơn Kết luận

đó dựa trên những cứ liệu của nhiều ngành khoa học khác nhau (ngôn ngữ học, khảo cổ học, dân tộc học, nhân loại học…), nó cũng phù hợp với quan niệm truyền thống của người Mường và người Việt vốn từ lâu coi là anh em,

bà con với nhau Sau đó, do nguyên nhân và điều kiện khách quan mà khối cộng đồng thống nhất “tiền Việt-Mường” này đã phân hóa, hình thành hai tộc người Việt và Mường hiện đại Đầu thế kỷ XX trong công trình nghiên cứu về

người Mường, Cuisinier Jeana kết luận: “Người Mường và người Việt vốn cùng một gốc mới tách khỏi nhau khoảng vài thế kỉ trước khi chấm dứt Bắc thuộc” [7, tr.13] Nhà sử học Trần Quốc Vượng trong bài viết của mình cũng

Trang 21

nhấn mạnh: “Sự phân hóa giữa tộc Mường và tộc Việt chủ yếu là sản phẩm của lịch sử Việt Nam thời Bắc thuộc” [73] Tuy nhiên sau này các nhà nghiên cứu lại xác định: “Kể từ sau thế kỉ X – XI Việt và Mường đã bắt đầu trở thành hai tộc người nhưng vẫn có sự giao lưu về kinh tế và văn hóa” [33, tr.34]

Trước sự xâm nhập của người Hán, trong khi người Việt nhanh chóng tiếp thu những yếu tố văn hóa Hán thì người Mường thu mình lại, duy trì những phong tục tập quán cổ để bảo vệ các giá trị của cộng đồng Cùng với sự phân

hóa thành hai tộc người: “Văn hóa Mường bị tách khỏi văn hóa Việt” và

“Việt bị Hán hóa mạnh mà Mường thì vẫn cổ xưa” [33, tr.90] Do đó mà xã

hội Mường trước 1945 là một xã hội khá ngưng đọng Họ vẫn giữ được những đặc trưng của đời sống sinh hoạt và văn hóa cổ xưa của tổ tiên Lạc Việt Bởi thế, tìm hiểu văn hóa Mường trong đó có văn học trong cách tiếp cận đối sánh với văn học Việt cũng chính là sự trở lại tìm tòi, khám phá những giá trị văn hóa của người Việt cổ

1.2.2 Tiền đề ra đời hai tác phẩm

1.2.2.1 Cơ sở xã hội của hai tác phẩm

Trước hết đề cập tới đặc điểm xã hội Mường thế kỷ XVIII và ước đoán

thời gian xuất hiện tác phẩm Út Lót – Hồ Liêu, cho đến nay chưa có tài liệu

nào nói người Mường có chữ viết riêng Vì thế, những tác phẩm văn học

Mường trước 1945 trong đó có Út Lót – Hồ Liêu được coi là những tác phẩm dân gian truyền miệng Đến năm 1963, Út Lót – Hồ Liêu mới được in lại trong Truyện thơ Mường bằng chữ Quốc ngữ

Vì là một tác phẩm truyền miệng nên việc xác định thời gian ra đời một

cách chính xác truyện Út Lót – Hồ Liêu là điều không thể thực hiện chính xác Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng Út Lót – Hồ Liêu được ra đời thời vua Minh Mệnh (1820-1840) Trong Tuyển tập truyện thơ Mường tập II, in năm 1986, nhà nghiên cứu Minh Hiệu cũng khẳng định lại, truyện thơ Mường ra đời “vào quãng cùng thời đại với truyện Nôm Phạm Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa… dưới

Trang 22

Kẻ chợ, muộn nhất cứ phải trước thời mà quyền uy của các tù trưởng, lang cun, phìa tạo ở miền núi bị thực dân can thiệp và chia sẻ” [18, tr.83] Điều đó có cơ

Như vậy, có thể ước đoán truyện thơ Út Lót – Hồ Liêu ra đời vào quãng

từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, tức là cùng hoặc gần thời gian Nguyễn

Du viết Đoạn trường tân thanh

Mặt khác từ góc nhìn lịch sử nhà nước, chế độ Nhà Lang Mường thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX có những điểm tương ứng với vùng đồng bằng

Từ năm 1945 trở về trước, xã hội Mường có những đặc trưng riêng biệt Đó là sự tồn tại của chế độ Nhà Lang Nhà Lang có vị trí đặc biệt quan trọng trong cộng đồng xã hội của người Mường Người Mường có câu:

“Mường có Lang, làng có Tạo” là để khẳng định vị trí quan trọng đó

Đứng đầu mỗi vùng có Lang Cun (con trai trưởng của chi trưởng) và Lang Đạo (con trai trưởng của chi thứ) Quyền lợi của các Lang tương tự như một lãnh chúa phong kiến cát cứ Họ nắm quyền thống trị cả một vùng Mường trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa Đến kỳ hạn, họ đi chầu vua Kẻ Chợ (tức là các triều đại vua Việt Nam) Có trường hợp vua Nguyễn để giữ mối quan hệ tốt với các quan Lang Mường đã gả công chúa cho họ Trước đây ở Cao Phong – Hòa Bình còn có mộ của một bà công chúa nhà Nguyễn làm dâu xứ Mường Trước đó trong khởi nghĩa Lam Sơn có rất nhiều tướng lĩnh người Mường tham gia đắc lực nên sau chiến thắng được vua Lê ban quốc tính

Trang 23

Chế độ Nhà Lang tồn tại hai tầng lớp: Nhà Lang (người thống trị) và dân (kẻ bị trị) Mâu thuẫn trong xã hội được thể hiện khá rõ trong truyện cười và dân ca Vì xã hội Mường áp đặt theo lối “cha truyền con nối”, các Lang không có con trai sẽ phải chịu thân phận thấp kém, toàn bộ cơ nghiệp sẽ về tay các Lang Đạo khác, do đó mới thấu hiểu được nỗi lo âu của đạo Tu Liêng khi vợ mình hạ sinh con:

…Ông Tu Liêng nằm bên cửa sổ

Nghe tiếng khóc trẻ nhỏ Sầm sầm bước tới gian trong Chìa tay ra liền hỏi:

-“Con trai hay là con gái?

Trai ta nuôi nối dõi Gái ta chẳng nuôi làm chi.”

Xã hội Mường xưa ít biến đổi nên đây là những đặc điểm chung của đời sống cộng đồng Mường trước 1945 Tuy nhiên, quãng thế kỉ XVIII – XIX, xã hội Mường có sự phát triển hơn nhờ sự giao lưu thông thương kinh tế, văn hóa giữa các vùng miền, không chỉ giữa các vùng Mường mà còn với dân tộc khác như Thái, Dao và đặc biệt với người Kinh dưới xuôi

Nói chung, xã hội Mường bấy giờ tuy vẫn còn dấu vết của thời kì bộ tộc,

bộ lạc nhưng đã bước chân vào thời kì phong kiến sơ kỳ nên đã xuất hiện các mâu thuẫn xã hội như giàu – nghèo, quan lang – binh mường… Tuy nhiên, so với xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII nhiều biến động thì khu miền núi có các cư dân Mường là một xã hội khá tĩnh lặng

Những đặc điểm nổi bật ấy đã được phản ánh sinh động trong Út Lót –

Hồ Liêu Nói cách khác, Út Lót – Hồ Liêu chính là sản phẩm tinh thần được

chắt lọc từ đời sống cộng đồng Mường trước đây

Trang 24

Điều thứ hai, ta cần phải quan tâm đó là bối cảnh xã hội Việt Nam thế

kỷ XVIII Nhìn vào lịch sử cho thấy, Thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là một

giai đoạn bão táp của lịch sử trung đại Việt Nam Đây là “giai đoạn đánh dấu

sự suy tàn, sụp đổ của chế độ phong kiến và tinh thần quật khởi của quần chúng nhân dân Đây là giai đoạn đầy biến động, kịch tính vừa đau thương vừa hào hùng” [36, tr.94]

Trước hết phải nói đến sự mục ruỗng, thối nát của tầng lớp thống trị Triều đình nhà Lê bạc nhược khiến đất nước bị chia cắt đàng trong, đàng ngoài, thậm chí còn cam chịu làm thân phận bù nhìn trước chúa Trịnh Lối sống vô trách nhiệm của triều đại nhà Lê trở nên phản động khi Lê Chiêu Thống rước giặc Thanh vào giày xéo đất nước

Trong khi đó, nhà chúa chuyên quyền lấn át vua Lê nhưng nội bộ lại lục đục Chúa Trịnh Sâm vì mê đắm Đặng Thị Huệ mà bỏ trưởng lập thứ dẫn đến hậu quả “huynh đệ tương tàn”

Trụ cột đất nước lung lay, thêm nữa luật pháp kém phát triển, trật tự xã hội đảo lộn dẫn đến bao cảnh bất công, uất ức cho dân chúng Chiến tranh phong kiến nổ ra liên miên đẩy nhân dân vào vòng lao lý, điêu đứng Điều đó đươc văn học phản ánh khá chân thực và sinh động

Hoàn cảnh xã hội này đã đặt ra vấn đề quyền sống của con người cấp thiết hơn bao giờ hết Bởi thế mà ngoài các cuộc chiến tranh tranh giành quyền bính giữa các tập đoàn phong kiến, còn phải kể đến các cuộc khởi nghĩa đòi công lý, đòi quyền sống của người nông dân mà đỉnh cao là phong trào khởi nghĩa của Tây Sơn – Nguyễn Huệ Nghĩa quân này không chỉ dẹp yên các cuộc huynh đệ tương tàn, những rối ren của bè lũ thống trị mà còn đánh tan hai mươi vạn quân Thanh, làm nên trang sử vàng chói sáng trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc

Trang 25

So với xã hội Mường thì thực tế lịch sử này quả là vô cùng khốc liệt

Điều đó lý giải vì sao Đoạn trường tân thanh đặt ra nhiều vấn đề về xã hội,

những vấn đề về quyền sống của con người, thân phận người phụ nữ sâu sắc

và mãnh liệt hơn Út Lót – Hồ Liêu

1.2.2.2 Cơ sở văn hóa của hai tác phẩm

Trước hết là vấn đề đặc trưng văn hóa tộc người Mường, về đời sống vật chất: Kinh tế Mường chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tự cung tự cấp nên lương thực, thực phẩm của họ chủ yếu là “cây nhà lá vườn” Từ khi có giống lúa, họ biết cấy cày và coi đây là lương thực chính Nhìn chung, về ẩm thực, người Mường ăn uống khá đa dạng, và họ cũng ăn trầu như người Việt Trong các truyện thơ Mường đều có những chi tiết về thói quen ẩm thực này góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Mường cho tác phẩm

Trang phục của người Mường không chỉ có giá trị sử dụng mà còn đạt đến trình độ cao về thẩm mĩ Trang phục tiêu biểu của phụ nữ là khăn đội đầu

và áo cánh ngắn màu trắng, váy đen có cạp dệt hoa văn sặc sỡ và hoạ tiết cực

phản ánh trong truyện thơ Út Lót – Hồ Liêu

Trang 26

Ngoài xã hội, nét nổi bật của người Mường là tinh thần cộng đồng cao Điều này được thể hiện qua giao tiếp Phong cách giao tiếp của người Mường là

sự chân thành, cởi mở, lịch sự, ung dung, nhẹ nhàng Ngoài ra, mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng cũng rất gần gũi gắn bó, mọi người yêu thương, đùm bọc lẫn nhau Tục đi xin và cho xin của người Mường thể hiện rõ điều này trong sự chia sẻ tự nhiên của cộng đồng

Về đặc trưng văn hóa người Việt, trước hết là đời sống vật chất: Kinh

tế nông nghiệp trồng lúa nước, nền văn minh này đã được khai sinh từ ngàn đời xưa và đạt được trình độ cao nhất định Ngoài nghề nông nghiệp, người Việt làm một số nghề khác như đánh bắt cá, chăn nuôi gia súc, làm đồ thủ

công (làm nón, đúc đồng, làm gốm, sơn mài…) “Cơm tẻ, nước chè” là đồ ăn

thức uống tiêu biểu thường thấy hàng ngày của người Việt Thức ăn đồ nếp chỉ gặp trong những dịp lễ tết

Trang phục người Việt khá đa dạng Người Việt sống theo làng, làng là đơn vị hành chính, cũng là trung tâm văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế Nhiều làng hợp thành một xã Mỗi làng có thể có nhiều xóm Trong làng, xã đều có những luật lệ riêng mà mọi người phải thi hành, gọi là lệ làng

Nhà ở người Việt chủ yếu được xây dựng bằng những vật liệu sẵn có trong thiên nhiên Những ngôi nhà điển hình là nhà lá ba gian và năm gian Thông thường, một ngôi nhà gồm có nhà chính, nhà bếp, có nơi chăn nuôi gia súc, có một khu vườn, sân và ao

Về đời sống tinh thần, gia đình người Việt theo chế độ phụ quyền nhưng phụ nữ vẫn giữ vai trò quan trọng, thường là người quản lý kinh tế trong gia đình Mỗi tộc họ, thường có nhà thờ tổ riêng, quan hệ nội, ngoại vững chắc, anh em họ hàng đều yêu thương, đùm bọc lẫn nhau

Trong văn hoá - văn minh, từ văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần và văn hoá ứng xử, người Việt đã sáng tạo ra những nét đặc sắc cho mình, tiếp thu có chọn lọc ưu điểm của các nền văn minh khác để làm phong phú cho dân tộc

Trang 27

mình Những biểu hiện văn hoá Việt thật phong phú, đa dạng, chỉ đơn cử văn hoá tín ngưỡng: từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những anh hùng dân tộc có công với làng nước và trên những cơ sở đó tiếp thu những tín ngưỡng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Công giáo Tất cả đều được cải biên để phù hợp, thích ứng với đời sống vật chất và tinh thần cộng đồng dân tộc Trong tín ngưỡng văn hoá đó, thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng quan trọng nhất của người Kinh Bàn thờ được đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà: được cúng lễ vào các ngày giỗ, tết và các dịp tuần tiết

1.2.3 Nguồn gốc cốt truyện của hai tác phẩm

1.2.3.1 Nguồn gốc cốt truyện Út Lót – Hồ Liêu

Ở xã Cao Khê – Ngọc Lạc (Thanh Hóa) có cụ già kể lại Út Lót – Hồ Liêu là câu chuyện có thực, xảy ra vào thời vua Minh Mệnh Câu chuyện này

gẫn gũi đến mức mà dường như người Mường nào từ thuở trong nôi cũng đã được nghe ru, nghe hát, lớn lên được nghe mẹ cha ông bà kể lại, nhập tâm

như người Kinh thuộc Truyện Kiều Căn cứ vào nguồn gốc ra đời của thể loại

truyện thơ các dân tộc thiểu số cũng cho phép ta suy đoán câu chuyện này có xảy ra trong cộng đồng Mường Các nhà nghiên cứu VHDG cho rằng cốt

truyện của truyện thơ có ba nguồn gốc Thứ nhất, tiếp thu cốt truyện của truyện cổ tích (Chàng Lú và nàng Úa của người Thái vốn tiếp thu một cốt truyện của dân tộc Xá, Nàng con côi tiếp thu cốt truyện cổ tích của dân tộc Mường) Thứ hai, truyện thơ tiếp thu cốt truyện Nôm Kinh hoặc các tích từ

Trung Quốc Loại này phổ biến ở truyện thơ Tày – Nùng Lý do người Tày tiếp xúc với văn học Việt qua các thầy đồ, nhà Nho người Việt lên Cao Bằng, Tuyên Quang từ thời nhà Mạc, mặt khác do người Tày vốn có sự giao lưu gần

gũi với người Trung Hoa Có thể kể đến Quẳm Thư Kiều của người Tày tiếp thu Đoạn trường tân thanh của người Việt hoặc Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc Thứ ba, truyện thơ kể lại những câu chuyện có thực xảy ra trong

đời sống cộng đồng của mỗi dân tộc

Trang 28

Người Mường, dù có quan hệ gần gũi với người Việt nhưng chủ yếu ở phương diện hành chính và buôn bán, ít tiếp xúc với văn chương bác học Việt nên các chuyện của văn học dân gian Mường thường được khơi nguồn từ hiện

thực cuộc sống Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Ờm và chàng Bồng Hương, Vườn hoa núi Cối đều gắn với các địa danh trên khu vực cư trú của đồng bào

Mường Chẳng hạn, núi Làn Ai nơi nàng Ờm chết thuộc xã Long Vân, Bá

Thước, Thanh Hóa, câu chuyện Vườn hoa núi Cối gắn với tên đất, tên mường

ở huyện Cao Phong, Hòa Bình Riêng với truyện thơ Út Lót – Hồ Liêu, xuất hiện những dấu tích có thật trong truyện: “Khi Út Lót giả trai vào chầu vua Kinh, lấy tên là “ông đạo Út Mường Đẹ” Mường Đẹ ngày nay thuộc huyện Thạch Thành – Thanh Hóa Quê của Hồ Liêu tuy không được nói đến nhưng chắc cũng không xa Mường Đẹ là bao” [18, tr 10] Truyện cũng góp phần

giải thích hiện tượng đàn bướm lạc bay vào tháng Ba, năm năm lại tái sinh bay qua bay lại đông vô kể kể khắp nẻo rừng và con cày cun nằm rũ rượi, đáng thương như đang tiếc nuối điều gì

Vả chăng, dù câu chuyện Út Lót – Hồ Liêu không xảy ra hoàn toàn như

thể ngoài đời thì chúng ta vẫn có thể khẳng định được rằng người Mường xưa

đã chắt lọc hiện thực cuộc sống hàng ngày, từ những mối tình đẹp đẽ nhưng

bị lễ giáo mà tan vỡ để tạo nên thiên tình sử này, nhằm bộc lộ những khát vọng đầy tính nhân văn của cộng đồng mình

Nguồn gốc cốt truyện Út Lót – Hồ Liêu đã góp phần tạo nên tính dân

tộc đậm đà của tác phẩm, làm cho truyện thơ này như một bức tranh đời sống hàng ngày của người Mường, thể hiện tiếng lòng của cộng đồng Mường với hiện thực xung quanh

1.2.3.2 Nguồn gốc cốt truyện Đoạn trường tân thanh

Nguồn gốc của Đoạn trường tân thanh thì dường như đã quá rõ ràng Nguyễn Du đã dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện, một tiểu thuyết

chương hồi của Trung Quốc, tương truyền do Thanh Tâm tài nhân viết Cụ thể

Trang 29

hơn, câu chuyện Thúy Kiều – Từ Hải vốn có thật trong lịch sử Trung Hoa đã được Đới Sĩ Lân, Mao Khôn, Chu Tích, Mộng Giác Đạo Nhân, Dư Hoài viết đi viết lại Cuối cùng, Thanh Tâm tài nhân, một văn sĩ cuối đời Thanh đã mở rộng

quy mô câu chuyện này trở thành một tiểu thuyết dài 20 hồi: “hình tượng Kiều

đã được đổi mới nhiều Thêm Thúy Vân để đối chiếu hai số phận Thêm Kim Trọng cho mối tình đầu thêm đẹp đẽ, đăng đối, bay bổng Thêm Hoạn Thư cho đời Kiều thêm khổ nhục, thêm cảnh báo ân báo oán cho quãng đời Kiều với Từ Hải có lúc vẻ vang Lại thêm cái chết đứng của Từ thêm nghĩa khí Lại cho Kiều sống lại để tái ngộ đoàn viên… Cứ đem mà so như thế thì Kim Vân Kiều truyện

rõ ràng là một truyện mới, vượt hẳn lên nội dung lịch sử cụ thể để nói một cái gì bất hủ muôn đời theo quan niệm tác giả” [53, tr.278]

Tóm lại, nguồn gốc của Đoạn trường tân thanh không có gì để bàn cãi nữa, vấn đề đặt ra ở đây là nhìn nhận trong sự đối sánh với Út Lót – Hồ Liêu

Út Lót – Hồ Liêu xuất phát từ câu chuyện giàu tính hiện thực trong cộng đồng người Mường Đoạn trường tân thanh tiếp thu cốt truyện nước ngoài Như

vậy, nguồn gốc cốt truyện là khác nhau Sự khác nhau này dẫn đến mức độ đậm nhạt không đồng đều cả về nội dung và nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm

Do xuất phát từ hiện thực cuộc sống nên bản sắc dân tộc được thể hiện

đậm nét trong Út Lót – Hồ Liêu Đời sống sinh hoạt cũng như xã hội được

hiện lên rất chân thực và sinh động Từ mối quan hệ trong gia đình đến cách

cư xử ngoài cộng đồng mường bản, từ tình cảm cha mẹ con cái, trai gái yêu nhau đến quan hệ quan lang, binh mường… tất cả đều mang những nét đặc trưng của người Mường

Đoạn trường tân thanh do mượn cốt truyện từ Trung Quốc nên không

phản ánh trực tiếp đời sống xã hội người Việt mà chỉ là sự cảm nhận xã hội Việt thông qua cốt truyện của Trung Hoa Do đó, nếu muốn tìm những chi

tiết đặc trưng cho cuộc sống người Việt trong Đoạn trường tân thanh như đời sống người Mường trong Út Lót – Hồ Liêu thì điều đó không thể tìm được

Trang 30

Tuy nhiên, chúng ta lại thấy rõ cái tài của Nguyễn Du Ông mượn câu chuyện nước ngoài để nói chuyện nước mình mà không phải e dè, kiêng nể

Vì thế, sự phản ánh hiện thực xã hội trở nên sâu sắc

1.2 Thể loại của hai tác phẩm

1.2.1 Út Lót – Hồ Liêu và thể loại truyện thơ các dân tộc thiểu số

1.2.1.1 Vài nét về truyện thơ các dân tộc thiểu số

Về vị trí của thể loại truyện thơ, cùng với sử thi, truyện thơ các dân tộc thiểu số là một trong hai thể loại lớn nhất của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, đồng thời là một trong hai thể loại lớn nhất của văn học dân gian

Việt Nam, “là tập đại thành những thành tựu văn học dân gian của các dân tộc thiểu số” [51, tr.192], là “cái thể loại đạt đến trình độ cao nhất trong sự phát triển của các thể loại văn học dân gian, qua đó chúng ta có thể thấy rõ hơn toàn bộ những chặng đường mà văn học dân gian các dân tộc thiểu số đã trải qua” [51, tr.192] Nếu nói văn học dân gian là tiền đề của văn học viết thì

truyện thơ chính là chiếc cầu nối giữa dân gian và bác học Đồng thời các nhà nghiên cứu đã nhận thấy mối quan hệ qua lại giữa truyện thơ và văn học thành văn của người Việt (truyện Nôm) và văn học các nước trong khu vực như Lào, Thái Lan, Ấn Độ có những điểm tương đồng trong tiến trình phát triển

Về tên gọi truyện thơ cho đến nay các nhà nghiên cứu chưa đưa ra

được một khái niệm có tính hoàn chỉnh song đều thống nhất rằng: truyện thơ

là những áng thơ tự sự dài, về cơ bản là có cốt truyện, có khả năng diễn tả số phận và tâm trạng của các nhân vật bất hạnh (người nghèo, người bị ép duyên…) khá tinh tế và sâu sắc

Vấn đề phân loại truyện thơ, đến nay người ta đề xuất: căn cứ vào đề

tài và căn cứ vào đặc điểm phương thức diễn đạt Theo cách thứ nhất, ta có

ba thể loại: truyện thơ về đề tài tình yêu; truyện thơ về đề tài người nghèo khổ; truyện thơ về đề tài chính nghĩa Theo cách thứ hai, ta có hai loại: loại

truyện thơ trữ tình- tự sự và loại truyện thơ tự sự-trữ tình

Trang 31

Loại truyện thơ trữ tình-tự sự “là những mảng dân ca mà nội dung là những mảng tâm tình khác nhau, mang tính phổ biến được xắp xếp hệ thống hóa

“lắp ráp” lại theo một đường dây sự kiện nào đó để trở thành truyện một số phận, một đời người, ít nhiều mang tính cá biệt” [51, tr.91] Tiêu biểu cho loại này có Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái, Tiếng hát làm dâu của người Mông

Loại truyện thơ tự sự-trữ tình “là loại truyện kể về những số phận khác nhau, được tăng cường yếu tố trữ tình do tiếp xúc nguồn dân ca” [51, tr.91] Loại này có thể kể đến: Hiền Hom và Cầm Đôi (Thái), Hoàng Tíu (Tày), Nàng con côi (Mường)

Về đặc trưng của thể loại truyện thơ, nội dung kể lại những diễn biến số

phận khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực tình yêu kết hợp với những trường đoạn kế thừa có biến đổi từ dân ca, trữ tình vừa tổng hợp trong lòng nó bức tranh sinh động về hiện thực xã hội đầy bất công, đau khổ, vừa phô diễn sâu

sắc đời sống nội tâm phong phú

Về hình thức, truyện thơ tự sự bằng thơ ca dân gian của mỗi dân tộc, chẳng hạn người Chăm có lục bát Chăm Yriya (gieo cả vần chân cả vần lưng), người Thái có loại thơ Khống Khái (câu thơ dài ngắn không đều, số tiếng thường là lẻ), người Mường có Thường Rang (Có nơi gọi là Xường Đang) trong đó, các câu thường từ hai đến mười tiếng, gieo vần lưng

Về phương thức diễn xướng, cũng như các thể loại văn học dân gian khác, truyện thơ diễn xướng trong các sinh hoạt dân gian: lễ hội, lao động sản xuất, sinh hoạt gia đình

1.2.1.2 Truyện thơ Mường

Truyện thơ Mường là “một thể loại văn học viết dưới hình thức văn vần,

có cốt truyện của dân tộc Mường ở Việt Nam”, “là khâu chuyển tiếp từ văn học dân gian sang văn học thành văn… là bước phát triển cao nhất của văn học dân tộc Mường trước Cách mạng tháng Tám” [70, tr.1899] Số lượng tác phẩm đã

Trang 32

tìm được là 5 gồm: Út Lót – Hồ Liêu, Nàng Nga – Hai Mối, Vườn hoa núi Cối, Nàng Ờm và chàng Bồng Hương, Nàng con côi Trong đó, chỉ có Nàng con côi

thuộc đề tài thứ hai, bốn tác phẩm còn lại thuộc đề tài thứ nhất

Về cơ bản, những đặc điểm của truyện thơ Mường nằm trong đặc điểm chung của thể loại truyện thơ Những biểu hiện cụ thể và đặc trưng của nó

được trình bày trong quá trình phân tích, so sánh với Đoạn trường tân thanh ở

các chương II, III

Truyện thơ Mường chỉ đứng sau truyện thơ Tày và truyện thơ Thái về mặt số lượng Song, điều quan trọng là, với những đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật, truyện thơ Mường có một vị trí không nhỏ trong thể loại truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam

Về truyện thơ Út Lót – Hồ Liêu, căn cứ vào đề tài, truyện thơ này thuộc

tình yêu đôi lứa Căn cứ vào đặc điểm phương thức diễn đạt, truyện thơ này thuộc loại tự sự-trữ tình

Nội dung cốt truyện: Nàng Út Lót vừa đẹp vừa thông minh, là con thứ

ba của đạo Tu Liêng và bà Cun Tu Ó Thấy bố lo lắng buồn phiền vì không có con trai thay cha mặt đi chầu vua Kẻ chợ, nàng xin giả trai đi làm việc đó Dọc đường, nàng gặp Hồ Liêu, con một lang đạo khác cũng đi chầu vua Kẻ

chợ Hai người làm bạn: “chung lương chung lộ, chung cỗ chung phòng”

Trong những ngày ở đất Kinh kì, không những vua Kẻ chợ mà ngay cả Hồ Liêu cũng có ý nghi ngờ Út Lót là gái giả trai Nhờ thông minh, Út Lót đã xóa

được nghi ngờ đó Hết hạn đi chầu: “chín tháng mười hai năm/chín năm mười hai tháng” hai người cùng trở về quê Út Lót bỏ lốt hóa trang trở thành một

cô gái xinh đẹp Hai người yêu nhau rồi hẹn ước nên duyên đôi lứa

Hồ Liêu về đến nhà được tin cha mẹ đã cưới vợ cho chàng Hồ Liêu tìm mọi cách để chống đối nhưng không được, lại thêm nhớ thương nàng Út Lót nên chàng ốm rồi chết Còn về Út Lót, nhiều người đến dạm nhưng nàng đều

Trang 33

từ chối Cuối cùng, nàng xin cha mẹ cho lấy đạo Cun Cun ở phía gốc khuyên vàng, nơi có mộ Hồ Liêu Khi rước dâu đi qua, Út Lót xin thăm mộ Hồ Liêu, rồi bất ngờ nắp quan tài mở, nàng nhảy vào và nắp quan tài khép lại Những người đưa dâu bơ vơ biến thành đàn bướm lạc Còn chú rể tiếc của biến thành con cày Cun ủ rũ trên cây

Về vị trí của truyện thơ Út Lót – Hồ Liêu trong văn học và đời sống cộng đồng Mường: Cùng với Nàng Nga – Hai Mối, Út Lót – Hồ Liêu là

truyện thơ nổi tiếng của văn học dân gian Mường, là sự kết tinh của các thể loại truyện cổ tích, ca dao, dân ca Mường, chuẩn bị cho sự ra đời của văn học viết của người Mường sau Cách mạng tháng Tám

Trước đây, trong cộng đồng Mường không ai không biết truyện thơ này Trai gái đến tuổi học Thường Rang phải học lời của Út Lót, của Hồ Liêu để

có vốn liếng mà ứng đối khi vào cuộc hát với đất bạn Mường xa Những gia

đình nghệ nhân đem Út Lót – Hồ Liêu luyện cho con trai, con gái từ lúc năm,

sáu tuổi Nói tóm lại, truyện thơ này có một vị trí đặc biệt trong cộng đồng người Mường xưa

1.2.2 Đoạn trường tân thanh và thể loại truyện Nôm

Theo Từ điển văn học, “thể loại tự sự bằng thơ dài, rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm” [70, tr.1847] Các nhà Kiều học đã xếp Đoạn trường tân thanh vào thể loại truyện

Nôm và coi đó là tác phẩm xuất sắc nhất của thể loại truyện này Đi sâu nghiên cứu tác phẩm này với thể loại sản sinh ra nó đã có nhiều công trình

lớn nhỏ, tiêu biểu là công trình của nhà nghiên cứu Đặng Thanh Lê: Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm Luận văn của chúng tôi không đi vào phần giới

thuyết thể loại của tác phẩm này mà chỉ đề cập tới một số vấn đề cơ bản trong

sự đối sánh với thể loại của Út Lót – Hồ Liêu

Xét từ góc độ khái niệm thể loại tự sự, hai thể loại này có điểm tương

đồng Cả hai đều là thể loại văn học đều biểu đạt dưới hình thức văn vần, có

Trang 34

cốt truyện Trong đó, cần chú ý thêm việc cả hai thể loại cùng có khả năng mô

tả tâm lý nhân vật khá chân thực và sinh động (tất nhiên mức độ và đặc điểm miêu tả có khác nhau)

Xét từ nguồn gốc cốt truyện, cả hai thể loại đều có ba khuynh hướng:

từ truyện cổ; từ hiện thực đời sống; tiếp thu ảnh hưởng tác phẩm của cộng đồng khác

Xét về phương thức lưu truyền, truyện thơ các dân tộc thiểu số ngoài một số tác phẩm được ghi chép lại bằng văn tự (chữ Thái, chữ Nôm Tày) hầu hết là truyền miệng Truyện Nôm được ghi lại bằng văn tự chữ Nôm có tác giả (hữu danh) hoặc chưa biết tên tác giả (khuyết danh) Tuy nhiên, truyện Nôm ngoài việc lưu truyền bằng văn tự cũng được lưu truyền bằng con đường truyền khẩu

Về mặt đề tài, cả hai kiểu dạng truyện kể trên đều quan tâm đến hai vấn

đề chính: đề tài người nghèo trong mối quan hệ với giai cấp thống trị và đề tài tình yêu đôi lứa

Điểm khác biệt rõ nhất của hai thể loại là thể thơ và ngôn ngữ Truyện Nôm sử dụng thể thơ thể song thất lục bát và thể lục bát Truyện thơ sử dụng thể thơ tự do vốn tiếp thu từ dân ca các dân tộc thiểu số Ngôn ngữ của truyện Nôm là tiếng Việt, ngôn ngữ truyện thơ là tiếng dân tộc (Tày, Mường, Thái…) Ngôn ngữ truyện thơ và truyện Nôm bình dân có điểm tương đồng nhau là mang tính chất mộc mạc bình dân, riêng truyện Nôm bác học là ngôn ngữ văn chương chọn lọc

Như vậy, hai thể loại này có những điểm tương đồng rõ nét Vì thế, có nhà nghiên cứu đã đề xuất quan điểm: không có thể loại truyện Nôm, chỉ có thể loại truyện thơ (trong đó bao gồm truyện thơ Nôm Việt, truyện thơ Nôm Tày, truyện thơ Thái…) Điều này, không phải là không có cơ sở Dựa trên đặc điểm kết cấu cho thấy, đây là những câu chuyện biểu đạt bằng thơ, có cốt truyện và tình tiết, nhân vật và sự miêu tả tâm lí, tính cách, ngoại hình nhân vật, xen vào đó là những bức tranh thiên nhiên sống động

Trang 35

Tiểu kết chương I

Văn học so sánh dẫu là một lĩnh vực mới mẻ nhưng đã từng bước khẳng định được ưu thế nổi bật của nó trong khoa nghiên cứu văn học Đây là một hướng nghiên cứu không thể bỏ qua trong điều kiện thế giới bước vào giao lưu, hội nhập văn hóa, văn học được xem là chiếc cầu nối tâm hồn, tình cảm giữa các dân tộc Mối quan tâm của chúng tôi từ mối liên hệ của hai tác

phẩm: Út Lót – Hồ Liêu và Đoạn trường tân thanh, từ hoàn cảnh lịch sử, đặc

điểm dân tộc đến hoàn cảnh văn hóa chi phối Và khi đặt hai tác phẩm trong thế tương quan, chúng tôi phát hiện ra những điểm giao thoa ở cả nội dung và nghệ thuật mà luận văn của chúng tôi sẽ lần lượt tiến hành khảo sát ở chương

II và chương III

Trang 36

CHƯƠNG II

NỘI DUNG CỦA ÚT LÓT – HỒ LIÊU

VÀ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

2.1 Những câu chuyện tình yêu

2.1.1 Hai tác phẩm – hai thiên tình ca

Tình yêu vốn là đề tài bất tận trong văn học thế giới Các kiệt tác văn học xưa nay đều khai thác chủ đề muôn thuở đó Là những tác phẩm văn học

đặc sắc, Út Lót – Hồ Liêu và Đoạn trường tân thanh đã khắc họa nên bản tình

ca bất tử về tâm hồn tư tưởng con người Trong Đoạn trường tân thanh,

Nguyễn Du đã xây dựng ba mối tình: Thúy Kiều – Kim Trọng, Thúy Kiều –

Thúc Sinh, Thúy Kiều – Từ Hải Tuy nhiên ở đây, trong tương quan với Út Lót- Hồ Liêu, chúng tôi chỉ xét mối tình có tính chất trung tâm về mối tình

Thúy Kiều – Kim Trọng

2.1.1.1 Những mối tình vượt lễ giáo

Tình yêu nam nữ trong xã hội xưa có nhiều trở lực, việc hôn nhân là do cha mẹ quyết định, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy Nam nữ nảy sinh tình cảm yêu thương thường bị lễ giáo phong kiến ngăn cản Song thực tế, tình yêu phải là tiếng nói của tự do, của trái tim Truyện Nôm, đặc biệt là truyện thơ các dân tộc thiểu số về đề tài tình yêu đã không ít lần ca ngợi những mối tình cao đẹp, qua đó thể hiện ước muốn về một tình yêu tự do, một hôn nhân hạnh

phúc Có thể kể đến một số truyện Nôm Việt có Sơ kính tân trang (Phạm Thái), Phan Trần; truyện thơ có Tiễn dặn người yêu, Hiền Hom và Cầm Đôi, Chàng Lú và Nàng Ủa (dân tộc Thái), Nàng Nga – Hai Mối, Nàng Ờm và Chàng Bồng Hương (dân tộc Mường)

Út Lót và Hồ Liêu, Thúy Kiều và Kim Trọng cũng thuộc những mối tình vượt ra ngoài khuôn khổ của lễ giáo phong kiến Cả hai mối tình đều được bắt đầu từ sự gặp gỡ đầu tiên, hồn nhiên rồi gắn bó, cho dù chưa được phép cha mẹ, nhưng họ đã thề nguyền với nhau hẹn ước sâu nặng

Trang 37

Cũng như Thúy Kiều và Kim Trọng, Út Lót và Hồ Liêu đôi trai gái này hoàn toàn đăng đối về mặt hình thức, phẩm giá và gia thế, theo quan niệm xưa Út Lót là con của một Lang Đạo có uy quyền trong xã hội Chàng Hồ Liêu cũng là con một quan Lang Đạo giàu có

Cả hai thay mặt cha mẹ đi chầu vua Lang Kẻ chợ, trên đường đi họ gặp nhau và trở thành đôi bạn cùng vượt qua những khó khăn, mặc dù Hồ Liêu vẫn không hề biết Út Lót là con gái Cho đến đây, Út Lót và Hồ Liêu chưa làm điều gì trái tập tục của cộng đồng Mường Táo bạo và vượt lễ giáo ở việc hai người chưa được phép của cha mẹ đôi bên đã tự ý đính ước và thề hẹn Với tập tục xưa, đó là chuyện tày trời Một cuộc hôn nhân theo đúng quy định của người Mường xưa phải tuân theo nhiều bước Nếu người con trai và gia

đình anh ta ưng một cô gái nào đấy thì họ sẽ chọn ông bà mờ (người mai mối)

đến nhà cô ta để dạm ngõ Nếu gia đình cô gái đồng ý thì hai bên tiếp tục các

thủ tục: kháo tiếng (đặt vấn đề xin ăn hỏi), ti nòm (ăn hỏi), ti cháu (lễ cưới) Trong đó ti nòm và ti cháu gồm nhiều bước nhỏ khác Còn nếu gia đình cô gái

không đồng ý, hoặc nhà trai không đủ tiền đáp ứng việc thách cưới thì dù đôi trai gái yêu nhau cũng phải chia tay Con gái gia đình quan Lang Mường lại càng không được tự ý quyết định việc hôn nhân của mình Vậy mà, trên đường trở về sau chuyến chầu vua Kẻ chợ, Út Lót cho Hồ Liêu biết thân phận thực sự của mình, hai người đã rủ nhau:

Ra chốn non cao dốc cấm, Đèo thẳm mây vương, Nói một điều thương, Nói trăm điều mến

Tình yêu đưa đường dẫn lối cho hai con người cùng tìm đến nhau, bước qua vòng cương tỏa của xã hội cổ truyền Mường Táo bạo hơn, hai người còn vạch đá cùng thề, dựng bia cùng nguyện:

Trang 38

Nếu em quên lời Vội đi làm nhà làm cửa

Ma nhà đánh trắc đánh trở Đánh bổ võng giá kiệu đòn rồng, mà không kịp xuống!

Còn Hồ Liêu cũng thề rằng:

Nếu vội đi dựng riêng cửa riêng nhà

Ma nhà đánh nghiêng đánh ngửa

Đánh bổ vó ngựa đực hồng, mà không kịp chạy!

Đó là những việc làm mà nhà Lang không bao giờ chấp nhận

Kim Trọng và Thúy Kiều là “trai tài gái sắc”, bậc “quốc sắc thiên tài” Kiều không chỉ là một trang tuyệt sắc giai nhân “một hai nghiêng nước nghiêng thành” mà còn là một cô gái thông minh, tài hoa Kim Trọng thì quả thực là một chàng trai hết sức lý tưởng: “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”; tài năng thì “văn chương nết đất, thông minh tính trời” Họ lại đều là

con nhà gia giáo nề nếp

Tình yêu của họ đã trải qua nhiều cảm xúc và cung bậc Có cảm xúc khác thường khi lần đầu tiên gặp gỡ:

Chập chờn cơn tỉnh cơn mê

Có nỗi tương tư, nhớ nhung:

- Người đâu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay không

- Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây

- Mặt tơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng

- Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình

Tình yêu của Út Lót và Hồ Liêu được thể hiện trực tiếp qua ngôn ngữ giao duyên tinh tế giữa hai người, còn tình yêu của Kim – Kiều được thể hiện qua diễn biến nội tâm kéo dài Nỗi tương tư giày vò trong lòng, Kim đã tìm

Trang 39

mọi cách để gặp được Kiều Họ đã cùng nhau bộc lộ những nỗi nhớ thương Rồi cũng như đôi trai gái Mường, họ đã cùng nhau hẹn ước và thề nguyện

Cái đêm Kiều “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” sang gặp Kim

Trọng cũng chính là một sự “xé rào”, vượt qua bức tường của lễ giáo phong kiến Họ đã dám yêu, yêu một cách đẹp đẽ và chính đáng, đi theo tiếng gọi của trái tim mình không hề vướng bận Đó thực sự là một mối tình lý tưởng Những việc làm trái lễ giáo phong kiến của Út Lót và Hồ Liêu, Thúy Kiều và Kim Trọng không bị phản đối mà trái lại được tác giả bênh vực và ngợi ca Điều đó cho thấy, trong xã hội người Việt và cộng đồng người Mường xưa có những quan niệm khác nhau Quan niệm của Nho giáo có tính chất hà khắc, còn quan niệm của người bình dân lại hết sức tự nhiên mang nhân văn Hai tác phẩm cùng âm hưởng chính là tiếng nói ca ngợi tự do, khát vọng chân chính trong tình yêu và hôn nhân Nguyễn Du và tác giả của Út Lót – Hồ Liêu đã gặp gỡ nhau về khát vọng muôn thủa của con người, đó là tình yêu tự do của nam nữ thanh niên trong xã hội xưa

2.1.1.2 Những mối tình chung thủy

Chung thủy là một trong những phẩm chất được đề cao của người phụ

nữ Việt Nam Và đây cũng là một trong những đặc điểm chung của các đôi lứa trong truyện thơ dân gian và truyện Nôm Vợ chồng Thoại Khanh, Châu

Tuấn (truyện Nôm Thoại Khanh – Châu Tuấn) đã vượt qua mười lăm năm

thử thách, vượt qua sự cám dỗ của nhan sắc, sự đe dọa của cường quyền để

đoàn tụ hạnh phúc Công chúa Nam Việt (Hoàng Trừu) lặn lội sang Trung

Quốc, chịu bao nỗi gian nan, oan khổ để tìm chồng Đôi trai gái trong truyện

thơ Tiễn dặn người yêu dù bị cha mẹ ngăn cản, bị quan niệm xã hội cổ hủ

chia rẽ, bị không gian, thời gian đằng đẵng chia cắt nhưng vẫn một lòng, một

dạ chờ nhau

Trang 40

Mối tình Út Lót và Hồ Liêu, Thúy Kiều và Kim Trọng cũng nằm trong tình cảnh ấy Họ là những chàng trai, cô gái sôi nổi, táo bạo trong tình yêu

Đôi thì “vạch đá cùng thề, dựng bia cùng nguyện”, đôi thì thề thốt “trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” Ngỡ tưởng những mối tình đến với nhau

“vội vã” như vậy thì sớm chia phôi Nhưng không, cả hai cuộc tình này đều

là những bài ca cao đẹp về lòng chung thủy

Lòng chung thủy trước cơn tai biến là một thử thách lớn của lứa đôi Chia tay sau chuyến chầu vua Kẻ chợ, Út Lót trở về nhà mong ngóng người yêu sang thăm, thưa chuyện với cha mẹ Nhưng sự chờ đợi của nàng cứ kéo dài vô tận, hết ngày này sang ngày khác Để khỏa lấp phần nào khoảng trống nhớ nhung đó, nàng chỉ biết vùi mình vào những công việc thường ngày:

Dệt cửa gấm ở nơi cửa dọc May tấm vóc ở nơi nhà ngang

Sớm may gối

Tối may màn;

Nhuộm những nước vang thêu màu hoa xanh;

Nhưng mong tình, bạn tình chẳng lại Trông tin ngãi, bạn ngãi không sang;

Đối với nàng, tình yêu và lời thề nguyện hôm nào đã trở nên thật thiêng liêng, đẹp đẽ, không có gì có thể xoay chuyển được Nhưng càng trông ngóng,

hi vọng thì lại càng bặt vô âm tín, nàng chỉ biết than thở với chính mình:

Mở tấm thêu hình chim vàng ương khổ hẹp

Mở tấm phá hình chim vàng anh khổ trường

Than rằng:

- Ta có được may quần thêu áo chùng cho ai hay chăng, hỡi ma?

Ta có được sắm quần lụa áo hoa cho ai hay chăng, hỡi vía?

Ngày đăng: 25/06/2016, 20:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Từ điển Truyện Kiều, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
2. Vương Anh (1976), Đẻ đất đẻ nước, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẻ đất đẻ nước
Tác giả: Vương Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1976
3. Vương Anh (2001), Tiếp cận văn hóa bản Mường (nghiên cứu – tiểu luận), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn hóa bản Mường (nghiên cứu – tiểu luận)
Tác giả: Vương Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
4. Đinh Văn Ân sưu tầm, dịch, giới thiệu (1973), Đang vần va, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đang vần va
Tác giả: Đinh Văn Ân sưu tầm, dịch, giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1973
5. Lại Nguyên Ân (2005), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2005
6. Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1977), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
7. B.L.Riptin (1974), “Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ phương Đông”, Tạp chí Văn học, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ phương Đông”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: B.L.Riptin
Năm: 1974
8. Nông Quốc Chấn (chủ biên) (1997), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nông Quốc Chấn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
9. Hoàng Tuấn Cư, Ngô Quang Hưng, Vũ Ngọc Kì sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn (1996), Hợp tuyển văn học Mường, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển văn học Mường
Tác giả: Hoàng Tuấn Cư, Ngô Quang Hưng, Vũ Ngọc Kì sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1996
10. Nguyễn Văn Dân (1998), Những vấn đề của Văn học so sánh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của Văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
11. Xuân Diệu (1996), Thi hào dân tộc Nguyễn Du, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hào dân tộc Nguyễn Du
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
12. Trịnh Bá Đĩnh (2003), Nguyễn Du về tác giả, tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du về tác giả, tác phẩm
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
13. Nguyễn Thạch Giang (2001), Nguyễn Du cuộc đời và tác phẩm, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
14. Lê Bá Hán (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
15. Bùi Lệ Hằng (2003), So sánh Đoạn trường tân thanh với Kim Vân Kiều truyện, Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh Đoạn trường tân thanh với Kim Vân Kiều truyện
Tác giả: Bùi Lệ Hằng
Năm: 2003
16. Ngô Thị Thu Hằng (2002), So sánh Đoạn trường tân thanh và Kim Vân Kiều truyện, Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh Đoạn trường tân thanh và Kim Vân Kiều truyện
Tác giả: Ngô Thị Thu Hằng
Năm: 2002
17. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
18. Minh Hiệu, Hoàng Anh Nhân sưu tầm và giới thiệu (1963), Truyện thơ Mường, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện thơ Mường
Tác giả: Minh Hiệu, Hoàng Anh Nhân sưu tầm và giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1963
19. Kiều Thu Hoạch (2007), Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
20. Hợp tuyển thơ văn (phần văn học dân gian) (1977), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn (phần văn học dân gian)
Tác giả: Hợp tuyển thơ văn (phần văn học dân gian)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1977

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w