1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoạt động du lịch trekking tại cát bà – hải phòng theo quan điểm du lịch sinh thái

87 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Là tài liệu cần thiết đối với các du khách yêu thích trekking, giúp các nhà kinh doanh du lịch, các cơ quan quẩn lý du lịch cũng như cộng đồng dân cư địa phương có cái nhìn và định hướ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xa xưa, con người với trí tuệ và ham muốn tìm kiếm và khám phánhững chân trời mới đã không ngừng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mìnhtrên toàn thế giới Theo tạp chí Người Đưa Tin của UNESSCO đã viết: “Cuộcphiêu lưu giờ đây không còn những chân trời địa lý, không còn những lục địatrinh bạch, không còn những đại dương chưa ai biết tới, không còn những hònđảo bí ẩn Vậy mà, về nhiều mặt, các dân tộc vẫn còn xa lạ với nhau và nhữngphong tục, những niềm hy vọng ẩn giấu, những xác tin sâu kín của mỗi dântộc vẫn tiếp tục là thứ mà những dân tộc khác chẳng mấy biết đến ”(12/1989).Các nhà du lịch thời nay vẫn mang nguyên vẹn trong mình trái tim nóng bỏnglòng đam mê khám phá những chân trời xa lạ, những núi cao, vực thẳm,những sông dài, biển rộng tiếng gọi của thiên nhiên hùng vĩ, của rừng vàngbiển bạc vẫn còn vang vọng và lôi kéo bước chân của những “kẻ lang thang”trên bước đường du ngoạn Thêm vào đó, con người luôn bị quyến rũ bởinhững gì đối lập với thực tế mình đang sống, họ khao khát một cảm giác mới

lạ, một chất xúc tác mới cho cuộc sống và sự hiểu biết của mình Chính vì vậytrong những năm gần đây có rất nhiều loại hình du lịch đã ra đời để đáp ứngnhu cầu đó Trong đó du lịch trekking – du lịch khám phá mạo hiểm là mộtloại hình du lịch đang thu hút sự quan tâm của nhiều khách du lịch, đặc biệt lànhững khách du lịch ưa khám phá, mạo hiểm, trở về với tự nhiên Ngày nay,ngày càng nhiều khách du lịch từ nhiều độ tuổi khác nhau, không phân biệtgiới tính tham gia vào các chương trình du lịch mạo hiểm Đối tượng khách

du lịch mạo hiểm thường có khả năng chi trả cao, đi du lịch dài ngày Vì vậy,những nước quan tâm phát triển du lịch thường để mắt tới đối tượng kháchnày và đề ra chiến lược marketing hiệu quả nhằm thu hút họ và Việt Namcũng không phải là ngoại lệ Nước ta có tiềm năng du lịch đa dạng và đangnổi lên là một điểm đến mới, hấp dẫn trên bản đồ du lịch thế giới 3/4 địa hình

là đồi núi, với các hệ thống sông ngòi chằng chịt, các dãy núi đá vôi của địa

Trang 2

hình karst, nhiều hang động đẹp, nhiều khu rừng nguyên sinh nhiệt đới cũngnhư các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia rộng lớn, hơn 3.000 km bờbiển tạo nên những cảnh đẹp vô cùng phong phú, những bức tranh sinh độngtrải dài từ Bắc đến Nam là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cácloại hình du lịch mạo hiểm Địa hình nước ta rất thích hợp cho việc phát triểncác loại hình du lịch mạo hiểm như đi bộ (trekking)và đảo Cát Bà là một địađiểm tuyệt vời dành cho loại hình du lịch này Tuy nhiên, nghiên cứu loạihình du lịch này ở nước ta chưa nhiều và chưa đáp ứng được nhu cầu pháttriển kinh tế - xã hội Việc khai thác sản phẩm trekking vẫn chủ yếu là do cácđơn vị kinh doanh lữ hành tổ chức, nhiều đơn vị mang tính tự phát, chạy theolợi nhuận kinh tế, thiếu trách nhiệm với tài nguyên thiên nhiên và môi trường

tự nhiên, cũng như kinh tế - xã hội của cư dân địa phương Để giải quyết vẫn

đề này thì hoạt động du lịch trekking phải phát triển theo quan điểm du lịchsinh thái

Cát Bà có rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rặngsan hô, thảm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng, là nơi hội tụ đầy

đủ các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu của khu dự trữsinh quyển thế giới theo quy định của UNESCO Cát Bà đã được UNESCOcông nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới ngày 02 tháng 12 năm 2004.Ngày 1 tháng 4 năm 2005 tại đây đã diễn ra lễ đón nhận bằng quyết định củaUNESCO và kỷ niệm sự kiện này Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển Cát

Bà rộng hơn 26.000 ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tácđộng của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế songkết hợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế) Khu dự trữsinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đávôi,rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hangđộng Chính vì vậy, Cát Bà đã và đang thu hút được ngày càng nhiều dukhách bởi nơi đây không chỉ là một điểm nghỉ dưỡng mà nó còn là địa điểmtrekking tuyệt vời và lý tưởng Nhiều hoạt động trekking chưa tương xứng với

Trang 3

tiềm năng du lịch của Cát Bà và còn nhiều tác động tiêu cực tới tự nhiên và xãhội Vì vậy cần nghiên cứu sâu hơn về loại hình Du lịch được đánh giá là tiềmnăng này, để phát huy những mặt tích cực mang lại tác động tốt cho cả tựnhiên và xã hội Vì những lý do trên tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu mangtên “ Nghiên cứu hoạt động du lịch trekking tại Cát Bà – Hải Phòng theo quanđiểm du lịch sinh thái”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu:

+ Dựa trên cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và du lịch trekking đồngthời vận dụng những kiến thức về du lịch đã học để áp dụng nghiên cứu vềhoạt động du lịch trekking và thực trạng hoạt động của du lịch trekking ở đảoCát Bà, từ đó xác định hướng khai thác hợp lý, kết hợp phát triển kinh tế vớiviệc bảo vệ môi trường tự nhiên, phát triển du lịch bền vững

+ Góp phần quảng bá rộng rãi hình ảnh của Cát Bà đối với khách dulịch trong và ngoài nước Đẩy mạnh phát triển du lịch của Hải Phòng

- Nhiệm vụ:

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch trekking, du lịch sinh thái và dulịch trekking theo quan điểm du lịch sinh thái

+ Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch trekking ở Cát

Bà, tìm hiểu những khó khăn và hạn chế còn tồn tại cần giải quyết

+ Đánh giá thực trạng và các giải pháp phát triển du lịch trekking tạiĐảo Cát Bà dựa trên quan điểm du lịch sinh thái

3 Ý nghĩa của đề tài

- Bước đầu tổng hợp lại các cơ sở khoa học của du lịch trekking và

đặc biệt là du lịch trekking theo quan điểm du lịch sinh thái

- Là tài liệu cần thiết đối với các du khách yêu thích trekking, giúp các

nhà kinh doanh du lịch, các cơ quan quẩn lý du lịch cũng như cộng đồng dân

cư địa phương có cái nhìn và định hướng đúng đắn cho sự phát triển hoạtđộng du lịch trekking ở đảo Cát Bà, góp phần đưa Cát Bà trở thành một điểm

Trang 4

du lịch trekking hấp dẫn là điểm du lịch trọng điểm của Hải Phòng cũng nhưđất nước.

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm hệ thống: Hoạt động du lịch trekking tồn tại trong sự

thống nhất với các yếu tố khác trong hệ thống lãnh thổ du lịch như: điều kiện

tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội và tài nguyên nhân văn, với các chính sáchphát triển du lịch Do vậy, khi nghiên cứu vấn đề cần đặt nó giữa các thànhphần khác nhau với vô số các mối quan hệ nội tại và xem xét mối quan hệgiữa các hệ thống với nhau

- Quan điểm tổng hợp: Bất cứ một lĩnh vực hoạt động hay một số yếu

tố nào đều có mối liên hệ nhất định với các lĩnh vực, các yếu tố khác Vì vậykhi nghiên cứu một vấn đề không thể bỏ qua mối liên hệ của chúng với nhau,hơn nữa chỉ có đánh giá tổng hợp mới cho giá trị đích thực và khả năng khaithác thực tế của các nguồn tài nguyên trên lãnh thổ nhất định Việc đánh giátổng hợp tài nguyên du lịch tại một điểm hay khu du lịch cần phải đặt trongmột hệ thống liên kết không gian Do đó không chỉ đơn thuần là đánh giá tàinguyên mà cò đánh giá các điều kiện để khai thác các tài nguyên đó

- Quan điểm kinh tế sinh thái: Bên cạnh mục tiêu phát triển kinh tế thì

việc phát triển du lịch không thể tách rời các mục tiêu xã hội và môi trường.Vận dụng quan điểm này, tính toàn vẹn lãnh thổ của hệ sinh thái phải đượccoi trọng, trong đó các tác động của hoạt động du lịch đến khả năng chịuđựng của hệ sinh thái cần được tính đến, đảm bảo cho sự phát triển du lịchmang lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên một cách bền vững

- Quan điểm lịch sử: Quan điểm lịch sử xem xét các hiện tượng, sự vật

phát triển theo một quá trình tiến hóa nhất định Đứng trên quan điểm này,các nhà nghiên cứu cần tìm hiểu và phân tích nguồn gốc phát sinh để cónhững giá trị đúng đắn về hiện tại, trên cơ sở đó đưa ra những dự báo về xuthế phát triển

Trang 5

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: trên cơ sở thu thập, tìm kiếm

các thông tin, tư liệu từ sách, báo, mạng internet và các công trình nghiên cứutrước đó rồi phân tích, xử lý để có kết luận cần thiết

- Phương pháp phân tích hệ thống: sử dụng phương pháp này nhằm

phân tích, nghiên cứu những mối quan hệ qua lại giữa các thành phần bêntrong hệ thống cũng như các hoạt động bên ngoài và tương tác của hệ thốngnày với các hệ thống khác của môi trường xung quanh

- Phương pháp xã hội học: tiến hành phỏng vấn thu thập thông tin và

điều tra theo mẫu phiếu có sẵn Đã phát ra 100 phiếu và thu về 100 phiếu

- Phương pháp bản đồ: nhằm thể hiện sự phân bố của các đối tượng tài

nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, sự liên hệ giữa các đối tượng trongkhông gian cũng chính là mối liên hệ của các tuyến điểm du lịch trong quátrình tạo tuyến Dùng phương pháp này còn nhằm thể hiện những biến độngcác yếu tố du lịch

5 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi khoa học là loại hình du lịch trekking và du lịch sinh thái.

- Phạm vị không gian là đảo Cát Bà thuộc địa phận huyện đảo Cát Hải,

Thành phố Hải Phòng và các tuyến điểm du lịch điển hình, đặt mối quan hệvới các khu vực xung quanh

6 Bố cục và nội dung của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, danh mục sơ đồ, phụ lục

và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của đề tài nghiên cứu gồm3chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về du lịch trekking theo quan điểm du lịchsinh thái

Chương 2 Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch trekking tại đảoCát Bà – Hải Phòng

Chương 3 Giải pháp phát triển hoạt động du lịch trekking tại đảo Cát

Bà – Hải Phòng

Trang 6

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH TREKKING

THEO QUAN ĐIỂM DU LỊCH SINH THÁI 1.1 Cơ sở lý luận về du lịch trekking

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển du lịch trekking trên thế giới

và ở Việt Nam

1.1.1.1 Trên thế giới

Các hoạt động du lịch trekking xuất hiện đầu tiên tại Châu Mỹ, Châu

Âu từ nửa sau thế kỉ XX, từ ý tưởng của những người giàu có, họ muốn tổchức những chuyến đi mang đậm tính vận động cao, rèn luyện sức khỏe, thửthách với mọi địa hình, độ cao và khám phá những nét nguyên sơ của tựnhiên Thời kì này, hoạt động du lịch trekking chỉ mới được phát sinh tronggiới quý tộc, còn tầng lớp lao động thì không thể tham gia các tour trekkingnày vì thiếu điều kiện về thời gian và tiền bạc Mặt khác, khi đó loại hình dulịch nghỉ dưỡng đang được ưa chuộng, có tiềm năng lớn trong kinh doanh nên

du lịch trekking ít được xã hội quan tâm

Từ những năm 60 của thế kỉ XX, ở Châu Âu hoạt động du lịch đã trởnên sôi động, du lịch trekking tour cũng được biết đến nhiều hơn Ban đầukhuynh hướng tự tổ chứccủa các cá nhân hoặc tập thể

Đến những năm 1965 đã xuất hiện các đơn vị kinh doanh lữ hành tổchức các chuyến đi trekking cho du khách Du lịch khám phá và mạo hiểmtrên thế giới được đánh dấu mạnh mẽ vào tháng 1/1960 tại Mỹ khi tập đoànMuontain Travel US ra đời, cùng với sự chinh phục của du lịch trekking đốivới thị trường Mỹ Tại Nepal, Thụy Sỹ

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, hoạt động du lịch trekking đã pháttriển nhanh và những biến chuyển lớn Các địa điểm trekking luôn được bổsung, mở rộng phạm vi, ngoài những vùng nổi tiếng từ sớm như; Himalaya,Alper…còn mở rộng tới nhiều vùng núi hoang dã và rất nhiều những vùngkhác nhau không chỉ bó hẹp tại các vùng núi Chính vì vậy, các công ty lữ

Trang 7

hành mọc lên như nấm tại các vùng núi có cảnh quan tuyệt đẹp như: Everest,Phú Sĩ…

Đối tượng khách cũng ngày càng được mở rộng, không chỉ nhữngngười giàu có mà còn có cả học sinh, sinh viên, công chức, các nhà nghiêncứu, văn nghệ sĩ thuộc đủ các lĩnh vực khác nhau Thời gian du lịch được kéodài hơn Từ những chuyến đi trong ngày tới những cuộc điền dã hàng thángtrời cách biệt đời sống văn minh hiện đại hằng ngày Các phương tiện hỗ trợcũng được chuyên biệt hóa theo loại hình này để đảm bảo mức độ an toàn củachuyến đi cho du khách và cả môi trường tự nhiên của địa phương

Hầu hết tất cả các vùng có điều kiện tự nhiên và cuộc sống hoang sơđều trở thành điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch trekking Song, tiềmnăng du lịch trekking ở Đông Nam Á dường như vẫn còn là một ẩn số chưađược đánh thức vì rất nhiều những lý do khác nhau Thái Lan, Malaixia lànhững quốc gia đầu tiên trong khu vực áp dụng khai thác du lịch trekking

1.1.1.2 Ở Việt Nam:

Trong những năm 90 của thế khỉ XX, Việt Nam mới chỉ được coi làmột điểm đến trong lộ trình của du khách quốc tế Sau những chuyến thăm đómột số địa điểm miền núi cao nguyên ở Việt Nam phù hợp với loại hìnhtrekking dần dần được các du khách quốc tế biết đến như: Sapa, Lai Châu, ĐàLạt – nơi mà trước đây phần lớn nổi tiếng với loại hình du lịch nghỉ dưỡng

Những chuyến trekking đầu tiên được lồng ghép trong những tourmang tính khảo sát, nghiên cứu được tiến hành ở vùng núi Tây Bắc, tại một sốđịa danh khá nổi tiếng từ thời Pháp Thuộc như: Sapa và một số khu bảo tồnthiên nhiên Sau đó những kinh nghiệm đi trekking được truyền lại cho ngườidân địa phương Kể từ đó đến nay đã có rất nhiều công ty lữ hành quốc tế chú

ý đến Việt Nam, họ đã tiến hành khảo sát, quảng cáo như một điểm đến chínhthức và hấp dẫn

Các vườn quốc gia, các khu bảo tồn của Việt Nam trở thành địa điểmphổ biến của du khách Một số địa điểm trekking nổi tiếng tại Việt Nam như:

Trang 8

Fansipan (Lào Cai), Apachai (Điện Biên), Núi Hàm Lợn (Hà Nội), Vườn quốcgia Pù Luông (Thanh Hóa), Núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh).

Đến nay hoạt động du lịch trekking vẫn còn khá mới mẻ Hầu hếtnhững người tham gia là người nước ngoài Những năm gần đây, các công ty

lữ hành trong nước đã có những nỗ lực nhất định để quảng bá loại hình dulịch đầy lý thú này và đã nhận được rất nhiều sự hưởng ứng của giới trẻ Vìvậy chắc chắn trong tương lai loại hình này sẽ phát triển hơn khi mức sốngcủa người dân được nâng cao hơn

1.1.2 Khái niệm du lịch trekking

“Trek” xuất phát từ tiếng Nam Phi, đó là từ của người Boer có nghĩa làmột chuyến đi theo xe bò Sau này nó có nghĩa là một chuyến đi dài và giankhổ Tiếp đó từ trek dùng để diễn tả các chuyến đi bộ đường dài được thươngmại hóa với sự hỗ trợ của các nhân viên khuân vác và “ê kíp” phục vụ ngườiSepa qua các vùng núi Nepal, nơi nổi tiếng với dãy núi Himalaya và “nóc nhàcủa thế giới” - đỉnh Everest, đây có thể coi là không gian đầu tiên của hoạtđộng du lịch trekking được gọi tên từ nửa sau thế kỉ XX

Khái niệm “trekking” trong thuật ngữ “ du lịch “trekking” có sự khácbiệt với khái niệm “hiking” ở chỗ: “hiking” chỉ đơn thuần là đi bộ với cường

độ cao, chỉ cách thức nỗ lực di chuyển của con người, hay chỉ là một môn thểdục thể thao, còn trekking” có nghĩa là đi bộ khám phá mạo hiểm, ngoài việcchỉ cách thức và nỗ lực di chuyển còn nêu nên sắc thái, đặc điểm của hoạtđộng này là tính khó khăn, thách thức cần vượt qua, mang tính mạo hiểm nhưmột trải nghiệm thú vị

Tuy đã tồn tại và phát triển trong nửa thập kỉ qua nhưng vẫn có rấtnhiều quan điểm về trekking khác nhau.Theo Rober Straus (1996) thì:”Những chuyến trekking cố gắng cắt đứt liên hệ của du khách với thế giới vănminh, gia tăng nhu cầu khám phá bản thân, thử thách chịu đựng của bản thânvới những hoạt động qua đêm dài ngày ở vùng sâu, vùng xa và nơi hẻo lánh,hoang dã”

Trang 9

Theo David Noland (2001):“ Trekking là một chuyến đi nhiều ngày từmột địa điểm A đến địa điểm B (hay quay lại A) mà trong suốt quá trình đóngười đi bộ, không phải mang hành lý nặng nề mà cũng không phải chuẩn bị

đồ nấu ăn”

Trong hầu hết những sách hướng dẫn du lịch, trekking được coi là mộtdạng của du lịch mạo hiểm mang tính chất đi du lịch kết hợp với thể thao(mỗingày trung bình đi khoảng 15 km) và bảo tồn văn hóa (sống trong môi trườngsống của người dân địa phương) Trekking theo nghĩa đơn giản được hiểu là

đi xuyên rừng và leo lên những ngọn núi hoang sơ, đây là một hình thức rènluyện về thể lực và ý chí rất hiệu quả

Nhóm thực hiện dự án Hỗ trợ du lịch bền vững ở Hải Phòng đã đưa racách hiểu về trekking như sau:

Trekking không chỉ đơn thuần là một cuộc đi dã ngoại ngoài trời, đi bộtrên núi hay một chuyến leo trèo, nó đòi hỏi cần có sự cố gắng, nỗ lực cao vềthể chất của những người muốn tham gia loại hình du lịch này

- Là hành trình mang tính thách thức bởi độ dài và sự khác lạ trong

nhận thức của du khách

- Du khách trekking sẽ cần phải chuẩn bị các trang thiết bị cần thiết và

cần có sự hướng dẫn từ những người có kinh nghiệm

- Các địa điểm lưu trú thường là những làng bản xa xôi, hẻo lánh hoặc

tại các địa điểm cắm trại

- Trong chuyến đi du khách sẽ phải vượt qua những địa hình hiểm trở

khách nhau Những vùng này có cơ sở hạ tầng rất kém

1.1.3 Đặc trưng của du lịch trekking

Ngoài những đặc điểm của du lịch thì du lịch trekking còn có nhữngđặc điểm cơ bản sau:

Thực hiện tour bằng hình thức di chuyển là đi bộ Du khách sẽ thựchiện cuộc hành trình của mình bằng hình thức đi bộ đường dài, có thể kéo dàitrong nhiều ngày liền Trên đường đi có sự tìm hiểu, khám phá thiên nhiên và

Trang 10

văn hóa của cư dân địa phương để thấy được nét đẹp và hấp dẫn của văn hóađịa phương Bên cạnh đó chuyến đi cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn và nguyhiểm chính vì vậy mà nó đòi hỏi người tham gia phải có ý chí kiên cường và

sự dẻo dai Chính vì vậy, có thể nói trekking là hình thức kiểm tra khả năngchịu đựng về cả thể lực và ý chí trong mỗi con người, đó cũng là yếu tố tạonên sức hút lớn nhất cho hoạt động du lịch trekking

Điểm đến là những vùng thiên nhiên hoang sơ, chủ yếu là đồi núi vàcao nguyên.Các địa điểm thường được chọn là những khu vực rừng núi hoặclàng bản cách xa đồng bằng và thành phố nhộn nhịp, giao thông bất tiện,không có đường dành cho ô tô, xe máy Các khu vực là sự lựa chọn tuyệt vờinhất cho những chuyến trekking là vì sự đa dạng về địa hình, đa dạng về tàinguyên thiên nhiên và sự độc đáo của văn hóa bản địa Điều này mang lại cho

du khách những trải nghiệm vô cùng thú vị khác xa với cuộc sống hằng ngày

1.1.4 Các thành tố và cấp độ của du lịch trekking

Xác định các thành tố của loại hình du lịch trekking là cách để táikhẳng định những đặc trưng loại hình đã nêu ở trên; đồng thời là cơ sở choviệc xác định phương thức tổ chức hoạt động du lịch này Các thành tố của

du lịch Trekking thường được các nhà tổ chức trekking chuyên nghiệp trênthế giới cố gắng lượng hóa để phân định thành các cấp độ, nhằm phân loạihóa các sản phẩm Trekking cung cấp cho du khách, giúp du khách chủ độnglựa chọn sản phẩm phù hợp và giúp chính các nhà cung cấp phục vụ tốt hơn

Các thành tố cơ bản của du lịch trekking gồm có:

- Độ dài chuyến đi là tổng thời gian du khách rời khỏi nhà đến khi vềnhà cho chuyến đi vì mục đích trekking Nếu là chuyến đi kết hợp thì sẽ tínhđiểm bắt đầu không phải là nơi cư trú thường xuyên

- Thời gian trekking: Số ngày trekking tại điểm du lịch, số ngày nàytùy thuộc vào thời gian khám phá của du khách có thể là dài ngày hoặc ngắnngày

Trang 11

- Khoảng cách đi bộ: Tổng số km đi trong chuyến trekking, trongnhiều trường hợp phải ước lượng với các khoảng cách và thời gian khác nhau.

- Độ cao tối đa: Độ cao nhất so với mực nước biển mà du khách đạtđược trong suốt chuyến trekking Thông số này ngoài việc thể hiện khả năngchinh phục đỉnh cao của du khách còn giúp việc kiểm soát hội chứng khôngkhí loãng nhằm bảo vệ du khách

+ Thách thức về thể lực: Đòi hỏi du khách phải có thể lực trong mỗichuyến trekking Thông thường nó được phân thành 5 cấp với mức độ khódần Việc phân định 5 cấp độ này đồng thời phản ánh tổng hợp các thành tố

độ cao tối đa, địa hình, khoảng cách đi bộ mỗi ngày:

+ Trekking cấp độ 1: Thông thường bao gồm từ 4 - 6 giờ đi bộ mỗingày qua vùng địa hình có độ cao thấp Một người đi bộ khỏe mạnh và cótrạng thái tinh thần tích cực có thể không cần đến hoặc cần rất ít sự chuẩn bịcho chuyến trekking này

+ Trekking cấp độ 2, 3 hay 4: Chiếm đại đa số những tour trekking tiêubiểu trên thế giới Khó có thể đạt được sự phân định rõ ràng bằng một bảngtiêu chí chuẩn vì sự phối hợp giữa các thành tố của bản thân đã rất khác nhau,tùy thuộc vào các yếu tố khác nữa như: điều kiện thời tiết, địa hình,…có thểlàm cấp độ vốn định hình bị thay đổi Thông thường một chuyến trekking cấp

độ 3 đòi hỏi một ngày đi bộ từ 6 -7 giờ, sự thay đổi độ cách biệt từ 610m đến915m một ngày, độ cao so với mực nước biển từ 3050 - 4575m

- Trekking cấp độ 5: Đòi hỏi một ngày đi bộ tối thiểu 10 giờ, độ caochênh lệch nhỏ nhất là hmin= 1220m /1 ngày và độ cao đỉnh đạt được là trên5.185m

1.2 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái

1.2.1 Khái niệm về du lịch sinh thái

“Du lịch sinh thái”(Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới ởViệt Nam và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc cáclĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm rộng được hiểu theo nhiều góc độ

Trang 12

khác nhau Đối với một số người, “du lịch sinh thái” được hiểu một cách đơngiản là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “du lịch” và “sinh thái” Tuy nhiêncần có góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn để hiểu du lịch sinh thái một cáchđầy đủ Trong thực tế khái niệm “Du lịch sinh thái” đã xuất hiện từ nhữngnăm 1800 Với khái niệm này mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiênnhiên như: tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là du lịch sinh thái Có thể nóikhái niệm về DLST vẫn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều têngọi khác nhau Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận nhằm đưa ra một địnhnghĩa chung được chấp nhận về DLST, đa số ý kiến tại các diễn đàn quốc tếchính thức về DLST đều cho rằng: DLST là loại hình du lịch dựa vào thiênnhiên, hỗ trợ các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinhthái Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết vềmôi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và vănhóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinhthái và văn hóa bản địa.

DLST là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản sau:

+ Tổ chức thực hiện và phát triển dựa vào những giá trị thiên nhiên vàvăn hóa bản địa

+ Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái

+ Có giáo dục và diễn giải về môi trường

+ Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được HectorCeballos-Lascurain đưa ra vào năm 1987: “DLST là du lịch đến những khuvực tự nhiên còn ít bị biến đổi, với những mục đích đặc biệt : Nghiên cứu,tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóađược khám phá”

Định nghĩa của (Wood,1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến vớinhững khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môitrường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ

Trang 13

sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên

và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương”

Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái Quốc tế: DLST là việc đi lại

có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cảithiện phúc lợi cho người dân địa phương.Trong đó yếu tố quản lý bền vữngbao hàm cả nội dung hỗ trợ phát triển cộng đồng

Có rất nhiều định nghĩa khác về DLST trong đó Buckley (1994) đãtổng quát như sau: “Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bềnvững , hỗ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được xem là du lịchsinh thái”

Như vậy, DLST là hoạt động du lịch không chỉ đơn thuần là du lịch íttác động đến môi trường tự nhiên mà là du lịch có trách nhiệm với môi trường

tự nhiên, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạtđộng bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương

Ở Việt Nam, DLST là một lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữanhững thập kỷ 90 của thế kỷ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệtcủa các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Do trình độ nhận thức khácnhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau Khái niệm về DLST cũng chưa

có nhiều điểm thống nhất Để có được sự thống nhất về khái niệm làm cơ sởcho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của DLST, Tổng cục du lịchViệt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như: ESCAP, WWF…có sựtham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế Việt Nam về DLST vàcác lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lượcphát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 đến 9/9/1999 Một trongnhững kết quả quan trọng của hội thảo lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa vềDLST ở Việt Nam, theo đó: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên

và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảotồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địaphương”

Trang 14

1.2.2 Những đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái

Mọi hoạt động du lịch nói chung và DLST nói riêng đều được thựchiện dựa trên những tài nguyên du lịch tự nhiên và những giá trị văn hóa lịch

sử do con người tạo nên và có sự kết hợp của các dịch vụ, cơ sở hạ tầng phục

vụ du lịch Dựa vào những yếu tố đó để hình thành lên sản phẩm du lịch phục

vụ nhu cầu vui chơi, nghỉ dưỡng khám phá của khách du lịch, mang lại lợi íchkinh tế cho xã hội DLST là một dạng hoạt động của du lịch do đó nó cũngbao hàm những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung, bao gồm:

*Tính đa ngành: Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác

phục vụ du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo…) Thu nhập xã hội từ du lịch cũngmang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sảnphẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hóa…)

*Tính đa thành phần: Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách

du lịch, những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chứcchính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động dulịch

*Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiênnhiên, cảnh quan lịch sử văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách

du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu vănhóa , kinh tế và nâng cao ý thức tốt đẹp của mọi thành viên trong xã hội

*Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần

thể các điểm du lịch trong một khu vực, trong một quốc gia hay giữa các quốcgia với nhau

*Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung

với cường độ cao trong năm Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình dulịch nghỉ biển, thể thao theo mùa …(theo tính chất của khí hậu ) hoặc loạihình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí …(theo tính chất công việc củanhững người hưởng thụ sản phẩm du lịch)

Trang 15

*Tính chi phí: Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch của các khách du

lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải mục đích kiếm tiền

*Tính xã hội hóa: Biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần

trong xã hội tham gia có thể trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động du lịch

Bên cạnh những đặc trưng chung của ngành du lịch, DLST cũng hàmchứa những đặc trưng riêng bao gồm:

*Tính giáo dục cao về môi trường: DLST hướng con người tiếp cận

gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có cá giá trị cao về

đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường Hoạt động du lịch gâylên những áp lực lớn đối với môi trường, và DLST được coi là chiếc chìakhóa nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch và bảo vệ môi trường

*Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài

nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành lên những ý thức bảo vệcác nguồn tài nguyên đó cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn đảm bảoyêu cầu phát triển bền vững

*Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Sự tham gia của cộng

đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ cácnguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nângcao hơn nữa giá trị nhận thức cho cộng đồng, tăng nguồn thu nhập cho ngườidân sở tại Điều này cũng tác động ngược trở lại một cách tích cực với hoạtđộng bảo tồn tài nguyên DLST

1.3 Cơ sở lý luận về du lịch trekking theo quan điểm du lịch sinh thái

1.3.1 Mối quan hệ giữa du lịch trekking và vườn quốc gia

Du lịch trekking đặc biệt thích hợp với VQG và Khu bảo tồn tự nhiên.Bởi nơi đây là những vùng sinh thái rất nhạy cảm đòi hỏi vấn đề bảo tồn đặtlên hàng đầu, nên chỉ phát triển hệ thống đường mòn, các điểm dừng chân,cắm trại mà không xây dựng đường giao thông, cơ sở lưu trú hiện đại

Trang 16

Ở VQG có địa hình mà ngoài đôi chân của mình du khách khó có thể

sử dụng một loại phương tiện giao thông nào Đó là những khó khăn bắt buộcphải vượt qua, một phần tạo nên tính mạo hiểm của hoạt động du lịchtrekking Chính những vất vả đó lại là sở thích của du khách trekking tạo nên

sự hấp dẫn, nét độc đáo, đặc sắc của loại hình này

Mặt khác, VQG với các nguồn tài nguyên sinh vật phong phú, các cảnhquan hấp dẫn, địa hình trùng điệp và các nền văn hóa bản địa đặc sắc là tiềmnăng về tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, đa dạng có ý nghĩa to lớntrong việc phục vụ phát triển du lịch trekking Điều quan trọng hơn nữa việcthành lập VQG ngoài việc khẳng định giá trị của vườn, phục vụ mục đích bảotồn thì phát triển du lịch cũng là một mục đích được đề ra Do vậy, với sựquản lý của ban quản lý VQG kết hợp với các cơ sở, phòng văn hóa du lịchcủa địa phương sẽ tạo đà cho sự phát triển của hoạt động du lịch trekking

1.3.2 Du lịch trekking theo quan điểm du lịch sinh thái

Theo PGS.TS Trần Đức Thanh thì du lịch sinh thái là một quan điểmphát triển du lịch nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu củahoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên Du lịch sinh thái trước hết là dulịch về với thiên nhiên; thiên nhiên có thể hoang sơ hoặc do con người tạonên Tuy nhiên, hoạt động du lịch này chỉ được gọi là du lịch về với thiênnhiên mà thôi Nó chỉ được coi là du lịch sinh thái nếu có gắn kết với việcgiáo dục ý thức bảo vệ môi trường có gắn kết với việc thực thi bảo vệ môitrường Như vậy, hoạt động du lịch trekking thông thường chỉ là hoạt động vềvới giới tự nhiên Còn trekking tour theo quan điểm du lịch sinh thái thì cần

có sự nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và đóng góp cho CĐĐP; đảm bảocho du lịch trekking hoạt động có hiệu quả về mọi mặt, đạt được sự cân bằnggiữa phát triển và bảo tồn Có nghĩa, khi hoạt động du lịch trekking cần phảitôn trọng và tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của Du lịch sinh thái:

- Có hoạt động diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường khitham gia các tour trekking Du khách phải được cung cấp những kiến thức và

Trang 17

thông tin đầy đủ, có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du kháchvới môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa bản địa, góp phần thỏa mãn nhucầu của du khách Từ đó du khách sẽ có thái độ nỗ lực hơn trong công tác bảotồn và phát huy các giá trị của khu vực Thực hiện theo nguyên tắc này sẽđảm bảo được sự cân bằng giữa phát triển du lịch trekking và bảo vệ môitrường.

- Bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái và đa dạng sinh học du lịch.trekking thường diễn ra ở những vùng có tính đa dạng sinh học cao với các hệsinh thái nhạy cảm nên hoạt động của nó luôn chứa đựng những tác động tiêucực tới môi trường Việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên là nền tảngquan trọng trong phát triển du lịch lâu dài Để thực hiện nguyên tắc này cần

có sự đảm bảo của du khách và cộng đồng, dân cư địa phương Các hoạt động

tự ý mở các lối mòn mới trong chuyến trekking, lấy các loài thực vật trongrừng về làm kỉ niệm…của du khách; hay hoạt động chặt phá rừng, săn bắnbừa bãi sẽ làm suy giảm nhanh chóng các khu bảo tồn và các vùng phụ cận

- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng Hoạt động trekkingtour cần tôn trọng bản sắc văn hóa cộng đồng của điểm đến, bảo tồn kiến trúc,

di sản đang tồn tại và các giá trị văn hóa truyền thống

- Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho CĐĐP, CĐĐP là nhữngngười chủ của những vùng đất này là các khu bảo tồn, VQG do đó họ cầnđược chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch một cách công bằng Nguyên tắc nàygiúp đảm bảo được sự công bằng trong xã hội và hoạt động du lịch đạt được

sự đồng thuận của CĐĐP Sự phát triển của du lịch trekking đảm bảo theonguyên tắc này sẽ giành được sự ủng hộ của CĐĐP bởi nó đem lại việc làm,lợi ích kinh tế và văn hóa cho họ

1.3.3 Mối quan hệ giữa du lịch trekking với điểm đến.

Mối quan hệ CĐĐP với hoạt động du lịch trekking :

- CĐĐP là người cung cấp dịch vụ phục vụ ban đầu của du lịchtrekking chủ yếu diễn ra tại nơi có thiên nhiên hoang sơ Vì vậy khách du lịch

Trang 18

thường dựa vào CĐ dân cư tại các làng, bản, thôn…với các hoạt động nhưthuê HDV bản địa dẫn đường, ngủ bản “homestay”, mang vác hành lý…

- CĐĐP và đời sống của họ cung cấp nguồn tài nguyên du lịch hữuhình và phong phú Các phong tục tập quán, lối sống, kiến trúc độc đáo, lễhội…của CĐĐP thu hút khách du lịch trekking

- Nếu được đào tạo, CĐĐP sẽ là nguồn nhân lực tích cực và hiệu quảcho hoạt động du lịch Vì vậy họ là những người am hiểu điều kiện tự nhiên,nhân văn cũng như tài nguyên của khu vực có hoạt động

- Là lực lượng bảo vệ tốt nhất nguồn tài nguyên du lịch địa phương mộtcách bền vững Đồng thời họ cũng sẽ có những phản ứng nhanh nhất vớinhững biến động tiêu cực của môi trường

Vai trò của du lịch trekking với sự phát triển của cư dân địa

phương: Hoạt động du lịch trekking phát triển không chỉ đem lại những lợi

ích đối với du khách, mang lại hiệu quả về mặt xã hội, lợi ích kinh tế cho cácđơn vị tổ chức trekking, đóng góp vào ngân sách của chính quyền địaphương; mà nó còn đem lại khá nhiều lợi ích đối với CĐĐP:

- Góp phần giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ

- Góp phần tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho CĐĐP và giảmthiểu được tình trạng đói nghèo phát triển kinh tế địa phương

- Đóng góp trực tiếp trong việc duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học vàvăn hóa bản địa

- Góp phần cải thiện an sinh xã hội, phát triển giáo dục và các dịch vụchăm sóc sức khỏe ở địa phương thông qua những đóng góp trực tiếp choCĐĐP

- Giao lưu, trao đổi văn hóa giữa du khách và người địa phương, gópphần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của cả hai phía cũng như sự hiểubiết và hòa hợp trong các lĩnh vực (kinh tế, chính trị, xã hội, văn minh), qua

đó giúp mở mang dân trí

Trang 19

Tác động qua lại giữa du lịch trekking, các tài nguyên tự nhiên và cư

dân địa phương: Du lịch trekking, các tài nguyên tự nhiên và cư dân địa

phương có quan hệ qua lại với nhau Một tour trekking có thể được tổ chứckhông đi qua các bản làng mà chỉ nối liền các điểm thắng cảnh tự nhiên vớinhau; nhưng du lịch trekking muốn phát triển được lâu bền thì không thểthiếu được sự hậu thuẫn của CĐĐP vì tài nguyên tự nhiên với CĐĐP với cuộcsống của họ không thể tách rời Mặt khác CĐĐP cần có hoạt động du lịch đểcải thiện đời sống, tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo Nếu không lôi kéođược CĐĐP tham gia vào hoạt động du lịch thì tất yếu mâu thuẫn sẽ xảy ra,ảnh hưởng tới phát triển du lịch Trekking tour là một dạng hoạt động du lịchthể thao -khám phá -mạo hiểm, nên hầu như mối quan tâm đến việc đem lạilợi ích phát triển bản thân của du khách mà chưa quan tâm nhiều tới môitrường tự nhiên và văn hóa bản địa; tuy được phát triển ở những vùng môitrường có sự nhạy cảm cao Đối với CĐ thì nó là sự đóng góp nhất định trongviệc nâng cao đời sống nhưng lượng đóng góp không đáng kể mà chủ yếu tạo

ra phần doanh thu cho các đơn vị tổ chức trekking Bên cạnh đó nếu không có

sự quản lý về số lượng và ý thức bảo vệ môi trường của du khách thì sớmmuộn môi trường du lịch cũng bị suy thoái, tài nguyên thiên nhiên bị mất dần,gây nên những tác động xấu tới đời sống của CĐ và hoạt động du lịchtrekking do đó cũng không thể phát triển lâu bền Du lịch sinh thái với những

ưu điểm trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên của địa phương , với sự diễn giảimôi trường và đống góp cho sự phát triển của CĐĐP Đây được nhận định làmột hướng đi giúp giải quyết những tác động tiêu cực của du lịch trekking đốivới môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa

Trang 20

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TREKKING

TẠI ĐẢO CÁT BÀ – HẢI PHÒNG 2.1 Khái quát về Cát Bà

2.1.1 Vị trí địa lý

Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 367 đảo trong đó có đảo Cát Bà ởphía nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnhQuảng Ninh,cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố HạLong khoảng 25 km Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải,thành phố Hải Phòng Nơi đây đã được UNESCO công nhận là khu dự trữsinh quyển thế giới(DTSQ TG) Cơ sở hạ tầng cũng khá phát triển với tổ hợpnhiều khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ dưỡng, chùa chiền và đặc biệt là toàn bộkhu vực đảo đã được thành phố Hải Phòng triển khai các trạm thu phát wifi

Quần đảo có tọa độ 106°52′- 107°07′Đông, 20°42′- 20°54′ độ vĩ Bắc.Diện tích khoảng gần 300 km² Dân số 8.400 người (năm 1996) Các đảo nhỏkhác: hòn Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xanh, hòn Tai Kéo,

Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảotrên vịnh Hạ Long Tương truyền, quần đảo Cát Bà là nơi các bà, các mẹ vàchị em phụ nữ lo trồng tỉa, hái lượm, chuẩn bị lương thảo giúp các chiến binhđánh đuổi giặc Ân Bởi thế, hòn đảo các chiến binh đóng quân nơi tiềnphương gọi là đảo Các Ông (đọc chệch thành Cát Ông), và đảo hậu phươngđược mang danh là đảo Các Bà (Cát Bà)

Một sự tích khác về Cát Bà được lưu truyền theo năm tháng cho đếnngày nay đó là: Ngày xửa ngày xưa, không rõ là vào thời kỳ nào, có hai xác

nữ thần chết trẻ không biết từ đâu trôi dạt vào đảo và được bà con ngư dânđắp thanh hai ngôi mộ Trong đêm ấy, các nữ thần hiển linh, báo mộng chocác vị chức sắc và dân chúng trên đảo biết về sự linh ứng của mình Dânchúng bèn đóng góp tiền của, lập miếu thờ hai nữ thần ngay bên hai nấm mộthiêng này, gọi là miếu Các Bà Sau khi lập miếu thờ, những năm tháng sau

Trang 21

đó, ngư dân trên đảo không gặp các tai nạn trên biển như trước, đời sốngkhông có dịch bệnh hoành hành, không có giặc ngoại xâm và cướp biển, dântrên đảo hưởng cuộc sống ấm no, thái bình Tâm nguyện người dân trên đảođều cho rằng đó là do các nữ thần hiển linh phù hộ.

Hiện nay, đền thờ Các Bà ở Áng Ván – thị trấn Cát Bà, đền Bà – xã Hiền Hàocũng còn tồn tại với thời gian Đảo Các Bà được đọc chệch đi thành Cát Bànhư ngày nay

Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70m

so với mực nước biển (dao động trong khoảng 0–331 m) Trên đảo này có thịtrấn Cát Bà ở phía đông nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, HiềnHào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám Cư dân chủ yếu là ngườiKinh

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triểnCát Bà.

Vùng đất cổ Cát Bà được hình thành từ cuối nguyên đại cổ sinh sớm(cách ngày nay khoảng 410 triệu năm) nhờ chuyển động tạo núi Celadoni vàchế độ lục địa kéo dài suốt nguyên đại Trung sinh (cách ngày nay khoảng 240

- 267 triệu năm) Các nhà địa chất đã phát hiện được nhiều di tích hóa thạchđộng vật và thực vật cổ xa lưu giữ trong các trầm tích ở Cát Bà phản ánhnhững biến cố địa chất lớn và tiến hóa của sự sống hàng trăm triệu năm tạimiền đất này

Các tài liệu khảo cổ học đã xác nhận Cát Bà là một trong những nơi cóngười nguyên thủy sinh sống Khoảng thời gian biển tiến (cách ngày naykhoảng 9.000- 17.000 triệu năm), hệ thống các đảo trong vịnh Bắc Bộ bị phântách ra khỏi lục địa, đã có một nhóm cư dân chuyên sống trong các hang động

đá vôi, mà khảo cổ học gọi là cư dân văn hóa Hòa Bình Nơi ở của họ, nhữngmái đá, những hang động như: Trung Trang, Giếng Ngóe, Tiền Đức, HoaCương, Thiên Long,… là những ngôi nhà tuyệt vời do tạo hóa ban tặng choCát Bà Người cổ Cát Bà chính là một bộ tộc thành viên của người Lạc Việt,

cư dân của quốc gia Văn Lang, Âu Lạc sau này Cát Bà có 77 địa điểm khảo

Trang 22

cổ đã được phát hiện và khảo sát có các di chỉ nổi tiếng như: Cái Bèo, BãiBến, Cát Đồn cùng nhiều di chỉ có giá trị khác như: Tùng Gôi, Thành nhàMạc, Ao Cối, Hang Dơi, Eo Bùa.

Sau năm 1945, huyện Cát Hải và thị xã Cát Bà thuộc tỉnh Quảng Yên, đếnngày 05 tháng 06 năm 1956 được sáp nhập vào thành phố Hải Phòng.Ngày 22 tháng 07 năm 1957 huyện Cát Bà được thành lập gồm thị xã Cát Bà

cũ đổi tên thành thị trấn Cát Bà và 5 xã của huyện Cát Hải được tách ra gồm:Trân Châu, Xuân Đám, Hiền Hào, Gia Luận, Việt Hải Huyện Cát Hải ngàynay được thành lập vào ngày 11 tháng 03 năm 1977 trên cơ sở hợp nhất haihuyện đảo Cát Hải và Cát Bà cũ

2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển du lịch trekking tại Cát Bà

2.2.1 Địa hình, địa chất

2.2.1.1.Đặc điểm địa chất, địa mạo

Đảo Cát bà được cấu tạo chủ yếu bởi đá trầm tích tuổi từ Cacbon, địatầng Cát Bà gồm ba phụ hệ:

Hệ tầng Cacbon – pecmi gồm 2 dải chính là dải bắc nằm giữa 2 dải của

hệ thống Cát Bà kéo theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và dải Đông Namphân bố trên một diện tích rộng lớn Hệ đệ tứ gồm các trầm tích có nguồn gốcsông hồ, biển phân bố rải rác trên đảo

Trang 23

2.2.1.2.Địa hình.

Khu vực Cát Bà có địa hình khá đa dạng, chủ yếu là núi đá vôi xen kẽnhiều thung lũng hẹp chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bao gồmvùng núi có độ cao dưới 500m, đa phần có độ cao từ 50 – 200m kết hợp với

hệ sinh thái phong phú tại Vườn quốc gia Cát Bà tạo nên cảnh quan hùng vĩ

và hấp dẫn Đảo Cát Bà được cấu tạo chủ yếu bởi các thành tạo đá vôi, do đóđịa hình có sự phân cấp lớn Vì vậy, có thể phân chia ra làm các loại địa hìnhchủ yếu:

- Địa hình núi cao sườn dốc: Địa hình núi cao sườn dốc chiếm diện

tích nhỏ và phát triển trong các thành hệ đá vôi, đá vôi silic, đá vôi sét xen bộtsét Ở đây, do đặc điểm thạch học nên karst kém phát triển Các dãy núithường kéo dài liên tục theo phương TB-ĐN với độ cao tuyệt đối từ vài chụctới hơn 200 m Sườn khá dốc từ 20 tới 400 Lớp phủ pha tàn tích khá dày, từgần một mét tới hơn chục mét

- Địa hình núi đá vôi karst: Đây là địa hình đặc trưng của đảo Địa hình

này chiếm tới 90% diện tích của đảo Ở nhiều vùng, trên các dãy núi này còntồn tại lớp phủ rừng nguyên sinh với thảm thực vật khá phát triển và ở đâytrên bề mặt đá gốc thường có lớp phủ pha tàn tích mỏng Các dãy núi đá vôithường phân bố không liên tục và bị phân cắt thành các núi độc lập với cao độtuyệt đối thường trên dưới 250m, cao nhất là 305m

Các núi đá tập hợp thành các dãy kéo dài theo phương tây bắc – đôngnam (TB-ĐN), giữa chúng là các thung lũng có kích thước khác nhau, lớnnhất là hai thung lũng Trung Trang và Khe Sâu, nằm ở phần trung tâm củađảo

- Địa hình thung lũng: Các thung lũng trong vùng liên quan chặt chẽ

với các hệ thống đứt gãy trên đảo và thường là các thung lũng nằm kẹp giữacác dãy núi đá vôi, và có phương gần trùng với phương kéo dài của các núi đávôi, song cũng có nơi phương của chúng cắt phương của các dãy núi, đó làtrường hợp chúng được phát triển theo các đứt gãy chéo Các thung lũng

Trang 24

thường được phát triển theo các đứt gãy phương TB-ĐN và các đứt gãy á vĩtuyến Quá trình hình thành thung lũng chủ yếu là quá trình karst và bào mònxâm thực Trong vùng núi đá vôi mặt cắt các thung lũng thường có dạng chữ

U, vách dựng đứng Kích thước biến đổi mạnh, chiều dài từ 1 tới vài km,chiều rộng từ vài chục mét tới hơn 1 km Bề mặt thung lũng thường được phủbởi các lớp trầm tích Đệ tứ có chiều dày biến đổi mạnh, có khi tới vài chụcmét, lớn nhất là ở thung lũng trung tâm Vườn quốc gia, song nhiều nơi lộ ra

đá gốc

Các thung lũng thường kéo dài theo phương TB-ĐN Một số thunglũng điển hình như Khe Sâu (Hải Sơn), Đồng Cỏ, Trung Trang, trung tâmVườn quốc gia, Tre, Bù Lu Chúng nằm kế tiếp nhau dọc theo con đườngxuyên đảo từ thị trấn Cát Bà đến Gia Luận Kích thước của chúng thường cóchiều rộng khoảng 300-400 m và chiều dài khoảng 1.500-2.000m Một sốthung lũng độc lập như Hiền Hào, Gia Luận thì có dạng đẳng thước

Đáy các thung lũng có độ cao khoảng 5-25m trên mực nước biển, trên

đó nhân dân trồng trọt các cây lương thực và thực phẩm

- Địa hình rừng ngập mặn ven biển: Dạng địa hình này nằm bao quanh

đảo, cao 1-4m trên mực nước biển Một số nơi chúng chiếm diện tích khá lớnnhư ở vịnh Cát Bà nằm ở phía nam, vùng Phù Long ở phía tây Đó là nhữngdải cát ven biển được một lớp phù sa che phủ, trên đó mọc các loại cây ưamặn như sú, vẹt và các loại cây đặc trưng cho đầm lầy, có chỗ rộng tới 1 km

và kéo dài vài ba cây số

- Dạng địa hình đáy biển nguyên là đồng bằng lục địa lớn bị biển làmngập trong thời gian biển tiến sau băng hà lần cuối cùng Đáy biển có hìnhthái đồng bằng, vùng đáy sâu 5 - 10m, cực đại 39m Trong phạm vi đồngbằng này có một số rặng san hô Sự phức tạp của địa hình đáy biển với nhiềurạn san hô có giá trị ở vùng ven đảo Cát Bà là yếu tố quan trọng, tạo điều kiệncho việc đa dạng hóa loại hình du lịch, đặc biệt loại du lịch ở biển như du lịchlặn ngầm, du lịch mạo hiểm

Trang 25

- Dạng địa hình bờ biển xung quanh quần đảo Cát Bà mang kiểu bờbiển mài mòn hóa học Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi, có đường biển khúckhuỷu, dáng vĩ, độ dốc lớn, dải bờ hẹp, bị chia cắt mạnh dạng răng cưa Bờbiển có nhiều mũi nhô đá gốc xen kẽ với các vụng nhỏ hình dáng không nhấtđịnh tạo thành do kết quả quá trình hòa tan tạo thành các vịnh nhỏ, bãi cát trảidài, phẳng mịn, nước trong vắt, soi rõ cả đáy cát vàng như bãi Đá Bằng, bãiCát Cò I, II, bãi Định Gianh, bãi Cát Dứa,… Đó là những bãi tắm đẹp nổitiếng có sức hút mạnh đối với du khách trong và ngoài nước.

Bảng 2.1: Danh mục các bãi biển có tiềm năng

phát triển du lịch ở đảo Cát Bà

Tên bãi

Kích thước(m)

Độ dốc trung bình

Diện tích lộ

ra khi thủy triều xuống(m²)

Chiều dài Chiều rộng

(Nguồn: Phân viện Hải dương học Hải Phòng)

2.2.2 Khí hậu, thủy văn

2.2.2.1.Khí hậu

Là một trong những yếu tố quan trọng tạo ra môi trường du lịch Vớiloại hình du lịch trekking thì yếu tố này đặc biệt cần lưu ý vì có ảnh hưởngtrực tiếp đến những trekkers Nhiệt độ, độ ẩm,… sẽ gây tác động đến quátrình đi bộ dài hay ngắn, có thuận lợi hay khó khăn trong việc bộ hành hayviệc tìm hiểu, khám phá tài nguyên Nằm trong vành đai chí tuyến Bắc cũngnhư vùng Đông Bắc Việt Nam, Cát Bà chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đớigió mùa, ảnh hưởng cua gió Tây Nam về mùa hạ và gió mùa Đông Bắc vềmùa đông

Trang 26

Trên đảo Cát Bà không có trạm khí tượng nên số liệu này được phântích từ số liệu của hai trạm khí tượng gần nhất là trạm Hòn Dấu và Phù Liễn.Khí hậu Cát Bà chia làm 2 mùa rõ rệt:

Mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 9, khí hậu nóng ẩm gần trùng với mùamưa nhiều, rất thuận lợi cho hoạt động du lịch Hoạt động trekking được diễn

ra thuận lợi hơn vì trời sáng dễ di chuyển và thời gian hoạt động kéo dài hơn.Tháng 4 và tháng 10 là các tháng chuyển tiếp mùa

Nhiệt độ trung bình mùa hè là 27,9 °C, nhiệt độ cao nhất là 35 – 36 °CTrung bình có trên 10 ngày mưa/1 tháng, tổng lượng mưa từ 1500 –1600mm, chiếm 80 - 90% lượng mưa năm, mưa nhiều nhất vào các tháng 7,

8 Mùa hè ở Cát Bà chịu ảnh hưởng của gió mùa đông nam tốc độ trung bình2,5 – 3,0 m/s, cực đại 20 – 30 m/s Mùa đông mang tính lạnh, từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau, hạn chế các nhu cầu du lịch truyền thống, cũng phù hợp vớihoạt động trekking vì người dân vùng đảo chỉ sống tập trung nhiều tại thị trấn

và Phù Long, còn những nơi địa điểm khác thì gần như đây là các vùng hẻolánh, càng rèn luyện ý chí của những trekkers Nhiệt độ trung bình là 19,8 °C,nhiệt độ thấp nhất là dưới 10 °C Trung bình có 6 – 8 ngày mưa/1 tháng, tổnglượng mưa đạt 200 – 500mm, đầu mùa thường khô hanh, cuối mùa thường

ẩm ướt vì có mưa nhỏ, mưa phùn; có gió mùa đông bắc, tốc độ trung bình là2,5 – 3,0 m/s

2.2.2.2Thủy văn

Trên đảo Cát Bà không có những con suối lớn mà chỉ có những khesuối nhỏ, đa phần là những con suối chỉ hoạt động vào mùa mưa Hệ thốngsuối ngầm tại đây rất phong phú như: suối Thuồng Luồng, suối Treo Cơm,suối Trung Trang, suối Việt Hải… Ngoài ra còn có hệ thống nước tại các ao

hồ phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân nơi đây, nó cũng đem lạicho du khách những cảm giác dễ chịu Đặc biệt hệ thống nước ao Ếch trên núirất đặc sắc

Trang 27

Hải đảo Cát Bà nằm trong chế độ nhật triều điển hình nhất của vùng bờ,mỗi ngày thủy triều lên xuống một lần Mực nước lên cao nhất có thể đạt đến4m.

2.2.3 Tài nguyên sinh vật.

Đảo Cát Bà là thảm rừng nhiệt đới xanh quanh năm, có khu rừngnguyên sinh với nhiều loài chim, thú, bò sát và thảm thực vật quý hiếm.Ngoài ra, đảo còn có giá trị lớn về hải sản, hệ sinh thái rừng ngập mặn, có ao

hồ trên núi đá vôi, góp phần làm phong phú thêm các hình thức du lịch trênđảo

Theo các kết quả nghiên cứu, cho đến nay riêng khu vực Cát Bà đã thống kê được 2320 loài động vật và thực vật đang sinh sống, gồm:

họ cà phê, họ cúc, họ long não

Phân chia thực vật đảo Cát Bà theo dạng sống thì có:

Cây gỗ lớn và trung bình : 68 loài

Cây gỗ nhỏ : 135 loài

Trang 28

Cây gỗ bụi : 136 loài

Cây thảo : 174 loài

Dây leo, bì sinh : 87 loài

Theo dạng sống, ta thấy các loại cây bụi, cây thảo và dây leo chiếm ưuthế chứng tỏ rừng ở cát bà phần lớn là những rừng thứ sinh đã bị tác độngmạnh mẽ của con người Rừng nguyên sinh chỉ còn lại nhiều trong các thungáng nơi có địa hình hiểm trở, con người khó ra vào

Những đặc điểm nổi bật của hệ thực vật rừng Cát Bà:

Có nhiều loài thực vật vùng đảo đá Đông Bắc đều có mặt ở Cát Bà

Có những loại gốc cây quý, hiếm ở Việt Nam như kim giao (đặc hữu),lát hoa (quý), chỏ đãi (đặc hữu), trai (quý), đinh (quý), gội nếp (quý), cọ BắcSơn (đặc hữu)

Có nhiều loại thực vật có nguồn gốc từ các khu hệ lân cận như longnão, sau, sồi giẻ, hoan hài,…

Có 270/745 loài có thể làm thuốc chữa bệnh, đáng chú ý hơn cả làthuyết giáo, hương nhu, bình vôi, lá khôi, kim ngâu,…

Thành phần thực vật tại Cát Bà tuy không thật phong phú nhưng vẫncòn nhiều loại cây có giá trị cao về mặt kinh tế và sinh học như: Trai Lý, Chóđãi, Lát hoa, Đinh, Kim giao, Cọ Bắc Sơn

Rừng Cát Bà được coi là một khu rừng tự nhiên khá độc đáo nằm giữabiển rộng Diện tích núi đá vôi chiếm 19.827 hecta, trong đó phần diện tích cócây che phủ là 13.200 hecta chiếm 60% núi trên đảo Cát Bà Rừng tại Cát Bà

có một kiểu chính là rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa ở đai thấp và một

số kiểu phụ như: rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn, rừng ngập nước vớiđặc trưng là cây Và nước ở khu Ao Ếch,… tạo ra cảnh quan đa dạng, đặc sắc

Trang 29

Bảng 2.2: Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng tại đảo Cát Bà

Đơn vị tính: héc ta

tích

Tỷ lệ (%)

Phân bố

Tổng đất lâm nghiệp 18.12 60

1 Rừng nguyên sinh thường

xanh mưa ẩm trên núi đá vôi

1045.2 6 Trân Châu, Gia Luận,

Phù Long, Việt Hải

2 Rừng thứ sinh nghèo thường

xanh mưa ẩm trên núi đá vôi

4900.2 27 Trân Trâu, Gia Luận,

Việt Hải, Xuân Đám,Hiền Hào

3 Rừng thường xanh mưa ẩm

phòng hộ trên núi đá vôi

4 Rừng ngập nước trên núi đá

vôi

3.6 Trung tâm vườn quốc

gia

5 Rừng phụ thứ sinh tr nứa

phòng hộ sau nương rẫy

41.6 Việt Hải, Xuân Đám,

Hiền Hào, Gia Luận

6 Cây bụi, cây tái sinh trên núi

56.7 3 Trong và bao quanh

vườn quốc gia

Hiền Hào, Gia Luận

Cát Bà hiện có 2320 loài thực vật và động vật trên cạn và dưới biển,

130 loài được xác định là quý hiếm, được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thếgiới, trong đó có 76 loài nằm trong danh mục quý hiếm của IUCN, 21 loài đặc

Trang 30

hữu Đặc biệt, Cát Bà hiện là nơi sinh sống của một quần thể voọc đặc hữuđầu vàng, voọc thân đen đầu vàng (voọc Cát Bà) duy nhất trên thế giới với 63

cá thể loài Đây là loài linh trưởng rất quý hiếm, có tên trong danh sách 25loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới và là dạng linh trưởnghiếm nhất ở châu Á

Ngoài ra, ở Cát Bà còn có nhiều nhóm động vật độc đáo khác, như 62loài bò sát và lưỡng cư (trong đó có 12 loài quý hiếm và nguy cấp), 155 loàichim bản địa và chim di cư (với loài cốc đế quý hiếm có tên trong sách đỏViệt Nam và IUCN), khoảng 274 loài côn trùng đa dạng và nhiều sắc màu,nhiều loài thích nghi với các hang động đá vôi, như dơi, cua, thân mềm,nhện… (19 loài dơi, trong đó có 4 loài nằm trong danh mục sách đỏ IUCN,loài cua hang đặc hữu chỉ tìm thấy ở các một số hang động ở Cát Bà)

Bên cạnh đó, khu hệ sinh vật biển của quần đảo Cát Bà cũng hết sứcphong phú với khoảng 177 loài san hô (tập trung ở vùng Vạn Bội, Vạn Hà,Cát Dứa, Đầu Bê, Hang Trai, Hòn Mây, độ sâu từ 3 - 7m), 196 loài cá manggiá trị kinh tế cao (cá ngừ, cá hồng, cá chình…), 102 loài rong biển, 131 loàiđộng vật phù du, 400 loài thực vật phù du và 658 loài động vật đáy

Cho đến nay, số liệu nghiên cứu ghi nhận tại Cát Bà có 658 loài độngvật không xương sống đáy thuộc 345 giống, 146 họ, 12 lớp của 5 ngành: Giunđốt ,Chân đốt,Thân mềm và Da gai và Hải Miên Động vật đáy mang đếnnguồn lợi về xuất khẩu (mực, tôm, cua ), chế biến làm thực phẩm (sá sùng, tuhài, ngó đen…), mỹ nghệ (trai, ốc, giáp xác ) và làm thuốc ( hải sâm, saobiển ) Một số loài động vật đáy được xếp vào danh lục các loài quý hiếm baogồm: Trai ngọc con sút , ốc đụn cái , ốc đụn đực

Cát Bà- Long Châu là khu vực có rạn san hô tiêu biểu cho kiểu rạn ven

bờ Tây vịnh Bắc bộ Đến nay tại khu vực này đã phát hiện 177 loài thuộc lớpsan hô: bộ san hô cứng, bộ san hô bò, san hô mềm, san hô sừng Ở Cát Bà,nhóm san hô dạng khối khá phong phú và tiêu biểu hơn san hô dạng cành

Trang 31

(khu vực miền Nam Việt Nam) do điều kiện sống ở Cát Bà khắc nghiệt hơn,chế độ nhiệt độ hạ thấp vào mùa đông.

San hô ngoài tác dụng về mĩ quan với rạn san hô đẹp, hấp dẫn du lịchkhám phá, tại một số nước công nghiệp phát triển đã nghiên cứu sử dụngchúng như loại thuốc quý để chữa các bệnh hiểm nghèo

Năm 2003, tại khu vực Cát Bà – Long Châu, danh sách 196 loài cá đãđược công bố Đầu năm 2012, khu vực này đã xác định được 124 loài cáthuộc 89 giống và 56 họ Cá biển Cát Bà mang đến nguồn giá trị phong phú

về kinh tế trong khai thác, chế biến, xuất khẩu hải sản như cá đuối bồng , cátrích xương; cá mối hoa , cá mòi vạch ,v.v Một số loại cá quý hiếm, đượcnhân dân ưa chuộng từ lâu đời và ít gặp ở ven biển Việt Nam như cá tráp đen,

cá sóc bành lác , cá dao đỏ , cá song con; cá gàu … cũng được phát hiện ởkhu vực biển Cát Bà

Ngoài ra, khu vực biển Cát Bà có khoảng 67 loài cá tạp, mang lại giá trịkinh tế trong ngành chế biến nước mắm và làm thức ăn gia súc Một số loàiquý hiếm cũng có mặt tại Cát Bà như rắn biển (đẻn) , vích ,đồi mồi, rùa da vàđặc biệt là sự xuất hiện của cá heo trắng vào tháng 3/2012 ở cửa Vịnh Lan

Hạ Khu vực Đông nam đảo Cát Bà đã xác định được nhiều loài cá và hải sảngiống, trong đó họ cá liệt và cá phèn có mức phân bố phổ

Nhờ sự đa dạng sinh học cao, quần đảo Cát Bà đã được UNESCOchính thức công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2004 Đâycũng chính là khu dự trữ sinh quyển lớn thứ 3 của nước ta ( sau Cần Giờ vàĐồng Nai) với vùng phân bố các dạng sinh cảnh tự nhiên rộng lớn, bao gồmcác bãi cỏ biển, rừng ngập mặn và rừng trên núi đá vôi ở các đảo, hệ sinh tháirạn san hô phát triển nhất Vịnh Bắc Bộ, hồ nước mặn đặc thù, hệ sinh thái đáymềm được bao phủ dưới khối nước biển trong xanh đạt đến độ sâu 29m, phủkín bởi thảm thực vật

Những giá trị ghi nhận được đến thời điểm hiện tại còn hạn chế so vớinhững giá trị còn chưa được khám phá tại Cát Bà Cùng với công tác bảo tồn

Trang 32

đang được triển khai hiệu quả tại Cát Bà, công tác phát triển loài và tạo môitrường cho động thực vật cư trú và sinh sản tại Cát Bà hứa hẹn mang lạinhiều giá trị hơn cho công tác bảo tồn và phát triển loài tại khu DTSQ Cát Bà.

Với hệ sinh vật phong phú như vậy, đây hứa hẹn sẽ là một điểm du lịchtiềm năng cho những du khách thích khám phá và trải nghiệm những điều mới mẻ

2.2.4 Các điểm tài nguyên du lịch tự nhiên

Đảo Cát Bà có rất nhiều điểm đến với cảnh quan đẹp, hoang sơ và hùng

vĩ, các danh thắng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước tiêu biểu như:

Hang Quân Y: Hang Quân Y hay còn gọi là hang Hùng Sơn, có vị trígần khu vực vườn Quốc gia Cát Bà Nơi đây là điểm du lịch thú vị bởi cấutrúc đặc biệt của nhũ thạch và núi đá vôi ven biển hình thành do trầm tích.Nơi đây từng là một bệnh viện dã chiến trong thời kỳ đế quốc Mỹ bắn phámiền Bắc Việt Nam (năm 1963 – 1965) Trong khoảng thời gian này, quân vàdân trên đảo đã xây dựng hang dựa vào lòng núi đá vôi tự nhiên để làm nơichữa bệnh cho thương binh Nơi đây cũng được dùng làm nơi trú ẩn, tránhbom đạn cho dân cư địa phương và dân cư sơ tán từ đảo Bạch Long Vỹ

Diện tích bệnh viện trong lòng hang rộng gần 2.000m² với sức chứahơn 100 người Hang Quân Y còn có đủ các phòng chức năng được trang bịthiết bị hiện đại so với thời điểm đó Hệ thống đường hầm đi lại, điện nước,thông gió, hướng ánh sáng hoàn thiện từ cửa vào đến tận cửa ra đằng sau

Bệnh viện xây dựng khép kín với cửa vào phía Đông, cửa ra phía Tây.Giữa hang có 3 tầng riêng biệt gồm 17 phòng lớn nhỏ cùng một bể bơi Tầng

1 là khu vực chính, gồm 14 phòng chức năng, xây dựng hoàn toàn bằng bêtông cốt thép; tầng 2 gồm phòng hội họp, chiếu phim và thể lực; tầng 3 gồmsảnh đón tiếp, phòng chỉ huy, tác chiến và gác xây dựa vào vách đá tự nhiên

Trước đây; để vào được cửa hang, người ta phải đi qua lối mòn nhỏ ẩnkhuất trong cánh rừng già ven các vách núi và leo lên chiếc cầu thang gỗ (dễdàng phá huỷ khi bị tấn công, để phòng ngự và rút lui ra cửa sau) Cửa vàohành lang hệ thống bệnh viện bằng thép dày kiên cố, cong và gồ lên để chống

Trang 33

bom đạn Sau tấm cửa có bốn chốt sắt phụ, một chốt chính; phải biết cách mởmới xoay ra được.

Đặc biệt, giữa tầng 1 có hai lối lên tầng 2 và 3 với nhiều chỗ rất hẹp,phải nằm bò mới di chuyển được, điều này nhằm gây khó khăn cho địch tấncông Cuối đường hầm tầng 1 là hai tấm cửa sắt lớn chống đột kích, công phá.Đây cũng chính là cửa ra mặt sau núi của hang, lấp trong những nhũ đálớn.Hang Quân Y không chỉ là niềm tự hào của ngành quân y Việt Nam màcòn là địa điểm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế

Động Trung Trang: nằm trong thung lũng Trung Trang, cách thị trấnCát Bà 15 km về phía tây bắc Du khách hầu như phải khom lưng suốt dọchành trình khám phá hang dài hơn 300m Trải qua hàng triệu năm kiến tạo địachất, hang động này sở hữu muôn nghìn nhũ đá thiên nhiên có hình dáng độcđáo, khơi gợi trí tưởng tượng của du khách Hang Trung Trang được ngườidân địa phương gọi là “kho vàng, kho bạc” với nhiều điều độc đáo Đi sâu vàohang khoảng hơn 100m, những trekker sẽ tới một khoang hang có những khốithạch nhũ sáng lấp lánh dưới ánh đèn mờ ảo Ở đây có khối nhũ đá có hìnhvương miện, dải áo gấm, rồi hình 3 ông Phúc Lộc Thọ… Người dân địaphương gọi khoang hang này là “kho vàng, kho bạc của bà chúa” ĐộngTrung Trang có một hệ sinh thái trong bóng tối huyền bí, là nơi sinh sống củanhiều loài sinh vật như dơi, chim, côn trùng và bò sát Hệ thống điện thắpsáng rất hạn chế để giữ gìn những đặc trưng của môi trường sinh thái trongđộng Không gian mờ mờ ảo ảo đã giúp trekker có sự trải nghiệm thú vị

Động Trung Trang tiêu biểu cho quần thể hơn 150 hang động lớn nhỏtrên quần đảo Cát Bà Ở đây đã tìm được xương hóa thạch, các công cụ bằng

đá của người Việt tiền sử Đây cũng là nơi lưu lại những dấu vết lịch sử hàohùng của quân và dân trên đảo trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước

Rừng Kim Giao và đỉnh Ngự Lâm: nằm trong Khu DTSQ thế giới quầnđảo Cát Bà, với bạt ngàn thân cây thẳng đứng, rừng Kim giao có một khuônviên yên bình, thơ mộng và là một điểm dừng chân thưởng ngoạn lý tưởng để

Trang 34

các du khách có cơ hội được cảm nhận những giá trị của cuộc sống Kim giao

là 1 loại cây lá cứng và thuộc loại cây quý Ra hoa vào tháng 4, tháng 5, thànhquả, kết đài vào tháng 6, tháng 7, những quả kim giao già khô được hái vềươm trồng vào khoảng tháng 11 Càng lên cao, đường càng trắc trở, khó khănvới những bậc thang dốc, những đoạn đường đất trơn và hẹp, chỉ đủ cho từngngười một lách qua,… đỉnh núi Ngự Lâm cao 210m so với mực nước biển sauquãng đường 2km vừa đi bộ, vừa leo núi Thỏa sức ngắm nhìn khung cảnhcủa Cát Bà từ trên cao, mê mẩn thu vào tầm mắt của mình những bức tranh kỳ

vỹ của thiên nhiên, trầm trồ trước sự kiến tạo đến hoàn hảo của tạo hóa – baocảm xúc như vậy cứ bộn bề trong lòng các du khách khi đứng trên đỉnh NgựLâm

Ao Ếch: nằm lưng chừng núi, ở độ cao 80 mét so với mực nước biển,nước ao trong nhìn thấy đáy Ao có diện tích 3,2 héc-ta và thay đổi theo mùa.Mùa khô, lòng ao thu hẹp lại, nhưng chẳng bao giờ cạn nước Còn mùa mưa,nước từ những khe đá chảy xuống làm ao rộng hơn, nhìn chỉ thấy mênh môngmột màu trời, màu rừng và màu nước Ao không sâu lắm, chỉ chừng 50-60

cm, đáy ao là lớp bùn dày do cành, lá cây khô rụng xuống phân hủy mà thành

Từ đáy ao, vươn lên hàng nghìn cây Và Nước- loài cây chỉ có ở Ao Ếch màkhông tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác Cây cao 5-10 mét, thân to chừng bắpđùi người lớn, vỏ xù xì, mọc thành cụm, có khi đứng một mình Mùa đông,nước ao tương đối ấm, còn mùa hè, lại mát lạnh Vì thế, sau chặng đường dàimệt nhọc, vốc nước lên rửa mặt, tay, chân, không có gì thú bằng.Ngoài ếch, ở Ao Ếch còn có loài cá dầm đất sinh sống Cá to hơn ngón taymột chút, thân lẳn, bụng trắng, lưng ánh xanh và dài chừng 7-8 cm Đặc biệt,

Ao Ếch có rất nhiều cua đồng Cua bò lổm ngổm nơi đáy ao, cua lấp ló trongnhững khe đá, hốc cây Thậm chí, có con còn “nổi hứng” trèo lên cả cành cây

để phơi nắng Khác so với cua sinh sống tại đồng ruộng, cua ở đây có màusẫm hơn Thi thoảng, người dân trong vùng vào đây câu cua Một cành câynhỏ, một đoạn dây có buộc miếng da lợn hoặc giẻ, câu chơi một buổi cũng

Trang 35

được 5-7 kg Nằm giữa rừng, đường đi hiểm trở, được bảo vệ bởi các cán

bộ Vườn quốc gia Cát Bà, lực lượng kiểm lâm, cùng với ý thức của người dânngày càng được nâng cao, Ao Ếch giữ được vẻ đẹp hoang sơ vốn có Nếu đủsức khỏe, dũng cảm và quyết tâm vượt tuyến đường rừng để tham quan xãViệt Hải, du khách sẽ nhận được món quà tuyệt vời từ thiên nhiên Đó là đượctận mắt thấy Ao Ếch, tận hưởng bầu không khí mát mẻ, trong lành, nghe tiếngếch kêu râm ran, ngắm cá dầm đất bơi lội và dõi theo bước chân ngang dọccủa hàng nghìn, hàng vạn con cua

Làng chài Việt Hải: Làng Việt Hải nằm lọt thỏm giữa biển khơi, baobọc bởi núi cao và rừng già của vườn quốc gia Cát Bà, thuộc huyện đảo CátHải, Hải Phòng Rất ít người trong nước đặt chân đến đây, song Việt Hải lạiđang là điểm thu hút khá nhiều khách du lịch nước ngoài

Trước đây, Việt Hải gần như tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài Rừngnúi hoang vu, vắng vẻ nên mỗi khi đến đoạn đường ngập nước trong mùamưa, dân địa phương cứ vô tư "thoát y" ngụp, lội Ông Hoàng, người dân ởCát Bà, thú nhận ở rể làng này hơn 10 năm qua cũng từ chuyện “thoát y” Lần

ấy, ông mang thuốc cao vào bán cho dân làng, đến giữa suối thì gặp một côgái cũng trong tình trạng giống như mình Cô gái thẹn thùng, bối rối vứt cảquần áo, đồ đạc xuống nước Sau đó, ông phải tự nguyện cho cô ta mượnquần áo của mình mặc tạm Vậy rồi quen và yêu nhau, thành vợ thành chồng

Người dân Việt Hải vẫn giữ được cuộc sống mang nét “nguyên thủy”như từ thuở xa xưa Nhưng người dân ở đây lại có vẻ rất vừa lòng với cuộcsống nghèo vật chất nhưng giàu nghĩa tình của mình Sống chia sẻ cùng nhau,không toan tính, vụ lợi, làm giàu giữa núi rừng và biển cả Bí thư Đảng ủy xãĐinh Văn Thủy nói “cũng chính nhờ nét sinh hoạt văn hóa này mà khách dulịch nước ngoài tìm đến ngày một đông Mấy năm nay, hàng chục nghìn dukhách đã vượt suối, trèo đèo đến tham quan Họ đã nghe tiếng một vùng đấthoang sơ nằm giữa khu dự trữ sinh quyển thế giới, rừng quốc gia Cát Bà”

Trang 36

Động Phù Long: nằm trên địa bàn xã Phù Long (huyện Cát Hải) là mộtđiểm du lịch đang hút khách với nhiều điều huyền bí Theo người dân địaphương, ngoài cảnh đẹp tựa chốn bồng lai, đây còn là nơi lưu giữ dấu tích củangười xưa, hay từng là nơi tá túc của hải tặc

Du khách vào thăm hang động Phù Long sẽ có thêm những hiểu biếtkhoa học về quá trình hình thành, tạo tác các hang động đá vôi của đấng tạohóa, sự lên xuống của mực nước biển qua các thời kỳ vận động địa chất màdấu ấn của nó còn lưu lại trong các trầm tích cổ hay vết tích ngấn nước trênvách hang Khác với động Quân Y do sự tái tạo của thiên nhiên và bàn taycon người, vào sâu trong lòng động Phù Long mới thấy hết vẻ đẹp tuyệt vời

và kỳ thú của các tác phẩm điêu khắc nghệ thuật thiên nhiên trong ánh sáng

hư ảo của đèn, đuốc Động Phù Long trùng trùng nhiều lớp cao dần từ ngoàivào trong trông như một mê cung ở chốn cửu trùng

Những người lần đầu đến đây bất ngờ vì trước mắt là một cửa hang kháhẹp, nhấp nhô đá chắn Nhưng ngay phía sau của hang hẹp là không gian tầngtầng, lớp lớp như mê cung, thách thức sự khám phá của du khách Phù Longđộng được chia thành ba khu tương đối tách biệt, với những lớp thạch nhũbuông rủ có từ cách đây hàng triệu năm, tí tách những giọt nước rơi mát lạnh,trong vắt Sự hoang sơ là cảm nhận đầu tiên, bởi những nét đẹp của hang chưa

bị tác động nhiều của con người, cho thấy “bức tranh” tuyệt tác của tạo hóađược vẽ lên bởi nhũ đá với hình thù khác nhau bởi vậy động Phù Long là

điểm du lịch tiềm năng của xã Phù Long Cát Bà.

Động Phù Long còn là nơi lưu giữ xương cốt của người xưa, ẩn chứa bao điềuhuyền bí bởi nơi đây là địa bàn hoạt động, tá túc của hải tặc một thời.Trướccửa hang động Phù Long là khu đầm rộng giàu tiềm năng nuôi trồng hải sản,

xa xa là những trái núi xen nhau tạo thành bức bình phong nhiều lớp, khiếncho gió bão không thổi thẳng vào cửa hang Quanh động là khu rừng nguyênsinh Thảm thực vật đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loài thảo mộcquý hiếm Thú quý trên đảo tập trung ở đây khá nhiều

Trang 37

Động Phù Long là một trong những di chỉ cổ ở Cát Bà là địa điểm hết

sức lý tưởng cho nghiên cứu khảo cổ học thời tiền sử và phát triển du lịchsinh thái, nhân văn

Động Hoa Cương: Động đá hoa nằm ở dãy núi phía đông Bắc nơi ngụcủa cộng đồng dân cư xã Gia Luận , phía Bắc đảo Cát Bà , tiếp giáp với vịnh

Hạ Long , đồng thời là bến phà nối với Tuần Châu của Quảng Ninh Trênđảo Cát Bà hiện có khoảng 20 hang động lớn nhỏ trải dài từ xã Phù Long đếnđảo Cát Bà và trên những hòn đảo trong khu vực vịnh Lan Hạ Động ThiênLong ở xã Phù Long , xã ngọc trai quý kiêu hãnh có động Quân Y , xã HiềnHào có động Cây Thị , xã Gia Luận có động Hoa Cương…

Những hình khối của thạch nhũ mang dáng vẻ của những pho tượnghình người Điều đặc biệt hơn cả là tại đây , các nhà khảo cổ học đã khai quật

và phát hiện chiếc răng hoá thạch của người vượn cổ có niên đại đồ đồng thaucách hiện nay hàng chục vạn năm Sự phát hiện này là một minh chứng về sựtồn tại của người vượn cổ trên đảo Cát Bà

Mặc dù nằm cách khu dân cư không xa song động đá hoa hầu như cònnguyên vẹn chưa có sự xâm hại của con người Với vị trời , địa lý rất thuậntiện và hệ thống giao thông thuận tiện , Động đá hoa đang là một chức vị lýtưởng đối với những du khách ham thông hiểu về du lịch khảo cổ học Đặcbiệt hơn cả là tại đây các nhà khảo cổ học đã khai quật và phát hiện ra chiếcrăng hóa thạch của người vượn cổ có niên đại đồ đồng thau cách đây 10 vạnnăm Việc phát hiện răng hóa thạch của người vượn cổ trên đảo Cát Bà cùngvới một số mẫu vật hóa thạch được phát hiện nay hang Kéo Lèng tỉnh LạngSơn và các hang động ở Yên Lạc Hòa Bình là một minh chứng về sự tồn tạicủa người vượn cổ ở Việt Nam cách hiện nay hàng chục vạn năm Đây là vấn

đề đã được các nhà khoa học tranh luận hàng trăm năm nay về việc phân bổkhu vực có người vượn cổ sinh sống

Vịnh Lan Hạ: Vịnh Lan Hạ nằm ở phía Đông đảo Cát Bà, trông ra cửaVạn, liền kề vịnh Hạ Long Đây là một vùng vịnh rất êm ả hình vòng cung

Trang 38

với khoảng 400 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên một bức tranh khổng lồ khắc hoạ lạicảnh tiên Khác với Hạ Long là tất cả 400 hòn đảo lớn nhỏ ở Vịnh Lan Hạđều được phủ đầy cây xanh hay thảm thực vật, cho dù chỉ là hòn đảo bé tí nhưmột hòn non bộ Du khách tới đây có thể thử sức mình qua loại hình leo núi.

Mật độ núi đá vôi ở đây khá dầy và còn rất hoang sơ, chia cắt mặt biểnthành những áng, vịnh nhỏ Nhiều áng, vịnh, hang động chưa được khám phá

Có tới hàng trăm ngọn núi với nhiều dáng vẻ tùy theo sự tưởng tượng của dukhách như: hòn Guốc (giống như cái guốc) hòn Dơi (giống như con dơi)…Những hang động thạch nhũ, những nét chấm phá đặc trưng của quần thể HạLong cũng có mặt tại Lan Hạ, đó là hang Hàm Rồng, Dõ Cùng, hang Cả…

Khác với vịnh Hạ Long, vịnh Lan Hạ có tới 139 bãi cát vàng nhỏ nhắn,xinh xắn và hoang vắng như những “eo biển xanh” gọi mời du khách khámphá Nhiều bãi cát trải dài giữa hai núi đá, yên tĩnh không có sóng lớn, thực sự

là những bãi tắm lý tưởng Dưới làn nước trong xanh là những bãi san hônhiều mầu sắc như bãi Vạn Bội, Vạn Hà…Những vùng biển lặng nước như ởđảo Sến, đảo Cù, đảo Khỉ…, chính là nơi du khách có thể lặn ngắm san hô

2.3 Điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên nhân văn

2.3.1 Dân cư, dân tộc

Huyện đảo Cát Hải hiện có 10 xã và 2 thị trấn Ngoài cư dân bản địa,dân Cát Hải là người cộng đồng muôn phương, thạo nghề sông nước nhưThái Binh, Nam Đinh, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Dương, HưngYên, Hà Tây, Quảng Ninh… Bên cạnh cư dân gốc Việt là cơ bản, trước đâycòn có khá đông người Hoa sinh sống Họ từ mọi miền và các tỉnh ven biểncủa Trung Quốc đến định cư tại Cát Bà Sau “sự kiện người Hoa” năm 1978,hau fhết người Hoa rời đảo ra đi Để phân bố lại lực lượng trên địa bàn, đápứng kịp thời nhu cầu sản xuất và bảo vệ đảo, một bộ phận cư dân Đồ Sơn,Tiên Lãng, An Lão được bổ sung cho huyện đảo Cát Hải, nhân dân xã CaoMinh bên Cát Hải được bố trí chuyển cư hẳn sang Cát Bà, do đặc điểm địahình, nên việc phân bố dân cư của huyện không đồng đều, có nơi dân sống tập

Trang 39

trung như thị trấn Cát Bà, thị trấn Cát Hải, xã Nghĩa Lộ; có nơi dân cư sốngthưa thớt, biệt lập như Gia Luận, Việt Hải.

Dân số toàn đảo là 13.394 người (2006), tỉ lệ tăng dân số khoảng 0,7%.Dân số phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở thị trấn Cát Bà Mật độ dân cưtại thị trấn Cát Bà cũng cao hơn nhiều sơ với mật độ trung bình toàn đảo (251người/km2 )

Người dân trên đảo Cát Bà hầu hết là dân di cư từ đất liền ra sinh sốngchủ yếu bằng nghề đánh cá, nuôi trồng thủy hải sản, chăn nuôi trồng trọt vàkinh doanh dịch vụ Hiện tại thành phần dân cư trên đảo khá đa dạng do cáccuộc di dân, do di cư nơi khác đến làm ăn, buôn bán, đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng phục vụ du lịch Ngoài ra tại Cát Bà luôn có mốt số lượng nhất địnhngư dân từ miền Trung (Quảng Ngãi, Thanh Hóa,…) neo đậu trong nhữngchuyến đi biển dài ngày Điều đó tạo nên sự sôi động của đời sống trên hònđảo du lịch này

Lao động: Tổng số lao động của thị trấn Cá Bà là 4.582 người (2006),chiếm 52,2% số lao động toàn huyện, trong đó lao động nam giới chiếm 51%,lao động, nữ giới chiếm 49% lao động trong tổng số lao động toàn thị trấn.Hiện nay lực lượng lao động trong ngành du lịch chiếm khoảng 35% Đây làmột con số khá lớn so với tổng lao động trên đảo Việc đưa du lịch trekking sẽđưa nền kinh tế địa phương phát triển hơn nếu lao động được sử dụng hợp lý.Lao động nữ có thể khai thác các hoạt động sản xuất hàng thủ công mĩ nghệ,bán hàng,… còn lao động nam có thể tham gia vào hoạt động hướng dẫn viên,người dẫn đường, người khuân vác cho khách trong các chuyến trekking

Trang 40

2.3.2 Tài nguyên nhân văn

Hấp dẫn khách du lịch không chỉ bởi thiên nhiên hoang sơ, sơn thủyhữu tình, Cát Bà còn là nơi mang những giá trị về văn hóa, lịch sử, thể hiệnqua các di tích lịch sử và truyền thống văn hóa…của người xưa còn được lưugiữ lại đến ngày hôm nay

Người ta tìm thấy ở đây 42 di tích lưu tồn và chứa các di vật thời tiền

sử, phân bố rải rác trên đảo, rất phù hợp cho du lịch nghiên cứu, khảo sát như:Cụm di tích Áng Mả ( xã Hiền Hào), cụm di tích Bờ Đa – Áng Sây ( xã GiaLuận), cụm di tích Eo Bùa ( vườn Quốc Gia Cát Bà)…

Di chỉ mộ táng, một nét văn hóa rất độc đáo của người xưa, cũng xuấthiện trong các hang động của Cát Bà, chắc hẳn sẽ mang đến cho du kháchnhững bất ngờ thú vị Điển hình là hang Khẩu Quy ( Thiên Long), hay ÁngGiữa ( xã Việt Hải)…có các di cốt mang đặc điểm của người Australo –Melanesian

Ở Cát Bà hiện nay còn lưu giữ được nhiều công trình độc đáo như đềnthờ “ Các Bà”, đền thờ “ Các Ông” gắn liền với truyền thuyết “ Bảy ngày babão”, tên gọi các đảo: đảo “ Các Bà”, đảo “ Các Ông” gắn liền với truyềnthuyết về chống giặc ngoại xâm phương Bắc của dân tộc ta thời kì đầu dựngnước Ngoài ra còn có di tích công trình thành cổ thời nhà Mạc ở xã XuânĐán

Các lễ hội còn lưu lại đến ngày nay như hội bơi chải, hội đua thuyềnrồng, đua thuyền thúng, lễ thủy thần, lễ hội nghề cá…là những tài nguyên dulịch nhân văn hết sức hấp dẫn khách du lịch Sẽ tuyệt vời biết bao nếu bạn đếnvới Cát Bà không chỉ để đắm say trong cảnh vật, đất trời, mà còn được cùngvới người dân nơi đây, hòa mình vào không khí lễ hội, đậm đà hương vị biển cả

Một điều đặc sắc nữa, không thể không kể đến là ẩm thực Cát Bà Nơiđây có nhiều món ăn đặc sản như: gỏi cá thác, cá song, canh chua cá hồng, cá

bò, tu hài…Cá song là loại cá có hàm lượng dinh dưỡng cao, trong khi tu hàirất thơm ngon, có thể hấp tu hài với bia hoặc rán với hành khô xắt lát mỏng

Ngày đăng: 25/06/2016, 16:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng tại đảo Cát Bà - Nghiên cứu hoạt động du lịch trekking tại cát bà – hải phòng theo quan điểm du lịch sinh thái
Bảng 2.2 Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng tại đảo Cát Bà (Trang 28)
Hình 2.3. Cơ cấu lao động trực tiếp và gián tiếp  trong ngành du lịch Hải Phòng năm 2015 - Nghiên cứu hoạt động du lịch trekking tại cát bà – hải phòng theo quan điểm du lịch sinh thái
Hình 2.3. Cơ cấu lao động trực tiếp và gián tiếp trong ngành du lịch Hải Phòng năm 2015 (Trang 46)
Bảng 2.7. Trình độ nhân lực du lịch qua đào tạo - Nghiên cứu hoạt động du lịch trekking tại cát bà – hải phòng theo quan điểm du lịch sinh thái
Bảng 2.7. Trình độ nhân lực du lịch qua đào tạo (Trang 47)
Bảng 2.10: Lượng khách du lịch đến Cát Bà giai đoạn 2010 - 2015 - Nghiên cứu hoạt động du lịch trekking tại cát bà – hải phòng theo quan điểm du lịch sinh thái
Bảng 2.10 Lượng khách du lịch đến Cát Bà giai đoạn 2010 - 2015 (Trang 54)
Bảng 3.1. Mục tiêu phát triển du lịch Hải Phòng đến năm 2020 - Nghiên cứu hoạt động du lịch trekking tại cát bà – hải phòng theo quan điểm du lịch sinh thái
Bảng 3.1. Mục tiêu phát triển du lịch Hải Phòng đến năm 2020 (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w