Trần Anh Tuấn: "Giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có sai lầm của Toà án khi nhận định về những tình t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NINH THỊ KHÁNH TÂN
GI¸M §èC THÈM, T¸I THÈM TRONG GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP §ÊT §AI T¹I TßA ¸N
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NINH THỊ KHÁNH TÂN
GI¸M §èC THÈM, T¸I THÈM TRONG GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP §ÊT §AI T¹I TßA ¸N
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Ninh Thị Khánh Tân
Trang 4THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 7 1
Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự 7 Sự cần
thiết của thủ tục giám đốc thẩm, tái tẩm 7 Khái niệm giám đốc thẩm dân sự 9 Khái niệm tái thẩm dân sự 13 Tính chất, đặc điểm
của giám đốc thẩm và tái thẩm dân sự 18 Vai trò, chức năng và ý
nghĩa của giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự 21 Vai trò, chức năng của giám
đốc thẩm, tái thẩm dân sự 21 Ý nghĩa của giám đốc thẩm, tái
thẩm dân sự 21 Quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự về giám đốc thẩm, tái thẩm 25
Những điểm mới về giám đốc thẩm, tái thẩm của Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự .25 Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về giám đốc thẩm, tái thẩm 27
Chương 2: THỰC TIỄN GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM CÁC BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP
LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 50 2.1.
2.2
2.3
Các tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân 50 Kết quả giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai 53 Những vi phạm, sai lầm trong giám đốc thẩm, tái thẩm các bản
Trang 5Chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong giải quyết
tranh chấp đất đai chưa được đảm bảo 62 Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm còn chưa thực sự được Tòa án cấp
dưới tôn trọng và tồn tại tình trạng xét xử nhiều lần không có
điểm dừng 65
Nguyên nhân của những vi phạm, sai lầm trong giám đốc thẩm,
tái thẩm trong giải quyết tranh chấp đất đai 73
Quy định pháp luật tố tụng chưa đầy đủ và cụ thể 73 Quy định của pháp luật về đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai chưa
đồng bộ, cụ thể 79 Trách nhiệm và trình độ của những người có thẩm quyền giám đốc
thẩm, tái thẩm 79 Công tác tổng hợp, ra văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp
luật chưa được thường xuyên, kịp thời 80
Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN 81 3.1
giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án 82
Hoàn thiện quy định về việc xử lý đơn thư, khiếu nại 82 Hoàn thiện quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 83 Hoàn thiện quy định về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 86
Hoàn thiện quy định về thẩm quyền và quyền hạn xét xử giám đốc
thẩm, tái thẩm 87 Hoàn thiện quy định về rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm,
tái thẩm 88 Tăng cường công tác giám đốc việc xét xử và xây dựng án lệ 89 Tăng cường năng lực cho những người làm công tác giám đốc xét xử 89
Thường xuyên tổ chức các chương trình trao đổi nghiệp vụ, giải đáp các vướng mắc trong quá trình giải quyết các loại án, đặc biệt là án
tranh chấp về đất đai 90
Trang 63.2.9 Nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân về giám đốc thẩm, tái
thẩm, nâng cao kiến thức pháp luật trong nhân dân 90 3.2.10 Giải pháp khác 91
KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC 99
Trang 7Hội đồng xét xử PLTTGQCVADS: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự QSDD:
Tố tụng dân sự Thạc sĩ
Ủy ban nhân dân Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, DANH MỤC BẢNG PHỤ LỤC
Bảng 2.1: Tình hình giải quyết, thụ lý đơn khiếu nại giám đốc
thẩm, tái thẩm của TAND
Bảng 2.2: Tình hình giải quyết, thụ lý đơn khiếu nại giám đốc
thẩm, tái thẩm của Tòa dân sự TANDTC
Số hiệu bảng Tên bảng phụ lục Trang
Bảng 1.1: Điểm mới trong BLTTDS về thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm so với PLTTGQCVADS 100
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ PHỤ LỤC
Số hiệu biểu đồ Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 2.1: Số liệu giải quyết Giám đốc thẩm các loại vụ án của
ngành Tòa án qua các năm 102
Biểu đồ 2.2: số liệu giải quyết Giám đốc thẩm các vụ án Dân sự của
ngành Tòa án qua các năm 103
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) được ban hành năm 2004, sau hơn 7 năm thi hành đã thể hiện một số bất cập, mâu thuẫn gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/3/2011, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS Với mục đích tối thượng là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự,với hệ thống những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng: trình tự, thủ tục khởi kiện,xét xử, sự tham gia tố tụng dân sự của các chủ thể được BLTTDS quy định nhằm mục đích giải quyết các tranh chấp dân sự được chính xác, công bằng và đúng pháp luật Tòa
án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử trong hệ thống các cơ quan tư pháp ở nước ta Các tranh chấp dân sự hằng năm ngành Tòa án phải thụ lý giải quyết vô cùng lớn, trong
đó tranh chấp về đất đai là một mảng quan trọng, là một trong những loại tranh chấp phổbiến, phức tạp nhất
Đất đai là một loại tài nguyên đặc biệt, có giá trị lớn, cùng với sự phát triển của xã hội và kinh tế, đất đai ngày càng chứng minh ý nghĩa quan trọng đối với con người, giá đất ngày một đắt đỏ, thị trường bất động sản ngày một nóng, quyền sử dụng đất trở thànhmột loại tài sản có giá trị lớn, có thể đưa vào góp vốn đầu tư kinh doanh Tranh chấp đất đaicũng vì thế mà diễn ra ngày một nhiều, gay gắt hơn và là đề tài nóng bỏng tại nhiều địa phương trong cả nước, các đương sự trong tranh chấp thường khiếu kiện quyết liệt, gay gắt, kéo dài Có thể liệt kê rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai như: Việc quản lý đất đai còn nhiều thiếu sót, sơ hở; việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tiến hành chậm; việc lấn chiếm đất đai diễn ra ngày càng phổ biến nhưng không được ngăn chặn và xử lý kịp thời; đất đai từ chỗ chưa được thừa nhận có giá trị nay trở thành tài sản có giá trị cao, thậm chí ở nhiều nơi, nhiều lúc giá đất tăng đột biến
Nhà nước ta đã quy định nhiều phương thức giải quyết thuộc thẩm quyền của các
cơ quan khác nhau, trong đó, Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan giải quyết
Trang 11tranh chấp đất đai với những cơ chế hữu hiệu và trình tự tố tụng riêng biệt Trong những năm qua, ngành Tòa án đã thụ lý và giải quyết rất nhiều các vụ tranh chấp đất đai, nhìn chung Tòa án đã, đang và luôn cố gắng giải quyết tốt nhất, đúng đắn nhất các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật Tuy nhiên hoạt động xét xử là hoạt động của con người cụ thể nên không thể tránh khỏi sai sót, hơn nữa trải qua nhiều giai đoạn lịch
sử khác nhau, trong quá trình đổi mới về kinh tế, những vấn đề cũ chưa giải quyết xong thì vấn đề mới lại nảy sinh đan xen lẫn nhau, tạo ra những mâu thuẫn nội tại Các văn bản pháp luật hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về đất đai ở từng thời kỳ lịch sử khá nhiều và cũng khác nhau; nhiều quy định chỉ nêu chung chung, nhiều quy định lại chồng chéo không nhất quán, việc giải thích và hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền chưa đầy đủ, kịp thời Vì những nguyên nhân đó, dẫn đến hiện trạng là có những phán quyết của Tòa án không đúng với sự thật khách quan hoặc trái pháp luật Do vậy, cần có một cơchế xét lại các bản án, quyết định đó của Tòa án để đảm bảo tính hợp pháp, tính đúng đắn trong các bản án, quyết định cũng như đảm bảo cho hoạt động của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật Thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong tố tụng dân sự ra đời nhằm khắc phục những sai lầm, thiếu sót đó trong quá trình xử lý vụ án dân
sự nói chung và các tranh chấp đất đai nói riêng Thủ tục này được thực hiện trên cơ sở một trong những nguyên tắc tố tụng cơ bản, đó là nguyên tắc Toà án cấp trên giám đốc việc xét xử của Toà án cấp dưới, Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án các cấp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất [24]
Trong thực tiễn thi hành BLTTDS cũng như thực hiện thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm của Tòa án đã có tiến bộ, ngày càng chứng minh vai trò quan trọng trong các hoạt động tố tụng của tòa án, tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chất lượng xét xử các vụ án dân sự nói chung và các vụ án về tranh chấp đất đai nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việc áp dụng các quy định pháp luật
về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án và một số quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế như: vấn đề khiếu nại, phát hiện bản
án, quyết định đã có hiệu lực mà có sai sót; thẩm
Trang 12quyền giám đốc thẩm, tái thẩm; quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm
Chính những quy định chưa rõ ràng và đầy đủ trong BLTTDS đã gây ra những vướng mắc và giảm hiệu quả công tác xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của ngành Toà
án Do vậy, cần phải hoàn thiện các quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án, đảm bảo mọi phán quyết đều đúng pháp luật, khách quan, công bằng, đảm bảo cho lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhân dân
Trước thực trạng và yêu cầu như trên, tác giả chọn đề tài: "Giám đốc thẩm, tái
thẩm trong giải quyết tranh chấp đất đại tại tòa án" làm luận văn thạc sĩ luật học của
mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm
như: Luận văn Thạc sĩ luật học của Ngô Anh Dũng về đề tài "Thủ tục xét lại bản án,
quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam"
(năm 1996) Luận văn Thạc sĩ luật học của Dương Thị Thanh Mai về "Những vấn đề về trình
tự và thủ tục giám đốc thẩm dân sự" (năm 1997) Đề tài khoa học cấp bộ của Viện khoa
học kiểm sát- Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân
sự Việt Nam" (năm 2003) do Tiến sĩ Trần Văn Trung làm chủ nhiệm đề tài Sách
chuyên khảo của Dương Thị Thanh Mai về "Tìm hiểu các quy định của pháp luật về
thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2000) Nội
dung nghiên cứu của các luận văn và các công trình nói trên bị giới hạn của phạm vi pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) do vào thời điểm đó
BLTTDS chưa được ban hành Luận án Tiến sĩ luật học của Đào Xuân Tiến "Thủ tục
xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam"(năm 2009) Luận án Tiến sĩ luật học của Mai Ngọc Dương, "Giám đốc thẩm dân sự- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (năm 2010)
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạp chí củacác tác giả như: Nguyễn Quang Lộc, Nguyễn Quang Tiến, Trần Anh Tuấn,
Trang 13Đinh Văn Quế được đăng trên các tạp chí Toà
án nhân dân, tạp chí Nhà nước và
pháp luật, tạp chí Luật học
Tuy nhiên, các công trình, bài viết nói trên chưa đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể mà chủ yếu chỉ đưa vào một số kiến nghị mang tính tổ chức, thủ tục đối với công tác giám đốc trong tái thẩm dân sự nói chung Chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về giám đốc thẩm, tái thẩm trong giải quyết tranh chấp đất đai Do vậy trong luận văn này học viên sẽ đi sâu phân tích thực trạng cũng như nguyên nhân của khó khănvướng mắc khi tiến hành hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như nâng cao chất lượng giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệulực pháp luật về tranh chấp đất đai
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Luận văn góp phần vào việc làm rõ trọng tâm những vấn đề cơ bản về giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự và giám đốc thẩm, tái thẩm trong giải quyết tranh chấp đất đai Từ đó luận văn sẽ nêu một số yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng giám đốc thẩm, tái thẩm nói chung và trong tranh chấp đất đai nói riêng
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn bao gồm:
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận về giám đốc thẩm, tái thẩm trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân
- Phân tích thực tiễn việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục các vấn đề còn tồn tại và nâng cao chất lượng giải quyết các tranh chấp đất đai theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định trong
BLTTDS của nước ta Trong đó, tập trung nghiên cứu quy trình thủ tục giám đốc
Trang 14thẩm, tái thẩm và làm nổi bật tính chất đặc biệt của thủ tục này so với các thủ tục
xét xử sơ thẩm, phúc thẩm
Đồng thời, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án có hiệu lực pháp luật cósai lầm, có tình tiết mới và bị kháng nghị
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận, luận văn đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự có liên quan đến giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân theo chuyên ngành Luật Kinh tế
Trên cơ sở quy định của pháp luật thực định về tố tụng dân sự, tác giả tập trung nghiên cứu về các vấn đề thuộc phạm vi thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân
sự được quy định tại Phần thứ tư của BLTTDS và thực tiễn thi hành từ năm 2010 đến năm
2014
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp Bằng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, kết hợp với khảo sát thực tiễn trong quá trình công tác tư pháp trong tố tụng dân sự và giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án để hoàn thành luận văn
6 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn đã góp phần làm rõ bản chất của giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng dân sự, trong đó có các vấn đề như: khái niệm, đặc điểm pháp lý, ý nghĩa pháp lý Trong luận văn, đã đưa ra khái niệm mới về giám đốc thẩm dân sự, tái thẩm dân sự Luận văn cũng giúp người đọc hình dung được thực tiễn công tác giám đốc thẩm, tái thẩm trong giải quyết tranh chấp đất đai của ngành Toà án trong những năm qua, những mặt còn tồn tại, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm
n â n g ca o c h ấ t lư ợ n g cô n g t ác gi á m đ ốc t h ẩm, t á i t h ẩ m
Trang 157 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Thực tiễn giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực trong giải quyết tranh chấp đất đai
Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng giám đốc thẩm, tái thẩm trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án
Trang 166
Trang 17Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự
1.1.1 Sự cần thiết của thủ tục giám đốc thẩm, tái tẩm
Trong hệ thống chính trị, chỉ Toà án có chức năng xét xử và thực hiện quyền
tư pháp Khi thực hiện chức trách của mình, nhiệm vụ hàng đầu của Tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN, thực hiện quyền tư pháp; TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [36]
Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử, nơi biểu hiện tập trung nhất của quyền lực tư pháp, nhân danh quyền lực Nhà nước xem xét một cách công khai, đầy đủ, khách quan và toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình tố tụng cũng như kết quả của các hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa thông qua các thủ tục tố tụng luật định để đưa ra những phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành
vi pháp luật hay đưa ra quyết định pháp luật khi có sự tranh
chấp và mâu thuẫn giữa các bên có quyền lợi ích đối lập nhau [62, tr.264]
Khi hiện chức năng của mình, hoạt động xét xử Tòa án phải tuân theo những quy định của pháp luật cả về luật nội dung và luật tố tụng để đưa ra những phán quyết vô
tư, khách quan, công minh và đúng pháp luật Các phán quyết đó của Tòa án được thể hiện trong các bản án và quyết định của Tòa án Các bản án và quyết định này được Toà án tuyên nhân danh Nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước, thể hiện trực tiếp thái độ của Nhà nước đối với vụ án, quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của công dân và những chủ thể khác
Bản án, quyết định của Tòa án luôn phải đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn
cứ Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có những bản án được tuyên nhưng không
Trang 18đúng với bản chất sự việc, không đúng pháp luật vì nhiều nguyên nhân khác nhau;
do vậy, việc xem xét lại các bản án, quyết định đó là điều cần thiết Để đảm bảo tính chính xác trong hoạt động xét xử, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định trật tự xã hội, nước ta cũng như các nước Châu Âu lục địa mà điển hình là Pháp theo mô hình tố tụng thẩm xét đã đặt ra nguyên tắc đặc trưng là nguyên tắc hai cấp xét xử [6] Theo nguyên tắc này, bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và chưa được đưa ra thi hành thì các bên đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm Toà án cấp trên có thẩm quyền phúc thẩm vụ án sẽ xét xử cả về tố tụng và nội dung vụ án đồng thời xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm đảm bảo cho quyết định của Tòa
án đúng pháp luật, khắc phục được những sai lầm trong xét xử sơ thẩm Tuy nhiên, thựctiễn xét xử cho thấy, không phải tất cả các bản án, quyết định của Tòa án dù đã qua hai cấp xét xử đều đảm bảo công bằng, đúng pháp luật, đúng với thực tế khách quan Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng không đúng với bản chất sự việc cũng như pháp luật nếu đem ra thi hành sẽ không đảm bảo quyền, lợi ích đúng đắncho đương sự Do đó, pháp luật đã đặt ra chế định giám đốc thẩm và tái thẩm chính là
để xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng không đúng bản chất cũng như không đúng pháp luật, đây chính là một trong những giải pháp pháp luật nhằm đảm bảo
tính hợp pháp và tính khả thi của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Để cho chắc chắn hơn trong việc áp dụng pháp luật, nhiều quốc gia đặt thêm một tòa án ở trên Tòa thượng thẩm để xét lại việc áp dụng pháp luậtcủa Tòa án cấp dưới Tòa này sẽ xem xét và quyết định bản án của Tòa án cấp dưới đã xử đúng hay sai; nếu sai thì Tòa giám đốc tuyên hủy án đã xử vàcho xử lại và nếu đúng thì y án Chính vì vậy mà Tòa giám đốc thẩm còn được gọi là Tòa phá án Nhờ thẩm quyền giám đốc thẩm, Tòa phá án duy trìđược sự áp dụng pháp luật thống nhất trong
toàn quốc [9, tr.269]
Ở Việt Nam, thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Trang 19Tòa án lần đầu được quy định trong Luật tổ chức TAND năm 1960, được gọi là thủ
tục giám đốc thẩm và chỉ có Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) mới có thẩm quyền giám đốc thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp Kể
từ khi Luật tổ chức TAND năm 1981 được ban hành đến nay, thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được tách thành hai thủ tục giám đốc thẩm dân sự và tái thẩm dân sự Mặt khác, ngoài TANDTC thì các Tòa án cấp tỉnh cũng có thẩm quyền giám đốc thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị Hiện nay, Luật tổ chức TAND năm 2014 có quy định thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm cho TAND cấp cao và
TANDTC, bỏ thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND cấp tỉnh [63, tr.302]
Tranh chấp đất đai xuất hiện trong những tranh chấp dân sự được Bộ luật Tố tụng dân sự và tranh chấp trong lĩnh vực hành chính như các tranh chấp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng được Luật Tố tụng hành chính điều chỉnh Theo đó, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm về tranh chấp đất đaiđược áp dụng trong cả hai lĩnh vực nói trên Tuy nhiên trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm về những tranh chấp đất đai do Bộluật Tố tụng dân sự điều chỉnh
Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm về tranh chấp đất đai được áp dụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chínhng dân sự được quy định cụ thể tại
Chương XVIII, XIX của BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
1.1.2 Khái niệm giám đốc thẩm dân sự
Từ góc độ ngôn ngữ học, có nhiều quan niệm về "giám đốc thẩm": theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học không có cụm từ "giám đốc thẩm" mà chỉ giải nghĩa từ "giám đốc" là "đôn đốc và giám sát" và "thẩm" là "xét kỹ" [71] Theo Từ điển Pháp - Việt danh từ "cassation" có nghĩa là "sự phá án" [69]; còn từ điển Anh - Việt lại giải nghĩa danh từ "cassation" có nghĩa là "sự huỷ bỏ" [70]
Từ góc độ khoa học pháp lý, tại Việt Nam qua các thời kỳ cũng có nhiều
quan niệm khác nhau về giám đốc thẩm:
Theo đó, quan điểm thứ nhất được thể hiện trong cuốn Thuật ngữ pháp lý
Trang 20phổ thông xuất bản năm 1987: "Giám đốc
thẩm dân sự là một giai đoạn tố tụng có
mục đích kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật" [17, tr.88] Theo quan điểm này có thể hiểu rằng, giám đốc thẩm
cũng là một giai đoạn tố tụng chứ không thể hiện là giai đoạn tố tụng đặc biệt Việc bản
án, quyết định của Tòa án như thế nào mới bị kiểm tra, xem xét không được đề cập đến
Quan điểm thứ hai được nêu trong cuốn Từ điển luật học do Nhà xuất bản Từ điển
bách khoa phát hành năm 1999 "giám đốc thẩm" được hiểu là: "Xét lại bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lí vụ án" [60, tr.172] Quan điểm này không nêu rõ giám đốc thẩm là một
giai đoạn tố tụng và chỉ nhận định căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm là có vi phạm pháp luật mà không cho rằng những sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án cũng là căn
cứ kháng nghị
Quan điểm thứ ba là của Ts Trần Anh Tuấn: "Giám đốc thẩm là việc xét lại bản
án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có sai lầm của Toà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ án hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án" [64] Quan điểm này cho rằng, căn
cứ của kháng nghị giám đốc thẩm là có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án và những sai lầm của Toà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của
vụ án
Quan điểm thứ tư: "Thủ tục giám đốc thẩm là một trình tự đặc biệt của tố tụng
tư pháp nhằm xét lại những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có vi phạm ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án" [18]
Quan điểm này cho rằng giám đốc thẩm như là một trình tự của tố tụng tư pháp và căn
cứ của giám đốc thẩm là kháng nghị của những người có thẩm quyền Tuy nhiên, ở một
số nước trên thế giới như Cộng hòa Pháp, Nhật Bản hay Trung Quốc cho rằng việc kháng nghị chỉ là mặt hình thức, thủ tục mà họ quy định kháng cáo của các đương sự mới
là căn cứ để phát sinh thủ tục giám đốc thẩm [22]
Quan điểm thứ năm: Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của
Trang 21trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái
niệm: "Giám đốc thẩm dân sự là việc
xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án bị kháng nghị do phát hiện
có sai lầm, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án" [61, tr.333] Theo khái
niệm này thì đối tượng của việc xét lại theo trình tự giám đốc thẩm là bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mà phát hiện có sai lầm hoặc là có vi phạm pháp luật thì vụ án cần được xem xét lại để bảo đảm việc xử lý vụ án được chính xác Khái niệm này không chỉ ra sai lầm và vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án ở mức
độ nào, nghiêm trọng đến mức nào mới xem xét lại hay bất kì bản án, quyết định nào củaTòa án có vi phạm và sai lầm dù chỉ là lỗi nhẹ, không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết
vụ án vẫn là đối tượng của giám đốc thẩm
Các khái niệm trên chưa thể hiện một cách chính xác và đầy đủ nhất về giám đốc thẩm, các khái niệm khác nhau về góc độ tiếp cận vấn đề, phạm vi khái niệm, tính khoa học và sự phù hợp với thực tiễn cũng khác nhau Tuy nhiên, một số điểm cơ bản của vấn đề thì vẫn giống nhau như xác định giám đốc thẩm là thủ tục có tính chất đặc biệt, đó
là việc xem xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ trong các bản án và quyết định đó
Qua quá trình nghiên cứu, theo quan điểm của tác giả, khái niệm giám đốc thẩmcần được hiểu như quan điểm được nêu trong Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Đại
học Quốc gia Hà Nội: "Giám đốc thẩm dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt mà Toà án có
thẩm quyền xét lại những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị người
có thẩm quyền kháng nghị vì có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ việc dân sự nhằm đảm bảo pháp luật được áp dụng đúng đắn và thống nhất" [63, tr.298].
Từ khái niệm này, có một số vấn đề sau đây về giám đốc thẩm cần được xem xét:
Thứ nhất là: đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm
Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm không xem xét những vấn đề về nội dung vụ án, cũng như không xem xét những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật vì đối tượng và những nội dung đó sẽ được xem xét trong giai đoạn xét xử
Trang 22sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, mà chỉ xét vi phạm nghiêm trọng có trong bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật Do đó, đối tượng giám đốc thẩm dân sự là bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án Đó là các bản án, quyết định mà theo đánh giá của người có thẩm quyền kháng nghị phải có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trongquá trình giải quyết
Thứ hai là: mục đích của giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là một hình thức kiểm tra, giám đốc xét xử đặc biệt của Toà
án Giám đốc thẩm được đặt ra với mục đích đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của các bản án, quyết định của Toà án, đảm bảo pháp chế trong hoạt động xét xử, đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự
Thứ ba là: cơ sở làm phát sinh giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự (TTDS)
Việt Nam
Theo Luật TTDS Việt Nam thì kháng nghị giám đốc thẩm dân sự là cơ sở pháp
lý để Tòa án có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm Chỉ có kháng nghị của những người
có thẩm quyền mới làm phát sinh giám đốc thẩm còn kháng cáo của đương sự thì không phải là căn cứ để phát sinh thủ tục giám đốc thẩm, đây cũng là quan điểm phổ biến ở nước ta, nhưng tại hầu hết các nước coi đơn kháng cáo hợp lệ của đương sự chính
là cơ sở để xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm và là nguồn chủ yếu của thủ tục giám đốc thẩm
Thứ tư là: thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm
Để tránh việc kháng cáo, kháng nghị tràn lan làm mất đi tính ổn định của bản
án, quyết định của Tòa án, tránh đình trệ việc thi hành những bản án, quyết định đã được áp dụng pháp luật đúng và phù hợp với bản chất sự việc thì không phải ai cũng cóquyền kháng nghị giám đốc thẩm Chỉ có những người có thẩm quyền do pháp luật quy định mới có quyền kháng nghị nhằm đảm bảo công tác kiểm tra, giám sát của ngành Toà
án, mặt khác cũng tránh việc đương sự lạm dụng quyền của mình gây tình trạng án kéo dài không cần thiết
Thứ năm là: thẩm quyền giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là cơ chế tự kiểm tra của ngành tư pháp, là một thủ tục tố
Trang 23tụng đặc biệt, việc xem xét lại không phải ai,cấp nào cũng thực hiện được Thẩm
quyền giám đốc thẩm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thuộc về Tòa án mà ở đó thể hiện tính quyền lực tối cao của Toà án cấp cao trong việc giám đốc hoạt động xét xử
Thứ sáu là: thủ tục giải quyết
Đối tượng của giám đốc thẩm là các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, chính là các bản án đã qua nhiều cấp xét xử nên pháp luật không quy định xét xử lại vụ án về nội dung mà chỉ xem xét tính hợp pháp của bản án và quyết định
đó nên Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm chỉ tiến hành xem xét việc áp dụng pháp luật của Toà án đã giải quyết vụ án trên cơ sở hồ sơ vụ án Do đó, một số nguyên tắc cơ bản của TTDS như: nguyên tắc xét xử công khai, quyền quyết định, tự định đoạt của đương sự không được áp dụng trong hoạt động giám đốc thẩm Vì vậy, hoạt động này
là một thủ tục tố tụng độc lập có nguyên tắc cũng như quy trình độc lập Và nó cũng không mang tính hành chính như hoạt động giám đốc, kiểm tra khác
Như vậy, thủ tục giám đốc thẩm chính là hoạt động "xét" lại bản án, quyết định chứ không phải hoạt động "xử"một vụ án của Tòa án Đối tượng của hoạt động này chính
là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng có kháng nghị của người có thẩm quyền, quyết định kháng nghị đó là một văn bản pháp lý làm phát sinh trình tự xét xử đặc biệt chính là thủ tục giám đốc thẩm
1.1.3 Khái niệm tái thẩm dân sự
Tái thẩm là thủ tục tố tụng xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi
cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà trước đó Tòa án và các đương sự đã không biết được Thực chất, tái thẩm là xem xét, quyết định để đưa một vụ án xét xử sơ thẩm lại
từ đầu
Thực tế có nhiều trường hợp sau khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện ra những tình tiết quan trọng đối với việc quyết định vụ án có thể làm thay đổi cơ bản nội dung cũng như quyết định vụ án nhưng lúc trước đó cả Tòa
Trang 24án và đương sự đều không biết đến Những tình tiết đó chứng minh việc ra bản án
và quyết định của Tòa án không đúng với bản chất vốn có của sự việc, do đó việc xem xét lại là cần thiết Thủ tục xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong trường hợp này chính là thủ tục tái thẩm
Theo Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2000 thì "Tái thẩm là xét lại một bản án đã
xử" [23] Theo đó ta có thể hiểu, tái thẩm là một hoạt động của Tòa án, hoạt động xét lại
một bản án đã xử Tuy nhiên, thủ tục phúc thẩm xử và thủ tục giám đốc thẩm cũng là việc xét lại một bản án đã xử Do vậy, khái niệm như trên chưa thực sự chính xác, không thểhiện đúng bản chất cũng như nội hàm của khái niệm "thủ
tục tái thẩm" trong TTDS
Trong cuốn từ điển luật học của tập thể tác giả do Nhà xuất bản Từ điển Bách
khoa phát hành năm 1999 cho rằng: "Tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có
hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó" [60, tr.446] Khái niệm này không đưa ra được quan
điểm của tác giả về việc xác định thủ tục tái thẩm là một giai đoạn tố tụng hay một thủ tục tố tụng đặc biệt
Giáo trình Luật TTDS Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái
niệm: "Tái thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà
án bị kháng nghị do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà Tòa án và các đương sự đã không biết được khi Toà án giải quyết vụ án" [61, tr.352] Khái niệm này cho
rằng đối tượng của việc xét lại theo thủ tục tái thẩm là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà mới phát hiện được những tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với việc giảiquyết vụ án nhưng đương sự và Toà án đã không thể biết trong khi Tòa án giải quyết vụ
án Tuy nhiên, khái niệm đã không đưa ra mức độ ảnh hưởng như thế nào của tình tiết mới được phát hiện đó sẽ là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.Tình tiết mới được phát hiện nhưng không ảnh hưởng lớn đến quyết định hay bản án đã có thì có coi là căn cứ kháng nghị tái thẩm hay không Những tình tiết của vụ án mà trước đó các đương sự và Toà án đã không biết được
Trang 25và làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định sẽ làm bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Toà án trở nên không phù hợp với thực tế khách quan của
vụ án, không đúng đắn
Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà
Nội thì lại cho rằng: "Tái thẩm dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt mà Tòa án có thẩm
quyền xét lại những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị do mới phát hiện được tình tiết mới quan trọng của vụ án mà Tòa án và những người tham gia tố tụng đã không biết khi Tòa án giải quyết vụ án" [63, tr.303] Có lẽ đây là khái niệm
thể hiện đúng bản chất và mang đầy đủ nội hàm của thủ tục tái thẩm nhất Theo đó, đây là một thủ tục tố tụng đặc biệt và cũng xác định rõ căn cứ của thủ tục tái thẩm là kháng nghị của những người có thẩm quyền khi phát hiện ra tình tiết mới quan trọng có thể làm thay đổi nội dung cũng như quyết định của bản án mà trước đó Tòa án và những người tham gia tố tụng không biết
Trong BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011), quy định tính chất của tái
thẩm, đồng thời cũng chính là khái niệm pháp lý về tái thẩm: Tái thẩm là xét lại bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó" [34, Điều 304]
Thủ tục tái thẩm có một số vấn đề cần được xem xét để làm rõ bản chất và những điểm đó cũng chính là những dấu hiệu đặc trưng của tái thẩm:
Thứ nhất là: đối tượng kháng nghị tái thẩm:
Cũng như giám đốc thẩm, đối tượng của tái thẩm chính là những bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Những bản án, quyết định dân sự chưa
có hiệu lực pháp luật thì không phải là đối tượng của tái thẩm Đây là điểm khác biệt giữa thủ tục tái thẩm với thủ tục phúc thẩm Tại giai đoạn phúc thẩm, những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, trong thời gian kháng cáo, kháng nghị sau khi phát hiện có tình tiết mới quan trọng có thể làm thay đổi nội dung vụ án và được đương
sự trong vụ án kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) kháng nghị thì bản án, quyết định ấy sẽ được Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm xem xét theo thủ tục phúc thẩm
Trang 26hứ hai là: căn cứ kháng nghị tái thẩm
Căn cứ kháng nghị tái thẩm là những tình tiết mới quan trọng làm thay đổi nội dung vụ án mà tại thời điểm giải quyết cả đương sự và Toà án đều không biết nhưng sau đó đã phát hiện được Đó là những sai lầm trong quá trình xử lý vụ án, sai lầm trong quá trình chứng minh xác định sự thật của vụ án, do nguyên nhân khách quan đã dẫn đến những sai lầm đó làm ảnh hưởng đến việc nhận thức của những người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
Thứ ba là: thời hạn kháng nghị
Căn cứ kháng nghị tái thẩm là phát hiện được những tình tiết mới quan trọng
làm thay đổi nội dung vụ án mà tại thời điểm giải quyết cả đương sự và Toà án đều không biết được nên thời hạn kháng nghị không căn cứ vào ngày quyết định, bản án có hiệulực pháp luật mà lấy mốc là ngày căn cứ kháng nghị tái thẩm phát sinh, có nghĩa là bất cứkhi nào phát hiện tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án đều có thể kháng nghị tái thẩm
Cùng là thủ tục tố tụng đặc biệt giám đốc thẩm và tái thẩm có mối liên hệ mật thiết với nhau Cả hai đều là thủ tục nhằm xét lại bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án, bị kháng nghị theo quy định của pháp luật Mục đích của cả hai thủ tục này đều nhằm xem xét, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án để khắc phục sai lầm của các bản án, quyết định
do lỗi chủ quan hay khách quan của những người tiến hành tố tụng và của những ngườitham gia tố tụng đảm bảo cho vụ án đúng pháp luật và đúng sự thật khách quan, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự Theo pháp luật TTDS Việt Nam, căn
cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm và căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ khác nhau về việc đánh giá các căn cứ phát sinh chủ quan hay khách quan nhưng đều là nguyên nhân dẫn đến việc giải quyết vụ án không đúng, gây ra những thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bên này hay bên kia Thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm là giữ nguyên bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án; huỷ một phần hoặc hủy toàn bộ các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, giao hồ sơ
Trang 27vụ án về Toà án cấp dưới xét xử lại Về bản chất, việc Toà án cấp sơ thẩm hay phúc
thẩm xử lại vụ án theo quyết định giám đốc thẩm hoặc theo quyết định tái thẩm là khôngkhác nhau, do Toà án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm khi xét xử lại vụ án có trách nhiệm
áp dụng đúng các quy định của pháp luật nội dung cũng như pháp luật tố tụng để xử vụ
án theo quan hệ pháp luật tuỳ thuộc nội dung tranh chấp của vụ án tại thời điểm xét xử, quan hệ pháp luật đó có thể là chính quan hệ pháp luật đã xử và cũng có thể là quan hệ pháp luật mới được xác định lại
Bên cạnh đó, chúng ta không nên nhầm lẫn khái niệm giám đốc việc xét xử và khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm, cần phân biệt thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm với giám đốc việc xét xử Giám đốc việc xét xử là quản lý, kiểm tra, giám sát và đôn đốc việc xét xửtheo đúng quy định của pháp luật, đúng trình tự, thủ tục, nhanh chóng nhằm đảm bảo cho việc áp dụng luật được nghiêm chỉnh và thống nhất, kịp thời trấn chỉnh hoạt động xét
xử ngay khi có sai phạm Giám đốc việc xét xử là quyền hạn và nhiệm vụ của Tòa án cấptrên đối với Tòa án cấp dưới, là sự kiểm tra hoạt động xét xử, nhằm đảm bảo cho Tòa án các cấp áp dụng đúng đắn và thống nhất pháp luật và có những biện pháp sửa chữa, khắc phục kịp thời những sai lầm của Tòa án cấp dưới trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.Trong quá trình xét xử của Tòa án các cấp, đã xuất hiện các bản án và quyết định có nhiều sai phạm nghiêm trọng dẫn đến không thể đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của đương sự và không thể đạt được mục đích của tố tụng dân sự Vì vậy, việc kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án là điều rất cần thiết, giúp cho Tòa án các cấp phát hiện được những sai phạm của mình để kịp thời sửa chữa, khắc phục; đồng thời thông qua các thủ tục này, toà án cấp trên tổng kết kinh nghiệm xét xử, làm cơ sở để Tòa án các cấp áp
dụng thống nhất pháp luật Giám đốc việc xét xử là một nguyên tắc Hiến định "TANDTC
giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định" [36] và được
xác định là một nguyên tắc tố tụng quan trọng, ghi nhận tại Điều 18 BLTTDS năm 2004
(sửa đổi bổ sung năm 2011): "Tòa án cấp trên giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới,
Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án các cấp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất" [34]
Trang 28Giám đốc việc xét xử bao gồm các hoạt động như: kiểm tra; đánh giá hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự; phát hiện những thiếu sót, sai lầm; giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân về các vụ án do Tòa
án tiến hành giải quyết; kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm; tổng kết kinh nghiệm xét xử; hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất pháp luật Giám đốc việc xét xử được thực hiện ngay từ trong giai đoạn phúc thẩm bản án, và trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm Vì đó hoạt động giám đốc của Tòa án cấp trên đối với việc xét xử của Tòa án cấp dưới được tiến hành thông qua việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới theo các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm [16]
1.1.4 Tính chất, đặc điểm của giám đốc thẩm và tái thẩm dân sự
Là hai thủ tục khác nhau trong tố tụng dân sự nhưng giám đốc thẩm, tái thẩm
là các thủ tục tố tụng đặc biệt, nó không phải là cấp xét xử thứ ba
Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng thể hiện quan điểm của Nhà nước về việc xét xử các vụ án nhằm đảm bảo tính chính xác, khách quan trong phán quyết của Toà
án, bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân [74] Các quốc gia có những quy định khác nhau, các nước theo hệ thống tranh tụng như Anh, Hoa Kỳ không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử mà ngược lại áp dụng nguyên tắc đặc trưng là xét xử chung thẩm [72,tr.23, 24]; các nước theo mô hình tố tụng thẩm xét thì nguyên tắc đặc trưng lại là hai cấp xét xử [6]; có nước như Đài Loan lại quy định về cấp xét xử thứ ba trong TTDS theo đó ngoài hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm như bình thường còn có một cấp xét
xử phúc thẩm thứ 2 mà ở đó, HĐXX có thẩm quyền xét xử các nội dung có trong bản án phúc thẩm lần thứ nhất [7] Pháp luật nước ta quy định thực hiện chế độ hai cấp xét xử
đó là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, các cấp xét xử phải đảm bảo các thủ tục tố tụng do pháp luật quy định: đảm bảo đầy đủ các cơ sở pháp lý, tổ chức xét xử vụ án một cách khách quan, toàn diện, chính xác, mọi vấn đề đều được giải quyết; đảm bảo tối đa quyền kháng cáo của đương sự Xét xử sơ thẩm về dân sự, tranh chấp đất đai có đối tượng là các vụ án dân sự, vụ án tranh chấp đất đai trong giai đoạn này dựa trên yêu cầu của đương
sự Toà án xét xử
Trang 29trong phạm vi yêu cầu đó trừ trường hợp phápluật có quy định khác Sau khi xét xử
sơ thẩm, khi bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật và chưa được đưa ra thi hành,trong thời hạn theo quy định của pháp luật nếu đương sự kháng cáo hoặc VKSND kháng nghị thì vụ án phải được Toà án xét xử theo thủ tục phúc thẩm Việc quyết định để
vụ án đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm phụ thuộc rất nhiều vào quyền kháng cáo củađương sự, quyền kháng nghị của VKSND Đối tượng xét xử phúc thẩm là các vụ án dân
sự, vụ án tranh chấp đất đai mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
bị đương sự kháng cáo, VKSND kháng nghị, vì vậy giai đoạn phúc thẩm xem xét cả nội dung vụ án trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị và xem xét cả tính hợp pháp và có căn
cứ của bản án sơ thẩm Phạm vi của phúc thẩm chỉ xét xử lại những nội dung có kháng cáo, kháng nghị trong những nội dung mà cấp sơ thẩm đã giải quyết Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị Theo nguyên tắc xét xử hai cấp, cấp phúc thẩm là cấp cuối cùng trong việc xét xử các vụ án, quyết định của cấp phúc thẩm là quyết định cuối cùng và có hiệu lực ngay, còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện sau khi bản án, quyết định sơ thẩm hay phúc thẩm của Toà án đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là thủ tục nối tiếp với thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm,
vì vậy giám đốc thẩm cũng như tái thẩm không phải là cấp xét xử thứ ba [41]
Giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt, chỉ xét lại các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị của những người có thẩm quyền còn các đương sự không có quyền kháng cáo bản án, quyết định đó mà khiếu nại, tố cáo của đương
sự chỉ là cơ sở để kháng nghị và xem xét Khi có căn cứ cho rằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết hay có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà khi xét xử Tòa án không được biết và có kháng nghị của những người có thẩm quyền thì bản án, quyết định đó mới được đưa ra xem xét để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của đương sự cũng như đảm bảo pháp chế XHCN Tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong TTDS là xét lại bản án, quyết định dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, đây là thủ tục "xét lại" khác với
"xét xử" trong thủ tục sơ thẩm hay "xét
Trang 30xử lại" trong thủ tục phúc thẩm Hoạt động của giám đốc thẩm, tái thẩm không phải
là "xử" mà chỉ "xét lại" bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, kiểm tra tính hợp pháp,tính có căn cứ và đánh giá các tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án của các bản án, quyết định chứ không giải quyết nội dung vụ án Là thủ tục tố tụng nên giám đốc thẩm, tái thẩm mang nét đặc thù của pháp luật tố tụng dân sự, tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự do vậy khiếu nại của đương sự luôn là cơ
sở ưu tiên hàng đầu để Toà án xem xét, kiểm tra lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên không phải cứ có đơn, thư khiếu nại của đương sự là có thể đưa ra xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm mà cần có căn cứ kháng nghị theo quy định pháp luật đồng thời người có thẩm quyền ra quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định đối với bản án, quyết định đó Việc khiếu nại của đương sự chỉ là cơ sở để người
có thẩm quyền ra quyết định kháng nghị và là cơ sở để Tòa án xem xét chứ nó không có ý nghĩa quyết định để vụ án được đưa ra xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Đây chính là điểm đặc trưng của thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm
Không có đối tượng là vụ án như sơ thẩm và phúc thẩm, đối tượng của giám đốc thẩm và tái thẩm lại là các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không hướng tới đối tượng xét xử là vụ án dân sự haycác vụ án tranh chấp đất đai nói riêng mà chỉ xét lại các bản án, quyết định của Toà án Thêm nữa trong phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm không bắt buộc phải có mặt các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trừ khi cần thiết và được Hội đồng xét
xử triệu tập; thủ tục tiến hành phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm tuân theo quy định riêng, không giống như thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm như việc không nhất thiết phải có thủ tục xét hỏi hay tranh luận, nhưng nhất thiết phải có sự tham gia của đại diện Viện Kiểm sát, đây là những điểm khác biệt cơ bản của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm so với thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm Đây là những đặc điểm quan trọng thể hiện thủ tục này không phải là cấp xét xử thứ ba mà là một thủ tục đặc biệt Thủ tục xét lại bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhằm khắc phục, sửa chữa những sai sót trong những phán quyết của
Tòa án nên nó được coi là cơ chế tự kiểm tra của bản thân nội bộ hệ thống tư pháp
Trang 31Việc phát hiện sai lầm của bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật còn thông qua các hoạt động thanh tra, giám sát, điều tra của các cơ quan hành pháp
và tư pháp, hoạt động chất vấn của cơ quan lập pháp
1.2 Vai trò, chức năng và ý nghĩa của giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự
1.2.1 Vai trò, chức năng của giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự
Giám đốc thẩm, tái thẩm là một trong những cơ chế để đảm bảo việc kiểm tra, giám sát pháp luật, đảm bảo cho vụ án dân sự được giải quyết đúng pháp luật Cơ quan, tổ chức, đơn vị luôn có sự kiểm tra của cấp trên cũng như sự giám sát lẫn nhau đểđảm bảo chất lượng cũng như hiệu quả công việc Tòa án là cơ quan tư pháp, là cơ quanxét xử duy nhất của Nhà nước, hoạt động xét xử nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi phápluật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau Do đó, hoạt động của Tòa án các cấp không nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát của Tòa án cấp trên để đảm bảo tính chính xác trong các hoạt động và phán quyết Hoạt động kiểm tra, giám đốc xét xử được ghi nhận trong Hiến pháp là một nguyên tắc hiến định đồng thời là một trong những nguyên tắc tố tụng cơ bản Cụ thể hóa nguyên tắc giám đốc việc xét xử chính là thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm Hoạt động kiểm tra, giám đốc án chính là bước kiểm tra, rà soát lại khi quyết định, bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhằm phát hiện ra những sai phạm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng để
có giải pháp khắc phục, sửa chữa nhằm đảm bảo pháp chế xã hội, đảm bảo công bằng, khách quan, bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự
1.2.2 Ý nghĩa của giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự
- Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước Pháp quyền Nhà nước Pháp quyền là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, yêu cầu trung tâm là bảo vệ công bằng xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân Trong hoạt động của mình, TAND bảo đảm việc xét xử đúngpháp luật, khách quan, đúng đắn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án tuy không trực tiếp
Trang 32xét xử vụ án và đưa ra các phán quyết về quyền và lợi ích của các đương sự, không
trực tiếp khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm nhưng việc xét lại những bản án quyết định có hiệu lực pháp luật có thể vô hiệu hóa những bản án, quyết định sai lầm bằng việc hủy những bản án, quyết định đó và đã tạo cơ sở pháp lý để vụ án được phục hồi và xét xử lại nên đã góp phần khắc phục những vi phạm quyền lợi hợp pháp của nhân dân, đảm bảo việc xét xử hợp pháp và hợp hiến Giám đốc thẩm, tái thẩm góp phần đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN, đảm bảo nguyên tắc thượng tôn pháp luật, cũng như tính thống nhất, ổn định chặt chẽ của Nhà nước và pháp luật [11]
- Giám đốc thẩm, tái thẩm góp phần đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của đương sự, đảm bảo công bằng xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét
xử của Toà án, khôi phục niềm tin của nhân dân vào nền công lý, góp phần đảm bảo uy tín của cơ quan tư pháp [63, tr.304] Có thể nói, thủ tục giám đốc, tái thẩm là phương thức cuối cùng mà những đương sự trong các vụ án dân sự nói chung và các vụ án tranh chấpđất đai nói riêng có thể sử dụng để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình Người dân khi phát hiện những vi phạm pháp luật nghiêm trọng hay tình tiết mới xuất hiện trong vụ việc dân sự làm ảnh hưởng tới kết luận tại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án xâm phạm vào quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước cũng như các đương sự thì có quyền yêu cầu Tòa án xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; những bản án, quyết định này sẽ được Tòa án xét lại và có thể được giữ nguyên hoặc huỷ nếu có căn cứ; trường hợp bản án, quyết định đó bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm
và tái thẩm thì việc giải quyết vụ án sẽ được khôi phục lại Việc Toà án kiểm tra, xem xét lại các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thông qua thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm góp phần khắc phục kịp thời các sai lầm của chính mình cùng với việc thừa nhận sai lầm đó trong hoạt động của Tòa án sẽ góp phần đảm bảo quyền lợi cho người dân, củng cố lòng tin của dân vào pháp luật và các cơ quan tư pháp
- Để đảm bảo cho vụ án dân sự được giải quyết đúng pháp luật, thông qua công tác giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án cấp trên thấy được những sai lầm, vi phạm pháp luật của Tòa án cấp dưới trong việc giải quyết vụ việc dân sự Trên cơ sở đó có hướng
Trang 33khắc phục, sửa chữa những sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án cũng
như khắc phục thiếu sót trong bản án, quyết định một cách kịp thời đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án đúng đắn, hợp pháp và có tính khả thi
- Thông qua thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án cấp trên có thể tổng kết các viphạm, sai lầm, rút kinh nghiệm, hướng dẫn trong công tác xét xử cho Tòa án cấp dưới Góp phần giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ xét xử
Khi tiến hành thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm, nội dung các quyết định sẽ chỉ
rõ những sai lầm về phương diện pháp luật trong việc xét xử của Toà án các cấp, đồng thời hướng dẫn cách khắc phục những sai sót đó Thông qua giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án cấp trên có điều kiện thống kê những sai lầm và tổng kết kinh nghiệm để hướngdẫn việc xét xử, giải thích và hướng dẫn việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất, giúp cán bộ làm công tác xét xử có nhận thức đúng đắn hơn tránh việc nhận thức pháp luật sai lầm và áp dụng pháp luật một cách tuỳ tiện Qua đó, Không chỉ có ý nghĩa giáo dục ý thức pháp luật đối với cán bộ làm công tác xét xử mà nó còn góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho những người có liên quan đến vụ việc và người dân nói chung
Tòa án có thẩm quyền khi xem xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, nếu thấy có căn cứ vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc những tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà trước đó Tòa án chưa xét tới sẽ huỷ bản án hoặc quyết định đó để xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án Qua đó,
đã góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho các cán bộ làm công tác xét xử, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ khi tiến hành xét xử, dù cho bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực vẫn còn có thể bị xem xét Thực vậy, với khả năng các phán quyết của mình có thể sẽ bị xem xét lại sẽ làm cho họ cảnh giác hơn, thận trọng hơn Mặt khác, nếu thẩm phán bị phát hiện có nhiều sai lầm trong nghiệp vụ sẽ là một dấu ấn không tốt cho việc thăng tiến trong tương lai hoặc trong việc tái bổ nhiệm chức danh thẩm phán
- Thông qua hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án cấp trên sẽ tổng kết kinh nghiệm xét xử, thống nhất giải thích và áp dụng pháp luật
Thông qua hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án cấp trên tổng kết được
Trang 34những kinh nghiệm trong xét xử, biết được những sai lầm thường mắc phải hay
những nhầm lẫn trong quá trình giải quyết vụ án để tổng hợp trở thành nguồn tư liệu quý giá để nâng cao chất lượng xét xử, giảm thiểu những sai sót trong hoạt động của ngành Tòa án
Trong quá trình áp dụng pháp luật, nhiều điều luật được quy định không rõ ràng,dẫn đến nhiều cách hiểu, nhiều phương án giải thích khách nhau và làm cho việc áp dụng pháp luật không thống nhất, không đảm bảo hoạt động xét xử được đúng đắn, chính xác Do vậy, việc kiểm tra lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thông qua công tác giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án, TANDTC phát hiện ra những vướng mắc trong việc giải thích và áp dụng pháp luật của Tòa án các cấp, kịp thời ban hướng dẫn để việc giải thích và áp dụng pháp luật được đúng đắn, thống nhất
- Giám đốc thẩm, tái thẩm còn đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục ý thức cũng như góp phần củng cố, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ xét xử
Hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm giống như một vòng kiểm tra đối với hoạt động xét xử giúp cho các cán bộ xét xử nâng cao trách nhiệm, ý thức trong quá trình giải quyết các vụ án Việc đình chỉ, hủy các bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ chỉ ra những sai lầm của các cấp Tòa án đồng thời hướng dẫn việc khắc phục những sai lầm, quyết định giám đốc thẩm giúp cho cán bộ trực tiếp giải quyết vụ
án nhận thức được sai lầm, thiếu sót của mình trong việc xét xử Tòa án cấp trên còn căn
cứ vào lượng án hủy, sửa thông qua hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm để đánh giá chất lượng thẩm phán từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ phù hợp với yêu cầucủa công việc [11]
- Giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự còn thể hiện tầm quan trọng đối với hoạt động lập pháp Việc xét lại các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, Tòa án có điều kiện phát hiện
ra những điểm không phù hợp với Hiến pháp, những điểm mâu thuẫn, chồng chéo, chưa được pháp luật quy định rõ ràng hoặc bất cập, không phù hợp với thực tế cuộc sống dân
sự từ đó đưa ra kiến nghị phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật
Trang 351.3 Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về giám đốc thẩm, tái thẩm
1.3.1 Những điểm mới về giám đốc thẩm, tái thẩm của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
Cùng với sự phát triển kinh tế, đất đai cũng như hàng hóa ngày càng có giá trị cao, các tranh chấp về đất đai nói riêng và tranh chấp trong dân sự nói chung phát sinh ngày càng nhiều Trong đó, các chủ thể tranh chấp bình đẳng về địa vị pháp lý; phát sinh từ quan hệ pháp luật có đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và chủ thể tương đối giống nhau Giải quyết các tranh chấp đó cần đảm bảm quyền, lợi ích chính đáng của các bên tham gia Do đó, việc xây dựng một Bộ luật tố tụng để điều chỉnh các hoạt động giải quyết tranh chấp nêu trên là nhu cầu khách quan BLTTDS với
ý nghĩa pháp điển hoá, nhằm thống nhất pháp luật tố tụng, tập hợp các quy định pháp luật tố tụng về dân sự đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong việc giải quyết các vụ án dân sự
Năm 2004, BLTTDS đầu tiên ra đời đã đánh dấu một bước chuyển lớn trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Sau 7 năm đưa vào cuộc sống BLTTDS đã bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn Tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/3/2011, Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS Trải qua 10 năm thi hành BLTTDS đã khẳng định được vai trò của mình trong hệ thống pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành BLTTDS trong những năm qua cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực, thì một số quy định của
BLTTDS đã bộc lộ hạn chế, bất cập, mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác, chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp), chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau, chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, chưa đáp ứng các yêu cầu cam kết quốc tế đa phương và song phương Một số vấn đề mới phát sinh trong hoạt động tố tụng dân sự nhưng BLTTDS chưa có quy định để điều chỉnh Nhiều quy định không còn phù hợp với Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 [45]
Hơn nữa, để thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tiếp tục từng bước hoàn
Trang 36thiện một cách căn bản hệ thống pháp luật tố tụng dân sự nói chung và BLTTDS nói
riêng; bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự đồng thời tạo điều kiện để Tòa án thực hiện tốt hơn công tác xét xử
Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, bảo đảm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động tố tụng dân sự đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ tố tụng dân sự trong giai đoạn mới, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung BLTTDS hiện hành
BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định về thủ tục xét lại bản
án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật tại phần thứ tư: thủ tục giám đốc thẩm tại Chương XVIII và tái thẩm tại Chương XIX (từ điều 282 đến điều 310, trong đó
có điều 284a, 284b) Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định trong BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, có một số nội dung mới so với quy định trong BLTTDS năm 2004 [68] (xem bảng số 1.1, phụ lục 1)
Những điểm mới cơ bản về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của BLTTDS như:
Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, trong BLTTDS năm 2004 quy định thời hạn
kháng nghị giám đốc thẩm là 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật (Điều 288) mà không giới hạn việc kháng nghị theo hướng có lợi hay bất lợi chocác đương sự BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổi sung năm 2011 nới rộng hơn thời gian kháng nghị, theo đó, trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị 03 năm theo quy định chung nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị: (1) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định của pháp luậttrong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật và sau khi hết thời hạn kháng nghị là 03 năm đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị; (2) Bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật như: kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Việc vi phạm đó xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm
Trang 37trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó Như vậy, đối với những bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu đương sự có đơn đề nghị và thuộc
trường hợp nêu trên thì thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 5 năm
Quy định mới này của BLTTDS (sửa đổi, bổ sung năm 2011) phù hợp với tình hình thực tiễn Với số lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm rất lớn, trong thực tế việc quy định kéo dài thời gian xem xét đơn đề nghị giám đốc thẩm của đương sự sẽ góp phần giảm tải, tạo điều kiện cho những người có thẩm quyền nghiên cứu một cách kỹ lưỡng
và giải quyết dứt điểm tình trạng khiếu nại bức xúc kéo dài từ nhiều năm nay và khắc phục được những bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án các cấp có sai lầm nghiêm trọng
Quyền hạn của hội đồng giám đốc thẩm: Tại BLTTDS sửa đổi bổ sung năm
2011 thì ngoài những quy định như BLTTDS năm 2004 về quyền hạn Hội đồng xét xử giám đốc thẩm còn bổ sung quy định về việc Hội đồng giám đốc thẩm có quyền hủy bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng của Tòa án cấp dưới đã bị sửa, hủy; hủy một phần bản án, quyết định nếu thấy đủ căn cứ cho rằng phần
ấy vi phạm pháp luật nghiêm trọng chứ không phải cứ có vi phạm là hủy toàn bộ bản án, quyết định như trước kia
1.3.2 Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về giám đốc thẩm, tái thẩm
Mặc dù là hai thủ tục riêng biệt được quy định tại hai chương trong BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) nhưng giám đốc thẩm và tái thẩm đều là những thủ tục tố tụng đặc biệt với nhiệm vụ xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giảiquyết vụ án đối với thủ tục giám đốc thẩm và phát hiện có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà trước đó Tòa án và đương sự không được biết đối với thủ tục tái thẩm
Do đó ngoài những điểm khác nhau cơ bản dẫn đến sự khác nhau giữa hai thủ tục đó là: căn cứ kháng nghị, thời hạn kháng nghị, quyền hạn của hội đồng xét xử thì thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự còn có những điểm tương đồng như: việc phát hiện bản án, quyết định cần xem xét lại; đối tượng kháng nghị; chủ thể
Trang 38kháng nghị; văn bản kháng nghị; phạm vi kháng nghị; hậu quả kháng nghị; thẩm
quyền của hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm; những người tham gia phiên tòa; phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm; phạm vi xét xử; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm; BLTTDS cũng đã quy định về việc áp dụng chung các quy định cho cả hai thủ tục tại Điều 310
1.3.2.1 Phát hiện bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Việc phát hiện bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cần xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Điều 284 BLTTDS:
1 Trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án cóhiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định
đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
2 Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho
người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này [34]
Việc phát hiện ra những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án dẫn đến việc bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cần xem xét
theo thủ tục tái thẩm được quy định tại Điều 306 BLTTDS:
1 Đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 307 của Bộ luật này
2 Trong trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 307 của Bộ luật này [34]
Theo đó, việc đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức, Tòa án hoặc Viện kiểm sát
mà phát hiện ra vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có
Trang 39hiệu lực pháp luật hay phát hiện ra tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án
dân sự mà trước đó Tòa án và đương sự chưa biết thì có quyền đề nghị bằng văn bản cho người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Như vậy, kháng cáo, khiếu nại, thông báo của đương sự và các cá nhân, tổ chức khác chỉ là cơ sở cho kháng nghị của những người có thẩm quyền chứ không phải là căn cứ để giám đốc thẩm, tái thẩm Điểm này khác so với pháp luật nhiều nước, hầu hết các nước đều coi kháng cáo hợp lệ của đương sự là cơ sở cho việc giám đốc thẩm, tái thẩm BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2011) quy định cụ thể việc đương sự đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm phải thực hiện trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nhưng lại không giới hạn thời hạn cá nhân, cơ quan, tổ chức, Viện kiểm sát, Toà ánkhác đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Quy định này tăng cường sự giám sát của toàn thể xã hội đối với hoạt động xét xử của ngành Toà án
Trên thực tế, nguồn phát hiện ra các sai lầm hay tình tiết mới trong các bản
án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật ngoài đơn, thư khiếu nại của
đương sự còn xuất phát từ nhiều kết quả hoạt động khác, đó là:
- Công tác kiểm sát, giám sát việc tuân theo pháp luật của VKSND; công tác thanh tra, kiểm tra trực tiếp của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới;
- Kiến nghị của các Toà án, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên, Điều tra viên, Luật sư; kiến nghị của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, cơ quan báo chí,
- Hoạt động chất vấn của Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp ở địa phương; hoạt động giám sát của các Uỷ ban, Hội đồng Dân tộc, đặc biệt là Uỷban Tư pháp của Quốc hội [41]
1.3.2.2 Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là để đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được chính xác, hợp pháp, hợp hiến, tránh sai sót, có căn cứ tạo cơ sở pháp lý để khắc phục, sửa chữa những sai lầm trong quá trình xét xử Là thủ tục
tố tụng đặc biệt, do đó kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự là căn cứ
Trang 40để Tòa án có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Không giống như thủ tục
phúc thẩm, để tránh việc kháng nghị tràn lan, chồng chéo làm mất tính ổn định của bản án, quyết định và đề cao trách nhiệm của những người có thẩm quyền trong việc giám đốc việc xét xử, pháp luật chỉ quy định một số người có chức danh đặc biệt mới có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Toà án xem xét lại bản án, quyết định này theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Ngoài những người cóthẩm quyền ra, đương sự và các cá nhân, tổ chức khác chỉ có quyền kháng cáo, khiếu nại hoặc thông báo, đề nghị cho những người có thẩm quyền kháng nghị để họ biết và xem xét việc kháng nghị TAND, VKSND nếu phát hiện có vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực thì cũng chỉ có quyền thông báo cho những người có thẩm quyền kháng nghị xem xét
Những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm cũng được trao quyền kháng nghị tái thẩm khi xét thấy có đủ căn cứ kháng nghị
BLTTDS đã quy định người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm như sau:
1 Chánh án TAND TC, Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghịtheo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC
2 Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyềnkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện [34, Điều 285]
Những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đồng thời cũng là người
có quyền kháng nghị tái thẩm, thẩm quyền kháng nghị tái thẩm được quy định tại Điều
307 BLTTDS
Với mục đích tránh việc kháng nghị trùng lặp, trồng chéo, nhiều người cùng kháng nghị một bản án, quyết định nên việc phân cấp thẩm quyền kháng nghị như sau: Chánh
án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị những bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán
TANDTC; Chánh án TAND cấp tỉnh và Viện trưởng VKSND cấp