1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân (8 điểm)

16 537 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 101 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân.Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân là khả năng của cá nhân thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ do vi phạm hợp đồng dân sự cho bên bị thiệt hại. Bài tập lớn môn luật dân sự 2 trường đại học luật Hà Nội

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành

vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Theo

đó, khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại tới quyền lợi của chủ thể được pháp luật bảo vệ trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng thì đều có thể sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lí bất lợi do hành vi của mình gây ra Để việc tiến hành bồi thường thiệt hại được diễn ra thuận lợi và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ thể

bị thiệt hại yêu cầu cần xác định được đúng người có trách nhiệm, có khả năng để thực hiện nghĩa vụ bồi thường Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng to lớn tới quyền lợi của các bên liên quan, do đó

bộ luật dân sự 2005 đã có những quy định tương đối đầy đủ để điều chỉnh về vấn

đề này.Để làm rõ vấn đề này, bài viết dưới đây xin được “Đánh giá các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân.”

NỘI DUNG I.Khái quát chung về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1.Khái niệm

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân là khả năng của cá nhân thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa

vụ do vi phạm hợp đồng dân sự cho bên bị thiệt hại

Pháp luật dân sự quy định hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 2

Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự là việc bên có hành vi vi phạm các nghĩa vụ đã giao kết, gây thiệt hại đến quyền của bên kia thì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại, bên vi phạm có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ giao kết, đồng thời bồi thường thiệt hại cho bên có quyền

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành

vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân mà trước đó giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không

có giao kết hợp đồng hoặc có giao kết nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng

2.Đặc điểm

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân bao gồm một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra với cá nhân mà không quy định về năng lực bồi thường thiệt hại của các chủ thể khác, bởi

vì, các chủ thể khác ( như pháp nhân, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đương nhiên được coi là có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Thứ hai, nếu như trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì người gây thiệt hại có thể là bất kì cá nhân nào, hoặc có hoặc không có, đầy đủ, bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự thì đều phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thì người có trách nhiệm chỉ có thể là chủ thể mang nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng với bên mang quyền Chủ thể này phải là người có năng lực hành vi dân

sự phù hợp với nội dung, tính chất hợp đồng được giao kết theo qui định của pháp luật

Trang 3

Thứ ba, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân có hành vi gây thiệt hại không phải lúc nào cũng đầy đủ mà có thể bị hạn chế, hoặc không có năng lực tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể Tuy nhiên trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thì cá nhân vi phạm nghĩa vụ hợp đồng là người luôn có năng lực bồi thường thiệt hai

Thứ tư, việc bồi thường thiệt hại đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải do người có “khả năng” thực hiện Đối với việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì có thể người bồi thường thiệt hại không phải là người thực hiện hành vi gây thiệt hại

II.Quy định của pháp luật về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do vi phạm hợp đồng

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Việc thực hiện hay không thực hiện nghĩa

vụ sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với bên có quyền, trực tiếp xâm hại tới lợi ích vật chất, tinh thần của họ cho nên pháp luật dân sự đã quy định khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm với bên mang quyền

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do vi phạm hợp đồng xuất phát từ năng lực xác lập hợp đồng của cá nhân Chỉ khi có năng lực xác lập hợp đồng thì cá nhân đó mới trở thành một một bên chủ thể của hợp đồng, có nghĩa vụ nhất định với bên mang quyền và phải thực hiện nghĩa vụ đó Điều này có nghĩa là một cá nhân khi đã là chủ thể của hợp đồng, có quyền và nghĩa vụ nhất định theo hợp đồng thì đồng thời sẽ có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với chủ thể mang quyền khi cá nhân đó có hành vi vi phạm nghĩa vụ

Trang 4

Thật vậy, về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì khi một cá nhân có năng lực xác lập hợp đồng , trở thành một bên chủ thể mang quyền và nghĩa vụ, nếu có hành vi vi phạm nghĩa vụ thì chính họ -khi đó đã có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên mang quyền- sẽ là chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại

III Quy định của pháp luật về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định trên cơ sở năng lực hành vi dân sự và khả năng kinh tế Vì vậy về nguyên tắc, pháp nhân luôn luôn có khả năng và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Pháp luật chỉ quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Pháp luật chỉ quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân

Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng, cá nhân vi phạm chỉ có thể là một bên chủ thể mang nghĩa vụ trong hợp đồng đó và có đủ khả năng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho người bên kia hợp đồng Còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cá nhân gây thiệt hại có thể là bất kỳ ai, ở độ tuổi nào, có năng lực nhận thức hay không Theo

đó, việc xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân dựa trên tiêu chí khả năng nhận thức và độ tuổi của cá nhân Trong đó, khả năng nhận thức là tiêu chí cơ bản khi xem xét năng lực của chủ thể, là cơ sở tiên quyết để xác định hình thức lỗi khi cá nhân có hành vi trái pháp luật gây ra Còn độ tuổi chỉ phản ánh một cách tương đối khả năng nhận thức của một con người vì vẫn có nhiều người đủ tuổi thành niên nhưng khả năng nhận thức lại vô cùng hạn chế do mắc các bệnh về thần kinh ở mức độ khác nhau

Trang 5

Pháp luật nước ta đã sử dụng yếu tố độ tuổi và sự phát triển trí lực của cá nhân để phân chia năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hịa ngoài hợp đồng thành các mức độ phù hợp với năng lực hành vi, để từ đó xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về chủ thể là cá nhân trực tiếp gây ra thiệt hại hay là cha, mẹ hoặc người giám hộ của cá nhân gây thiệt hại Cụ thể,điều 606 BLDS đã quy định

về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau

1 Đối với cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Khoản 1 điều 606 BLDS: “ Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì

phải tự bồi thường.”

Người từ đủ 18 tuổi trở lên và người không bị mất năng lực hành vi dân sự theo điều 22 Bộ luật dân sự năm 2005 thì chính họ phải tự bồi thường thiệt hại do mình gây ra, bất kể họ có khả năng kinh tế hay không Những người này đã có đủ khả năng nhận thức để kiểm soát và làm chủ mọi hành vi của mình nên phải tự mình gánh chịu hậu quả của hành vi đó Vì vậy, họ phải bồi thường bằng tài sản của mình Trong trường hợp họ không có tài sản mà cha mẹ lại có tài sản thì cha me cũng không có trách nhiệm bồi thường thay cho con trừ khi họ tự nguyện Tòa án

có thể động viên cha, mẹ họ bồi thường thay để đảm bảo lợi ích của bên bị thiệt hại Nếu cha, mẹ họ không tự nguyện bồi thường thay thi Tòa án quyết định người phải bồi thường là người đã gây ra thiệt hại và quyết định bản án đó có thể tạm hoãn thi hành cho đến khi họ có tài sản để thực hiện việc bồi thường

Ngoài ra BLDS 2005 còn quy định một số trường hợp người gây thiệt hại với tư cách là người của pháp nhân, cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của

cơ quan tiến hành tố tụng, người làm công, học nghề tại các điều từ 618 đến 622

“Điều 618 Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra

Trang 6

Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”

Theo đó, đối với người của pháp nhân, khi người của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân thì hành vi của họ được coi là hoạt động của pháp nhân

Vì thế, để tổn thất của người bị thiệt hại được khắc phục một cách nhanh chóng và kịp thời nên nếu người của pháp nhân gây ra thiệt hạ khi thực hiện nhiệm vụ thì pháp nhân phải bồi thường cho người bị thiệt hại Chỉ được coi là gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ nếu thành viên của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi thẩm quyền mà pháp nhân giao cho họ và thiệt hại xảy ra trong thời gian và tại địa điểm công việc đó đang được tiến hành Sau khi bồi thường cho người thiệt hại, pháp nhân được quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải hoàn trả số tiền mà pháp nhân đã bồi thường nếu người gây thiệt hại có lỗi Nếu không có lỗi thì họ không phải hoàn trả số tiền mà pháp nhân đã bồi thường cho người bị thiệt hại Nếu họ tiến hành những công việc ngoài nhiệm vụ được giao thì họ phải tự gánh chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

“Điều 619 Bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra:

Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ.

Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ.”

Nếu khi thi hành công vụ mà cán bộ, công chức gây ra thiệt hại thì cơ quan,

tổ chức quản lý họ phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Sau khi đã bồi

Trang 7

thường, nếu người gây thiệt hại có lỗi trong việc thi hành công vụ thì cơ quan, tổ chức nói trên phải yêu cầu họ hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường Mức hoàn trả, phương thức hoàn trả sẽ được thủ trưởng cơ quan, tổ chức quyết đinh dựa trên việc đánh giá thiệt hại, mức độ lỗi và khả năng kinh tế của người gây thiệt hại

“Điều 620 Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra:

Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng.

Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ.”

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm điều tra viên của cơ quan điều tra, kiểm sát viên của viện kiểm sát, thẩm phán của tòa án Những người này thực hiện nhiệm vụ của mình mà gây thiệt hại cho người khác thì cơ quan quản lý,

sử dụng họ phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Sau đó, cơ quan có trách nhiệm yêu cầu người gây ra thiệt hại hoàn lại khoản tiền bồi thường theo mức

và phương thức do thủ trưởng cơ quan quyết đinh

“Điều 622 Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra

Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”

Chủ làm công hoặc chủ dạy nghề phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền

Trang 8

yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật

Tuy việc bồi thường thiệt hại của một số chủ thể đặc biệt được cụ thể hóa trong các điều luật từ 618 đến 622 BLDS 2005 nhưng suy cho cùng, người trên 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ bao giờ cũng là người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về hành vi gây thiệt hại của mình song việc quy định riêng cách thức bồi thường thiệt hại đối với họ nhằm nhấn mạnh hơn nữa vai trò quan lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý họ Vì thế, trong các trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trước hết thuộc về cơ quan, tổ chức, pháp nhân, cá nhân quan lý

2 Đối với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi

Trích khoản 2 điều 606 BLDS 2005 quy định: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.”

Như vậy, theo đó, đối với người chưa thành niên từ đủ 15 tới dưới 18 tuổi

mà gây thiệt hại thì họ phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình Cha mẹ chỉ phải bồi thường phần còn thiếu Trong trường hợp này, người gây thiệt hại là bị đơn dân sự và cha mẹ của người gây thiệt hại là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trách nhiệm bồi thường chính thuộc về bản thân người gây thiệt hại chứ không phải là cha mẹ, người thân của họ

Sở dĩ luật có quy định như này là vì xét theo thực tế tại Việt Nam hiện nay, một số không ít người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động, do đó người thuộc độ tuổi này đã có thể tạo ra thu nhập và có tài sản riêng nên có thể thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mình Tuy nhiên, xét về mặt nhận thức, tuy họ

Trang 9

đã có khả năng nhận thức để kiểm soát và làm chủ hành vi của mình nhưng nhận thức ở độ tuổi này còn hạn chế, họ chỉ có thể kiểm soát, làm chủ được một số hành

vi nhất định nên pháp luật dân sự đã xác định họ chỉ có một phần năng lực hành vi dân sự, chỉ đến khi đủ 18 tuổi họ mới có thể tự quyết định mọi vấn đề liên quan đến bản thân, do đó việc gây thiệt hại của những người ở độ tuổi này vẫn có một phần trách nhiệm của bố mẹ Đồng thời không phải mọi cá nhân ở độ tuổi này đều

có tài sản riêng, do vậy, cha mẹ của người gây thiệt hại vẫn không thể loại trừ hoàn toàn trách nhiệm của mình Họ có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho con mình khi nó gây thiệt hại cho người khác mà không có hoặc không có đủ tài sản để bồi thường Nghĩa vụ này được đặt ra nhằm bảo vệ quyền lợi và khắc phục thiệt hại cho người bị thiệt hại nên việc lấy tài sản của cha mẹ là cần thiết Có thể nói, quy định này là chặt chẽ và hợp lý, phù hợp với xã hội, việc áp dụng trong thực tiễn tại các cơ quan xét xử vẫn chưa xảy ra vấn đề nào đáng tranh cãi

3 Đối với những người dưới 15 tuổi

Đoạn 1 khoản 2 điều 606 BLDS 2005: “ Người chưa thành niên dưới mười

lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.”

Đối với người dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha mẹ phải bồi thường kể cả trong trường hợp người con chưa thành niên đó có tài sản riêng Chỉ có thể lấy tài sản của con để bồi thường , phần còn thiếu khi tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường, trừ trường hợp người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tai trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra theo quy định tại điều 621 Bộ luật dân sự năm 2005 Trong trường hợp người dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại thì cha mẹ của người gây thiệt hại là bị đơn

Trang 10

dân sự Ngoài ra, nếu cha mẹ không còn hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì theo quy định của pháp luật, người dưới 15 tuổi buộc phải có người giám hộ Tuy nhiên, khi có thiệt hại do hành vi của người dưới 15 tuổi gây ra, người giám hộ sẽ đứng lên cùng người được giám hộ bồi thường thiệt hại nhưng dung tài sản của người được giám hộ trước nếu thiếu, người giám hộ phải có nghĩa vụ bổ sung

Những người dưới 15 tuổi là những người không có hoặc chỉ có năng lực hành vi dân sự một phần Nhận thức của những người nằm trong độ tuổi này còn rất hạn chế nên đa phần họ không thể làm chủ, điều khiển được các hành vi của mình, họ không đủ lý trí để nhận biết những hành vi của mình và hậu quả gây ra

Do đó, để xác định và nâng cao trách nhiệm của cha, mẹ trong việc quản lý giáo dục con cái nên BLDS đã quy định cha, mẹ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con chưa đủ 15 tuổi gây ra Trách nhiệm này là trách nhiệm pháp lý không cần điều kiện lỗi của cha, mẹ trong việc giám sát, quản lý hành vi của con mình Trong trường hợp cha mẹ không đủ tài sản để bồi thường mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường phần còn thiếu Việc lấy tài sản của con để bồi thường phần thiếu không có nghĩa là trách nhiệm bồi thường được chuyển sang con, đồng thời cũng không làm chấm dứt trách nhiệm bồi thường của cha mẹ Trong trường hợp đó, cha mẹ vẫn là chủ thể có trách nhiệm bồi thường Việc lấy tài sản của người con dưới 15 tuổi để bồi thường bổ sung phần còn thieeuus là nhằm bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại và nhằm bảo

vệ nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ và kịp thời

Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý không phải mọi trường hợp cha, mẹ người gây thiệt hại đều phải chịu trách nhiệm bồi thường Khoản 1 điều 621 BLDS 2005 quy

định: “Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại

thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.”, khoản 3 có quy định thêm:

“Trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu trường học,

Ngày đăng: 25/06/2016, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w