HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC IPHẠM VĂN TIẾN TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2016-2020 ĐỀ ÁN TỐT N
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
PHẠM VĂN TIẾN
TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2016-2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2016
Trang 3HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỀ ÁN TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2016-2020
Người thực hiện: Phạm Văn Tiến
Lớp: Cao cấp LLCT Liên Bộ Y tế - Khoa học và
Công nghệ Lao động Thương binh và Xã hội
Chức vụ: Phó vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh, sinh viên Đơn vị công tác: Tổng Cục dạy nghề - Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội
Trang 5Tôi xin chân thành cảm ơn Ths Đặng Thị Tố Tâm - Phó Tổng biên tậpTạp chí Giáo dục lý luận - Học viện Chính trị Khu vực I - Học viện Chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn Đề án này.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể thầy giáo, cô giáocác khoa chuyên môn thuộc Học viện chính trị Khu vực I - Học viện chính trịquốc gia Hồ Chí Minh, cô giáo chủ nhiệm Nguyễn Phương Nam, Lãnh đạoTổng cục Dạy nghề, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi nghiêncứu, học tập và hoàn thành Đề án này
Tuy đã rất nỗ lực và cố gắng, song đề án không tránh khỏi những thiếusót và hạn chế Vì vậy, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của Hộiđồng bảo vệ đề án Cao cấp lý luận chính trị và bạn đọc để đề án được hoànthiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả đề án
Phạm Văn Tiến
Trang 6A MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết xây dựng đề án 1
2 Mục tiêu của đề án 4
2.1 Mục tiêu chung 4
2.2 Mục tiêu cụ thể 4
3 Giới hạn của đề án 4
B NỘI DUNG 6
1 Căn cứ xây dựng đề án 6
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.2 Cơ sở chính trị 8
1.3 Cơ sở thực tiễn 11
2 Nội dung thực hiện của đề án 12
2.1 Bối cảnh thực hiện đề án 12
2.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án 16
2.3 Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện 16
2.4 Các giải pháp thực hiện đề án 37
3 Tổ chức thực hiện đề án 38
3.1 Phân công trách nhiệm thực hiện đề án 38
3.2 Tiến độ thực hiện đề án 38
3.3 Kinh phí thực hiện các hoạt động của đề án 39
4 Dự kiến hiệu quả của đề án 39
4.1 Ý nghĩa thực tiễn của đề án 39
4.2 Đối tượng hưởng lợi của đề án 39
4.3 Những thuận lợi/khó khăn khi thực hiện và tính khả thi của đề án 40
C KIẾN NGHỊ, KẾT LUẬN 42
1 Kiến nghị 42
2 Kết luận 42
Trang 8A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết xây dựng đề án
Cách đây hơn 200 năm, đại thi hào Nguyễn Du, danh nhân văn hóa thế
giới, đã viết: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” Năm 1996, Chủ tịch Ủy
ban UNESCO về Giáo dục cho thế kỷ XXI, Jacques Delors, đã công bố bảnbáo cáo “Học tập: Một tài sản tiềm ẩn”, trong đó khẳng định bốn trụ cột củagiáo dục là: Học để biết; Học để làm; Học để tồn tại và Học để chung sống.Hầu hết các trường học nước ta hiện nay đều đề cao khẩu hiệu “Tiên học lễ,hậu học văn”, học sống làm người trước rồi mới học chữ để hành nghề Chưabao giờ vấn đề giáo dục, trong đó có giáo dục kỹ năng sống lại trở nên cấpthiết như hiện nay
Ngân hàng Thế giới gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹnăng, năng lực của con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức;
kỹ năng và thái độ Trong đó kiến thức chiếm 4%, kỹ năng 26%, thái độchiếm 70% Chúng ta bước vào thế kỷ 21 đã 16 năm, thế mà chương trìnhđào tạo và việc đánh giá năng lực của học sinh, sinh viên vẫn dựa chủ yếu vàokiến thức Trong giáo dục nghề nghiệp đã quan tâm đến đánh giá kỹ năngnghề nghiệp nhưng trong tình trạng phần lớn trang thiết bị hình thành kỹ năngcòn nghèo và lạc hậu chưa tiếp cận được khoa học và công nghệ hiện đại
Lâu nay chúng ta chỉ nghĩ đến xuất khẩu lao động, nhưng một thực tếmới đang thách thức người lao động Việt Nam là chúng ta đã gia nhập WTO,gia nhập TPP và AEC, người nước ngoài đang đến làm việc tại Việt Namngày càng nhiều Chúng ta có thể bị thất nghiệp trong khi phải thuê lao độngnước ngoài cao hơn rất nhiều so với lao động trong nước ngay trên sân nhà
Trong những thập niên vừa qua, nền kinh tế nước ta thực hiện theo cơchế thị trường đã cho thấy phần lớn học sinh, sinh viên khi tốt nghiệp ra
Trang 9trường, tỉ lệ có việc làm rất thấp, trong khi lao động có kỹ thuật cao vừa thiếuvừa yếu đang là một thách thức đối với đối với sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Theo quan điểm của UNESCO về Giáo dục cho thế kỷXXI thì “học để tồn tại và học để chung sống” là 2/4 trụ cột của giáo dục chưađược quan tâm đúng mức và đã trở thành rào cản trong tiến trình hội nhậpkinh tế, quốc tế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực trạng giáo dục Việt Nam vẫncòn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, trong đó bất cập lớn nhất là chất lượng đàotạo chưa cao Các nguyên nhân chính tập trung vào sự yếu kém, bất hợp lýtrong phương pháp giảng dạy, đội ngũ giáo viên, giảng viên, chương trình đàotạo, tài liệu, trang thiết bị học tập, giáo trình chưa kịp đổi mới tiếp cận vớikhoa học và công nghệ hiện đại,
Một phương pháp giảng dạy hiện đại, khoa học, phù hợp là tiền đề giúpgiảng viên và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyềnđạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy Một phương pháp giảng dạy khoahọc sẽ làm thay đổi vai trò của người giảng dạy, đồng thời tạo nên sự hứngthú, say mê, chủ động sáng tạo từ phía người học
Ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, kiến thức kỹ năng mềm chưa phải làkiến thức được đào tạo chính khóa, mà chỉ được thực hiện thông qua các hoạtđộng ngoại khóa trong thời gian các em học tập tại nhà trường Chính vì vậychưa có biên chế giáo viên giảng dạy kỹ năng mềm cho học sinh, sinh viên
mà thực hiện nhiệm vụ này là cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên; giáoviên chủ nhiệm Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng mềm cho cán bộ làmcông tác học sinh, sinh viên hiện nay là nhu cầu bức thiết
Kỹ năng mềm là một thuật ngữ xã hội học chỉ những kỹ năng có liênquan đến việc sử dụng ngôn ngữ, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành
vi ứng xử áp dụng vào việc giao tiếp giữa người với người, kỹ năng mềm là
Trang 10những kỹ năng có liên quan đến việc hòa mình vào, sống với hay tương tácvới xã hội, cộng đồng, tập thể hoặc tổ chức như: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ nănglàm việc nhóm; Kỹ năng lãnh đạo người khác; Kỹ năng nói chuyện trước đámđông; Kỹ năng giải quyết xung đột và hòa giải; Kỹ năng thấu hiểu và thôngcảm với người khác; Kỹ năng thương lượng; Kỹ năng Quyết định; Kỹ năngxây dựng đội ngũ Kỹ năng tạo ảnh hưởng; Kỹ năng lắng nghe; Kỹ năng từchối một cách khéo léo…v.v…
Kỹ năng sống và kỹ năng mềm không phải là hai phạm trù khác nhau,
và càng không phải là hai phạm trù giống nhau, mà kỹ năng mềm chính làmột phần của kỹ năng sống, hay kỹ năng sống bao gồm kỹ năng mềm và một
số kỹ năng khác
Kỹ năng sống bao gồm những kỹ năng mềm nói trên, cộng thêm những
kỹ năng giúp chúng ta phản ứng hiệu quả trước những thách thức của cuộcsống, và từ đó vươn lên mạnh mẽ để thành công hơn, như là: Lòng tự trọng;
Sự tự tin; Kỹ năng tự tạo động lực hay tự động viên bản thân; Kỹ năng tựnhận thức giá trị của bản thân; Kỹ năng nhận thức điểm mạnh và điểm yếucủa mình; Kỹ năng đặt mục tiêu cho mình trong cuộc sống; Kỹ năng làm chủ
và tự đánh giá bản thân; Kỹ năng suy nghĩ tích cực;…
Những năm gần đây Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chứcđào tạo, bồi dưỡng thí điểm kỹ năng mềm cho cán bộ làm công tác học sinh,sinh viên, với mong muốn đào tạo được đội ngũ cán bộ, giáo viên nòng cốt có
đủ năng lực, kiến thức, kinh nghiệm trong quản lý, giáo dục kỹ năng mềm chohọc sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước
Với các lý do trên, Tôi lựa chọn đề án “Tăng cường giáo dục kỹ năng mềm cho cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016 - 2020” làm đề án tốt nghiệp Cao cấp lý luận
chính trị
Trang 112 Mục tiêu của đề án
2.1 Mục tiêu chung
Trong bối cảnh hiện nay để có được đội ngũ lao động chất lượng caođáp ứng yêu cầu của nền kinh tế và khắc phục những tồn tại của hệ thống giáodục quốc dân, thì đào tạo, bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ, giáo viên hạtnhân làm công tác học sinh, sinh viên có kiến thức và phương pháp truyềnđạt, giảng dạy tiên tiến hiện đại, những nội dung về kỹ năng mềm một cáchđơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các hoạt động trong nhà trường có hiệu quảthiết thực đối với học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp làrất cần thiết và có tính cấp bách trong hội nhập kinh tế quốc tế
Từng bước hoàn thiện chương trình, xây dựng giáo trình đào tạo bồidưỡng kỹ năng mềm hướng tới trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để đưavào nội dung đào tạo chính khóa trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Năm 2015 và năm 2016 xây dựng và hoàn thiện chương trình và tàiliệu đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên
- Năm 2016 đến năm 2020, đào tạo, bồi dưỡng nhân rộng kỹ năng mềmcho tất cả cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dụcnghề nghiệp trên cả nước
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Đề án, hoàn thiện chương trình, tàiliệu giảng dạy và học tập trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để ban hành
- Tổng kết rút kinh nghiệm để tiến hành tổ chức đào tạo, bồi dưỡngchuyên sâu rộng khắp trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp
3 Giới hạn của đề án
Đề án tập trung nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện chương trình, giáotrình và tài liệu, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng mềm cho cán bộ làm công táchọc sinh, sinh viên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên toàn quốc
Trang 12Đề án cũng tập trung nghiên cứu 07 kỹ năng cơ bản, phù hợp với kiếnthức kỹ năng cần trang bị cho đội ngũ lao động có kỹ thuật trong tình hìnhmới, bao gồm: Kỹ năng giảng dạy tích cực; kỹ năng tổ chức công việc vàquản lý thời gian hiệu quả; Kỹ năng giao tiếp; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹnăng làm việc đồng đội; Kỹ năng làm việc hiệu quả trong mội trường áp lực;
Kỹ năng học tập hiệu quả
Trang 13B NỘI DUNG
1 Căn cứ xây dựng đề án
Căn cứ thực tiễn: Trong xã hội hiện đại, Kỹ năng mềm ngày càng đượcđánh giá cao Rất nhiều nhà tuyển dụng xem trọng những kỹ năng thiên vềtính cách này và xem đây là một trong những yêu cầu tuyển dụng quan trọng
Ngày nay trình độ học vấn và các bằng cấp chưa đủ để quyết định trongviệc tuyển dụng lao động của nhiều doanh nghiệp và người sử dụng lao động
Họ còn căn cứ vào yếu tố cá nhân như kỹ năng, sự nhạy bén trong xử lý côngviệc và giao tiếp của mỗi người lao động, các yếu tố này được người ta gọi là
“Kỹ năng mềm”, kỹ năng mềm (Trí tuệ cảm xúc) là hành vi ứng xử của mỗicon người, cách thức tương tác với bạn bè, đồng nghiệp, cách làm việc nhóm
Kỹ năng này thể hiện cách sống, cách tích lũy kinh nghiệm từ cuộc sống vàtrong xã hội hiện đại, đây được xem là chìa khóa vàng dẫn đến thành công
Kỹ năng mềm không chỉ cần thiết cho cuộc sống mà còn là tiêu chí màcác nhà tuyển dụng rất quan tâm bởi chúng ảnh hưởng lớn đến việc người laođộng có hoà nhập được với môi trường làm việc và đạt hiệu suất công việccao hay không Xây dựng một xã hội làm việc và hơn thế là làm việc chuyênnghiệp Cần nhận thức rằng không chỉ người lao động cần mà từ các giám đốcđiều hành, nhà quản lý… cũng rất cần rèn luyện và nâng cao kỹ năng cho bảnthân, đặc biệt với đội ngũ lao động tương lai như học sinh, sinh viên càng cầnthiết được đào tạo bồi dưỡng để tạo thành thói quen ngay khi còn trẻ Tuynhiên, ngay từ trên giảng đường đại học, không phải sinh viên nào cũng đượctrang bị tốt các kỹ năng thiết yếu này
Ở Việt Nam, các kỹ năng mềm chưa được đưa vào chương trình họcchính khóa trong hệ thống giáo dục Có rất nhiều giả định “người ta biết thìngười ta sẽ làm được” Thực tế, từ biết đến hiểu là một khoảng cách rất xa, và
Trang 14từ hiểu đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách còn
xa hơn nữa Và kỹ năng mềm mãi là quá trình học tập và rèn luyện không baogiờ đủ cho tất cả những ai mang khát vọng thành công
Hiện tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên toàn quốc chưa được biênchế giáo viên, giảng viên giảng dạy kỹ năng mềm mà do đội ngũ cán bộ làmcông tác học sinh, sinh viên đảm nhiệm thông qua các hoạt động ngoại khóa.Chính vì vậy đội ngũ này đang còn thiếu và yếu
Căn cứ pháp lý: Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà
nước ta rất quan tâm đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định việc đầu tư chogiáo dục cũng có nghĩa là đầu tư cho sự phát triển bền vững, là đầu tư chonguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm đưa nước ta trở thành một nước côngnghiệp vào năm 2020 Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ, đội ngũ trí thức giữ một vị trí rất quan trọng Đâychính là yếu tố then chốt, mang tính quyết định đưa đất nước đi lên như chaông ta đã từng nói: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thìnước mạnh, nguyên khí yếu thì nước suy’’
Nghị quyết số 29/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo nước ta đã thể hiện quy luật: muốn đổi mới phải căn bản, toàn diện, khởiđầu cho con đường đi đến kết quả mới của giáo dục và đào tạo nước nhà,ngành giáo dục và toàn dân phải thực sự khởi sắc và có sự dịch chuyển mạnh
mẽ ở tất cả cấp, bậc học, từ mầm non, tiểu học, trung học, giáo dục nghềnghiệp đến đại học, sau đại học
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 6/6/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao đã xácđịnh cụ thể: “Tăng cường giáo dục tác phong làm việc chuyên nghiệp, phẩm
Trang 15chất đạo đức để hình thành năng lực nghề nghiệp, nhân cách cho người học”(Mục 3).
1.1 Cơ sở lý luận
Thế giới hiện nay thay đổi chóng mặt, nhiều thứ hôm qua thịnh hành
thì hôm nay đã lỗi thời Walt Disney cứ 5 phút công bố một sản phẩm mới,
thông tin thế giới tăng gấp đôi trong khoảng 18 tháng, SONY mỗi giờ xuấtxưởng 3 sản phẩm mới, lưu lượng thông tin di chuyển trên internet tăng30%/tháng, tăng gấp đôi sau 100 ngày… Chúng ta đã gia nhập WTO, gianhập TPP và AEC, nếu không đổi mới ta sẽ bị thua ngay trên sân nhà
Kỹ năng mềm không những giúp người lao động nâng cao năng suất,hiệu quả công việc mà còn rất bổ ích đối với họ trong mọi lĩnh vực của cuộcsống, trong gia đình, ngoài xã hội, tại doanh nghiệp, tại công sở Kỹ năngmềm nâng cao đáng kể chất lượng cuộc sống và văn hóa xã hội, góp phầnthay đổi diện mạo con người Việt Nam
Đào tạo được một đội ngũ cán bộ hạt nhân có khả năng, năng lực giảngdạy hiệu quả, biết cách truyền đạt đến học sinh, sinh viên những nội dung vềcác kỹ năng mềm một cách đơn giản, dễ hiểu và hiệu quả thì sẽ đào tạo đượcthế hệ học sinh, sinh viên học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp phát triển toàndiện, hòa nhập nhanh và thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế
1.2 Cơ sở chính trị
Cùng với chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng mềm có vai trò rất quan trọngđối với sinh viên trong công việc và cuộc sống Kỹ năng mềm là thuật ngữdùng để chỉ các kỹ năng trong cuộc sống như: kỹ năng sống, kỹ năng giaotiếp ứng xử, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thờigian, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng lập kế hoạch tổ chức công viêc, kỹnăng tổ chức sự kiện, kỹ năng tìm kiếm việc làm,…
Trang 16Có thể khẳng định, sinh viên được trang bị tốt các kỹ năng trên sẽ tạomối quan hệ vững chắc hơn cũng như có khả năng trở thành người quản lý vàtạo động lực nhanh hơn trong công việc Bởi họ có những phẩm chất mà kỹnăng mềm trang bị như: Có ý chí chiến thắng, có quan điểm lạc quan; Có tinhthần đồng đội, hòa đồng với tập thể; Giao tiếp hiệu quả; tự tin; Mài dũa kỹnăng sáng tạo; Chấp nhận và học hỏi từ những lời phê bình; Thúc đẩy bảnthân và dẫn dắt người khác; Đa nhiệm vụ và xác định trước những việc cầnlàm; Có cái nhìn tổng quan,…
Có thể đánh giá vai trò và lợi ích của kỹ năng mềm qua một số nội dung:
Thứ nhất, kỹ năng mềm tạo cho học sinh, sinh viên có ý chí và tinh
thần lạc quan
Tinh thần lạc quan làm cho học sinh, sinh viên có thái độ tích cực trongmọi tình huống, đó là điều quan trọng để các em giải quyết tốt vấn đề gặpphải Để có tinh thần lạc quan, các em cần chủ động, có những kiến thức và
kỹ năng mềm cơ bản trong giao tiếp và ứng xử trước người khác
Thứ hai, kỹ năng mềm tạo cho học sinh, sinh viên có tinh thần đồng
đội và hòa đồng với tập thể
Các nhà tuyển dụng rất quan tâm tới những nhân viên thể hiện đượckhả năng làm việc tốt trong tập thể Hòa đồng với tập thể không chỉ có nghĩa
là có tính cộng tác mà còn thể hiện được khả năng lãnh đạo tốt khi có thờiđiểm thích hợp
Thứ ba, kỹ năng mềm giúp cho học sinh, sinh viên giao tiếp hiệu quả.
Trong xã hội, quan hệ giữa con người với con người thông qua nhiềuhình thức trong đó có quan hệ giao tiếp Các kỹ năng giao tiếp ứng xử sẽ giúpcho chúng ta thể hiện đầy đủ nội dung và mục đích giao tiếp của mình vớingười nghe, từ đó họ dễ tiếp nhận các nội dung một cách thống nhất
Trang 17Thứ tư, kỹ năng mềm giúp cho học sinh, sinh viên tự tin hơn trước
đám đông, sự tự tin luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, nó có thể mang lại những thành công cho mỗi chúng ta Để có được sự tự tin trước những người khác, ngoài chuyên môn vững chắc các em cần có những kỹ năng sống nhất định, khi được trang bị kỹ năng mềm nó sẽ đem lại cho các
em những điều cần thiết ấy
Thứ năm, Kỹ năng mềm giúp cho học sinh, sinh viên phát triển tốt khả
năng tìm kiếm xin việc làm, khi tham gia đàm phán và phỏng vấn xin việc, kỹnăng mềm sẽ được nhà tuyển dụng để tâm vì những ứng viên sẽ không thể hiện được ý tưởng nếu họ không trình bày để thuyết phục nhà tuyển dụng hay người nghe Đồng thời kỹ năng mềm còn rất hữu ích trong quá trình làm việc sau này
Thứ sáu, kỹ năng mềm giúp sinh viên mài dũa khả năng sáng tạo, tính
sáng tạo và lối suy nghĩ thông minh được đánh giá cao ở bất cứ công việc nào Thậm chí công việc mang tính kỹ thuật nhất cũng đòi hỏi khả năng suy nghĩ thoát ra khỏi khuôn khổ Vì vậy, cần đánh giá đúng sức mạnh của việc giải quyếtvấn đề theo cách sáng tạo Kỹ năng mềm sẽ trang bị cho học sinh, sinh viên phương pháp giải quyết công việc sáng tạo và thông minh nhất có thể
Thứ bẩy, kỹ năng mềm trang bị cho sinh viên cách nhìn tổng quan về
mọi vấn đề về công việc, có nghĩa là có khả năng xác định được các yếu tố dẫn tới thành công Điều này cũng có nghĩa là nhận ra các nguy cơ tiềm ẩn và thời điểm nó xảy ra Bởi vì trong mọi lĩnh vực, nếu nhìn một cách tổng thể, chúng ta có thể nhận thấy rằng không chỉ là đạt được mục đích của mình mà còn làm thỏa mãn và thuyết phục được người khác, từ đó khẳng định khả năng và vai trò của mình
Trang 181.3 Cơ sở thực tiễn
Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, đangtrong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào.Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành côngChiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hộiĐảng XI thông qua ngày 16/2/2011 Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lựccủa Việt Nam vẫn còn thấp và cần phải được sớm cải thiện
Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lựcphổ thông và nhân lực chất lượng cao Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm
số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp.Cái thiếu của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà lànhân lực chất lượng cao
Thực tế cho thấy người thành đạt “chỉ có 25% là do những kiến thứcchuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ đượctrang bị” (theo Wikipedia) Như vậy, muốn đạt được thành công trong cuộcsống và sự nghiệp, bạn phải hội tụ đủ kỹ năng chuyên môn (kỹ năng cứng) và
kỹ năng mềm Nếu sở hữu được các kỹ năng mềm chuyên nghiệp, bạn sẽđóng góp lớn vào sự thành công của một doanh nghiệp Vì lí do này, các nhàtuyển dụng rất coi trọng kỹ năng mềm và xem đây là một trong những yêucầu tuyển dụng
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục nghề nghiệp là tạo
ra nguồn nhân lực chất lượng cao, trước khi bước vào thế kỷ 21, UNESCO đãkhuyến cáo nêu ra bốn mục đích của việc học tập trong thế kỷ mới là: “Học
để biết; Học để làm; Học để cùng chung sống; Học để làm người” Quả thế,trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ thôngtin, người ta nhận thấy rằng người lao động ở thế kỷ 21 không phải chỉ học đểbiết, để làm mà quan trọng hơn phải “cùng chung sống và tự khẳng định
Trang 19mình” trong xã hội đầy biến động Năng lực của người lao động thế kỷ nàykhông chỉ nằm ở sự biết, sự biết làm mà chủ yếu phải là sự biết làm người, sự
tự khẳng định mình trong sự đóng góp chung cho xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng của nó, những năm gần đây, Tổng cụcDạy nghề đã đầu tư kinh phí triển khai đào tạo, bồi dưỡng thí điểm kỹ năngmềm cho cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên và tiến tới tổ chức đào tạo,bồi dưỡng nhân rộng, chuyên sâu cho các cán bộ làm công tác học sinh, sinhviên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên phạm vi toàn quốc
2 Nội dung thực hiện của đề án
2.1 Bối cảnh thực hiện đề án
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp nhằm tạo ra chongười học những kỹ năng thiết yếu giúp người học có thể nhanh chóng tiếp cận
cơ hội việc làm và làm việc có hiệu quả trong thị trường lao động
Trong xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi thị trườnglao động ở Việt Nam phát triển linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sứccạnh tranh của nền kinh tế Thế nhưng, do mới hình thành và phát triển chưađồng bộ, nên thị trường lao động Việt Nam đang bộc lộ nhiều điểm yếu lẫnmâu thuẫn, trong đó nghiêm trọng nhất là mất cân bằng giữa cung và cầu,năng suất lao động thấp Trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thônthì ở lĩnh vực phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp lạithiếu hụt lao động trầm trọng
Lao động Việt Nam giàu lực lượng, nghèo kỹ năng, đó là đánh giá củakhông ít các doanh nghiệp trong và ngoài nước Nguồn nhân lực ở Việt Namrất dồi dào nhưng lại thiếu trầm trọng về chất lượng Lao động Việt Namđược đánh giá là khéo léo, thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh những kỹthuật và công nghệ hiện đại được chuyển giao từ bên ngoài nhưng thiếu tínhchuyên nghiệp Trên thị trường lao động hiện tại, nguồn nhân lực cao cấp và
Trang 20công nhân tay nghề cao vẫn đang là mối quan tâm của nhà tuyển dụng Thịtrường đang rất cần các chuyên gia về quản trị kinh doanh, lập trình viên, kỹthuật viên, các nhà quản lý trung gian hiểu biết về tài chính và tiếp thị vớiyêu cầu cơ bản về tiếng Anh, những công nhân có tay nghề cao, ham học hỏi.Tuy nhiên, nguồn cung ứng lao động có chất lượng trên thị trường còn hạnchế Bên cạnh đó, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác để hoàn thànhcông việc của lao động Việt Nam quá yếu kém Nhiều nhà quản lý nước ngoài
đã nhận xét: “Lao động Việt Nam làm việc rất tốt khi tự mình giải quyết côngviệc, nhưng nếu đặt họ trong một nhóm thì hiệu quả kém đi nhiều” Chínhđiều này đã khiến cho nhiều doanh nghiệp không thể thành đạt được, cho dù
họ đã tập hợp được đội ngũ nhân công kỹ thuật có chuyên môn nghiệp vụ,được đào tạo cơ bản
Khi tham gia TPP, Việt Nam có lợi thế là có lực lượng lao động dồidào và cơ cấu lao động trẻ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đếngiữa năm 2014, quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam là53,8 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 47,52 triệungười Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 47,1%; khuvực công nghiệp và xây dựng 20,8%; khu vực dịch vụ là 32,1% Chất lượnglao động cũng đã từng bước được nâng lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ30% lên 40% trong vòng 10 năm trở lại đây (theo số liệu của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội), trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 30% Laođộng qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thịtrường lao động Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam đã làm chủ đượckhoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí công việc phức tạptrong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài
Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là nôngnghiệp, do vậy, tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức còn
Trang 21thấp, đạt khoảng 30% Chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập sovới yêu cầu phát triển và hội nhập Khoảng 45% lao động trong lĩnh vực nôngnghiệp hầu như chưa qua đào tạo Chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn thấp,
là một trong những “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển Theo số liệu của Tổngcục Thống kê (năm 2012), lao động phổ thông không có chuyên môn kỹ thuậtchiếm 83,28% tổng số lao động; lao động đã qua đào tạo nghề chỉ chiếm tỷ lệ4,84%; lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp là 3,61% và lao động cótrình độ từ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 8,26% Theo Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội, lao động qua đào tạo nghề (gồm cả dạy nghề chính quy vàthường xuyên, phi chính quy, dạy nghề dưới 3 tháng và dạy nghề tại doanhnghiệp) chiếm khoảng 34% tổng số lao động trong cả nước
Trên thực tế, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp và cókhoảng cách khá lớn so với các nước trong khu vực Ngân hàng Thế giới đánhgiá Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuậtbậc cao Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉđạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàngThế giới (trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm; Ấn Độ đạt 5,76 điểm; Malaysiađạt 5,59 điểm Do vậy, nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhómthấp ở châu Á - Thái Bình Dương (thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơnNhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần)
Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan.Trong giai đoạn 2002 - 2007, năng suất lao động tăng trung bình 5,2% mỗinăm Tuy nhiên, kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tốc độtăng năng suất trung bình hằng năm của Việt Nam chậm lại, chỉ còn 3,3%.Việt Nam còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đào tạo chưa đápứng được nhu cầu của trị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các
kỹ năng mềm khác Trình độ ngoại ngữ của lao động Việt Nam chưa cao nên
Trang 22gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập Những hạn chế, yếu kém củanguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lựccạnh tranh của nền kinh tế (năm 2011, Việt Nam xếp thứ 65/141 nước đượcxếp hạng về năng lực cạnh tranh).
Từ những đánh giá trên, có thể thấy, nguồn nhân lực Việt Nam hiệnnay có các đặc điểm sau:
- Nguồn nhân lực khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúngmức; chưa được quy hoạch, khai thác; chưa được nâng cấp; chưa được đàotạo đến nơi đến chốn
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫngiữa lượng và chất
- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, côngnhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợpthực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Những yếu kém trên đây cũng chính là những thách thức lớn đối với laođộng Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ nặng nề trong việc nâng caochất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong quátrình tham gia TPP và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang bị thêm các kỹ năng giúp sinh viên phát huy hiệu quả các kiếnthức chuyên môn và phát triển tiềm năng cá nhân, đáp ứng tốt hơn, thích ứngnhanh hơn với tình hình thực tế, đáp ứng nhanh nhu cầu cao của của xã hội
Tạo lập môi trường phát triển các kỹ năng mềm để học sinh, sinh viênđược phát huy tối đa năng lực học tập, nghiên cứu khoa học và lập nghiệp;góp phần vào quá trình nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Một số vấn đề ảnh hưởng tới việc xây dựng và thực hiện đề án:
Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp phát triển nhanh theo quy hoạch
vì vậy số lượng cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên lớn phải tổ chức đào
Trang 23tạo, bồi dưỡng nhân rộng kỹ năng mềm trong 2 năm sau đó tổ chức các buổihội nghị tổng kết, rút kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng mềm từ đó tổchức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu.
- Luật giáo dục nghề nghiệp bắt đầu có hiệu lực thực hiện từ 1/7/2015nhưng Chính phủ chưa chính thức giao quản lý nhà nước về giáo dục nghềnghiệp ở Trung ương cho một cơ quan, để thống nhất chỉ đạo
- Ngân sách nhà nước gặp khó khăn nên việc bố trí kinh phí để thựchiện đề án còn nhiều hạn chế
2.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án
- Chưa có chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng mềm chính thức được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghềnghiệp trực tiếp tham gia đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học sinh, sinh viên còn yếu và thiếu
- Số lượng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên toàn quốc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học sinh, sinh viên chưa rộng khắp
2.3 Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện
Trong khuôn khổ của Đề án, tác giả xin được trình bày 07 kỹ năng mềm
để đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác học sinh, sinh viên trong các cơ
sở giáo dục nghề nghiệp cụ thể như sau:
2.3.1 Kỹ năng giảng dạy tích cực
a.Tầm quan trọng của kỹ năng giảng dạy tích cực
Phương pháp giảng dạy phổ biến tại các cấp, bậc học của nước ta hiệnnay chủ yếu vẫn là thầy giảng, trò chép Học sinh thụ động ngồi nghe, chép vàhọc thuộc Công tác đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo được tiến hànhthông qua kiểm tra, thi cử, cấp bằng Với cách dạy học này, các em học sinhgiống như những cái kho và thầy, cô giáo hàng ngày chất đầy kiến thức khoa
Trang 24học vào đó Hậu quả của tư duy giáo dục cũ dẫn đến sự thụ động của ngườihọc trong việc tiếp cận tri thức Sự thụ động này là nguyên nhân khiến ngườihọc trở nên trì trệ, ngại đọc tài liệu, ngại tranh luận, lười tư duy và thiếu tínhsáng tạo Sự giao tiếp, trao đổi thông tin trong lớp học hầu như chỉ mang tínhmột chiều.
Thực tế trên cho thấy, nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phươngpháp giảng dạy là việc làm cấp thiết và cần tiến hành một cách đồng bộ Đổimới phương pháp giảng dạy góp phần tạo nên những cơ hội đặc biệt để thầy
và trò nhận thức rõ những giá trị quan trọng, thực chất trong cuộc sống Điềunày yêu cầu người giảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyênmôn cũng như vốn hiểu biết xã hội Vì vậy, vai trò mới của người giảng viêntrở thành nhân tố kích thích trí tò mò của học viên, mài sắc thêm năng lựcnghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng tổ chức, sử dụng kiến thức và khảnăng sáng tạo Việc áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại có một vai trò
và tầm quan trọng vô cùng lớn
“Thế giới không bị điều hành bởi cái đúng
mà bởi người biết thuyết phục là đúng”
b Thiết kế bài giảng
Việc giảng viên lên kế hoạch chi tiết cho mỗi bài giảng để đạt đượcmục tiêu của bài, đó chính là các bước thiết kế bài giảng
- Phân tích: Phân tích là bước quan trọng nhất trong quá trình này Nó giúp giảng viên có dữ liệu, làm cơ sở cho tất cả các quyết định trong tương lai Một sai lầm mà nhiều người mới vào nghề dễ mắc phải đó là không tiến hành được một phân tích đúng đắn ngay từ đầu
“Đúng ngay từ đầu, chuẩn ngay từ gốc”
- Thiết kế: Đây là bước mà giảng viên sử dụng thông tin có được trong giai đoạn phân tích để tạo ra một chương trình hoặc khóa học đáp ứng nhu
Trang 25cầu của học viên Có nhiều cách thức thiết kế và chúng có thể chưa được tốt ởvài lần đầu Vì vậy, thử nghiệm của giảng viên trong giai đoạn thiết kế sẽ giúpgiảng viên tiết kiệm thời gian và tiền bạc.
- Phát triển: Giai đoạn phát triển tập trung vào việc xây dựng các kết quả của giai đoạn thiết kế Quá trình này tiêu tốn nhiều thời gian dành cho việc tạo ra học liệu cho khóa học Nó bao gồm các bước khác nhau như dự thảo ban đầu, đánh giá, viết lại, và thử nghiệm
- Thực hiện: Giai đoạn thực hiện bao gồm nhiều quá trình chứ không chỉ đơn thuần là trình bày lại các tài liệu đã phát triển Nếu như các khái niệm
và học liệu đã được thử nghiệm trong suốt quá trình phát triển, thì giai đoạn thực hiện có thể khám phá ra yêu cầu cần phát triển thêm chủ đề hoặc phải thiết kế lại hay tái cấu trúc lại bài giảng Các quy trình cho giai đoạn này thay đổi dựa trên quy mô của các tổ chức, sự phức tạp của chương trình và sự phân
bổ của học liệu Việc này bao gồm các khái niệm như giai đoạn thử nghiệm, các buổi đào tạo chuyên môn cho giáo viên, phương pháp phân phối và trình bày các tài liệu
- Đánh giá: Giai đoạn đánh giá đóng vai trò quan trọng từ đầu cho tới cuối quá trình Mục tiêu của quá trình này nhằm nhìn nhận tổng quan, xem xét, đánh giá lại những điều đã được khám phá ra trong quá trình phân tích Những phát hiện này bao gồm các mục tiêu và kỳ vọng của người học
c Ứng dụng thiết kế bài giảng
- Những người tham dự khóa học là ai? Số lượng tham dự là bao nhiêungười? Hàng trăm người? Vài chục người? Hay một số lượng ít hơn? Dù đềtài của bài giảng là gì, giảng viên cũng đều cần biết về học viên của mình
- Bên cạnh đó, giảng viên cũng đừng quên phân tích nhu cầu và hứng thú của học viên:
Trang 26- Họ mong đợi điều gì từ bài giảng?
- Ngoài ra, giảng viên còn phải biết trình độ nhận thức và những kinhnghiệm thực tế của học viên
- Hãy lưu ý tìm hiểu những khía cạnh vấn đề mà họ thực sự quan tâm
- Tại sao họ lại quan tâm đến chủ đề bài giảng?
- Chất lượng bài giảng của giảng viên còn phụ thuộc vào cả những điềukiện của hội trường: kích thước, số lượng bàn ghế, ánh sáng, chất lượng âmthanh, nhiệt độ trong phòng
- Chuẩn bị bài giảng: Sau khi xác định được đối tượng học viên, giảng viên cần xác định rõ mục đích của buổi giảng dạy Xác định được những nội dung chính mà giảng viên muốn người nghe nắm được, qua đó tìm những phương pháp phù hợp nhằm nhấn mạnh vào nội dung đó Sau khi xác định được nội dung và mục đích, giảng viên cần lập một dàn ý chi tiết cho bài giảng Công việc này giúp giảng viên có thể nắm bắt được toàn bộ bài giảng
mà không bỏ sót ý Đồng thời việc này cũng sẽ giúp giảng viên có thể phân
bố thời gian cho từng phần của bài giảng một cách hợp lý
Nhìn chung, một bài giảng thường được chia làm 3 phần: Mở bài, thânbài và kết bài Tại sao vậy? Cấu trúc này mang lại cho người nghe cảm giác
dễ hiểu, dễ nhớ, dễ phân đoạn
*Kỹ năng đứng lớp, tổ chức lớp
a Nghệ thuật khích lệ & thuyết phục đám đông
“Thế giới không bị điều hành bởi cái đúng
mà bởi người biết thuyết phục là mình đúng ”