Quy định của bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại và hướng hoàn thiện Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Hình sự CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. KHÁI NIỆM KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ KHÁI NIỆM KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI 1.1.1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự “Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án.”
Trang 1Quy định của bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại và hướng hoàn thiện
CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 KHÁI NIỆM KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ KHÁI NIỆM KHỞI TỐ
VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI
1.1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
“Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự,trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấuhiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi
tố vụ án.”
* Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng và làgiai đoạn tố tụng độc lập bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêngmang đặc thù về chủ thể tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tốtụng Chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình sự là những cơ quan cóthẩm quyền theo quy định của BLTTHS 2003 Nhiệm vụ của giaiđoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấu hiệutội phạm để từ đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ ánhình sự – những văn bản tố tụng đặc trưng của giai đoạn này Tuynhiên, tính độc lập của giai đoạn khởi tố vụ án cũng như các giaiđoạn khác trong quá trình tố tụng chỉ mang tính tương đối, giữachúng có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn trước
là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau,giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước Quyết định khởi tố vụ án là
cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện các hoạt động điều tra Khi
Trang 2chưa có quyết định khởi tố vụ án thì không được tiến hành cáchoạt động điều tra cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn Quyết định khởi tố vụ án làm phát sinh quan hệ pháp luật TTHSgiữa cơ quan có thẩm quyền, người tiến hành tố tụng với ngườitham gia tố tụng.
số hoạt động điều tra):
- Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tốtụng hình sự:
+ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra:
Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân quyết định khởi tố vụ ánhình sự đối với tất cả các tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩmquyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân quyết định khởi tố vụ ánhình sự đối với những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà
án quân sự
Trang 3Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự đối với những tội phạm xâm phạm hoạt động
tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc cơ quan tư pháp
+ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát
Viện kiểm sát quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:Khi thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điềutra, cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dânđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, lực lượngCảnh sát biển, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểmlâm không có căn cứ thì Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định đó và raquyết định khởi tố vụ án hình sự Viện kiểm sát cũng có quyềnquyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Hội đồng xét xửyêu cầu khởi tố vụ án
+ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử
Hội đồng xét xử khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiêntoà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phảiđiều tra
- Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan khác
+ Đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượngCảnh sát biển khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật đến mứcphải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mìnhthì có thẩm quyền khởi tố vụ án
Trang 4+ Các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dânđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩmquyền khởi tố vụ án hình sự khi thực hiện nhiệm vụ mà phát hiện
sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình
* Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có haykhông có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặcquyết định không khởi tố vụ án Để thực hiện nhiệm vụ này cơquan có thẩm quyền sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạmhoặc kiến nghị khởi tố, trong phạm vi thẩm quyền của mình vàthời hạn luật định phải tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minhcác tin tức về tội phạm bằng những biện pháp như:
- Kiểm tra giấy tờ tuỳ thân, hộ khẩu, đăng ký tạm trú của người bị
tố cáo; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân
có liên quan đến sự việc cung cấp những tài liệu cần thiết
- Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan giải thích
rõ sự việc nhằm mục đích làm rõ dấu hiệu tội phạm Khi yêu cầugiải thích, cơ quan có thẩm quyền không được áp dụng các biệnpháp hỏi cung hoặc cưỡng chế tố tụng đối với người được yêu cầugiải thích
- Khi cần thiết phải kiểm tra nội bộ cơ quan nhà nước, tổ chức xãhội thì phải yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan tự kiểm tra hoặcyêu cầu cơ quan thanh tra tiến hành thanh tra để làm rõ sự việc
Trang 5- Nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tangthì tiến hành lấy lời khai của người bị bắt.
- Trong trường hợp cần thiết thì khám nghiệm hiện trường và tiếnhành các biện pháp khác theo quy định của BLTTHS để xác địnhdấu hiệu tội phạm
* Quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Quyết định khởi tố vụ án hình sự được ra khi cơ quan có thẩmquyền khởi tố xác định có dấu hiệu tội phạm Đây là cơ sở pháp lý
để thực hiện việc điều tra Trong quyết định khởi tố vụ án, bêncạnh thời gian, điều khoản của BLHS, họ tên, chức vụ của người raquyết định còn phải ghi rõ căn cứ khởi tố vụ án Việc ghi rõ căn cứkhởi tố vụ án trong quyết định giúp cho người có thẩm quyền raquyết định phải cân nhắc kỹ, tránh sự hời hợt, qua loa, đồng thờinâng cao trách nhiệm của người có thẩm quyền Để ra quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự, Điều 100 BLTTHS 2003 chỉ quy định một căn
cứ duy nhất để khởi tố đó là dấu hiệu tội phạm đã được xác định.Đồng thời điều luật cũng quy định các cơ sở để xác định dấu hiệutội phạm Các cơ sở đó bao gồm: Tố giác của công dân; Tin báocủa cơ quan tổ chức; Tin báo trên các phương tiện thông tin đạichúng; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Bộ đội biên phòng,
cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển vàcác cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dânđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếpphát hiện dấu hiệu của tội phạm; Người phạm tội tự thú
Như vậy, 5 nguồn thông tin trên đây mới chỉ là những cơ sở banđầu để cơ quan có thẩm quyền xác minh, thẩm tra để từ đó xác
Trang 6định có hay không có căn cứ để khởi tố vụ án Hay nói cách khác,những nguồn thông tin đó chưa phải là căn cứ khởi tố mà chỉ lànguồn, là cơ sở hàm chứa những thông tin cho phép đi đến kếtluận có dấu hiệu tội phạm hay không để khởi tố vụ án hình sự.Điều này phù hợp với quy định của Điều 100 BLTTHS 2003 vì điềuluật chỉ quy định 5 nguồn thông tin này là cơ sở để xác định dấuhiệu tội phạm từ đó làm căn cứ khởi tố vụ án
Theo quy định của BLTTHS 2003 khi xác định có sự việc xảy ra và
sự việc đó có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền raquyết định khởi tố vụ án Còn nếu thấy có một trong bảy căn cứđược quy định tại Điều 107 BLTTHS 2003 thì cơ quan có thẩmquyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý của người có thẩmquyền khởi tố xác định thông tin về tội phạm hoặc một sự việc nào
đó không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự Các căn cứ đó bao gồm:Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịutrách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản
án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hếtthời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm được đại xá;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trườnghợp cần tái thẩm đối với người khác
1.1.2 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại lần đầu tiênđược quy định trong BLTTHS 1988 và sau đó, trên cơ sở kế thừa,BLTTHS 2003 tiếp tục quy định với những sửa đổi, bổ sung cho phù
Trang 7hợp với đòi hỏi của thực tế Tuy nhiên, cả hai BLTTHS đều khôngđưa ra khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại Mặc dù vậy, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại được xem là trường hợp đặc biệt của khởi tố vụ án hình sự, chonên nó sẽ có những đặc điểm chung của khởi tố vụ án hình sự.
Đối với các vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bịhại, giai đoạn khởi tố vẫn được xác định là giai đoạn mở đầu củaquá trình tố tụng Tuy nhiên, trong giai đoạn khởi tố của những vụ
án hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại cần cóyêu cầu khởi tố vụ án từ phía người bị hại Nếu không có yêu cầukhởi tố của người bị hại thì Cơ quan điều tra không được ra quyếtđịnh khởi tố vụ án Đây là điểm khác biệt so với giai đoạn khởi tốcủa các vụ án hình sự khác
Về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại Như đã phân tích ở trên, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ ángồm các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan khác Nhưngvới những vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bịhại, không phải cơ quan nào trong số các cơ quan có thẩm quyềnkhởi tố vụ án hình sự đều được khởi tố Các cơ quan như đơn vị Bộđội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sátbiển… do chỉ có thẩm quyền khởi tố vụ án khi phát hiện có dấuhiệu tội phạm trong lĩnh vực quản lý của mình nên có thể khẳngđịnh các cơ quan này không có thẩm quyền khởi tố vụ án do người
bị hại yêu cầu Còn về phía các cơ quan tiến hành tố tụng, thẩmquyền khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại chỉthuộc về một số cơ quan nhất định, đó là Cơ quan cảnh sát điềutra trong Công an nhân dân và Cơ quan điều tra hình sự trongQuân đội nhân dân Viện kiểm sát, Toà án, Cơ quan an ninh điều
Trang 8tra trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và Cơ quan điềutra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao không có thẩm quyền khởi
tố những vụ án hình sự chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bịhại do các cơ quan này chỉ được quyền khởi tố vụ án trong nhữngtrường hợp nhất định hoặc đối với một số loại tội phạm cụ thể theoquy định Chẳng hạn như Cơ quan an ninh điều tra trong Công annhân dân ra quyết định khởi tố vụ án đối với các tội xâm phạm anninh quốc gia hay Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tốicao có thẩm quyền khởi tố vụ án về các tội xâm phạm hoạt động
tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp
Từ đây có thể thấy, mặc dù luật không quy định rõ nhưng có thểkhẳng định rằng chỉ những cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố đốivới 11 trường hợp phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 105BLTTHS 2003 thì cơ quan đó mới có thẩm quyền khởi tố đối với các
vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại
Trong các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, để xácđịnh dấu hiệu tội phạm thì sau khi có yêu cầu khởi tố vụ án củangười bị hại Cơ quan Điều tra phải tiến hành các hành vi tố tụngnhư đối với các vụ án thông thường Nếu chưa có yêu cầu củangười bị hại, Cơ quan điều tra vẫn có thể xác minh, kiểm tra tinbáo, tố giác về tội phạm nhưng không được ra quyết định khởi tố
vụ án Trong một số trường hợp, người bị hại không biết họ cóquyền yêu cầu khởi tố vụ án thì Cơ quan điều tra phải thông báocho người bị hại biết, hỏi họ có yêu cầu khởi tố vụ án không vàhướng dẫn họ làm các thủ tục cần thiết
Đối với các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, mộtvấn đề được đặt ra là yêu cầu của người bị hại là cơ sở để xác địnhdấu hiệu tội phạm hay là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự?
Trang 9Có quan điểm cho rằng "yêu cầu của người bị hại là một dạng đặcbiệt của tố giác" Giữa yêu cầu của người bị hại và tố giác củacông dân có nhiều điểm tương đồng: Một là,"tố giác hay yêu cầucủa người bị hại đều là việc thông báo với các cơ quan có tráchnhiệm về một tội phạm đã xảy ra" Hai là, chủ thể tố giác và ngườiyêu cầu khởi tố đều là cá nhân; Ba là, cả tố giác và yêu cầu củangười bị hại đều được thể hiện dưới dạng văn bản hoặc lời nói Bêncạnh đó, BLTTHS 2003 cũng chỉ quy định trình tự, thủ tục để giảiquyết tố giác của công dân, nên "nếu cho rằng yêu cầu của người
bị hại không phải là một dạng của tố giác thì yêu cầu đó sẽ đượcgiải quyết theo trình tự, thủ tục nào?" Tuy nhiên, yêu cầu củangười bị hại không hoàn toàn là tố giác: Chủ thể yêu cầu khởi tố vụ
án chỉ có thể là người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp củangười bị hại, còn chủ thể tố giác có thể chính là người bị hại hoặcbất kỳ người nào biết về sự việc đó; Yêu cầu khởi tố vụ án là quyềncủa người bị hại còn tố giác vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của côngdân; Nội dung của yêu cầu khởi tố ngoài báo tin về tội phạm còn là
sự mong muốn pháp luật trừng trị kẻ phạm tội còn nội dung tốgiác là báo tin về tội phạm (thời gian, địa điểm…) Nhưng cũng cóquan điểm cho rằng yêu cầu khởi tố vụ án là căn cứ để cơ quan cóthẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án vì "trong quyết định khởi
tố phải ghi rõ căn cứ khởi tố, một trong những căn cứ khởi tố cáctội quy định tại Điều 88 BLTTHS là yêu cầu của người bị hại" Quan điểm này chưa thực sự hợp lý vì theo quy định tại Điều 100BLTTHS 2003, dấu hiệu của tội phạm đã được xác định là điều kiệncần và đủ để cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án Đối với cáctrường hợp quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS 2003 cơ quan
có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án trên cơ sở sự kết hợpcủa hai yếu tố: có dấu hiệu của tội phạm và có yêu cầu của người
Trang 10bị hại Nếu không có dấu hiệu của tội phạm thì dù người bị hại cóyêu cầu, cơ quan có thẩm quyền cũng không được ra quyết địnhkhởi tố vụ án và ngược lại, nếu không có yêu cầu của người bị hạithì dù xác định có dấu hiệu của tội phạm cơ quan thẩm quyềncũng không được khởi tố vụ án Hay nói cách khác, với vụ án hình
sự khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, điều kiện cần là yêu cầukhởi tố của người bị hại và điều kiện đủ đó là có dấu hiệu tội phạm
đã được xác định Tuy nhiên điều này không có nghĩa là nếu không
có yêu cầu của người bị hại thì Cơ quan điều tra phải ra quyết địnhkhông khởi tố vụ án vì quyết định không khởi tố vụ án chỉ đựoc rakhi có một trong bảy căn cứ được quy định tại Điều 107 BLTTHS2003
Từ những phân tích trên đây có thể nói khởi tố vụ án hình sự theoyêu cầu của người bị hại là việc ra quyết định khởi tố do cơ quan
có thẩm quyền tiến hành theo yêu cầu của người bị hại sau khi xácđịnh một sự việc xảy có dấu hiệu của một số tội phạm theo quyđịnh của BLHS 1999
1.2 KHÁI NIỆM CHẾ ĐỊNH KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦUCỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ CƠ SỞ CỦA VIỆC THIẾT LẬP CHẾ ĐỊNH KHỞI
TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI
1.2.1 Khái niệm chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu củangười bị hại
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là một chếđịnh pháp luật “Chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm cónhững đặc điểm chung giống nhau nhằm để điều chỉnh một nhómquan hệ xã hội tương ứng” Như vậy, theo định nghĩa này, chế
Trang 11định pháp luật bao gồm một số quy phạm pháp luật có đặc điểmchung và cùng điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định,không đòi hỏi các quy phạm này phải được sắp xếp trong cùngmột chương, mục Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại là một chế định như thế Thuật ngữ chế định khởi tố vụ án hình
sự theo yêu cầu của người bị hại đã được một số tác giả đề cập
Trong BLTTHS 2003, chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầungười bị hại không được quy định thành một chương riêng và cácquy định của chế định tập trung xung quanh hai vấn đề là yêu cầukhởi tố vụ án hình sự và rút yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại
Thứ nhất, vấn đề yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại được quyđịnh tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS 2003 với nội dung “Những vụ án
về các tội phạm được quy định tại khoản 1, các Điều 104, 105,
106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sựchỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đạidiện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người cónhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.” Quy định này đã chỉ rachủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và các trường hợpchỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại Ngoài ra vấn đềnày còn được điều chỉnh bởi khoản 3 Điều 51 BLTTHS 2003, theo
đó nếu vụ án do người bị hại yêu cầu được Cơ quan điều tra raquyết định khởi tố và giải quyết theo thủ tục chung thì tại phiêntòa, người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lờibuộc tội Trong trường hợp Hội đồng xét xử tuyên bị cáo vô tội thìngười đã yêu cầu phải nộp tiền án phí theo quy định tại khoản 3Điều 99 BLTTHS 2003
Trang 12Thứ hai là vấn đề rút yêu cầu khởi tố vụ án của người đã yêu cầu.Khoản 2 Điều 105 BLTTHS 2003 quy định người đã yêu cầu khởi tố
có quyền rút yêu cầu của mình Việc rút yêu cầu khởi tố vụ án củangười đã yêu cầu dẫn đến hai hậu quả pháp lý là vụ án được đìnhchỉ và người đã yêu cầu phải nộp tiền án phí Theo quy định tạikhoản 2 Điều 164 BLTTHS 2003 thì Cơ quan điều tra ra quyết địnhđình chỉ điều tra nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu tronggiai đoạn điều tra Viện kiểm sát và Toà án sẽ ra quyết định đìnhchỉ vụ án nếu trong giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử nhưngtrước ngày mở phiên toà sơ thẩm người đã yêu cầu khởi tố rút yêucầu của mình (khoản 1 Điều 168 và Điều 180 BLTTHS 2003) Riêngvới việc nộp án phí thì theo quy định tại khoản 3 Điều 99 BLTTHS
2003, nếu vụ án bị đình chỉ theo khoản 2 Điều 105 thì người bị hạiphải nộp áp phí
Như vậy, xét một cách tổng thể các quy phạm trong chế định khởi
tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại không có sự tậptrung Trong số các quy phạm pháp luật của chế định này, Điều
105 BLTTHS 2003 được xem là quy phạm trung tâm của chế định.Không chỉ quy định về chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án, cáctrường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu, rút yêu cầu khởi tố, Điều
105 BLTTHS 2003 còn quy định căn cứ để Cơ quan điều tra, Việnkiểm sát, Toà án được tiếp tục tiến hành tố tụng khi người đã yêucầu khởi tố rút yêu cầu và căn cứ để người bị hại yêu cầu khởi tốlại vụ án hình sự Bên cạnh đó, Điều 105 BLTTHS 2003 còn là điềuluật dẫn chiếu Khoản 3 các Điều 51, Điều 99, khoản 2 Điều 164,khoản 1 Điều 169, Điều 180 BLTTHS 2003 khi quy định về các vấn
đề khác của chế định đều có sự dẫn chiếu đến Điều 105 BLTTHS
2003
Trang 13Vậy, chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu khởi tố vụ án hình sựcủa người bị hại và việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của họ nhằm bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, đồng thời đảm bảo lợiích Nhà nước, xã hội
1.2.2 Cơ sở của việc thiết lập chế định khởi tố vụ án hình sự theoyêu cầu của người bị hại
a Cơ sở lý luận
Con người là mục tiêu giải phóng của sự nghiệp cách mạng Vấn
đề quyền con người luôn là trung tâm của mọi cuộc cách mạng vàtiến bộ xã hội Với quan điểm duy vật về lịch sử, triết học Mác-Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác- Lênin nói chung đã đề cập đếnnhững vấn đề cơ bản về quyền con người, khẳng định mối quan hệgắn bó biện chứng giữa các quyền tự do cơ bản với các điều kiện
và biện pháp đảm bảo thực hiện quyền con người trong thực tế
Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là công cụ sắcbén được Nhà nước sử dụng để quản lý và duy trì trật tự xã hội.Chính vì vậy, mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hànhpháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện
và xử lý kịp thời Có như vậy, mới giữ vững được kỷ cương phépnước, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân Trong xã hội
đó, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng.Chính vì vậy mà họ luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Họ
Trang 14không chỉ được bảo đảm các quyền tự do dân chủ mà còn “cóquyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ vềtính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm” Còn riêng với người bịhại, họ là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản dohành vi phạm tội gây ra, quyền lợi của họ bị xâm hại, vì vậy Nhànước đã quy định cho họ có một quyền đặc biệt, đó là quyền đượcyêu cầu khởi tố vụ án hình sự Quy định này nhằm mục đích tạođiều kiện cho người bị hại được cân nhắc, tính toán việc khởi tố vụ
án hình sự có gây bất lợi cho họ hay không? Tuy nhiên, nhữngtrường hợp người bị hại được yêu cầu khởi tố cũng chỉ nằm tronggiới hạn mà Nhà nước và xã hội chấp nhận được nhằm đảm bảomọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời, việc điều tra, truy tố,xét xử và thi hành án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
Trước khi có BLTTHS 1988, người bị hại không được pháp luật quyđịnh có quyền yêu cầu khởi tố vụ án mà thậm chí trong nhiềutrường hợp người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hoặc miễn tráchnhiệm hình sự, miễn hình phạt một cách có tình, có lý cho ngườiphạm tội cũng không được Toà án chấp nhận Quan niệm phổ biếnlúc đó không chấp nhận việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của người
bị hại bởi: “Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước vàngười phạm tội, trong đó với tư cách là người bảo vệ lợi ích củatoàn xã hội, Nhà nước có quyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xửngười phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm tươngứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gâyra” Bên cạnh đó, các nhà làm luật cũng cho rằng, những vụ ánhình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại là các vụ án tư
tố, quyền yêu cầu của người bị hại là quyền tư tố bởi đó “là việcnhân danh lợi ích cá nhân, riêng tư để tố giác hành vi sai phạm, tộiphạm nào đó" và "tư tố là một hình thức… mà pháp luật dành cho
Trang 15những người bị hại hoặc người thân thích của họ sử dụng để khởikiện, khởi tố chống lại người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật,hành vi phạm tội, xâm phạm các quyền và lợi ích cá nhân” Nhưvậy, quyền yêu cầu khởi tố của người bị hại sẽ mâu thuẫn vớiquyền công tố của Nhà nước, vì quyền công tố là nhân danh lợi íchcông cộng, lợi ích Nhà nước để phát giác, tố cáo về hành vi viphạm pháp luật Một trong những nguyên tắc cơ bản của LuậtTTHS Việt Nam là nguyên tắc công tố, tức là mọi hành vi phạm tộiđều phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và Nhà nước bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của công dân bằng Hiến pháp, bằngpháp luật và bằng cơ chế đảm bảo thực hiện Mọi hành vi vi phạmpháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích của công dân đều sẽ bịNhà nước xử lý nghiêm minh.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu, tham khảo pháp luật của một số nướcđặc biệt là pháp luật tố tụng của Liên Xô, các nhà lập pháp cũngnhận thấy “quyền tư tố” của người bị hại được xã hội chấp nhậnkhi nó ở trong giới hạn nhất định và không làm ảnh hưởng đếnquyền công tố của Nhà nước Do đó, BLTTHS 1988 đã chính thứcghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại
Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định của BLTTHS
1988 chỉ áp dụng đối với những hành vi phạm tội có mức độ nguyhiểm cho xã hội thấp, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệmhình sự và thuộc hai nhóm tội là các tội xâm phạm sức khoẻ, nhânphẩm, danh dự của con người và các tội xâm phạm quyền tự dodân chủ của công dân Sau đó khi BLHS 1999 ban hành, do có sựsửa đổi bổ sung trong phân nhóm tội phạm cũng như khi áp dụngvào thực tế, chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
Trang 16bị hại có những điểm hạn chế, thiếu sót nên khi xây dựng BLTTHS
2003, bên cạnh việc ghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sự theoyêu cầu của người bị hại trên cơ sở kế thừa các quy định củaBLTTHS 1988, chúng ta đã có những sửa đổi, bổ sung nhất định
Việc BLTTHS 2003 tiếp tục ghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sựtheo yêu cầu của người bị hại cho thấy sự cần thiết của chế địnhnày trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự của nước ta Một mặtgóp phần bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại, mặt khác, vẫnbảo vệ được lợi ích của Nhà nước, xã hội Chế định này thể hiệntính dân chủ, sự tôn trọng và cảm thông trước những thiệt hại mấtmát của người bị hại
b Cơ sở thực tiễn
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng có nhiệm vụ quan trọng,
có tính chất quyết định đến các hoạt động, các giai đoạn khác củaquá trình tố tụng Tuy nhiên, không phải cứ phát hiện có dấu hiệutội phạm rồi khởi tố vụ án là cơ quan có thẩm quyền sẽ bảo vệ lợiích của người bị hại một cách tốt nhất Trong thực tế, có nhữngngười bị hại chỉ bị thiệt hại về thể chất, có người bị hại chỉ bị thiệthại về tài sản, nhưng cũng có những người bị thiệt hại cả về thểchất, tinh thần và tài sản Đối với những thiệt hại về tài sản do tộiphạm gây ra thì có thể khôi phục được, còn đối với thiệt hại về tinhthần hoặc thể chất thì chỉ có thể bù đắp được phần nào mà khôngthể khôi phục lại được như cũ Trong đó, thiệt hại về tinh thần làthiệt hại không thể tính toán được vì đó là những tổn thương vôhình, những sợ hãi hoặc ám ảnh mà người bị hại không muốn nhắclại và càng không muốn bị công khai Đối với những trường hợpnày, cách tốt nhất là để cho người bị hại và người gây thiệt hại chủ
Trang 17động giải quyết với nhau Còn nếu người bị hại thật sự muốn kẻgây thiệt hại phải bị pháp luật trừng phạt thì sẽ yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền khởi tố và giải quyết vụ án
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu người bị hại là một chế địnhđược quy định và áp dụng khá phổ biến trong pháp luật một sốnước
Tại khoản 2 Điều 20 BLTTHS Liên Bang Nga quy định: “Các vụ ánhình sự về các tội phạm quy định tại các Điều 115, 116, khoản 1Điều 129 và Điều 130 BLHS Liên Bang Nga được coi là các vụ án tư
tố Các vụ án này chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hạihoặc người đại diện hợp pháp của họ” Còn Điều 105 BLTTHSTrung Quốc quy định: “Những vụ án hình sự do người bị hại tố cáohoặc có tình tiết giảm nhẹ sẽ do một thẩm phán điều hành việcxét xử” Như vậy, pháp luật TTHS Trung Quốc cũng đã gián tiếpghi nhận quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại
Bên cạnh những quốc gia ghi nhận chế định khởi tố theo yêu cầucủa người bị hại trong Luật TTHS thì có những quốc gia lại quyđịnh yêu cầu khởi tố của người bị hại là một yếu tố cấu thành tộiphạm Điều 22 Bộ luật hình sự Cộng hoà Dân chủ nhân dân Làoquy định: “Chỉ bị coi là tội phạm khi có đơn kiện của người bị hại.Nếu hành vi không nguy hiểm cho xã hội và nếu người bị hạikhông có đơn kiện thì toà án sẽ không kết tội trong các trườnghợp: Xâm phạm thân thể giữa những người thân (nếu không gâythương tích nặng hay gây thiệt hại về sức khoẻ), xúc phạm, vukhống, có hành vi thô bạo đối với thi thể hay danh dự của người đãchết, xâm phạm tài sản của họ hàng thân thiết, xâm phạm thô bạođối với danh dự, bí mật riêng tư của gia đình, cá nhân Việc người
Trang 18bị hại rút đơn kiện sẽ chấm dứt quá trình tố tụng tại toà án” HayĐiều 135 BLHS Nhật Bản quy định: “Các tội phạm quy định tạichương các tội xâm phạm bí mật chỉ được khởi tố theo đơn yêucầu của người bị hại” Còn luật hình sự Cộng hoà dân chủ Đức đãđưa yêu cầu khởi tố của người bị hại như một yếu tố cấu thành tội phạm đối với một số tội như: Vô ý gây thương tích, xâm phạm đến
sở hữu riêng, sử dụng xe không có giấy phép, xâm phạm sở hữugiữa những người thân thuộc
Như vậy, dù được quy định trong luật TTHS hay luật hình sự thì chếđịnh khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại vẫn thể hiện sựquan tâm của Nhà nước đến nguyện vọng và lợi ích chính đángcủa người bị hại
ở Việt Nam, qua thực tiễn xét xử cũng như thực tế cho thấy, mặc
dù bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhưng có trường hợpngười bị hại không muốn đưa ra xử lý vì có thể ảnh hưởng đếndanh dự, nhân phẩm, uy tín và tương lai của họ hoặc giữa người bịhại và kẻ gây thiệt hại có những mối quan hệ nhất định Trong quátrình áp dụng chế định này cho thấy, mặc dù còn có nhiều vướngmắc nhưng quy định này đã từng bước phát huy hiệu quả, quyền
và lợi ích của người bị hại đã được bảo vệ tốt hơn
CHƯƠNG 2 - NỘI DUNG CHẾ ĐỊNH KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEOYÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI
2.1 YÊU CẦU KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1.1 Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự
Trang 19Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự là người bị hạihoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thànhniên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
a Người bị hại
Khái niệm người bị hại lần đầu tiên được quy định trong Thông tư
số 16/TATC ngày 27/09/1974 của TANDTC Theo đó, người bị hạiđược định nghĩa "là công dân đã bị kẻ phạm pháp trực tiếp xâmphạm đến thể chất, tài sản, hoặc xâm phạm về tinh thần (như bịlăng nhục, đánh, giết, trộm cắp, lừa đảo )" Định nghĩa đã chỉ rangười bị hại là cá nhân, không thể là cơ quan, tổ chức, đồng thờiđối tượng tác động của tội phạm là thể chất, tinh thần hoặc tài sảncủa cá nhân đó
Sau đó, BLTTHS 1988 đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệmngười bị hại tại khoản 1 Điều 39 như sau: "Người bị hại là người bịthiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gâyra"
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 BLTTHS 2003, "người bị hại làngười bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gâyra"
Như vậy, giữa hai khái niệm về người bị hại trong hai BLTTHSkhông có sự thay đổi về chất mà chỉ có sự thay đổi về hình thức,văn phạm ngắn gọn hơn Đây có thể được coi là một quy phạmđịnh nghĩa nêu ra khái niệm pháp lý về người bị hại Quy phạmnày chứa đựng các dấu hiệu để xác định người bị hại
Trang 20Về chủ thể, người bị hại chỉ có thể là cá nhân - một con người cụthể Pháp nhân hay tổ chức không được coi là người bị hại
Về thiệt hại, người bị hại bị tội phạm xâm phạm đến thể chất, tinhthần hoặc tài sản Thiệt hại về thể chất là bị xâm phạm đến tínhmạng, sức khoẻ như bị giết, bị gây thương tích… Thiệt hại về tinhthần là bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín như bị xỉnhục, vu khống, thoá mạ, miệt thị… Thiệt hại về tài sản là tài sảncủa người bị hại bị cướp, bị cưỡng đoạt, bị trộm cắp…
Về nguồn gốc, thiệt hại của người bị hại do tội phạm trực tiếp gây
ra bởi cái mà tội phạm hướng đến chính là thể chất, tinh thần hoặctài sản của người bị hại Nhưng thế nào là "do tội phạm gây ra?",theo tác giả Đinh Văn Quế: "khoa học luật hình sự chỉ coi là tộiphạm khi có đủ 4 yếu tố cấu thành và khi đã là tội phạm rồi thì lúc
đó mới có người bị hại trong vụ án hình sự"
Bên cạnh ba dấu hiệu luật định thì xét về mặt hình thức, người bịthiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra chỉ trởthành người bị hại trong TTHS khi họ được cơ quan tiến hành tốtụng công nhận là người bị hại thông qua hành vi triệu tập họ đếnkhai báo với tư cách người bị hại Trong nhiều trường hợp, hành viphạm tội không bị phát hiện và xử lý hoặc không xác định đượcngười bị thiệt hại thì mặc dù trên thực tế có người bị thiệt hại vềthể chất, tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội trực tiếp gây ranhưng người đó cũng không thể trở thành người bị hại trong vụ ánhình sự
b Người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thànhniên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất