1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

102 592 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH KHOA XÃ HỘI HỌC - CÔNG TÁC XÃ HỘI - ĐÔNG NAM ÁNHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY Điển c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH KHOA XÃ HỘI HỌC - CÔNG TÁC XÃ HỘI - ĐÔNG NAM Á

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY (Điển cứu tại

khu vực trung tâm và ngoại ô)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TP HỒ CHÍ MINH - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH KHOA XÃ HỘI HỌC - CÔNG TÁC XÃ HỘI - ĐÔNG NAM Á

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY (Điển cứu tại

khu vực trung tâm và ngoại ô)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TP HỒ CHÍ MINH - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 10

1 Lý do chọn đề tài 10

2 Điểm lại thư tịch 14

3 Ý nghĩa, mụctiêu nghiên cứu 18

3.1 Ý nghĩa lý luận 18

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 19

3.3 Mục tiêu tổng quát 19

3.4 Mục tiêu cụ thể 19

4 Giả thuyết nghiên cứu 19

5 Khung khái niệm 20

6 Định nghĩa khái niệm 21

6.1 Gia đình 21

6.2 Trung tâm, ngoại ô 22

7 Cơ sở lý luận 24

7.1 Thuyết lựa chọn duy lý 24

7.2 Quan điểm gia đình hạt nhân của Talcott Parsons 25

7.3 Lý thuyết nữ quyền cấp tiến 26

8 Phương pháp nghiên cứu 27

9 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 27

10 Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu 28

10.1 Mẫu nghiên cứu: 28

Trang 4

10.2 Cách chọn mẫu: 28

PHẦN 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU VÀ LỰA CHỌN SINH CON PHÂN THEO KHU VỰC, TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN, THU NHẬP, NGHỀ NGHIỆP CỦA KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 30

1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 30

Quận 10 30 Huyện Củ Chi: 31

2 Đặc điểm nhân khẩu 32

2.1 Giới tính 32

2.2 Độ tuổi: 32

2.3 Độ tuổi kết hôn 32

2.4 Độ tuổi sinh con: 33

2.5 Số con trong gia đình 33

2.6 Thu nhập 34

2.7 Trình độ học vấn 36

2.8 Nghề nghiệp 38

2.9 Cấu trúc gia đình 40

2.10 Tiểu kết 41

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn sinh con: 42

3.1 Khu vực 42

3.2 Trình độ học vấn 44

Trang 5

3.3 Thu nhập 47

3.4 Nghề nghiệp 51

3.5 Áp lực gia đình: 54

4 Tổng kết 57

CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA ĐỨA CON VÀ LỐI SỐNG GIA ĐÌNH HIỆN ĐẠI (CÁI NHÌN VỀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC SINH CON, GIA ĐÌNH HIỆN ĐẠI Ở TRUNG TÂM ĐANG CHUYỂN TỪ ĐƠN VỊ SẢN XUẤT SANG ĐƠN VỊ TIÊU DÙNG, QUYỀN QUYẾT ĐỊNH CỦA NỮ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH VÀ SỰ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG GIA ĐÌNH) 59

1 Lối sống gia đình hiện đại: 63

1.1 Cái nhìn về lợi ích của việc sinh con của gia đình: 63

1.2 Gia đình hiện đại ở trung tâm đang chuyển từ đơn vị sản xuất sang đơn vị tiêu dùng 65

1.3 Quyền quyết định của nữ giới trong gia đình 66

1.3 Sự phân công lao động trong gia đình 69

1.4 Tổng kết: 71

2 Ý nghĩa của đứa con: 71

2.1 Ý nghĩa của đứa con: 71

2.2 Cách dạy, sự kỳ vọng của ba mẹ đối với con trong gia đình Việt Nam hiện nay 74

3 Tổng kết: 78

PHẦN 3: KẾT LUẬN 79

1 Kiểm định giả thuyết 79

Trang 6

2 Kết luận 81

3 Hạn chế của đề tài 82

PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHẦN 5: PHỤ LỤC 90

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG, BIỂU ĐỒ:

1 Bảng:

Bảng 1: Độ tuổi sinh con và độ tuổi sinh con trong gia đình 33

Bảng 2: Thu nhập gia đình phân theo khu vực 35

Bảng 4: Trình độ học vấn của chồng và vợ phân theo khu vực 38

Bảng 4: Nghề nghiệp chồng và vợ phân theo khu vực 39

Bảng 5: Cấu trúc gia đình phân theo khu vực 40

Bảng 6: Độ tuổi kết hôn, độ tuổi sinh con và số con trong gia đình phân theo khu vực 42

Bảng 7: Sở thích con trai/con gái của gia đình phân theo khu vực 43

Bảng 8: Quyết định sinh thêm con của gia đình phân theo trình độ học vấn vợ 44

Bảng 9: Tương quan giữa thu nhập gia đình với số con, độ tuổi kết hôn và độ tuổi sinh con 48

Bảng 10: Sở thích con trai/con gái phân theo thu nhập 50

Bảng 11:Quyết định sinh thêm con của gia đình phân theo nghề nghiệp chồng và vợ 52 Bảng 12: Thu nhập gia đình phân theo nghề nghiệp chồng và vợ 53

Bảng 13:Mức độ đồng ý nhận định “Gia đình buộc chúng tôi phải có con”, “Không con là mang tội bất hiếu”, “Cả dòng họ chỉ cần có một vài cháu trai là được” phân theo khu vực 54

Bảng 14: Quyết định sinh thêm con phân theo cấu trúc gia đình 55

Bảng 15: Sự tương quan giữa độ tuổi kết hôn, sinh con và số con với số anh/ chị/ em trong gia đình 56

Bảng 16:Mối quan hệ giữ số anh/chị/em trong gia đình với những quan điểm sinh con 56

Bảng 17: Trị trung bình của các quan điểm sinh con theo thứ tự tăng dần 59

Bảng 18: Ma trận xoay nhân tố của các quan điểm sinh con 60

Trang 8

Bảng 19: Quan điểm sinh con phân theo khu vực, thu nhập, nghề nghiệp, cấu trúc gia

đình và quyết định sinh thêm con 62

Bảng 20: Quan điểm “Sinh con trai để nối dỗi”, “Sinh con gái để được nhờ” phân theo khu vực 63

Bảng 21: Mức độ gửi con cho dịch vụ, cơ sở; gia đình của khách thể nghiên cứu phân theo khu vực 66

Bảng 22:Việc “Nuôi dạy con cái” và quyền “quyết định sinh con”của phụ nữ phân theo khu vực 67

Bảng 23: Mức độ đồng ý với nhận định “Nuôi con để sau này con nuôi mình” 71

Bảng 24: Bảng thống kê số lượt chọn về “Thế nào là nuôi dạy con tốt” 75

Bảng 25:Phân công lao động trong gia đình 90

Bảng 26: Thu nhập gia đình phân theo trình độ học vấn của vợ và chồng 91

Bảng 27:Bảng thống kê kỳ vọng của các bậc phụ huynh đối với con của mình 92

2 Biều đồ: Biểu đồ 1: Tổng thu nhập gia đình (ĐVT:%) 35

Biểu đồ 2: Trình độ học vấn (ĐVT:%) 37

Biểu đồ 3: Điều kiện của gia đình để sinh con tiếp (ĐVT:%) 58

Trang 10

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bất kỳ một hình thái kinh tế xã hội nào, muốn tồn tại và phát triển đều phải duy trì hai dòng sản xuất: sản xuất của cải vật chất (Tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng) và sản xuất ra chính bản thân con người Trong mối liên hệ với nền sản xuất xã hội, con người vừa là chủ thể quyết định sự tồn tại và phát triển của nó, vừa là khách thể Dân số (Quy

mô, cơ cấu, sự gia tăng dân số) là kết tinh của các yếu tố kinh tế - xã hội, phản ánh điều kiện xã hội (Tổng cục dân số- KHHGĐ, 2011) Theo Minh Hải, dân số đông tạo nên một lực lượng lớn nguồn lao động và thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đem lại thế mạnh, tiềm năng vững chắc trong sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị quốc gia Nhưng bên cạnh những tích cực đó dân số cũng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế - xã hội, môi trường,… của các quốc gia Cụ thể, dân số đã và đang gây ra sức ép đối với:

- Việc làm (thiếu việc làm nghiêm trọng, tỷ lệ thất nghiệp tăng) vấn đề này đã góp phần gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội và lãng phí nguồn nhân lực Mỗi năm nước ta giải quyết khoảng một triệu việc làm mới Tuy nhiên, hằng năm nguồn nhân lực được bổ sung thêm hơn một triệu lao động, cộng với số người chưa được giải quyết việc làm năm trước làm tăng tỉ lệ người thất nghiệp (Phạm Thị Bạch Tuyết, (2014), tr 162) Tuy tỷ lệ thất nghiệp không cao (tỷ lệ thất nghiệp chung trong độ tuổi lao động hiện nay khoảng 2,2%, trong đó khu vực thành thị 3,6%), nhưng các lao động Việt Nam chủ yấu tập trung vào công việc gia đình hoặc tự làm và các công việc này thường có thu nhập thấp, bấp bênh, không ổn định

- Tài nguyên, môi trường: dân số tăng nhanh, lực lượng ao động thiếu việc làm nghiêm trọng dẫn đến hậu quả nặng nề về tài nguyên môi trường: diện tích rừng bị thu hẹp mau chóng do nạn khai thác bừa bãi lâm sản như chặt phá rừng, săn bắt thú và động vật quí hiếm phục vụ mục đích thương mại, thay vào đó là các vùng diện tích đất trống đồi trọc đã làm cho môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, nạn lũ lụt, hạn hán

Trang 11

thường xuyên xảy ra do rừng đầu nguồn bị chặt phá Tình trạng khai thác biển cũng xảy ra tương tự, môi trường biển bị ô nhiễm nặng nề do việc khai thác, vứt rác, chất thải bừa bãi do ý thức hạn chế của người dân…Song song với vấn đề ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên, dân số càng cao, mật độ dân số càng cao (theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, mật độ dân số Việt Nam cao (259 người trên một km2), gấp 2 lần mật độ dân số của châu Á, cao hơn mật độ dân số Trung Quốc, gấp gần 6 lần mật độ trung bình trên thế giới) thì diện tích đất canh tác bình quân đầu người tại Việt Nam ngày càng thu hẹp, còn dưới 0,1 ha cho mỗi người, chỉ bằng 2/5 mức diện tích canh tác tối thiểu để đảm bảo an ninh lương thực theo tiêu chuẩn của Tổ chức lương thực thế giới (Minh Thùy)

- Sức ép đối với y tế, giáo dục: Dân số tăng nhanh, trẻ em chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong khi đất nước còn nghèo đã tạo nên sức ép nặng nề đối với các lĩnh vực y tế, giáo dục: tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cao (9,8%) Một số vùng nông thôn chưa phổ cập xong chương trình tiểu học Số trẻ em bỏ học hoặc không được đến trường còn nhiều

- Sức ép đối với an ninh quốc phòng và các vấn đề xã hội khác: Dân số gia tăng cùng với việc di dân do quá trình đô thị hóa đã để lại hệ quả tất yếu khó kiểm soát về các lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Bên cạnh đó, sự xâm nhập của các trào lưu văn hóa ngoại do quá trình hội nhập đã khiến một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên và lực lượng lao động trẻ thiếu việc làm sa ngã Các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm… ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp Đây là mối lo ngại lớn đối với mỗi gia đình và toàn xã hội

Nhìn một cách tổng quát, giữa dân số và phát triển có mối quan hệ tương đối rõ nét với nhau Dân số hợp lý sẽ cung cấp một lực lượng lao động cho quá trình phát triển Ngược lại, dân số quá đông trong khi điều kiện kinh tế chưa bền vững sẽ là một lực cản cho quá trình phát triển do những đòi hỏi về chính sách an sinh xã hội cho những nhóm

Trang 12

cư dân này Cuối cùng, gia tăng dân số không chỉ có liên đới đến chỉ mỗi vấn đề kinh

tế mà quan trọng hơn là đời sống xã hội cũng như quyền tự do mà mỗi cá nhân có được (Đỗ Hồng Quân, 2016) Vì vậy, dân số luôn là một trong những đề tài, lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà chính sách, dân số học và các nhà xã hội học

Tổng dân số thế giới năm 2013 ước tính là 7,137 tỉ người Trong đó, châu Á dẫn đầu với 4,302 tỉ người, châu Phi là 1 tỉ người, châu Mỹ là 958 triệu người, châu Âu là 740 triệu người, châu Đại Dương là 38 triệu người So với năm 2012 thì dân số thế giới ước tính là 7,058 tỉ người Dân số cao nhất vẫn phân bố tập trung ở châu Á với 4,26 tỉ người; tiếp theo là châu Phi với 1,072 tỉ người, châu Mỹ là 948,2 triệu người, châu Âu

là 740,1 triệu người, và thấp nhất vẫn là châu Đại Dương với 37 triệu người (Số liệu này được tổng hợp từ các nguồn thống kê của các nước, thống kê dân số 2009-2013 của Liên Hiệp Quốc1) Bên cạnh đó, dựa trên những thống kê của Liên Hiệp Quốc, nghiên cứu của Tim Dyson (2010) đã thống kê lại lịch sử hơn 200 năm của bức tranh dân số thế giới (1800-2010) cho thấy tỉ suất sinh trung bình của một người phụ nữ trong giai đoạn này trên phạm vi toàn thế giới lại có xu hướng giảm liên tục Năm

2010, tỉ lệ này chỉ còn khoảng 2,6 trẻ/phụ nữ và 2,3 trẻ/phụ nữ ở khu vực Đông Nam Á (Tim Dyson, 2009, tr.58)

Năm 1798, Thomas Robert Malthus, trong cuốn sách Những hiểu biết về quy luật dân

số và tác động của nó đến việc nâng cao đời sống xã hội, cho rằng sinh sản của con

người mang bản chất sinh vật Dựa theo quan điểm này của ông, ta có thể hiểu việc sinh con trong xã hội là một điều tất nhiên, là phù hợp với tự nhiên Nhưng liệu trong

sự nghiệp hóa, hiện đại hóa quan điểm về sinh con của con người có còn là bản chất nữa không? Thực tế, số con trung bình một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ hiện nay ở VN giảm từ 6,3 con (1960) xuống còn 2,05 con (2012) Ở khu vực thành thị thống kê 2012

tỉ lệ sinh của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 1.8 con/phụ nữ, ở nông thôn tỉ lệ này là

1Dân số thế giới 2013: Năm 2013, tổng dân số thế giới ước tính là 7,137 tỉ người (2013)

Trang 13

2,17 con/ phụ nữ Riêng ở Tp HCM theo thống kê của Tổng cục Thống kê thì tổng tỉ suất sinh tính từ 2005 đến 2012 giảm từ 1,52 con xuống còn 1,33 con/phụ nữ Đây là một con thể hiện xu hướng giảm sinh trong những năm gần đây ở Tp HCM Bên cạnh

đó theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cũng ghi nhận tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh còn cao, cả nước hiện nay ở mức 112,3 bé trai/100 bé gái có xu hướng tăng trong xã hội Việt Nam nói chung và khu vực trung tâm nói riêng đã hoàn toàn đi ngược lại với lý thuyết động lực sinh học của Malthus và quan điểm truyền thống của Việt Nam về việc sinh con (Dương Hài, 2013)

Từ thực trạng trên, nhóm đưa ra giả thuyết rằng: Những con số phản ảnh về tỉ lệ sinh cho thấy phải chăng có sự khác nhau về quan điểm sinh con giữa gia đình ngoại ô và trung tâm Tp HCM hiện nay? Có phải những nguyên nhân như chi phí cho sinh hoạt hàng ngày ở trung tâm Tp.HCM và chi phí nuôi dạy con cái cao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn khiến người dân đô thị kết hôn muộn hơn, trình độ học vấn cũng như áp lực của đời sống đô thị cao hơn nhiều so với ngoại ô dẫn đến sự chênh lệch về mức sinh giữa hai vùng không? Xuất phát từ những giả thuyết, băn khoăn, nhóm quyết định

thực hiện nghiên cứu đề tài: Những yếu tố tác động đến việc sinh con và ý nghĩa của đứa con trong gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (Điển cứu tại khu vực trung tâm và ngoại ô)

Trang 14

2 Điểm lại thư tịch

Nguyên nhân dẫn đến sự biến chuyển dân số:

Lịch sử phát triển dân số trên thế giới đã chứng minh tái sản xuất dân số trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển đã chuyển từ giai đoạn tỷ suất sinh thô và tỷ suất chết đều cao sang giai đoạn đều thấp (Tổng cục thống kê dân số -KHHGĐ, 2011) Vậy đâu là nguyên nhân của sự biến chuyển dân số này?

Theo Đỗ Thái Đồng (1983) nguồn gốc sâu xa của biến chuyển dân số là từ những chuyển biến KT-XH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thay đổi quan niệm của các bậc phụ huynh về việc sinh con, đẻ cái Đứa con đối với họ không còn là một lực lượng lao động của gia đình nữa mà có ý nghĩa hết sức quan trọng: là sợi dây gắn kết tình cảm gia đình, là nơi các ông bố, bà mẹ đặt niềm tin, hi vọng Chính vì thế họ sẽ có xu hướng đẻ ít đi để có điều kiện chăm sóc con cái một cách tốt nhất Bài viết nêu

“Nguyện vọng của các cặp vợ chồng ngày nay, nhất là trong các vùng đô thị thường muốn có 1 hoặc 2 con” (tr.38) Ngoài ra, bài viết còn chỉ ra sự khác biệt về quan niệm sống giữa thành thị và nông thôn Ở nông thôn, gia đình mở rộng là phổ biến Ở đấy, các cá nhân hầu như vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu sắc về giá trị, tập tục, quan niệm về

“nối dõi tông đường” (gia đình phải có con trai) Còn ở các khu đô thị khi mà mô hình gia đình chủ yếu là gia đình hạt nhân, áp lực về việc sinh con trai hay con gái không còn nữa, người ta chỉ quan tâm đến việc chăm lo con tốt

Một lý giải khác cho sự biến chuyển dân số này là do yếu tố tự nhiên (Khả năng sinh sản của một nhóm người nhất định Nơi nào có khả sinh đẻ càng cao, cơ cấu giới tính càng phù hợp thì nơi đó có dân số tăng nhanh và ngước lại), yếu tố phong tục tập quán (Các chuẩn mực trong xã hội), yếu tố kinh tế (Người đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ này là A Xmít với kết luận: “Nghèo đói tạo ra khả năng cho sự sinh đẻ”) và cuối cùng

là yếu tố kỹ thuật (thành tựu kỹ thuật tạo điều kiện cho con người chủ động trong sinh

đẻ, vào từng thời kỳ mà chúng ta có thể quyết định khuyến khích sinh sản hoặc hạn chế

Trang 15

sinh sản) (Tổng cục thống kê dân số -KHHGĐ, 2011) Trước quan điểm này, Tổng cục thống kê dân số - KHHGĐ, 2009 đã đưa ra các yếu ảnh hưởng đến mức sinh như sau: tôn giáo, dân tộc, trình độ học vấn (phụ nữ có trình độ học vấn cao thường có xu hướng kết hôn muộn vì thế họ có con muộn hơn, ưu tiên cho công việc nhiều hơn và biết cách chăm sóc sức khỏe cho con mình tốt hơn), hoạt động kinh tế, mức sinh theo tình trạng

Yếu tố truyền thống, chuẩn mực ảnh hưởng đến chính sách dân số -

KHHGĐ tại Việt Nam

Nhắc đến yếu tố truyền thống, chuẫn mực của Việt Nam ta không thể không nhắc đến câu “Phép vua thua lệ làng” Đây là một trong những đặc điểm văn hóa Việt Nam sau bụi tre làng Vậy, truyền thống này có còn giữ đến ngày nay hay không? Nếu còn vậy

nó có ảnh hưởng gì đến việc thực hiện chính sách dân số ở Việt Nam không? Vũ Mạnh Lợi (1984) cho thấy giữa chuẩn mực xã hội của số con và chuẩn mực số con trong gia đình nông thôn còn có một khoảng cách (gia đình nông thôn) có chuẩn mực về số con khá cao Nguyên nhân của sự khác biệt trong chuẩn mực này là các yếu tố như: Yếu tố truyền thống: quan điểm “con đàn cháu đống” là hạnh phúc của gia đình vẫn còn có giá trị nhất định và trong bài này Vũ Mạnh Lợi cũng đưa ra giả thuyết “phải chăng chuẩn mực số con truyền thống vẫn còn là chuẩn mực số con của nhóm có tính chất địa phương?”; Yếu tố kinh tế: Do chế độ chúng ta xây dựng xã hội mới trên cơ sở hạ tầng

Trang 16

còn yếu, gia đình vẫn còn chức năng kinh tế - Đứa con là một nguồn lao động có khả năng gia tăng thu nhập nên các gia đình vẫn cần một số lượng cao về con cái; Yếu tố văn hóa có tác động làm thay đổi tương quan về thứ bậc, trong hệ thống nhu cầu nói chung của cá thể, thay đổi thang giá trị và định hướng các giá trị của cá thể, trong đó nhu cầu có con có thể bị các nhu cầu khác lấn át hoặc lấn át các nhu cầu khác Tác giả

đã kết luận rằng: “Trình độ văn hóa ở nông thôn còn chưa cao, lối sống chậm biến đổi cũng là một nguyên nhân duy trì chuẩn mực số con cao như hiện nay.”; Yếu tố tâm lý: Bài viết đề cập đến tâm lý an tâm khi có con cháu chăm nom khi về già, không muốn

sử dụng các biện pháp tránh thai vì sợ có hại Tóm lại, Vũ Mạnh Lợi cho rằng các yếu

tố trên có mối liên quan mật thiết với nhau ảnh hưởng tương tác chặt chẽ với nhau và

có tác dụng điều chỉnh hành vi tái sinh sản của cá thể

Đồng quan điểm với Vũ Mạnh Lợi về sự chậm thay đổi chuẩn mực ở việt nam, Lê Ngọc Văn (1985) con số thống kê của các cuộc nghiên cứu và những dẫn chứng chỉ ra rằng quan niệm phong kiến về vấn đề sinh đẻ vẫn còn ăn sâu trong nếp nghĩ, tâm lý của chúng ta ở xã hội hiện nay đặc biệt là các gia đình nông dân ở nông thôn: “trời sinh voi sinh cỏ”, mong muốn có con trai để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên, chăm sóc khi già yếu Đấy là điều ảnh hưởng đến việc sinh số con của các gia đình cũng như chính sách kế hoạch hóa gia đình Theo đó, kết quả trong một cuộc nghiên cứu ở một xã thuộc miền Bắc như sau: trong số 271 gia đình nông dân được chọn làm mẫu thì có 199 gia đình có 3 con trở lên Và có đến 78,6% số người được phỏng vấn mong muốn có 3 con trở lên trong tương lai; trong đó có 54% muốn có 3 con, 25,6% muốn có từ 4 con trở lên, 20,4% muốn có 2 con và không có cặp vợ chồng nào muốn có 1 con Còn kết quả khi được hỏi về thái độ đối với việc sinh con trai, con gái thì có 72% muốn “có nếp, có tẻ” Tiếp đó, bài viết cũng đưa ra dẫn chứng từ một cuộc điều tra tâm lý xã hội

do Viện Khoa học Giáo dục tiến hành ở Tp HCM và một số vùng nông thôn miền

Trang 17

Nam với kết quả: 82% người được hỏi ở nông thôn trả lời nhất thiết phải có con trai, 62% trả lời phải “có nếp, có tẻ”; ở Tp.HCM, tỉ lệ là 25% và 24%

Phạm Bích San (1988) lại cho rằng muốn xem xét đầy đủ về dân số phải cập đến ba quá trình: sinh, chết và di dân trong mối quan hệ tổng thể với các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đang tồn tại trong một quốc gia Tác giả đưa ra con số thống kê của tổ chức ESCAP về các chỉ báo dân số Việt Nam từ năm 1984 đến năm 1987 (trừ số phát triển dân số năm 1984, bài viết cho rằng các chỉ báo dân số Việt Nam trong một số năm cuối

là tương đối xác đáng và phần nào nói lên sự thật về tình hình dân số Việt Nam), trong

đó mức sinh của Việt Nam qua các năm 1984, 1985, 1986, 1987 lần lượt là: 31,3%, 32,2%, 33,6%, 33,1% Từ đó bài viết nhận định mức sinh ở Việt Nam thời gian này vẫn còn cao, và khó có thể giảm xuống dưới mức 30% Tác giả cho rằng yếu tố văn hóa có đóng một vai trò không nhỏ trong sự tác động đến mức sinh và chỉ được thể hiện rõ nhất trong khung cảnh đô thị hóa Các chuẩn mực và giá trị truyền thống đối với việc sinh đẻ vẫn đang ngự trị và điều chỉnh hành vi tái sinh của các cặp vợ chồng ở nông thôn và phần khá lớn dân số đô thị Quá trình đô thị hóa, lối sống đô thị đã có tác động nặng nề đến mức sinh ở VN Sự sút kém của tình hình kinh tế, hệ thống y tế và bảo trợ xã hội đang đưa con cái quay trở lại vị trí truyền thống của nó Các nhà quản lý cần nắm bắt dư luận xã hội trước những vấn đề về đường lối chính sách,… để phù hợp với cuộc sống, đáp ứng nhu cầu xã hội Trong khuôn khổ của dự án VIE/93/P08 cuộc điều tra về dân số (KAP) tiến hành năm 1993 cho thấy sự khác biệt về mức độ nhận thức và hành động của cả 2 vùng nông thôn và thành thị Bài viết cho thấy hai yếu tố tác động dẫn đến sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn về vấn đề sinh con: dư luận

xã hội (dư luận hàng xóm) về kế hoạch hóa gia đình và “văn hóa xóm làng”

Trang 18

Phân biệt giới tính khi sinh con

Tổ chức UNFPA (Việt Nam), (2011), Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, công nghệ tiên tiến Báo cáo nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu sâu hơn về

tình trạng tăng tỉ số giới tính khi sinh ở Việt Nam, Tháng 9/2011 cụ thể là ở 4 địa bàn (Hà Nội, Hưng Yên, Quảng Ngãi, Cần Thơ) Mẫu là 248 người, thuộc 11 nhóm đối tượng Sử dụng hình thức phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Kết luận của nghiên cứu chỉ ra khía cạnh văn hóa, KT-XH với quan điểm “bảo trợ xã hội” của người già và vấn

đề thừa kế hương hỏa, tài sản và trách nhiệm cúng giỗ; khía cạnh áp lực gia đình và chuẩn mực cộng đồng với yếu tố thân tộc và chế độ phụ hệ, sự xuất hiện của gia đình hạt nhân đã ảnh hưởng đến việc lựa chọn giới tính khi sinh con

Tóm lại: Qua những công trình nghiên cứu, những bài báo, tạp chí,… chúng tôi nhận

thấy rằng dân số là một đề tài đang được xã hội quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân nói riêng và sự phát triển KT-XH của đất nước nói chung Tuy nhiên,đa số những bài nghiên cứu trước chỉ quan tâm đến sự chênh lệch giới tính khi sinh con và bỏ qua những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tỉ

lệ sinh của thành phố trong những năm qua Như chúng ta đã biết, vấn đề dân số Việt Nam hiện nay không chỉ dừng lại ở việc số lượng con trai nhiều hơn con gái mà còn là

sự giảm dần của mức sinh, sự tăng dần độ tuổi sinh con và sự già hóa dân số Do đó, đề tài muốn đi sâu hơn tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn sinh con giữa trung tâm và ngoại ô mà điển cứu tại khu vực trung tâm và ngoại ô của Tp HCM

3 Ý nghĩa, mụctiêu nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài sử dụng lý thuyết hành vi lựa chọn để làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu Với lý thuyết này nhóm muốn giải thích cho luận điểm “Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội

Trang 19

của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn các sản phẩm đầu ra của từng lựa chọn cùng đặc điểm khác” (Lê Ngọc

Hùng, 2008, tr.357) Chính vì vậy đề tài đi sâu tìm hiểu Những yếu tố ảnh hưởng đến

sự lựa chọn sinh con và ý nghĩa của đứa con trong gia đình tại tp HCM hiện nay (điển cứu tại khu vực ngoại ô và trung tâm,)

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua đề tài này nhóm muốn góp phần trong việc nhìn nhận bối cảnh xã hội hiện nay ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn sinh con của các gia đình trẻ và thông qua đó tìm hiểu mối quan hệ con người diễn ra sao trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như kỳ vọng của các bậc cha mẹ vào đứa con Từ đó, chúng ta có cái nhìn thấu đáo, chính xác hơn trong việc kế hoạch hóa, điều chỉnh dân số cũng như có cách nhìn mới hơn cho các phương hướng chính sách xã hội, ASXH, góp phần định hướng, phát triển đất nước

 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn lựa sinh con tại Tp HCM

 Ý nghĩa của đứa con và lối sống của gia đình hiện đại

4 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Các cặp vợ chồng ở trung tâm có trình độ học vấn, thu nhập cao, nghề nghiệp ổn định hơn và quan niệm sống của cá nhân tự do hơn so với các cặp vợ chồng

ở ngoại ô là yếu tố tác động đến tỉ lệ sinh ở trung tâm thấp hơn ngoại ô Đồng thời, các

Trang 20

cặp gia đình ở trung tâm ít chịu áp lực từ phía gia đình hơn và sự phân công lao động giới trong gia đình cũng có chiều hướng bình đẳng hơn so với gia đình ở ngoại ô Giả thuyết 2: Con cái trong xã hội hiện đại thường là một gánh nặng (chăm sóc, giáo dục, kinh tế) đối với bố mẹ và phần lớn gia đình hiện đại chỉ kỳ vọng con cái của họ có khả năng tự chăm lo cho bản thânh hơn là một nguồn hỗ trợ cho bố mẹ sau này

Giả thuyết 3: Mức sinh trong gia đình ở khu vực trung tâm là thấp hơn so với ngoại ô

vì điều đó phù hợp với lối sống, cách tổ chức trong gia đình ở khu vực trung tâm

5 Khung khái niệm

Yếu tố ảnh hưởng

Ý nghĩa của đứa con

Nghề nghiệp

Quan điểm cá nhân về sinh con

Phân công lao động trong gia đình

Áp lực gia đình

Trang 21

6 Định nghĩa khái niệm

6.1 Gia đình

Gia đình là một khái niệm có khá nhiều cách giải thích khác nhau Trong mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa và tiến trình của lịch sử, gia đình được định nghĩa rất khác nhau (Hà Văn Tác, 2011, tr.2) Về mặt ngữ nghĩa gia đình là “tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau về quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường bao gồm vợ chồng, cha mẹ và con cái (Hoàng Phê, 1996 ) Từ góc độ tâm

lý học, “gia đình, đó là sự chung sống của hai nhóm người, cha mẹ và con cái, có cùng một mối quan hệ là những người sinh ra và những người nối dỗi” (Nguyễn Khắc Viện,

1999, dẫn theo Hà Văn Tác, 2011) Dưới góc độ luật học, nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Tuấn (1977) lại cho rằng: “Gia đình là một tập hợp dựa trên các quan hệ về hôn nhân và huyết thống và về nuôi dưỡng đã gắn bó những người có quan hệ với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và thân nhân, bởi sự cộng đồng về đạo đức vật chất,

để tương trợ nhau, cùng làm kinh tế chung và nuôi dạy con cái” (Dẫn theo Hà Văn Tác,

2011 Tr 22) Hà Văn Tác định nghĩa gia đình “là một nhóm xã hội hình thành trên cơ

sở các quan hệ hôn nhân (vợ và chồng), quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại) hay quan hệ nhận nuôi” (Hà Văn Tác, 2011, tr.2) Theo điều 3, Luật Hôn nhân và Gia Đình do Quốc hội nước Cộng hòa

Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành năm 2014, gia đình là tập hợp những người có quan hệ gắn bó với nhau do hôn nhân quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau (Đỗ Hồng Quân, tr 6) Như đã nói trên, mỗi nền văn hóa, tiến trình lịch sử khác nhau gia đình lại khoác trên mình một bộ mặt, diện mạo mới Trong quá trình phát triển, xã hội đã thừa nhận những gia đình được cấu tạo bởi những người đàn ông hoặc phụ nữ nuôi con một mình (Đỗ Hồng Quân, tr 6), gia đình đồng tính (Loại hình gia đình này ở Việt nam vẫn chưa được Nhà Nước chấp nhận) Nói cách khác, gia đình phản ánh diện mạo của xã hội mà nó đang sống Vì vậy không ngoa khi nhận định rằng những nghiên cứu về gia đình là một

Trang 22

trong những lĩnh vực lâu đời và tích cực nhất trong xã hội học (Barbara H Settles,

2000, dẫn lại theo Đỗ Hồng Quân, tr 1) Tuy nhiên, trong bài viết này chúng tôi sử dụng khái niệm gia đình theo định nghĩa của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vì loại hình gia đình theo khái niệm này khá phổ biến ở Việt Nam

Tùy thuộc vào quan điểm xem xét lịch đại hay đồng đại, tùy căn cứ cụ thể mà chúng ta

có nhiều cách để phân loại gia đình (Hà Văn Tác, 2011, tr.2) Ở đây, nhóm phân loại gia đình thành hai hình thái dựa trên cấu trúc, quy mô (Theo quan điểm đồng đại xét theo số thế hệ trong gia đình): gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân Gia đình mở rộng là một nhóm người có quan hệ huyết thống, sống chung trong một mái nhà và thường từ ba thế hệ trở lên Gia đình hạt nhân là một nhóm người có quan hệ hôn nhân

và quan hệ huyết thống, bao gồm một cặp người trưởng thành và những đứa trẻ chưa kết hôn của họ được xã hội công nhận là con của họ

6.2 Trung tâm, ngoại ô

Theo Nguyễn Thế Bá (2004) thì trung tâm đô thị “có tính chất chỉ vị trí khu đất trung tâm đô thị, nơi kế thừa các di tích lịch sử hình thành đô thị, nơi có mật độ xây dựng tập trung cao về nhà ở, có trang thiết bị hiện đại với các công trình công cộng về hành chính, văn hóa, thương mại, dịch vụ công công, v.v ”

Về mặt ngữ nghĩa, ngoại ô là “khu vực dân cư thường xuyên ở quanh một thành phố chính” (Từ điển Di sản tiếng Anh của Mỹ, 2000, dẫn theo Michael Leaf, 2008) Khái niệm này có nét tương đồng với khái niệm ngoại ô do Griffiths Michael B (2010 China Aktuell Tr 6) đưa ra ngoại ô có thể được mô tả như vùng chuyển đổi nông thôn- thành thị nơi diễn ra sự pha trộn và xung đột giữa nông thôn và thành thị Ngoài ra, khu vực ngoại ô còn được giải thích như là một không gian cụ thể, đề cập đến sự chuyển tiếp hoặc tương tác khu vực nơi mà hoạt động đô thị và nông thôn được đặt cạnh nhau và các tính năng có thể thay đổi nhanh chóng bởi các hoạt động của con người (Douglas, 2006) Trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm ngoại ô

Trang 23

do Douglas đưa ra để phân tích Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn sinh con, ý nghĩa của đứa con trong gia đình Việt Nam tại tp HCM

6.3 Quan điểm sống tự do

Có nhiều cách định nghĩa về tự do, câu định nghĩa nhanh nhất mà ta thường sử dụng

“tự do đó là quyền được làm điều mình muốn”, là “không phải chịu một cưỡng ép nào, không bị một ràng buộc vào một mệnh lệnh nào, chỉ chấp nhận làm điều muốn làm trong hiện tại” Đó là cái nhìn đầu tiên làm nên tự do toàn diện Ngoài ra còn rất nhiều các định nghĩa khác như:

Tự do là một giá trị, và người ta chỉ tự do khi tìm kiếm những giá trị “Tự do con người bao hàm một sự giải phóng: không chỉ giải phóng khỏi một số mệnh lệnh hay một trật

tự áp đặt từ bên ngoài, nhưng trước hết và chủ yếu là khỏi một định mệnh, một thân phận nô lệ được áp đặt từ bên trong chúng ta” (Lm Thái Nguyên 2008)

Hiến pháp của Campuchia do Liên Hiệp quốc soạn thảo năm 1993 cho rằng: "Tự do cá

nhân là tự do của một con người mưu cầu hạnh phúc, nhưng không dẫm đạp lên các

quyền tương tự của người khác"

Và một trong những định nghĩa về tự do được sử dụng phổ biến nhất là của Hegel: “Tự

do là cái tất yếu được nhận thức” Con người luôn hành động theo đòi hỏi của tâm hồn

mình và chính sự thúc bách của nghĩa vụ, của những đòi hỏi trong tâm hồn khiến con người hành động Khi con người hành động theo các đòi hỏi mà không bị ngăn cản thì lúc đó, con người có tự do Con người tự do là con người không bị lệ thuộc, biết đi tìm cái đúng, biết nghĩ đến cùng và biết xây dựng cho mình công nghệ để hành động theo trí tưởng tượng của mình Nói cách khác, tự do là khoảng không gian mà ở đó con người có được sự thống nhất giữa ý nghĩ và hành vi, con người yên tâm về sự tồn tại của mình, về hành động của mình mà không chịu sự áp đặt, kiềm tỏa của bất kỳ yếu tố nào Có thể nói, “tự do là quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành

Trang 24

vi”(Nguyễn Trần Bạt, 2007) Tự do nhận thức là nền tảng để con người đi tới tự do hành động Không có tự do nhận thức, con người không thể có tự do hành động bởi vì khi ấy, con người luôn vấp phải các ranh giới về mặt nhận thức, chuẩn mực Sự phát triển kinh tế, chính trị và văn hoá là điều kiện cần và đủ để mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi nhà nước duy trì và phát triển sự đúng đắn của mình Và ngượi lại, tự do hành động cá nhân lại tạo điều kiện cho việc mở rộng không gian nhận thức của mỗi cá nhân và cộng đồng, bởi thông qua tự do hành động, con người có điều kiện làm phong phú kinh nghiệm sống, kinh nghiệm văn hoá của mình, và do đó, có thể xúc tiến những cái mới về nhận thức và tự điều chỉnh nhận thức của mình Nói tóm lại, quan điểm sống tự do (nhận thức tự do) là kết quả của sự phát triển kinh tế xã hội, chính trị, văn hóa là tiền đề cho những hành vi tự do của con người

7 Cơ sở lý luận

7.1 Thuyết lựa chọn duy lý

Thuyết lựa chọn duy lý cho rằng con người là sinh vật lý tính Chính vì vậy mọi hành động của con người luôn có chủ đích và được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi thực hiện Khi một cá nhân có mục đích nào đó được hình thành từ những ham muốn riêng thì cá nhân đó sẽ tìm kiếm, vận động các nguồn lực để đạt được Tuy nhiên, nguồn lực của cá

nhân thì hạn hữu; do đó phải lựa chọn phương án tối ưu nhất tận dụng nguồn lực hiện

có để có được kết quả tốt nhất; như John Elser đã nói: “Khi đối diện với một số cáchhành động, mọi người làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất” (Lê Ngọc Hùng, 2009, tr.355)

Con người thực hiện một hành động sau khi đưa ra lựa chọn, và thuyết lựa chọn duy lý cho rằng cần phải đặt hành vi đó vào trong hệ thống xã hội bao gồm các cá nhân khác với các nhu cầu và sự mong đợi của họ(Lê Ngọc Hùng, 2009, tr.357) Sống trong một cộng đồng, cá nhân sẽ phải cân nhắc kỹ lưỡng sự lựa chọn của bản thân làm sao để đạt được nhiều lợi ích nhất có thể mà vừa hạn chế gây hại lên lợi ích của người khác

Trang 25

George Simmel cho rằng mối tương tác xã hội giữa các cá nhân đi theo cơ chế cho và nhận Cá nhân muốn thỏa mãn nhu cầu, đạt được mục đích thì cần phải có một sự trao đổi “ngang giá” giữa cá nhân đó với những cá nhân khác trong cộng đồng Sự “mặc cả” này diễn ra trong tiến trình xem xét những thứ sẽ phải bỏ ra và phần thưởng nhận lại được trong điều kiện hiện có

Áp dụng lý thuyết này vào đề tài nghiên cứu, nhóm xem người vợ/chồng là một cá nhân lý tính, có chủ ý Khi đưa ra quyết định sinh con, người vợ/chồng đó sẽ dựa trên điều kiện hạn hữu của bản thân và các yếu tố xung quanh như thế nào, khác biệt ra sao giữa một cặp vợ chồng sống ở vùng ngoại ô và trung tâm

7.2 Quan điểm gia đình hạt nhân của Talcott Parsons

Talcott Parsons là nhà xã hội học theo trường phái chức năng luận Trường phái chức năng luận đưa ra quan điểm rằng gia đình thực hiện 4 chức năng chính: sinh sản, tái sản xuất, kinh tế, giáo dục Trong xã hội truyền thống, gia đình là một tổ chức xã hội thu nhỏ đảm nhận các chức năng kể trên Nhưng xã hội truyền thống dịch chuyển thành

xã hội công nghiệp thì gia đình cũng biến đổi theo Gia đình mở rộng với đa thế hệ đã không còn phù hợp vớixã hội hiện đại mà thay vào đó là hình thành một hình thái mới

là gia đình hạt nhân

Gia đình hạt nhân gồm hai thế hệ (cha mẹ, con cái) theo Parsons thích hợp hơn trong

xã hội công nghiệp, vì khi di chuyển sang nơi khác tìm cơ hội nghề nghiệp thì gia đình hạt nhân sẽ dễ dàng hơn so với gia đình mở rộng Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình hạt nhân vẫn chặt chẽ với nhau như gia đình mở rộng nhưng khác biệt ở đây là nếu mối quan hệ của gia đình mở rộng là mối quan hệ yêu cầu bắt buộc thì mối quan hệ trong gia đình hạt nhân là mối quan hệ của lựa chọn Trong xã hội tiền công nghiệp, các thành viên phải hợp tác với nhau để cùng tồn tại và đảm nhận các chức năng

Trang 26

Với T Parsons, xã hội càng phát triển theo hướng công nghiệp thì gia đình càng có xu hướng thành gia đình hạt nhân Nguyên do xã hội công nghiệp là xã hội phân chia lao động, gia đình không còn phải đảm nhận nhiều chức năng Parsons cho rằng gia đình trở thành một đơn vị sản xuất và tiêu thụ

Với quan điểm của Parsons, nhóm có thể áp dụng để tìm ra sự khác biệt trong quyết định sinh con giữa gia đình sống ở vùng ngoại ô và trung tâm do ảnh hưởng hình thái KT-XH

7.3 Lý thuyết nữ quyền cấp tiến

Theo đà lịch sử thì có nửa “thế giới” đã bị bỏ quên, không được đoái hoài tới: Phụ nữ Khoảng thế kỷ XVIII- XIX bắt đầu manh nha những đợt sóng đầu tiên, đến thời nay (thế kỷ XXI), chúng ta ghi nhận có ba đợt sóng của chủ nghĩa nữ quyền Thuyết nữ quyền là tập hợp một cách có hệ thống quan điểm bảo vệ quyền bình đẳng của người phụ nữ ở mọi khía cạnh trong đời sống (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội) Lý thuyết

nữ quyền cấp tiến bắt đầu xuất hiện vào những năm cuối 1960 đầu 1970 Lý thuyết này

đã chỉ ra chế độ gia trưởng và tính dục là nguyên nhân cội rễ của sự áp bức phụ nữ, họ phản đối mọi cách giải thích dưới góc độ sinh học cho rằng vai trò của đàn ông, đàn bà trong gia đình (kể cả trong xã hội) đã được quy định bởi chức năng cơ thể: đàn ông thì mạnh mẽ, hướng ngoại nên đảm nhận các công việc bên ngoài (kiếm tiền, hoạt động chính trị, ); còn người phụ nữ thì nhút nhát, hướng nội và mang “thiên chức” làm vợ, làm mẹ nên ở nhà chăm sóc con cái, làm các công việc nội trợ (Vũ Mạnh Lợi, 2000) Một trong những mục tiêu của thuyết nữ quyền là đòi quyền “sở hữu” thân thể Không chỉ thoát khỏi sự lệ thuộc về mặt kinh tế, người phụ nữ có quyền quyết định thời điểm mang thai (Lorber, 2005) Sử dụng lý thuyết nữ quyền này để làm cơ sở lý thuyết mà không sử dụng các lý thuyết nữ quyền khác (Nữ quyền Maxit, nữ quyền tự do, nữ quyền xã hội Chủ nghĩa) là vì với lý thuyết này nhóm muốn tìm hiểu liệu khi tham gia vào thị trường lao động, phụ nữ rời khỏi những công việc vốn được xã hội mặc định

Trang 27

(nấu cơm, giặt đồ, ) và có công việc làm (khả năng tự lập tài chính) thì họ sẽ có tiếng nói trong việc chăm sóc nuôi dạy con, quyết định sinh con hay không?

8 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp sử dụng trong bài nghiên cứu này chủ yếu là định lượng (lập bảng hỏi, khảo sát, phân tích số liệu) Bên cạnh đó nhóm sử dụng thêm phương pháp phân tích thứ cấp, phỏng vấn sâu và so sánh khu vực trung tâm và ngoại ô tại Tp HCM để làm tăng tính thực tế, khả thi của đề tài cũng như mức độ chính xác của kết quả nghiên cứu Chúng tôi xử lý thông tin bằng phần mềm SPSS: tần số, tỉ lệ phần trăm, độ lệch chuẩn, tương quan, để kiểm định giả thuyết Đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu vài trường hợp và phân tích dữ liệu loạt bài theo chủ đề “cuộc chiến của con” trên báo Tuổi trẻ cuối tuần

Với phương pháp định lượng, phân tích spss nhóm sẽ tìm hiểu được những yếu tố bên ngoài nào tác động đến việc lựa chọn sinh con ở tp HCM Đây là phương pháp được

sử dụng nhiều nhất trong bài nghiên cứu này Ngoài ra, để phân tích ý nghĩa của đứa con, quan điểm về sinh con nhóm sử dụng phỏng vấn sâu và phân tích dữ liệu là bước nhóm tìm hiểu cách dạy dỗ của các bậc cha mẹ hiện nay

9 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng: Yếu tố tác động đến việc lựa chọn sinh con

- Khách thể nghiên cứu: Gia đình đã có con ở Tp.HCM (gia đình có độ tuổi của

vợ hoặc chồng hoặc cả hai từ 40 tuổi trở xuống)

Lý do nhóm chọn độ tuổi từ 40 trở xuống là vì: Chính sách Dân số -KHHGĐ của Việt Nam bắt đầu từ năm 1961 bằng Quyết định 216/CP của Hội đồng Chính phủ về việc sinh đẻ có hướng dẫn Nhưng do giai đoạn trước năm 1975, nước ta vẫn còn bị chia cắt làm hai miền nên rất khó được thực thi cũng như việc thực thi cũng không mang lại hiệu quả không cao Đến bắt đầu từ năm 1975 (tức 40 tuổi hiện tại), chính sách dân số

Trang 28

mới bắt đầu được phổ biến rộng rãi hơn và đến giai đoạn 1984 trở về sau chính sách này trở nên hoàn chỉnh hơn Vì vậy, những người sinh từ năm 1975 trở về sau là những người tiếp nhận hoàn toàn chính sách dân số -KHHGĐ từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành và đây cũng là nhóm đối tượng phù hợp để nhóm tìm hiểu

10 Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu

10.1 Mẫu nghiên cứu:

Mẫu là 200 gia đình (Khu vực trung tâm Tp HCM: 100; ngoại ô: 100)

Khu vực trung tâm Tp HCM, nhóm chọn quận 10 vì đây là một trong những quận trung tâm, có nền kinh tế phát triển nhất nhì thành phố

Khu vực ngoại ô, nhóm chọn huyện Củ Chi Huyện tuy thuộc Tp.HCM nhưng nằm ở ven đô (có thể được xem là ngoại ô)

10.2 Cách chọn mẫu:

Đối với những số liệu định lượng, nhóm thực hiện phương pháp chọn mẫu tình cờ, tiện lợi (convienience, accidental) - Những người có thể chọn những người gần gũi, thích hợp (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2010, tr.73-74) (vợ/chồng 40 tuổi trở xuống và đã có con)

để tiến hành thực hiện khảo sát Với phương pháp chọn mẫu này nhóm có thể tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí cho việc khảo sát và đây cũng là phương pháp phù hợp với điều kiện nghiên cứu của nhóm

Đối với những số liệu định tính, nhóm thực hiện phương pháp chọn mẫu tích lũy (snowball sampling) (Nguyễn Xuân Nghĩa , 2010 , tr 73 ) Với phương pháp này, nhóm

sẽ tìm kiếm đối tượng có những đặc tính theo yêu cầu của đề tài ( từ 40 tuổi trở xuống ,

đã kết hôn và có một con) để thực hiện phỏng vấn sau theo bảng hỏi cơ cấu Sau đó, những người được phỏng phấn gợi ý những nhóm đối tượng khác có cùng đặc điểm, đặc tính theo yêu cầu để tiếp tục thực hiện phỏng vấn Như vậy mẫu càng lúc càng lớn

Trang 29

dần như một “tảng tuyết lăn” (Nguyễn Xuân Nghĩa , 2010 , tr 74 ) Nhưng do đây là hai trong những phương pháp phi xác suất nên số kết quả nghiên cứu chỉ đúng trong nhóm đối tượng nghiên cứu (tính đại diện thấp) và số liệu có thể bị sai lệch do những người gần gũi thường có một số đặc điểm tương đồng về nhân khẩu học hay tâm lý

Trang 30

PHẦN 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU VÀ LỰA CHỌN SINH CON PHÂN THEO KHU VỰC, TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN, THU NHẬP, NGHỀ NGHIỆP CỦA KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

Quận 10

Dân số của quận 10 tính đến thời điểm 31/12/2011 là 235.024 người, mật độ dân số trung bình là 41.077 người/km2 Là một quận thuộc nội thành, quận 10 có nền kinh tế khá ổn định và bền vững Quận đã đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại - dịch vụ - sản xuất Trong lĩnh vực thương mại trên địa bàn quận đã diễn ra khá nhanh với các tuyến đường trung tâm khai thác rất hiệu quả trong thương mại - dịch vụ Cùng với thành phố, hệ thống chợ, siêu thị – trung tâm thương mại của quận liên tục được xây dựng, cải tạo, nâng cấp mới làm cho hoạt động thương mại - dịch vụ diễn ra sôi nổi, phong phú, đa dạng Bên cạnh đó, địa phương cũng tập trung phát triển mô hình kinh doanh các khu chuyên doanh về ẩm thực, đồ cưới, trang thiết bị gia đình và văn phòng,…Theo thông tin trên webside của quận thì được biết tốc

độ tăng trưởng trên lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp bình quân hằng năm luôn vượt chỉ tiêu kế hoạch 14,58%; trong đó khu vực kinh tế quốc doanh tăng bình quân 16,94%, khu vực ngoài quốc doanh tăng bình quân 13,67% Tốc độ tăng trưởng thương mại - dịch vụ hàng năm tăng bình quân 16,98%; trong đó, các công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh ngiệp tư nhân và thương nghiệp - dịch vụ tư nhân, cá thể có tỉ lệ tăng khá cao, chiếm tỉ trọng lớn trên tổng doanh thu hằng năm1

Đây là nơi tập trung các bệnh viện lớn như: Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Nhân dân 115, Bệnh viện Trưng Vương Quận 10 cũng tập trung khá nhiều các trường đại

1Ủy ban nhân dân quận 10, (2006), Quận 10 tiếp tục phát triển kinh tế theo hướng thương

mại-dịch vụ và sản xuất Theo đường dẫn:ww.quan10.hochiminhcity.gov.vn

Trang 31

học lớn như: Trường Đại học Bách Khoa, đại học Kinh tế, đại học Ngoại ngữ - Tin học

Tp HCM, Học viện Hành chính Quốc gia (Cơ sở Tp HCM),…Ngoài ra, quận còn có

32 trường mầm non, 11 trường THCS và 9 trường THPT

550 tấn sữa tươi/ngày1

Theo báo cáo tình hình KT-XH năm 2014 của UBND huyện Củ Chi thì ước lượng giá trị sản xuất toàn ngành theo giá thực tế đạt 47.296.351 tỉ đồng, tăng 18,43% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, thương mại - dịch vụ tăng 17,06%, công nghiệp - thông tin công nghệ tăng 20,65%, nông nghiệp tăng 8,22%2

Cũng theo báo cáo tình hình KT-XH năm 2014 của UBND huyện Củ Chi, thì đến 2014 huyện vẫn tiếp tục duy trì đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, THCS, THPTvà giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi Trong năm, huyện có 4 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia theo 5 tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục -Đào tạo (THCS Tân An Hội, Trung An, tiểu học Tân Thạnh Đông, mầm non Hòa Phú) nâng

1Tình hình phát triển kinh tế của Củ Chi xưa & nay Theo đường dẫn:

cuchi.hochiminhcity.gov.vn Truy cập 1/11/2016

2Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi (2014) Theo đường dẫn: http://cuchi.hochiminhcity.gov.vn.Truy cập 01/11/2016

Trang 32

tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 19 trường Có 3 trường đang triển khai thực hiện

mô hình trường tiên tiến hiện đại ngang tầm khu vực: trường tiểu học An Phú 1, nầm non Tân Thông Hội 2 và THCS Thị Trấn 2; có 8 trường được đề nghị công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Năm 2014, địa phương đã đào tạo nghề cho7.642/5.056 người, đạt 151,15%, nâng số lao động qua đào tạo nghề là 140.775 người, đạt 77,41%

Đã giải quyết việc làm 11.398/8.000 người, đạt tỉ lệ 142,48%; tạo việc làm mới cho 6.483/4.000 lao động, đạt tỉ lệ 162,08%; giảm tỉ lệ thất nghiệp trên địa bàn giảm còn 2% Số hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 3.829 hộ, chiếm tỉ lệ 3,78%;số hộ cận nghèo trên địa bàn huyện đến nay là 9.712 hộ dân, chiếm tỉ lệ 9,58%

2 Đặc điểm nhân khẩu

2.1 Giới tính

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên địa bàn nghiên cứu (Quận 10 và huyện Củ Chi) với

71 nam và 129 nữ chiếm tỉ lệ phần trăm tương ứng là 35,5 và 64,5

2.2 Độ tuổi:

200 người tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 30,265 Trong đó, 50% người tham gia nghiên cứu có độ tuổi từ 30 trở lên và 28 tuổi là độ tuổi tham gia khảo sát này nhiều nhất

2.3 Độ tuổi kết hôn

Ở hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước ở Châu á, mô hình hôn nhân đang biến đổi từ mô hình truyền thống sang hiện đại Đặc trưng chủ yếu của quá trình này là tuổi kết hôn tăng, tỉ lệ những người sống độc thân cao, các cá nhân có quyền tự

do lớn hơn trong quyết định hôn nhân của mình (P C Smith 1980, dẫn theo Nguyễn Hữu Minh, 1995) Trong 200 người được phỏng vấn, độ tuổi kết hôn của người sống ở trung tâm có điểm trung bình là 25,97 và có trung vị là 26; còn độ tuổi kết hôn của đối tượng nghiên cứu sống ở ngoại ô có điểm trung bình là 23,54 và có trung vị là 24 Kết

Trang 33

quả thống kê này phần nào có sự tương đồng với điều tra 01/04/2013, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam là 26,4 (Thành thị: 27,7; nông thôn: 25,8) và nữ là 22,5

(thành thị: 24,1; nông thôn: 21,8) (Điều tra biến động Dân số - KHHGĐ, 2013)

2.4 Độ tuổi sinh con:

Bảng 1: Độ tuổi sinh con cho ta thấy những đối tượng tham gia nghiên cứu sống ở trung tâm có điểm trung bình là 27,36 và độ tuổi sinh con của người sống ở ngoại ô có điểm trung bình là 24,71

Bảng 1: Độ tuổi sinh con và độ tuổi sinh con trong gia đình

Khu vực Độ tuổi sinh con Số con trong gia đình

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

2.5 Số con trong gia đình

Kết quả khảo sát (Bảng 1) cho thấy, ở trung tâm số con trong gia đình có điểm trung bình là 1,29 và số con trong gia đình ở ngoại ô có điểm trung bình là 1,38 Có 50% đối tượng tham gia nghiên cứu sống ở trung tâm và ngoại ô có 1 con Liên hệ kết quả này đến mức sinh của tp Hồ Chí Minh do Tổng cục thống kê báo cáo năm 2012, chúng tôi nhận thấy kết qủa có sự tương đồng Mức sinh giảm trong thời gian này là vì các cặp

vợ chồng ít đẻ ba hoặc nhiều hơn con Trong những năm gần đây, nhiều người trẻ hoàn toàn không kết hôn và những người kết hôn đều ở độ tuổi lớn (muộn hơn so với trước những năm 1970 hoặc những năm 1980) Hai xu hướng (không kết hôn và kết hôn muộn) chiếm một nữa hoặc hơn nguyên nhân làm suy giảm mức sinh thay thế, một xu hướng chiếm hầu như rất ít những phụ nữ có hơn hau con quan sát cho đến ngày nay (Sidney B Westley Minija Kim Choe and Robert D Retherford, 2010, tr 5)

Trang 34

2.6 Thu nhập

Tp HCM nằm ở vùng I (nơi có các tiêu chí được đánh giá là khu vực phát triển) do đó

có mức sống cao hơn với các vùng khác Cụ thể Nghị định 122/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, cũng đã quy định mức lương tối thiểu của Tp HCM là 3.500.000 đồng/tháng1 Và theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTG ban hành ngày 19 tháng 11 năm 2015 về chuẩn nghèo

đa chiều trong đó tiêu chí đo lường hộ nghèo thu nhập (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016) như sau: chuẩn nghèo ở thành thị có thu nhập 900.000 đồng/người/tháng; chuẩn cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 1.300.000 đồng/người/tháng2 Từ những quyết định, nghị định của chính phủ, nhóm quyết định chia thu nhập của các đối tượng tham gia nghiên cứu các mức độ như sau: Nhóm dưới trung bình (từ 4 triệu đến 8 triệu VND); Nhóm trung bình (trên 8 triệu đến

12 triệu VND); Nhóm trên trung bình (từ 12 triệu đến 16 triệu VND); Nhóm khá giả (trên 16 triệu VND)

Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa khu vực đang ở với thu nhập của gia đình Trong 100 người ở trung tâm có 18% thu nhập từ 4 triệu đến 8 triệu, 17% thu nhập trên

8 triệu đến 12 triệu, 19% thu nhập trên 12 triệu đến16 triệu và trên 16 triệu chiếm 46% Bên cạnh đó, trong 100 người ở ngoại ô có 22% thu nhập từ 4 triệu đến 8 triệu, 43% thu nhập trên 8 triệu đến 12 triệu, 10% thu nhập trên 12 triệu đến 16 triệu và trên 16 triệu chiếm 25% Điểm khác biệt phần trăm giữa 2 nhóm trung tâm, ngoại ô trong thu nhập từ 4 triệu đến 8, trên 12 triệu đến 16 tương đối thấp (4% và 9%) và điểm khác biệt

1Bộ Tư pháp (2015) Nghị định số: 122/2015/NĐ-CP.Quy định mức lương tối thiểu vùng đối

với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại,hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động

2Chính phủ Việt Nam (2015) Quyết định số: 59/2015/QĐ-TTg Về việc ban hành chuẩn hộ

nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020

Trang 35

phần trăm tương đối ở những gia đình có thu nhập trên 8 triệu đến 12 triệu, trên 16 triệu chiếm 24% Nhóm thu nhập chiếm tỉ lệ cao nhất ở trung tâm là nhóm khá giả (trên 16 triệu VND), còn ở ngoại ô là nhóm trung bình (trên 8 triệu đến 12 triệu VND)

Biểu đồ 1: Tổng thu nhập gia đình (ĐVT:%)

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Bảng 2: Thu nhập gia đình phân theo khu vực

Thu nhập hộ gia đình Trung tâm Ngoại ô

4 triệu đến 8 triệu

Trang 36

Thu nhập hộ gia đình Trung tâm Ngoại ô

Chi-Square= 20,671; df= 3; 0% số ô có tần số kỳ vọng nhỏ hơn 5; Sig =0,001

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Từ đó cho thấy rằng, thành thị có mức sống cao, đời sống vật chất đầy đủ và vấn đề tiền bạc là một vấn đề quan trọng đòi hỏi thời gian và cống hiến của người trung tâm Các gia đình sống ở trung tâm có thể sẽ dành nhiều thời gian hơn cho sự nghiệp, do đó

sẽ kết hôn và có con muộn hơn các gia đình ngoại ô Việc một người trong gia đình kiếm tiền sẽ không đủ nuôi sống gia đình, cùng với khả năng chi trả tại tp HCM (nơi

có mức chi tiêu cao) có ảnh hưởng đến quyết định sinh con cũng như việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc con của người dân tại khu vực trung tâm, ngoại ô hay không?

2.7 Trình độ học vấn

Trình độ học vấn của vợ và chồng cho thấy không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống

kê giữa trình độc học vấn của người chồng ở trung tâm và ngoại ô Trong 100 gia đình sống ở trung tâm, người chồng có trình độ học vấn từ THPT trở xuống là 27%, trung cấp/ Cao đẳng là 30%, đại học, trên đại học là 43% Trong 100 gia đình sống ở ngoại ô, người chồng có trình độ học vấn THPT trở xuống là 34%, trung cấp/cao đẳng là 23%, đại học, trên đại học là 43% Tuy nhiên trình độ học vấn của phụ nữ ở trung tâm và

Trang 37

ngoại ô có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, trong 100 gia đình tham gia nghiên cứu sống ở trung tâm có 33% phụ nữ có trình độ học vấn từ THPT trở xuống, 22% có trình độ trung cấp/ Cao đẳng và 45% phụ nữ có trình độ đại học, trên đại học Còn ở khu vực ngoại ô, trong 100 gia đình tham gia nghiên cứu, có 56% phụ nữ có trình độ học vấn từ THPT trở xuống, 16% trung cấp/ cao đẳng và 28% có trình độ đại học, trên đại học Điểm khác biệt phần trăm giữa phụ nữ trung tâm và ngoài ô có trình độ học vấn từ THPT trở xuống và đại học, trên đại học ở mức tương đối (23% và 17%)

Biểu đồ 2: Trình độ học vấn (ĐVT:%)

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Nhìn chung, trình độ học vấn của hai vợ chồng sống ở trung tâm cao và tương đồng với nhau và việc giáo dục đã được phổ cập đến các gia đình kể cả ở trung tâm và ngoại ô

Trang 38

Bảng 3: Trình độ học vấn của chồng và vợ phân theo khu vực

Trình độ học vấn Chồng Trình độ học vấn Vợ Trung tâm Ngoại ô Trung tâm Ngoại ô

27%

34 34%

33 33%

56 56% Trung cấp/ Cao đẳng 30

30%

23 23%

22 22%

16 16% Đại học, trên đại học 43

43%

43 43%

45 45%

28 28%

100%

100 100%

100 100%

100 100% Chi-Square= 1,728; df= 2;

0% số ô có tần số kỳ vọng nhỏ hơn 5; Sig= 0,422

Chi-Square= 10,85; df= 2; 0%

số ô có tần số kỳ vọng nhỏ

hơn 5; Sig= 0,004

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Kết quả khảo sát trên đã được nhắc đến trong bài nghiên cứu của Aysegul Sahin (2004) giới tính của cá nhân, khu vực sống là hai trong những yếu tố ảnh hưởng đến trình độ học vấn của cá nhân (Aysegul Sahin, 2004 Orazio Attanasio Emla Fitzsimons Ana

Gomez)

2.8 Nghề nghiệp

Nghề nghiệp là một biểu hiện của trình độ và năng lực cá nhân Trên thế giới hiện có nhiều tiêu chuẩn để phân loại nghề nghiệp Để có sự thống nhất trong báo cáo này, nhóm quyết định sử dụng tiêu chuẩn phân loại nghề nghiệp của Hoa Kỳ năm 2010 Nghề nghiệp được phân loại dựa trên công việc được thực hiện và trong một trường hợp phụ thuộc vào kỹ năng, bằng cấp và yêu cầu đối với những công việc nhất định (Phan Thị Vinh, 2016) Nhóm chia nghề nghiệp theo nhóm: Lao động phổ thông; Lao động tự do; Lao động tri thức

Trang 39

Bảng 4: Nghề nghiệp chồng và vợ phân theo khu vực

Nghề nghiệp Chồng Nghề nghiệp vợ Trung tâm Ngoại ô Trung tâm Ngoại ô Lao động phổ thông 22

22%

42 42%

16 16%

34 34%

21%

14 14%

29 29%

29 29%

Lao động tri thức 57

57%

44 44%

55 55%

37 37%

100%

100 100%

100 100%

100 100% Chi-Square= 9,323; df= 2;

0% số ô có tần số kỳ vọng

nhỏ hơn 5; Sig= 0,009

Chi-Square= 10,002; df= 2; 0% số ô có tần số kỳ vọng

nhỏ hơn 5; Sig= 0,007

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Nghề nghiệp của chồng và vợ ở trung tâm và ngoại ô đều có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê Trong 100 gia đình sống ở trung tâm có 22 người chồng là lao động phổ thông, 21 người là lao động tự do và 57 người là lao động tri thức, tương ứng với

tỷ lệ phần trăm là 22%, 21%, 54% Ở ngoại ô, người chồng là lao động phổ thông chiếm 42% (42 người), lao động tự do chiếm 14% (14 người) và lao động tri thức chiếm 46% (46 người) Điểm khác biệt phần trăm mang tính tương đối giữa khu vực trung tâm và ngoại ô mang tính tương đối trong nhóm nghề lao động phổ thông và lao động tri thức (20% và 13%) Cũng 100 gia đình sống tại trung tâm có 16 người vợ thuộc nhóm lao động phổ thông, 29 người thuộc nhóm lao động tự do, 55 người thuộc nhóm lao động tri thức tương ứng với 16%, 29%, 55% Điểm khác biệt phần trăm mang tính tương đối trong nhóm nghề lao động phổ thông và lao động tri thức của người vợ ở 2 khu vực (18% ở cả 2 nhóm nghề) Nhìn chung ở trung tâm hay ngoại ô thì nhóm lao động tay nghề và lao động tự do chiếm tỉ lệ thấp và phụ nữ trong nhóm ngành lao động tự do (Ở đây là buôn bán, nội trợ,…) luôn cao hơn nam giới Phụ nữ ở

Trang 40

trung tâm tham gia vào nhóm lao động tri thức rất cao hơn phụ nữ ở ngoại ô do trình độ học vấn của họ cao hơn so với ngoại ô

2.9 Cấu trúc gia đình

Số gia đình sống chung/gia đình hạt nhân với cha mẹ ở trung tâm và ngoại ô không có

sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê Trong công cuộc đô thị hóa, hiện đại hóa, quy mô, kích cỡ của gia đình VN đang dần đân bị “thu hẹp lại”, gia đình hạt nhân (sống riêng)

là một hiện tượng phổ biến đặc biệt là ở khu vực trung tâm Kết quả điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 cũng cho thấy kết quả tương tự, số hộ gia đình hai thế hệ chiếm hơn một nữa (63,4%)

Bảng 5: Cấu trúc gia đình phân theo khu vực

38%

35 35%

62%

65 65%

Chi- square= 0,194; df= 1; 0% số ô có tần số kỳ vọng nhỏ hơn 5; Sig.= 0,769

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Theo kinh tế học đô thị, đất đô thị và đất nông thôn đều có cung bằng nhau, không tăng, giảm theo thời gian, theo sự phát triển xã hội Nếu đất ở nông thôn là tư liệu sản xuất (là đối tượng lao động, tư liệu lao động) thì đất ở đô thị là mặt bằng sản xuất (việc

sử dụng đất có thể thay đổi linh động tùy theo mục đích sử dụng: nhà ở, xí nghiệp, văn phòng,…) Sự di cư, tích tụ dân cư, đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm tăng mật độ dân số, tăng tính cạnh tranh tại đô thị đặc biệt ở khu vực trung tâm Cạnh tranh đô thị là cạnh tranh không gian (cạnh tranh đất) Đất ở đô thị bị cạnh tranh bởi nhiều nhóm khác nhau với nhiều mục đích khác nhau Điều này khiến cho giá đất tăng cao Giá trị của mảnh đất phụ thuộc vào khả năng sinh lời của nó, phụ thuộc vào vị trí cố định (ở mặt

Ngày đăng: 24/06/2016, 20:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (2014). Luật hôn nhân gia đình.B. Tài liệu thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân gia đình
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2014
3. Tổng cục dân số- KHHGĐ. (2011). Dân số học – Tài liệu dùng cho chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ dân số. KHHGĐ. Hà Nội. Tr 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số học – Tài liệu dùng cho chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ dân số. KHHGĐ
Tác giả: Tổng cục dân số- KHHGĐ
Năm: 2011
4. Tổng cục dân số -KHHGĐ. 2011. Dân số học. Hà Nội. Tr 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số học
5. Tổng cục thống kê. 2011. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 Mức sinh và mức chết ở Việt Nam: Thực trạng. xu hướng và những khác biệt. Hà Nội.2011.C. Sách, báo, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 Mức sinh và mức chết ở Việt Nam: Thực trạng. xu hướng và những khác biệt
2. Barbara H. Settle. (2000). Sociology of the Family: Global Advances and Challenges. In S. R. Sales, The International Handbook of Sociokogy. London:SAGE Publications Sách, tạp chí
Tiêu đề: The International Handbook of Sociokogy
Tác giả: Barbara H. Settle
Năm: 2000
3. Đặng Cảnh Khanh. (2003). Văn hóa gia đình trong các chiều cạnh của cơ cấu xã hội. Tạp chí xã hội học số 4 (84) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình trong các chiều cạnh của cơ cấu xã hội
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh
Năm: 2003
4. Đỗ Hồng Quân. (2016). Xã Hội Học Phát triển. chương 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã Hội Học Phát triển
Tác giả: Đỗ Hồng Quân
Năm: 2016
6. Đỗ Thái Đồng. (1983).Chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Tạp chí Xã hội học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình
Tác giả: Đỗ Thái Đồng
Năm: 1983
7. Đoàn Kim Thắng. (1985). Quan niệm của người nông dân về đẻ con trai và đẻ con gái. Tạp chí Xã hội học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của người nông dân về đẻ con trai và đẻ con gái
Tác giả: Đoàn Kim Thắng
Năm: 1985
9. Durkheim E. (1895). Các quy tắc của phương pháp xã hội học. (dịch bởi Đinh Hồng Phúc, 2012).Nxb Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc của phương pháp xã hội học
Nhà XB: Nxb Tri Thức
10. Griffiths. Michael. B. (2010) Lamb Buddha's Migrant Workers: Self-assertion on China's Urban Fringe'. China Aktuell. tr6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lamb Buddha's Migrant Workers: Self-assertion on China's Urban Fringe'
11. Hà Văn Tác. (2011). Vai trò của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa. hiện đại hóa ở tp. Hồ Chí Minh. NXB Thanh Niên. Tr 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Vai trò của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa. hiện đại hóa ở tp. Hồ Chí Minh
Tác giả: Hà Văn Tác
Nhà XB: NXB Thanh Niên. Tr 22
Năm: 2011
13. Hoàng Bá Thịnh. (2009). Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn. Tạp chí Xã hội học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Năm: 2009
14. Hoàng Phê. (1996). Từ điển Tiếng Việt. Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1996
15. Korte H. (1997). Nhập môn lịch sử xã hội học. (dịch bởi Nguyễn Liên Hương). Hà Nội: Nxb Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lịch sử xã hội học
Tác giả: Korte H
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 1997
16. Lâm Thị Ánh Quyên. (2013). Xã hội học đô thị. Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đô thị
Tác giả: Lâm Thị Ánh Quyên
Năm: 2013
17. Lâm Thị Ánh Quyên. (2013). Xã hội học lối sống. Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học lối sống
Tác giả: Lâm Thị Ánh Quyên
Năm: 2013
18. Lê Ngọc Hùng. (2009). Lịch sử và Lý thuyết xã hội học. Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
14. Tình hình phát triển kinh tế của Củ Chi xưa & nay. Tại đường dẫn: http://cuchi.hochiminhcity.gov.vn. Truy cập 1/11/2015 Link
16. Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi. (2014). Theo đường dẫn: http://cuchi.hochiminhcity.gov.vn.Truy cập 1/11/2015 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Thu nhập gia đình phân theo khu vực - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 2 Thu nhập gia đình phân theo khu vực (Trang 35)
Bảng 4: Nghề nghiệp chồng và vợ phân theo khu vực - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 4 Nghề nghiệp chồng và vợ phân theo khu vực (Trang 39)
Bảng 5: Cấu trúc gia đình phân theo khu vực - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 5 Cấu trúc gia đình phân theo khu vực (Trang 40)
Bảng 6: Độ tuổi kết hôn, độ tuổi sinh con và số con trong gia đình phân theo khu vực - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 6 Độ tuổi kết hôn, độ tuổi sinh con và số con trong gia đình phân theo khu vực (Trang 42)
Bảng 7: Sở thích con trai/con gái của gia đình phân theo khu vực - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 7 Sở thích con trai/con gái của gia đình phân theo khu vực (Trang 43)
Bảng 8: Quyết định sinh thêm con của gia đình phân theo trình độ học vấn vợ - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 8 Quyết định sinh thêm con của gia đình phân theo trình độ học vấn vợ (Trang 44)
Bảng  13:Mức  độ  đồng  ý  nhận  định  “Gia  đình  buộc  chúng  tôi  phải  có  con”,  “Không - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
ng 13:Mức độ đồng ý nhận định “Gia đình buộc chúng tôi phải có con”, “Không (Trang 54)
Bảng 18: Ma trận xoay nhân tố của các quan điểm sinh con - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 18 Ma trận xoay nhân tố của các quan điểm sinh con (Trang 60)
Bảng 21: Mức độ gửi con cho dịch vụ, cơ sở; gia đình của khách thể nghiên cứu phân - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 21 Mức độ gửi con cho dịch vụ, cơ sở; gia đình của khách thể nghiên cứu phân (Trang 66)
Bảng  22:Việc  “Nuôi  dạy  con  cái”  và  quyền  “quyết  định  sinh  con”của  phụ  nữ    phân - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
ng 22:Việc “Nuôi dạy con cái” và quyền “quyết định sinh con”của phụ nữ phân (Trang 67)
Bảng 23: Mức độ đồng ý với nhận định “Nuôi con để sau này con nuôi mình” - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 23 Mức độ đồng ý với nhận định “Nuôi con để sau này con nuôi mình” (Trang 71)
Bảng 24: Bảng thống kê số lượt chọn về “Thế nào là nuôi dạy con tốt” - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 24 Bảng thống kê số lượt chọn về “Thế nào là nuôi dạy con tốt” (Trang 75)
Bảng 27:Bảng thống kê kỳ vọng của các bậc phụ huynh đối với con của mình - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC  LỰA CHỌN SINH CON VÀ Ý NGHĨA CỦA  ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH TẠI THÀNH  PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Bảng 27 Bảng thống kê kỳ vọng của các bậc phụ huynh đối với con của mình (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w