Bởi vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài khóa luận: “Tạo biểu tượng nhân vật để giáo dục nhân cách cho học sinh trong DHLS Việt Nam thế kỷ X – XV lớp 10 THPT chương trình chuẩn”, hi vọng đưa r
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TẠO BIỂU TƯỢNG NHÂN VẬT
ĐỂ GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRONG DHLS VIỆT NAM (THẾ KỶ X – XV) LỚP 10 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Nguyễn Thị Thế Bình
Chuyên ngành : Phương pháp dạy học Lịch sử
Trang 2Hà Nội – 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị
Thế Bình - người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và truyền đạt cho em những
kinh nghiệm khoa học quý báu giúp em hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa Lịch sử,trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong những nămhọc qua Cảm ơn các thầy cô giáo và học sinh trường THPT Hồng Quang(Hải Dương), THPT Quang Trung (Hà Nội) đã tạo điều kiện giúp em thựchiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Chiên
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
4 Mục đích nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
7 Giả thuyết nghiên cứu 7
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
9 Cấu trúc của khóa luận 8
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT ĐỂ GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 9
1.1.1.1 Biểu tượng và biểu tượng nhân vật lịch sử 9
1.1.1.2 Nhân cách và giáo dục nhân cách học sinh 12
1.1.2 Biểu hiện của nhân cách con người và ưu thế của bộ môn Lịch sử với việc giáo dục nhân cách HS 13
1.1.2.1 Biểu hiện của nhân cách con người 13
1.1.2.2 Ưu thế của bộ môn Lịch sử đối với việc giáo dục nhân cách học sinh 17
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách HS 22
1.1.4 Cơ sở xuất phát của việc tạo biểu tương nhân vật để giáo dục nhân cách học sinh trong DHLS ở trường THPT 25
1.1.4.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử đối với việc giáo dục nhân cách cho HS 25
Trang 41.1.4.2 Đặc điểm của kiến thức lịch sử 26
Trang 51.1.4.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT 28
1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng nhân vật đối với việc giáo dục nhân cách học sinh trong DHLS ở trường THPT 29
1.1.5.1 Vai trò 29
1.1.5.2 Ý nghĩa 30
1.2 Cơ sở thực tiễn 34
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG NHÂN VẬT ĐỂ GIÁO DỤC NHÂN CÁCH HỌC SINH TRONG DHLS VIỆT NAM (THẾ KỈ X – XV) LỚP 10 – THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 42
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam (thế kỉ X – XV) lớp 10 THPT 42
2.1.1 Vị trí 42
2.1.2 Mục tiêu 42
2.1.3 Nội dung cơ bản phần Lịch sử Việt Nam lớp 10 (thế kỉ X – XV) 43
2.2 Lựa chọn các nhân vật lịch sử có thể và cần tạo biểu tượng để giáo dục nhân cách cho HS 44
2.3 Một số yêu cầu cơ bản khi tạo biểu tượng nhân vật để giáo dục nhân cách học sinh trong DHLS Việt Nam (thế kỉ X – XV) 49
2.4 Một số biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng nhân vật trong DHLS nhằm giáo dục nhân cách HS 52
2.4.1 Sử dụng câu chuyện về nhân vật để tạo biểu tượng, qua đó giáo dục nhân cách HS 52
2.4.2 Sử dụng tranh ảnh chân dung kết hợp với nêu đặc điểm để tạo biểu tượng nhân vật, qua đó giáo dục nhân cách HS 55
2.4.3 Sử dụng phương pháp đóng vai để tạo biểu tượng nhân vật, qua đó giáo dục nhân cách HS 58
2.3.4 Sử dụng câu nói nổi tiếng của nhân vật để tạo biểu tượng lịch sử, qua đó giáo dục nhân cách HS 61
Trang 62.4.5 Sử dụng phương pháp so sánh nhân vật nổi tiếng hiện nay với nhân vật
lịch sử để giáo dục nhân cách HS 64
2.5 Thực nghiệm sư phạm 68
Tiểu kết chương II 73
PHẦN KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 7CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh nhân cách conngười là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới sự pháttriển của xã hội Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc trọng lễ nghĩa, nhân ái,khoan dung Nhân cách của người Việt Nam trong lịch sử là di sản quý giá, làtruyền thống tốt đẹp của dân tộc Ngay từ ngày xưa, ông cha ta đã khuyên nhủ
“đói cho sạch, rách cho thơm” hay “giấy rách phải giữ lấy lề” nghĩa là dù
trong hoàn cảnh nào, con người cũng phải giữ vững được những phẩm chấttốt đẹp Trong bối cảnh hiện nay, nước ta đang hòa vào làn sóng toàn cầu hóatạo nên những biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ trên mọi mặt của đời sống xã hội.Việc hội nhập, mở cửa tạo ra nhiều thời cơ lớn cho nước ta trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên ở một góc độ khác, chúng ta cũngđang phải đối mặt với các vấn đề xã hội ngày càng trở nên nhức nhối, đángbáo động Đó là sự tha hóa về đạo đức lối sống, nhân cách của một bộ phậnkhông nhỏ dân cư đặc biệt là học sinh THPT Một số học sinh có những biểu
hiện đáng lo ngại như: thực dụng, mắc bệnh “vô cảm”, mờ nhạt lý tưởng
sống Vì vậy, việc giáo dục nhân cách cho học sinh THPT – những côngdân tương lai của đất nước trở thành một trong những vấn đề giáo dục cấpthiết, đặt ra nhiệm vụ lớn cho nền giáo dục nước nhà
Cùng với tất cả các môn học và các hoạt động ở trường phổ thông, việcdạy học lịch sử góp phần giáo dục thế hệ trẻ theo mục tiêu đào tạo đã đượcxác định Nhưng dạy và học lịch sử giờ đây không phải là chỉ ghi nhớ một số
sự kiện, một vài chiến công nói lên tiến trình đi lên của dân tộc hoặc chỉ ghinhớ công ơn của một số người làm nên sự nghiệp to lớn đó, mà còn phải biếttìm hiểu, tiếp nhận những nét đẹp của đạo đức, của đạo lí làm người ViệtNam; vì đó chính là cái gốc của mọi sự nghiệp lớn hay nhỏ của dân tộc khôngphải chỉ ở thời xưa mà ở cả ngày nay Đặc biệt, trong tiến trình lịch sử Việt
Trang 9Nam, với niềm tự hào chân chính và ý thức vươn lên, từ thế kỉ X cho đến thế
kỉ XV, nhân dân ta đã xây dựng nên một thời đại phong kiến độc lập, hưngthịnh và giành thắng lợi vẻ vang ở các cuộc kháng chiến giữ nước Vì vậy,đây là giai đoạn nở rộ các nhân vật lịch sử mang tầm vóc của thời đại Ngườigiáo viên có thể lấy những tấm gương anh dũng, kiên trung của các tướng lĩnhkiệt xuất như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn hay những con người với
nhân cách thấp hèn, sẵn sàng “bán nước cầu vinh” cần phê phán như Trần Ích
Tắc để nêu gương cho học sinh học tập, tự suy nghĩ về trách nhiệm của bảnthân đối với đất nước Mặt khác, qua điều tra thực tiễn việc dạy học lịch sử ởtrường phổ thông và về nhận thức của thanh thiếu niên học sinh nhất là lớp 10đầu cấp hiện nay, có một bộ phận không nhỏ chưa hiểu rõ và tỏ ra thờ ơ đốivới các nhân vật lịch sử, kể cả các nhân vật lịch sử tiêu biểu của dân tộc Sựnhận thức lịch sử của học sinh hời hợt, sai lệch, làm ảnh hưởng đến thái độ, tưtưởng tình cảm và hành động của các em trong cuộc sống
Từ những vấn đề lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi cho rằng, việc tạobiểu tượng nhân vật trong DHLS có vai trò quan trọng góp phần nâng caochất lượng dạy học của bộ môn và đặc biệt là tập trung giáo dục nhân cáchcho học sinh Từ đó, khơi dậy niềm say mê học tập đồng thời bồi dưỡngnhững phẩm chất quý báu, cần thiết cho thế hệ trẻ - thế hệ tương lai của đất
nước Bởi vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài khóa luận: “Tạo biểu tượng nhân vật để giáo dục nhân cách cho học sinh trong DHLS Việt Nam (thế kỷ X – XV) lớp 10 THPT (chương trình chuẩn)”, hi vọng đưa ra những đề xuất hữu
ích góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử tạitrường THPT
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong bộ sách Đổi mới phương pháp dạy học gồm các cuốn: Nghệ thuật
và khoa học dạy học – tác giả Robert J Marzano; Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả - tác giả James H Stronge; Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi – tác giả Giselle o Martin-Kniep; Quản lí lớp học hiệu
Trang 10quả - tác giả Robert J Marzano, Jana S.Marzano &Debra J Pickering… được
NXB Giáo dục Việt Nam tổ chức dịch sang tiếng Việt đã chỉ ra rằng: Khó cómột phương pháp dạy học nào phù hợp với mọi học sinh và mọi lớp học Điềutốt nhất là có thể tìm ra một phương pháp dạy học có nhiều khẳ năng nhất để
thực sự có hiệu quả với các học sinh Trong đó, cuốn Nghệ thuật và khoa học dạy học của tác giả Robert J Marzano khẳng định: “Việc dạy bằng trực quan
và dạy bằng diễn kịch có hiệu quả cao hơn hẳn cách dạy bằng lời về tỉ lệ của thông tin học sinh nhớ lại được sau một năm khi đã học xong đơn vị bài học Nói một cách đơn giản, dạy bằng trực quan là giúp học sinh tạo ra những hình ảnh tâm lí về nội dung được dạy… cung cấp những cấu trúc vững chắc cho việc tổ chức và lưu lại nội dung môn học trong trí nhớ…” [36; tr44] Nhà giáo dục Liên Xô M Crugiăc trong cuốn “ Phát triển tư duy HS như thế nào”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1973 cũng đã chỉ rõ việc tạo biểu tượng
lịch sử có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với phát triển tư duy học sinh Ông
khẳng định “Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan là phương pháp tốt nhất phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh” [tr.76].
M.N Sacdacop trong quyển “Tư duy học sinh” tập II, NXB Giáo dục,
1970 còn chỉ rõ thêm: “Biểu tượng ở mức độ hoàn chỉnh mang tính khái quát, gần với khái niệm đơn giản Không tạo biểu tượng việc dạy học lịch sử không
có kết quả” [tr120].
Ở Việt Nam, tạo biểu tượng lịch sử đã được đề cập trong rất nhiều côngtrình lớn nhỏ của các nhà nghiên cứu Một số công trình tiêu biểu như cuốn
Phương pháp dạy học Lịch sử, tập 1 của tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên) đã
khái quát những vấn đề lí luận cơ bản nhất về phương pháp tạo biểu tượnglịch sử: khái niệm, cách phân loại, vai trò và ý nghĩa Công trình là nguồn tàiliệu quý báu cho chúng tôi thực hiện đề tài này GS TS Nguyễn Thị Côi trong
cuốn “ Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT”, tập 1 đã khẳng định
vai trò to lớn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở
Trang 11trường THPT Tác giả nêu rất chi tiết các loại kênh hình và đưa ra biện pháp
sử dụng từng loại kênh hình trong phần Lịch sử Việt Nam của sách giáo khoaTHPT Tác giả định hướng phương pháp sử dụng nhằm đạt hiệu quả trongquá trình dạy học
Bên cạnh đó, các đề tài khóa luận thuộc chuyên ngành Phương pháp dạyhọc lịch sử của các sinh viên khoa Lịch sử - Đại học Sư phạm Hà Nội trongnhững năm gần đây nghiên cứu về nhân vật, tạo biểu tượng nhân vật: Luận
văn của Trần Thị Nhung với đề tài “Một số biện pháp giảng dạy nhân vật trong bộ môn lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1930 ở trường phổ thông” hay Luận văn của Nguyễn Văn Tài với đề tài:” Về việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử cho học sinh lớp 10 THPT phần lịch sử thế giới cận đại” đã
phân tích, làm rõ vai trò ý nghĩa của tạo biểu tượng lịch sử nói chung và tạobiểu tượng nhân vật lịch sử nói riêng trong quá trình dạy học đồng thời đềxuất các biện pháp sư phạm mang tính khả thi khi tạo biểu tượng nhân vật.Như vậy, các tài liệu trên đều đề cao vai trò, ý nghĩa của phương pháp tạobiểu tượng lịch sử đối với hiệu quả học tập của HS, một trong số đó là nhằmgiáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm Tuy nhiên, hầu như chưa có một tài liệunào đi sâu vào nghiên cứu về tạo biểu tượng nhân vật lịch sử nhằm giáo dụcnhân cách cho HS
Nói đến giáo dục nhân cách HS, có nhiều công trình của các nhà nghiêncứu trong nước và ngoài nước đề cập tới vấn đề này, chủ yếu là các loại tàiliệu nghiên cứu của ngành tâm lí học
Trước hết cần phải kể đến các công trình nghiên cứu của những tác giakinh điển chủ nghĩa Mác –Lênin Các Mác - Luận cương về Phơ bách, trong
Tuyển tập, tập II - NXB Sự thật, 1972, tác giả đề cập đến vấn đề: “Giáo dục nhân cách là mục tiêu cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân và đang là vấn
đề quan tâm của toàn xã hội Trong xã hội hiện đại, chất lượng con người với các tiêu chí về phẩm chất và năng lực đang đòi hỏi toàn xã hội phải dốc sức trong cuộc cạnh tranh toàn cầu Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mô hình nhân cách
Trang 12có thể có những yêu cầu mới khác nhau, song quy luật về sự hình thành và phát triển nhân cách con người vẫn phải là vấn đề cơ bản, cốt lõi của lí luận
và thực tiễn giáo dục”[tr 492].
Các tạp chí khoa học giáo dục số 104, năm 2014: Quan điểm giáo dục hình thành nhân cách con người và xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu của Phan Văn Kha – Đỗ Thị Bách Loan; tạp chí Triết học số 2, năm 2011: Vai trò của giáo dục đạo đức truyền thống trong sự hình thành và giáo dục nhân cách của Cao Thu Hằng; Triết học số 4 năm 1992: Sự hình thành và phát triển nhân cách người Việt Nam trong điều kiện chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường của Dương Phú Hiệp… đã đề cập
và trình bày những yếu tố cơ bản tác động tới sự hình thành và phát triển củanhân cách con người đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục Luận án
tiến sĩ: “ Tạo biểu tượng cho học sinh tiểu học” của Trần Viết Lựu, Đại học
Sư phạm Hà Nội, 2001 cho rằng: Ngoài việc cung cấp kiến thức cho học sinh,tạo biểu tượng nhân vật trong dạy học lịch sử thực sự là hoạt động nhận thứctrong quá trình thống nhất của thầy và trò nhằm truyền thụ và hình thành trithức mới cho HS, từ đó, giáo dục tư tưởng, tình cảm trong sáng và phát triểnnăng lực tư duy của các em Bản chất của sự phát triển ấy chính là nhân cáchđang hình thành
Đáng chú ý nhất là đề tài nghiên cứu cấp quốc gia “Giảng dạy các bộ môn khoa học xã hội – nhân văn với việc góp phần giáo dục nhân cách cho học sinh phổ thông trung học trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” do Nguyễn Quang Ninh (chủ biên), năm 2001 có trình bày khá sâu
sắc về vai trò của các bộ môn Văn – Tiếng Việt, Sử học và Giáo dục chính trị
- Giáo dục công dân với việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh GS
Trương Hữu Quýnh với đề tài “Giáo dục nhân cách với sử học” nhận định:
“Những cuộc kháng chiến đầy gian lao, mất mát nhưng cũng vô cùng anh dũng, vinh quang không những làm cho con người Việt Nam dám xả thân, bỏ mình vì đạo lớn của đất nước mà còn nổi lên hàng ngàn con người già có, trẻ
Trang 13có, nam có, nữ có với nhân cách cao thượng, sống và chiến đấu một cách vô
tư, vì dân vì nước tiêu biểu nhất là vị lãnh tụ Hồ Chí Minh là những tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo” [tr120].
Như vậy có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ởviệc đưa ra khái niệm, phân tích ý nghĩa của phương pháp tạo biểu tượng nóichung hoặc có tìm hiểu sâu hơn về tạo biểu tượng nhân vật lịch sử nhưngchưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu và đề xuất các biện pháp sư phạm
để tạo biểu tượng nhân vật nhằm giáo dục nhân cách cho HS trong dạy học
môn Lịch sử Bởi vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tạo biểu tượng nhân vật để giáo dục nhân cách cho học sinh trong DHLS Việt Nam (thế kỷ X – XV) lớp
10 THPT (chương trình chuẩn)” để đi sâu vào nghiên cứu.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quá trình tạo biểu tượng nhân vậtlịch sử để giáo dục nhân cách cho HS trong dạy học ở trường THPT hiện nay
- Về nội dung: Chương trình Lịch sử Việt Nam (từ thế kỉ X – đến thế kỉXV) lớp 10 THPT trong giờ nội khóa
- Thực nghiệm sư phạm bài 19: “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X - XV” - lớp 10 trường THPT Hồng Quang (Hải Dương)
4 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của tạo biểu tượng nhân vật trongDHLS, đề tài đi sâu xác định nội dung và biện pháp sư phạm tạo biểu tượng
Trang 14nhân vật trong DHLS Việt Nam (thế kỉ X – XV) để giáo dục nhân cách cho
HS lớp 10 THPT Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa một số vấn đề lí luận của việc tạo biểutượng các nhân vật lịch sử
- Tiến hành điều tra về thực trạng việc tạo biểu tượng nhân vật trong DHLS
ở 2 trường: THPT Hồng Quang (Hải Dương) và THPT Quang Trung (Hà Nội)
- Đề xuất các biện pháp sư phạm về tạo biểu tượng nhân vật để giáo
dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (thế kỉ X – XV).
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khoa học và tính khảthi của các biện pháp mà chúng tôi đề xuất trong đề tài
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở phương pháp luận:
Với đề tài nghiên cứu thuộc nhóm ngành khoa học giáo dục – khoa học
xã hội, chúng tôi đứng trên cơ sở của chủ nghĩa Mac – Lenin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục nói chung và dạyhọc lịch sử nói riêng Về mặt nội dung được nghiên cứu trong đề tài cũng đảmbảo được tính khoa học và tính Đảng Macxit – Leninnit
6.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Thông qua nghiên cứu tài liệu (xác định cơ sở lí luận cho vấn đềnghiên cứu)
- Khảo sát, phân tích, đánh giá về tạo biểu tượng nhân vật lịch sử quachương trình và SGK Lịch sử lớp 10, qua phỏng vấn / Điều tra GV và HSbằng phiếu câu hỏi
- Thực nghiệm sư phạm
7 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu vận dụng các biện pháp sư phạm một cách phù hợp, linh hoạttrong quá trình tạo biểu tượng nhân vật sẽ không chỉ góp phần tích cực
Trang 15trong việc tạo hứng thú học tập môn Lịch sử cho HS ở trường phổ thông,
mà còn có khả năng giáo dục nhân cách cho HS Qua đó, nâng cao hiệuquả môn học
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần khẳng định vai trò, ý nghĩa của việctạo biểu tượng nhân vật trong dạy học bài học nội khóa phần Lịch sử ViệtNam (thế kỉ X – XV) ở trường THPT
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể góp phầnnhất định trong việc nâng cao hiệu quả của tạo biểu tượng nhân vật lịch sử,phục vụ cho công việc giảng dạy của GV ở trường phổ thông Đồng thời, qua
đó, giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử hiện nay
9 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dungchính của khóa luận được trình bày trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng nhân vật để
giáo dục nhân cách cho HS trong DHLS ở trường THPT
Chương 2: Một số biện pháp tạo biểu tượng nhân vật để giáo dục nhân
cách học sinh trong DHLS Việt Nam (thế kỉ X – XV) lớp 10 – THPT (chươngtrình chuẩn)
Trang 16PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT ĐỂ GIÁO
DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1Biểu tượng và biểu tượng nhân vật lịch sử
Khái niệm về biểu tượng lịch sử
Nhà tâm lí học - P.A Rudich cho rằng biểu tượng là “những hình ảnh của các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh được giữ lại trong ý thức
và hình thành trên cơ sở các tri giác và các cảm giác xảy ra trước đó” [13;
tr68] Tức là, trong quá trình tri giác thế giới khách quan, con người phản ánh
sự vật và hiện tượng xung quanh mình dưới dạng các hình ảnh và sự phảnánh đó mang tính trực quan Các hình ảnh trực quan này luôn tác động lên các
cơ quan thụ cảm khác nhau của hệ thần kinh con người và được duy trì một
khoảng thời gian nhất định trong ý thức, trở thành “miền kí ức” của họ Các
hình ảnh của biểu tượng phản ánh những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiệntượng hoặc cũng có thể trong những trường hợp khác nó phản ánh cảnhững đặc điểm ở bên trong của sự vật, hiện tượng Nói cách khác, tạo biểutượng là giai đoạn đầu tiên – giai đoạn nhận thức cảm tính trong hoạt động tưduy của con người
Do đặc điểm của sự nhận thức lịch sử, để tái tạo bức tranh quá khứ, con
người cần thông qua “cầu nối” là nguồn sử liệu, chứ không bắt đầu từ việc
trực tiếp quan sát các sự kiện đã xảy ra Bởi vậy, việc học tập lịch sử phảithông qua các hệ thống phương pháp bộ môn trước hết là tạo biểu tượng
Theo cuốn sách “Phương pháp dạy học Lịch sử tập 1” do tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên): “Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lí…được phản ánh trong óc học sinh với những nét
Trang 17chung nhất, điển hình nhất” [22; tr149] Như vậy, xét về bản chất, tạo biểu
tượng lịch sử chính là việc tái tạo lại những hình ảnh mang tính đặc trưng vềcác sự kiện, nhân vật đúng như nó đã tồn tại bằng hoạt động của các giácquan: thị giác tạo nên những hình ảnh trực quan, thính giác đem lại nhữnghình ảnh về quá khứ thông qua lời giảng của giáo viên…
Khái niệm về biểu tượng nhân vật lịch sử
Trong các loại biểu tượng mà tác giả Phan Ngọc Liên trình bày, biểutượng nhân vật lịch sử là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các biểutượng lịch sử nói chung trong chương trình THPT Bởi vì, bức tranh của lịch sửchính là sự phản ánh quá trình tồn tại, hoạt động và phát triển của con ngườiqua các thời đại lịch sử kế tiếp nhau một cách hợp quy luật Con người hoạtđộng phải gắn liền với thời gian, không gian, với cộng đồng và bị chi phối bởinhững quan hệ xã hội khác nhau qua các thời đại Vì thế, việc tạo biểu tượng
về nhân vật lịch sử không tách khỏi mối quan hệ với các loại biểu tượng lịch sửkhác Trước hết, một câu hỏi được đặt ra là: Con người như thế nào được xem
là nhân vật lịch sử? Có nhiều quan niệm khác nhau về nhân vật lịch sử tuỳ theomục đích, nội dung của mỗi ngành khoa học, môn học khác nhau
Theo quan điểm Macxit – Leninit, nhân vật lịch sử là sản phẩm của mộthoàn cảnh lịch sử cụ thể, bị chi phối bởi thời đại họ sinh sống và hoạt độngcủa họ có tác động nhất định đến hoàn cảnh lịch sử đó
Tương tự, trong cuốn “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông” do tác giả Phan Ngọc Liên chủ biên: “Nhân vật lịch sử là người có một vai trò nhất định trong một sự kiện lịch sử, một thời kỳ lịch sử” [25; tr 293].
Từ những quan điểm trên suy ra, nhân vật lịch sử được xem là người cómột vai trò nhất định (theo hướng tích cực hoặc tiêu cực) trong một hoàn cảnhlịch sử cụ thể Trong DHLS, giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh hiểu biếtcác nhân vật lịch sử hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong mỗi thời
kì khác nhau Tính phong phú, đa dạng trong hoạt động của các nhân vật
chính là những “mảnh ghép” thú vị giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về bức
Trang 18tranh lịch sử trên các mặt kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa…
Tóm lại, có thể hiểu rằng, biểu tượng về nhân vật lịch sử là những đạibiểu điển hình của một giai cấp, một tập đoàn xã hội, những nhân vật kiệtxuất và những nhân vật đê hèn, ti tiện, bán nước Đó là những hình ảnh chung
nhất, khái quát nhất cần được phản ánh trong óc học sinh Tạo biểu tượng nhân vật trong DHLS chính là tạo biểu tượng về hành động cụ thể của cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với quần chúng, trong một bối cảnh lịch sử
cụ thể, tại một địa điểm, thời điểm cụ thể, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của lịch sử.
Phân loại biểu tượng về nhân vật lịch sử
Lịch sử không thể tách rời yếu tố con người, trong đó có những cá nhânlàm nên lịch sử Về cơ bản, có thể phân biệt các loại biểu tượng nhân vật lịch
sử tạo ra cho học sinh phổ thông như sau:
- Biểu tượng về nhân vật chính diện: là những nhân vật đại diện cho giai
cấp cho dân tộc, có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc Hoạt động của họphục vụ cho lợi ích chung của đại đa số nhân dân, đại diện cho nhân dân đấutranh với kẻ thù, giành lại những quyền cơ bản của quần chúng nhân dân.Trong cuộc đấu tranh ấy, họ được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, tiếngnói chính nghĩa của họ mang sức mạnh của cả dân tộc Tạo biểu tượng vềnhân vật chính diện có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, tình cảm lớn đối với HS
Đó là những tấm gương cao cả cho HS noi theo về lòng dũng cảm, tinh thần
quyết tử - sẵn sàng xả thân vì nước hay là sự khoan dung, độ lượng, “thương người như thể thương thân”.
- Biểu tượng về nhân vật phản diện: là những nhân vật đại diện cho một
bộ phận có tư tưởng chống đối lại những điều thiện mang tính chất áp bức,giành phần lợi về mình, chống lại cuộc đấu tranh chung mà cả dân tộc đangtiến hành, đi ngược lại quyền lợi dân tộc, thậm chí làm tay sai cho giặc Tronglịch sử Việt Nam (thế kỉ X – XV) dễ thấy nhân vật phản diện là những vị hônquân – chỉ biết ăn chơi sa đọa hay những kẻ chỉ vì lợi ích riêng mà sẵn sàng
Trang 19“bán nước cầu vinh” Tạo biểu tượng về nhân vật phản diện là thông qua
những hành động đê hèn của nhân vật đó, HS tự rút ra được những bài họckinh nghiệm quý báu, biết sống có lí tưởng, có hoài bão chân chính, vì đấtnước vì nhân dân
- Biểu tượng nhân vật lưỡng tuyến: là những nhân vật đại diện cho một
giai cấp cụ thể, không chỉ có những đóng góp cho lịch sử dân tộc mà còn cónhững hành động đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân Nhữngnhân vật này vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu sử học hiệnnay Tạo biểu tượng về nhân vật lưỡng tuyến là xây dựng cho các em cái nhìnminh bạch về khoa học lịch sử trong việc đánh giá nhân vật một cách kháchquan, đa chiều
Tóm lại, biểu tượng nhân vật lịch sử có vai trò, vị trí quan trọng trongnhận thức lịch sử Việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử dù phản diện, chínhdiện hay lưỡng tuyến đều hướng đến mục đích giáo dục nhân cách cho họcsinh, vì thông qua những hình ảnh – việc làm cụ thể, sinh động, có sức gợicảm sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng thái độ, giúp các em xây dựng lítưởng sống đúng đắn, biết vươn lên trong học tập và lao động
1.1.1.2 Nhân cách và giáo dục nhân cách học sinh
Khái niệm về nhân cách
Theo nghĩa đen của từ thì “nhân” là người và “cách” là tính cách, tính tình Nghĩa là, “nhân cách” chỉ tính cách của một con người Một nhà nghiên cứu giáo dục đã tách từ “nhân cách” thành 2 từ bộ phận: “Nhân và Cách”, lấy
“Nhân” làm nền tảng và “Cách” xuyên suốt qua từ “Nhân” để tiếp cận 3 tầng:
Cốt cách là Người, Phẩm cách là Người, Cách thức nên Người Thuật ngữ
“nhân cách” có hàng trăm định nghĩa khác nhau, khó có thể tìm ra một địnhnghĩa nào có tính phổ quát và bao trùm nhất, nói lên đầy đủ các tố chất trởthành khái niệm nhân cách Đã có nhiều giải thích về khái niệm nhân cách,trong đó, chúng tôi xin nêu ra một số quan niệm sau:
Tâm lí học quan niệm: “Nhân cách là tập hợp các đặc trưng tâm lí tạo nên diện mạo xã hội của một con người với tư cách là chủ thể hoạt động, bao
Trang 20gồm tất cả những phẩm chất, năng lực mang tính xã hội, tồn tại và phát triển trong cá nhân đó, thích ứng với các chuẩn mực và thang giá trị được xã hội thừa nhận” [4; tr146] Theo đó, tác giả Nguyễn Thị Côi cũng cho rằng:
“Nhân cách là bản chất tâm lí – xã hội của con người được hình thành trong quá trình lĩnh hội những kinh nghiệm của loài người thông qua giao tiếp và hoạt động với những người khác trong cộng đồng xã hội Khi trở thành một nhân cách có nghĩa là ở người đó có ý thức, thái độ, động cơ, năng lực, cá tính,… trong việc tiếp nhận, đánh giá các tác động đến bản thân, đồng thời biết lựa chọn các phương thức tác động đến các đối tượng khác nhau của môi trường và xã hội” [27; tr142]
Mặt khác, theo cách hiểu truyền thống của người Việt Nam khi nhắc tới
“nhân cách” có thể hiểu theo các nghĩa sau:
- Nhân cách được hiểu là con người có các phẩm chất: đức, trí, thể, mỹ,lao (lao động)
- Nhân cách được hiểu như các phẩm chất của con người mới: làm chủ,yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần lao động
- Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con người.Như vậy, trên cơ sở đúc kết từ các quan điểm trên, có thể hiểu rằng,
nhân cách là sự thể hiện bản chất đạo đức của một con người thông qua thái
độ trong lời nói, việc làm, cách ứng xử với con người nói chung, đối với cộng đồng, đối với mọi cám dỗ vật chất hay tinh thần cũng như trước mọi thách thức Nhân cách là cái riêng của mỗi người nhưng cũng phải hiểu cái riêng đó
bao hàm cả cái chung của các cộng đồng lớn và nhỏ, cả tính lịch sử và tínhthời đại Đặc biệt, thông qua việc tạo biểu tượng về một nhân vật lịch sửchính diện nổi bật, GV có thể định hướng giáo dục những phẩm chất nhâncách tiêu biểu của nhân vật đó cho học sinh
1.1.2 Biểu hiện của nhân cách con người và ưu thế của bộ môn Lịch sử với việc giáo dục nhân cách HS
1.1.2.1 Biểu hiện của nhân cách con người
Theo quan niệm nhân cách của người phương Đông qua các học
Trang 21thuyết, tôn giáo
Người phương Đông quy định 2 thành tố là thước đo chuẩn mực tạo nênmột chính nhân quân tử: tính Thiện và tính Nhân 423 lời Phật dạy được ghitrong Pháp cú kinh đều nói về tính Thiện Phật Thích Ca từng răn dạy:
- Phải sống hợp đạo đức: “Đời ta yên lặng, không oán không phiền.Người đều thù oán, ta vẫn thản nhiên” [8; tr127] Mỗi con người được
sống yên vui là nhờ tâm thiện, không thù, không oán
- Hãy tự thấy mình: Tự thấy là quý, giữ ý rèn mình tự bớt không thôi,không tham lam, vị kỷ.Tự thấy mình là điều kiện tiên quyết dẫn đến thiện
- Phải sống thanh thản: “Đời ta yên lặng, không nghĩ quanh co Người đểu
lo sợ, ta vẫn không lo”[8;tr127] Chính là tâm chính thì không gì phải lo sợ.
- Phải giữ tâm thiện: “Thương giữ tâm luôn, giữ đừng giận nóng, tâm
ác phải trừ, nghĩ theo đạo đúng” [8; tr130] Tâm có thiện thì mới sáng
- Dứt bỏ tật xấu: “không giận, không kiêu, tham yêu, tránh bỏ” [8;tr136].
Danh sắc đều không, vô vi hết khổ Những thói xấu như tham lam, oán giận,kiêu căng, hám danh lợi, dục vọng làm hại người, tạo nên thói hư tật xấu
- Chính ta là vị cứu tinh của ta: tự ta sẽ làm tất cả Tự ta sẽ vươn lên, tự
ta sẽ tìm đến con đường để đạt đến sự thành đạt
550 bài nói của Khổng Tử trong Luận ngữ đều đề cập tới tính Thiện.Nho giáo với tính cách là học thuyết chính trị - đạo đức luôn đề cao tính thiệncủa con người Từ thưở vỡ lòng khi mới chập chững học những bước đi đầutiên trên con đường làm Người theo sách thánh hiền, Nho giáo đã chỉ dẫn:
Trang 22“Nhân chi sơ, tính bản thiện” tức là con người mới sinh ra ai cũng đều lương
thiện, ai cũng hiền lành Những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp ấy dần được tôi
luyện, bồi đắp thông qua con đường giáo dục Khổng Tử cho rằng: “Ăn ở đối đãi phải khiêm cùng, làm việc phải nghiêm cẩn, giao thiệp với người phải trung thực Dẫu nước di dịch cũng không thể bỏ được điều ấy” [31; tr67].
Khổng Tử quan niệm trong con người cần có 5 đức tính: Nhân, Nghĩa, Lễ,
Trí, Tín Nhưng Nhân là gốc đứng đầu các điều thiện của con người Nhân
mang nghĩa rộng là nhân ái yêu người, yêu vật, đó là lòng tự nhiên, bình thản.Nhân là cái đích tu dưỡng của con người Nhân còn có nghĩa là trung, đó cũng
là đạo đối với người, với nước và đối với mình Nhân còn có nghĩa là hiếu đễ,
là lòng kính yêu cha mẹ, người lớn Nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì làm,không hề mưu tính lợi cho mình, cũng không cần biết hậu quả ra sao Lễ là
ngọn, nhân là gốc “Người không có đức nhân thì lễ mà làm gì?”[31;tr68] Trí
là sáng suốt, biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét, đề bạt ngườichính trực, bỏ người gian dối, xảo trá Tín là việc thực hiện thành thực điều đãnói ra, không sai lệch
81 chương trong Đạo đức kinh của Lão tử phần lớn đều nói đến tính
Thiện Lão tử nói: “Ta có 3 vật báu thường ôm giữ: Một là Từ, hai là Kiệm,
ba là Không dám đứng trước thiên hạ” [8;tr196] Từ là từ bi hiền lành, rộng
lòng thương kẻ khác là người mạnh Sức mạnh của người quân tử là tự thắngvậy Kiệm là biết chi tiêu hợp lý, không phung phí Không dám đứng trướcthiên hạ có nghĩa là không tranh giành địa vị để được ngồi cao Còn việc cóđược vị trí trong xã hội hay không là phải được sự công nhận của tự nhiênchứ không do mình tranh giành mà có
Bên cạnh đó, Nho giáo còn quy định nhân cách của một người phụ nữ là
phải theo “Tam tòng, tứ đức” “Tam tòng” tức là khi còn là con gái thì theo
cha, khi có chồng thì theo chồng, khi chồng chết thì theo con Nói cách khác,
người phụ nữ phải phụ thuộc vào người đàn ông “Tứ đức” thì có Công,
Dung, Ngôn, Hạnh Công thì lấy việc may vá, thêu thùa, nấu nướng làm chủ,
Trang 23giữ lửa cho “trong ấm ngoài êm” Dung thì coi trọng sự thùy mị đoan trang.
Ngôn là cẩn trọng lời ăn tiếng nói sao cho nhẹ nhàng, thoát tục Hạnh là đềcao tiết hạnh, sự chung thủy của người phụ nữ Người Việt Nam xưa với bảnsắc văn hóa riêng kết hợp lời răn dạy trên của đạo Nho đã tạo nên hình tượng
về một người phụ nữ lí tưởng:
“ Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua”.
Theo quan niệm nhân cách của chủ tịch Hồ Chí Minh
Nếu như Mac và Lenin là cơ sở để tìm hiểu khái niệm nhân cách thìquan điểm của Hồ Chí Minh cũng không kém phần quan trọng để tìm hiểunhững biểu hiện nhân cách của con người Việt Nam Trong nhiều bài huấn thịcủa Hồ Chí Minh đều thể hiện đạo đức là cái gốc, nếu không có đạo đức thì
tài cũng vô dụng Người viết: “…cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [20; tr78] Người xem đạo đức cách
mạng là biểu hiện căn bản của một người có nhân cách nhưng đạo đức khôngtách rời với tài năng:
- Yêu nước, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu chủ nghĩa xã hội
- Quyết tâm thực hiện những nhiệm vụ có ích cho cách mạng, cho xã hội
Người nói: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [20;tr78] Vì sự
nghiệp đất nước, vì lợi ích chung, lợi ích mọi người mà mỗi cá nhân phải gạt
bỏ lợi ích tư, sự ích kỷ, tính toán Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “trung với nước, hiếu với dân” là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước và giữ
nước, đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước phát triển đi lên
- Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng, liêm là
Trang 24những phẩm chất nhân cách cốt lõi của con người Nhân là thật thà thươngyêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí đồng bào sẵn lòng chịu cực khổ trước mọingười, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ Vì thế mà không ham giàu sang, không
e cực khổ, không sợ uy quyền Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, khônglàm việc bậy, không có việc gì phải giấu đoàn thể Ngoài lợi ích của đoàn thể,không có lợi ích riêng phải lo toan Trí là không có việc gì tư túi làm mùquáng, cho nên đầu óc trong sạch sáng suốt, dễ tìm phương hướng, biết xem
người, biết xét việc Vì vậy, người có “trí” biết làm việc có lợi, tránh làm việc
có hại cho đoàn thể Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc gì phải có gan làm,thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa, cực khổ khó khăn có gan chịu đựnghoặc có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng Nếucần thì có gan hy sinh tính mệnh cho đoàn thể, cho Tổ Quốc, không bao giờrụt rè nhút nhát Liêm: là không tham địa vị, không tham tiền tài, không thamsung sướng, không ham người tâng bốc mình; chỉ có một cái ham là ham học,ham làm, ham tiến bộ
Như vậy, theo quan điểm Hồ Chí Minh, nhân cách của một người phảiđược thể hiện qua hành động, ý chí đặc biệt là giá trị xã hội của hành động đóphải đem lại lợi ích cho cách mạng, cho nhân dân Tư tưởng đạo đức cáchmạng của Hồ Chí Minh cũng là tư tưởng về đổi mới nhân cách con người ViệtNam ngày nay
Từ những quan điểm trên, có thể rút ra những biểu hiện quan trọng nhấtcủa nhân cách con người là: trung thực, dũng cảm trước mọi thử thách, biếtsống đoàn kết, giản dị, khiêm nhường, cần cù, siêng năng trong lao động, biếtsống khoan dung, độ lượng… Đây là những phẩm chất đạo đức mà mỗi ngườicần học tập và rèn luyện gian khổ mới có được
1.1.2.2 Ưu thế của bộ môn Lịch sử đối với việc giáo dục nhân cách học sinh
Bộ môn Lịch sử không chỉ giáo dục cho chúng ta thái độ, tình cảm yêu,ghét trong đấu tranh giai cấp, sự căm thù và chủ nghĩa anh hùng, mà còn bồi
Trang 25dưỡng tấm lòng yêu quý lao động, yêu cái đẹp, biết cách ứng xử đúng đắntrong cuộc sống, biết căm ghét sự áp bức, bất công… Thông qua con ngườivới những việc thực của quá khứ có sức thuyết phục và sự rung cảm mạnh
mẽ, bộ môn Lịch sử có ưu thế giáo dục những biểu hiện nhân cách cốt lõi củacon người như sau:
- Tính trung thực: Trung thực là ngay thẳng, thật thà, là thành thực với
người và cả với chính mình Đây là một trong những phẩm chất quan trọngnhất tạo nên giá trị của một con người chân chính Tính trung thực giúp conngười trở nên đáng tin cậy trong mọi mối quan hệ, giao dịch, trở thành sứcmạnh lớn nhất giúp thuyết phục người khác Người trung thực không chấpnhận gian dối trong bất kì việc gì Sống trung thực không phải lúc nào cũng
dễ, nó đòi hỏi sự dũng cảm và nghiêm khắc với bản thân Walter Anderson
cho rằng: “ Cuộc sống sẽ thay đổi khi chúng ta biết nắm bắt các cơ hội cho mình, nhưng cơ hội đầu tiên và khó khăn nhất lại là việc chúng ta phải thành thật với chính bản thân mình” Ngay cả khi phải đối diện với thất bại, thua
thiệt, ta vẫn cần phải sống trung thực, có thế, ta mới có thể ngẩng cao đầu màsống và cảm thấy thanh thản trong lòng Trung thực trong học tập được thểhiện rõ nhất là HS tự biết sửa sai, biết chấp hành nội quy của nhà trường củalớp học, tuyệt đối không sử dụng tài liệu hay quay cóp bài của người kháctrong thi cử Để giáo dục đức tính trung thực cho các em, GV có thể kể vềnhững tấm gương của Nho sĩ Việt Nam trọng khí tiết, thanh bạch, ví dụ nhưnhân vật Tô Hiến Thành:
Ông không vì tiền bạc của cải mà bà hoàng hậu họ Lê dụ dỗ, đút lót để
đánh mất lòng trung thực của mình Ông đã khảng khái từ chối: “Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, người trung thần nghĩa sĩ lẽ nào lại làm? Huống chi lời nói của vua trước còn văng vẳng bên tai! Tôi không dám làm”[39; tr70] Ông cũng không vì biết ơn người khác chăm sóc lúc ốm đau
mà trung thực lựa chọn người thực sự có tài phục vụ cho đất nước Nhà sử
học Phan Huy Chú có nhận xét trong Lịch triều hiến chương loại chí: “Ông
Trang 26làm quan đầu triều nhận trọng trách, hết lòng hết sức, khéo xử trong khi biến
cố, dù sóng đánh đập, chuyển lay mà cột đá vẫn trơ trơ không đổi, cuối cùng khiến cho trên yên dưới thuận, thực không thẹn với phong độ của bậc đại thần xưa”[39;tr74]
- Tinh thần dũng cảm: Dũng cảm có nghĩa là có dũng khí đương đầu
với nguy hiểm, khó khăn để làm những việc nên làm Dũng cảm cũng cónghĩa là dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nói lên sự thật Tình cảm yêu nước
đã phát huy cao độ tinh thần dũng cảm của nhân dân ta, tạo thành khí pháchanh hùng, chủ nghĩa anh hùng Tố Hữu đã có những vần thơ thật đẹp, thật hay
ca ngợi truyền thống cao quý của dân tộc:
“Dân ta gan dạ anh hùng Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn”
Những trang sử vàng, những chiến công chói lọi từ Bạch Đằng, ChiLăng đến Điện Biên Phủ lừng lẫy khắp năm châu của dân tộc Việt Nam từxưa tới nay đều được làm nên bằng xương máu, bằng truyền thống yêu nước vàtinh thần chiến đấu dũng cảm Tinh thần dũng cảm, lòng dũng cảm không chỉ
thể hiện trong chiến đấu, trước thử thách giữa “chết vinh” hay “sống nhục” mà
còn được biểu hiện trong sinh hoạt đời thường Đối với HS, tinh thần dũng cảmthể hiện ở việc tự nhận ra khuyết điểm, lỗi lầm của mình để khắc phục hay làdám ước mơ và thực hiện ước mơ dù gian khổ, vất vả Trong DHLS, nhữnghành động như chủ động, hăng hái giết giặc đến hơi thở cuối cùng của tướngquân nhỏ tuổi Trần Quốc Toản hay người anh hùng Lê Lợi vì nước vì dân màdựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh bạo tàn…có thể trở thành những tấmgương anh dũng tuyệt vời để nêu gương cho HS học tập, noi theo
- Đức hi sinh: Hi sinh là phẩm chất tốt đẹp, là tự nguyện nhận phần
thiệt thòi, mất mát nào đó vì mục đích cao cả, vì lí tưởng lớn lao Hi sinh làthước đo đánh giá phẩm chất của con người Hi sinh không phải chịu thiệt vìmục đích cá nhân mà phải biết vì tập thể quê hương đất nước thì việc hi sinh
Trang 27mới có ý nghĩa Hi sinh rèn luyện cho chúng ta đức tính dũng cảm, biết vượtqua những khó khăn rào cản trong cuộc sống Người có lòng hi sinh luônđược mọi người ghi nhớ công ơn, góp phần đem lại cho đất nước phát triển.Người không có lòng hi sinh hay bị rụt rè, sợ sệt trước cái chết, không bảnlĩnh, làm việc gì cũng chỉ biết so đo, tính toán Nếu như xã hội không cónhững người biết hi sinh vì mọi người thì làm sao có được cuộc sống bình yêntươi đẹp? Trong lịch sử Việt Nam (thế kỉ X – XV), GV có thể xây dựng biểutượng về Thái hậu Dương Văn Nga để giáo dục đức hi sinh cho các em Vớimột người phụ nữ thì hạnh phúc đơn giản là có được một mái ấm gia đình.
Nhưng đứng trên cương vị là “mẫu nghi thiên hạ”, khi đất nước lâm nguy, bà sẵn sàng hi sinh “danh tiết” của bản thân, hi sinh quyền lợi của dòng họ để
khoác áo long bào cho Lê Hoàn lên làm vua, tiến hành kháng chiến chốnggiặc ngoại xâm Hành động này của bà bị các sử gia phong kiến lên án gay gắtnhưng xét về gốc đó chính là một sự hi sinh cao thượng của một người phụ nữluôn nghĩ cho nước, cho dân
- Tính cần cù, sáng tạo trong lao động: Cần cù, sáng tạo là phẩm chất
tốt đẹp cần được phát huy của người lao động đặc biệt trong thời đại “toàn cầu hóa” hiện nay Từ xưa, ông cha ta đã có những lời khuyên vàng ngọc về
tính siêng năng trong lao động, học tập:
“Có làm thì mới có ăn Không dưng ai dễ đem phần đến cho!”
hay:
“Đời người chỉ một gang tay
Ai hay ngủ ngày còn một nửa gang”
Bên cạnh đó, trí sáng tạo của con người cũng luôn được đề cao từ trước
tới nay Nhân vật nổi tiếng Steve Jobs đã từng khẳng định: “Sự sáng tạo phân biệt người lãnh đạo và kẻ theo sau” (Innovation distinguishes between a leader and a follower) Có thể nói, siêng năng cộng với sáng tạo chính là
động lực để xã hội ngày càng phát triển tiến bộ, văn minh Trong lịch sử, GV
Trang 28có thể lấy những tấm gương siêng năng, sáng tạo trong học tập mà đạt tớithành công như Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh… để giáo dục ý thức tựvươn lên học hỏi, tìm tòi, sáng tạo trong học tập cho HS.
- Lòng khoan dung, độ lượng: Khoan dung ở đây được hiểu là sự tha
thứ cho lỗi lầm của kẻ khác, là làm bạn khi kẻ thù đã cúi đầu nhận tội Khoandung còn có nghĩa là tự tha thứ cho chính mình để tiếp tục đứng lên, tiếp tụchoàn thiện bản thân Vì vậy, khoan dung là biểu hiện của một nhân cách caođẹp, thể hiện một tâm hồn rộng mở, giàu lòng yêu thương Vào năm 1427,khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng Trước kẻ thù giết cha, cướp nước đang thất
thế, Nguyễn Trãi vẫn “thế đức hiếu sinh”, mở đường sống cho giặc Trong tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi viết:
“Mã Kì, Phương Chính cấp cho 500 chiếc thuyền Vương Thông, Mã Anh cấp cho hàng nghìn cỗ ngựa”
( Trích Bình Ngô đại cáo)
Chính tấm lòng khoan dung, độ lượng của nghĩa quân Lam Sơn đã cảm
hóa sự bạo tàn của quân Minh, khiến chúng phải “tâm phục khẩu phục” mà
rút quân về nước, trả lại nền độc lập cho nhân dân Đại Việt Đó là cách dântộc Việt Nam tha thứ cho kẻ thù xâm lược, đúng như lời Bác Hồ đã từng nói:
“Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái” Giáo dục lòng khoan dung, độ
lượng cho HS là giúp các em biết mở rộng tấm lòng, quên đi những thiệt hạinhững tổn thất của mình mà tha thứ cho người khác Bởi không ai là hoàn hảo
và chưa từng phạm sai lầm, quan trọng là biết nhận ra sai lầm và sửa chữa
- Tinh thần trách nhiệm: Tổng thống Mỹ Kennody đã từng phát biểu
trong Lễ nhậm chức Tổng thống năm 1963: “Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho bạn mà hãy tự hỏi ngày hôm nay bạn đã làm được gì cho Tổ Quốc?” đã
gợi nên ý thức trách nhiệm của mỗi một công dân trong việc xây dựng đấtnước Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy vềmình Tinh thần trách nhiệm là kết quả nhận thức đúng đắn về trách nhiệmcủa con người, từ đó chi phối hoạt động tích cực, tự giác của họ Tinh thần
Trang 29trách nhiệm của cá nhân đối với quê hương, đất nước mà mình sinh sống thì ởmọi quốc gia, mọi thời đại đều cần có Bởi sự trưởng thành và nền thịnhvượng của quốc gia ấy trước hết đến từ ý thức trách nhiệm cao của mỗi một
cá nhân Vậy làm thế nào để giáo dục tinh thần trách nhiệm cho học sinhTHPT? Một điều đáng mừng là bộ môn Lịch sử có thể khơi dậy, đánh thứcđược tinh thần ấy trong mỗi em HS khi còn ngồi trên ghế nhà trường Tronglịch sử, giáo dục tinh thần trách nhiệm được thực hiện qua việc nêu lên nhữngtấm gương anh dũng, vì nước mà quên mình Từ đó, làm thức tỉnh suy nghĩ vềtrách nhiệm của các em trong việc gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nướcngày hôm nay bằng niềm tự hào, trân trọng truyền thống anh hùng của dântộc GV cũng là người chỉ rõ: Chỉ có học tập – lao động tốt, rèn luyện đạo đứctốt mới giúp các em xứng đáng trở thành hậu duệ của các bậc tiền bối anhhùng thuở trước
Tóm lại, trên đây là những biểu hiện cốt lõi của nhân cách con người mà
bộ môn Lịch sử có ưu thế để giáo dục và bồi dưỡng cho HS Từ những quanđiểm về biểu hiện nhân cách đó, chúng tôi đưa ra một số quan điểm của bảnthân về những phẩm chất điển hình của nhân cách con người Con ngườimuốn phát triển toàn diện, có đầy đủ phẩm chất, phải bao gồm cả đức và tài.Nhân cách con người là sự tổng hòa của nhiều yếu tố khác nhau, biểu hiệntrong mọi mặt của đời sống xã hội, tùy thuộc vào những hoàn cảnh sống cụthể Nhưng điều quan trọng hơn cả là làm sao để những biểu hiện của mộtnhân cách tốt sẽ được khơi dậy trong mỗi chúng ta, nhất là với học sinh trunghọc phổ thông? Đó là mục tiêu phấn đấu của mỗi một cá nhân, là cái đíchchân chính của một nền giáo dục tiên tiến
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách HS
A.N Leonchiev – nhà tâm lí học Xô viết chỉ rõ: “Nhân cách cụ thể là nhân cách của con người sinh thành và phát triển theo con đường từ bên ngoài chuyển vào nội tâm, từ các quan hệ với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền văn hóa xã hội do các thế hệ trước tạo ra, các quan hệ xã hội mà nó
Trang 30gắn bó” [12;tr53] Sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh THPT
là một diễn biến phức tạp, bị chi phối bởi những yếu tố chủ yếu sau:
Yếu tố sinh học
Mỗi em học sinh ngay từ khi sinh ra đã mang dấu ấn đặc trưng của nòigiống Đó gọi là hiện tượng di truyền Di truyền học đã chứng minh rằng, cácthế hệ con người có thể truyền lại cho nhau những đặc điểm về cấu tạo cơ thể,
về các loại thần kinh, về chức năng hoạt động của chúng…tạo thành sức sống
tự nhiên của con người Sức sống tự nhiên là những tiền đề vật chất có vai tròquan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách Tư chất thông
minh, gen di truyền có vai trò là “nhân tố gốc” tạo nên năng lực nhận thức, tư
duy của mỗi học sinh Nhờ yếu tố bẩm sinh di truyền mà sự tác động của cácmôi trường giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội sẽ hình thành nên nhân cách,phẩm chất, lối sống tốt trong mỗi cá thể người Mỗi một học sinh ít nhiều cómột khẳ năng thiên bẩm nào đó, với những em đặc biệt có năng khiếu bẩmsinh biểu hiện dưới dạng tư chất, nếu giáo viên biết phát hiện và bồi dưỡng thìcác em có thể trở thành nhân tài, trở thành chủ thể có ích cho đất nước
Yếu tố môi trường
Môi trường là hệ thống phức tạp những hoàn cảnh bên ngoài, kể cả cácđiều kiện tự nhiên và xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, hoạt động
và phát triển nhân cách các em Môi trường xã hội với thể chế chính trị, luậtpháp, hệ tư tưởng, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa dân tộc và các quan
hệ xã hội khác … quy định chiều hướng phát triển của từng cá nhân Tập thể,trong đó là những nhóm bạn bè, lớp học, Đoàn thanh niên … có thể tác độngtheo hai hướng tích cực và tiêu cực đúng như câu tục ngữ mà ông cha ta đã
răn dạy: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Yếu tố hoạt động
Nhân cách con người được hình thành qua mối quan hệ giữa người này
và người khác trong xã hội Muốn nhân cách phát triển hài hòa, toàn diện thìmỗi cá nhân riêng rẽ phải tham gia vào các hoạt động xã hội.Trong hoạt động,
Trang 31con người bộc lộ tất cả sự phong phú của tâm hồn, chiều sâu của trí tuệ vàcảm xúc, sức mạnh của óc tưởng tượng và sáng tạo, năng lực hành động vànhững đặc điểm tâm lí khác Hoạt động tích cực là con đường để tiến thân, đểthành đạt và là phương thức để mỗi người vươn tới lý tưởng và hạnh phúc cánhân Hoạt động của học sinh bao gồm: học tập, vui chơi, văn nghệ, thể dụcthể thao, lao động và hoạt động tập thể…
“Nhân bất học bất tri lí” có nghĩa là “Con người không học, không biết nghĩa
lí cuộc đời” Từ xưa tới nay, dù Đông hay Tây, ở thời đại nào cũng đều coi
trọng giáo dục, coi đây là chìa khóa vàng tạo nên sự tiến bộ của nhân loại
Tuyên bố của UNESCO vào năm 1994 đã khẳng định điều đó: “Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào của một quốc gia có thể tách khỏi sự tiến bộ
và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coi nhẹ hoặc không đủ tri thức và khẳ năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều này còn tồi tệ hơn cả sự phá sản” [24; tr28] Con người vốn dĩ là viên ngọc thô
quý giá cần được mài dũa, rèn luyện thông qua quá trình giáo dục để pháttriển cả về thể chất và tâm hồn, vừa có tài lại vừa có đức đặc biệt khi đối
tượng là những thế hệ “măng non” của đất nước Vì vậy, giáo dục được xem
là yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất và sâu sắc nhất trongviệc định hướng phát triển năng lực, góp phần hoàn thiện nhân cách học sinh.Đối với dân tộc ta, một dân tộc với truyền thống hiếu học tự bao đời,
luôn “Tôn sư trọng đạo”, coi trọng các bậc hiền tài thì giáo dục luôn là một
quốc sách được đặt lên hàng đầu Vấn đề giáo dục nhân cách được thể hiện rõ
Trang 32nhất trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được xem là vốn quý nhất;
giáo dục là sự nghiệp trồng người, là một chiến lược vừa cơ bản, lâu dài củaĐảng và Nhà nước ta:
“…Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”
(Trích Nửa đêm – Nhật kí trong tù)Nội dung hai câu thơ trên đã thể hiện đầy đủ nhất quan điểm của Hồ ChủTịch về vai trò của giáo dục trong quá trình phát triển nhân cách của conngười Làm thế nào để phát hiện và khơi dậy những năng lực tiềm ẩn trongmỗi cá nhân HS? Đó là một trong mục đích cao cả của giáo dục, của các nhàtrường, của các nhà giáo Cũng phải nói thêm rằng, giáo dục nhân cách HScần có sự nỗ lực, tích cực, tự giác, ý thức vươn lên tự hoàn thiện mình của
mỗi em, như Edison đã chỉ ra: “Thiên tài được tạo nên chỉ có 1% là mẫn cảm còn 99% là mồ hôi và nước mắt”.
Tóm lại, có nhiều yếu tố tác động tới sự hình thành và phát triển nhâncách của HS, trong đó giáo dục được coi là yếu tố quan trọng nhất Giáo dụcvừa có tác dụng khơi dậy và phát huy năng lực vốn có của HS, vừa địnhhướng hình thành những phẩm chất điển hình của nhân cách con người
1.1.4 Cơ sở xuất phát của việc tạo biểu tương nhân vật để giáo dục nhân cách học sinh trong DHLS ở trường THPT
1.1.4.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử đối với việc giáo dục nhân cách cho HS
Để giáo dục học sinh phát triển toàn diện chỉ có kiến thức về khoa học tựnhiên thôi chưa đủ mà còn phải hình thành thế giới quan khoa học, tinh thầndân tộc, để dù trong bất kì hoàn cảnh nào, mọi hoạt động của họ luôn vìnhững mục tiêu, lý tưởng trong sáng Chương trình giáo dục phổ thông ban
hành tháng 5/2006 xác định mục tiêu bộ môn Lịch sử là “nhằm giúp cho học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử
Trang 33thế giới; góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng; bồi dưỡng các kĩ năng tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội”
[5; tr30] Đứng trước sứ mệnh ấy, người giáo viên lịch sử mang trên mình trọng
trách là “người truyền kí ức”, chắp nối lý tưởng sống từ quá khứ, hiện tại cho đến tương lai Lenin cũng đã nêu rõ ý nghĩa của việc dạy học lịch sử ở chỗ: “Đặt mọi vấn đề chủ yếu của sự phát triển xã hội trên nền tảng lịch sử, song không phải chỉ giải thích quá khứ, mà để không run sợ với bóng ma của tương lai, dũng cảm hoạt động thực tiễn để thực hiện tương lai” [3; tr 24].
Ở Nhật Bản, trong số 15 mục tiêu giáo dục cho học sinh THPT mà BộGiáo dục và Đào tạo đề ra, chúng tôi xin nhấn mạnh vào 3 mục tiêu mà bộmôn Lịch sử có ưu thế giáo dục như sau:
“ Thứ nhất, giúp học sinh làm sâu sắc sự tự giác và phát triển nhân cách làm người, tăng cường ý thức về tính liên kết xã hội, cống hiến cho sự tiến bộ của đời sống cộng đồng và hành động như một con người xã hội có lễ nghĩa Thứ hai, làm cho học sinh biết rằng đời sống xã hội luôn phát triển, hiểu được đặc trưng của hiện tại có bối cảnh là các sự kiện của quá khứ, giáo dục năng lực đoán định xu hướng của tương lai.
Thứ ba, làm cho học sinh hiểu được giá trị của lao động trong cuộc sống hằng ngày, đồng thời giáo dục năng lực cống hiến cho sự phát triển của sản xuất thông qua lao động và thái độ tôn trọng lao động” [2; tr16 – 17].
Như vậy, rõ ràng ở bất kì một dân tộc nào việc giáo dục lịch sử cũngđược coi trọng đặc biệt là đối với các thế hệ học sinh Bởi lịch sử giúp HShiểu rằng giá trị ngày nay là được tạo nên bằng những hi sinh, gian khổ củangày qua và họ phải có trách nhiệm tiếp tục phát triển sự nghiệp của tổ tiên
1.1.4.2 Đặc điểm của kiến thức lịch sử
Thứ nhất, lịch sử mang tính quá khứ Những sự kiện, nhân vật có trong sách giáo khoa đều là những “người thật - việc thật” đã xảy ra thuộc về quá
khứ cách xa ngày nay vài chục năm đến hàng triệu năm Những sự kiện đó lại
Trang 34không lặp lại mà chỉ có thể nhận biết qua các nguồn sử liệu Việc học tập lịch
sử của HS trước hết phải được tiến hành qua việc khai thác kênh hình, tranhảnh trên cơ sở tạo biểu tượng lịch sử
Thứ hai, tri thức lịch sử không mang tính lặp lại về không gian và thời
gian Mỗi sự kiện, nhân vật chỉ tồn tại trong một không gian và thời gian nhấtđịnh; không có sự kiện, hiện tượng nào hoàn toàn giống nhau mà chỉ có sự
“lặp lại trên cơ sở không lặp lại” Vì thế, tinh thần anh dũng, lòng yêu nước
của mỗi nhân vật trong lịch sử được biểu hiện rất đa dạng, tạo nên những đặctrưng riêng khi giáo dục nhân cách cho HS
Thứ ba, lịch sử mang tính cụ thể Khi tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử
cần gắn kết nhân vật đó với thời gian, không gian, bối cảnh cụ thể Chínhnhững yếu tố đó làm cho nhân vật trở nên chính xác, khoa học, chân thực vàsinh động, góp phần tác động mạnh tới tư tưởng, tình cảm của HS
Thứ tư, lịch sử mang tính hệ thống (tính logic lịch sử) Khoa học lịch sử
nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội loài người: kinh tế,chính trị, đời sống vật chất, tinh thần Mỗi một nhân vật lịch sử có thể hoạtđộng và lưu lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực Qua việc khai thác những nhân vật
đó, GV có thể giáo dục HS ở các khía cạnh khác nhau của nhân cách conngười như: lòng dũng cảm, đức hi sinh, tinh thần sáng tạo trong lao động…
Thứ năm, lịch sử có tính thống nhất giữa “sử” và “luận” Ở đây tính giai
cấp của giai cấp vô sản và tính khoa học của lịch sử là hoàn toàn nhất trí, giữa
“sử” và “luận” có sự thống nhất cao độ Mọi bình luận, đánh giá về nhân vậtlịch sử phải được xuất phát từ những nguồn tài liệu đáng tin cậy, từ đó, giáodục nhân cách HS mới đạt được kết quả tốt
Tóm lại, những đặc điểm cơ bản trên của tri thức lịch sử có ảnh hưởng
và quyết định đến việc dạy – học lịch sử Trong quá trình tạo biểu tượng nhânvật, GV cần nắm vững và tôn trọng các đặc điểm này để giáo dục nhân cách
HS đạt hiệu quả cao
1.1.4.3 Đặc điểm nhận thức lịch sử của học sinh THPT
Lứa tuổi học sinh THPT thường dao động trong khoảng từ 15 đến 18
Trang 35tuổi, là lứa tuổi nở rộ sức mạnh thể chất, tinh thần và trí tuệ Giai đoạn THPT,học sinh bước vào giai đoạn cuối của quá trình chuẩn bị nền tảng cho sự thamgia của họ vào hoạt động nghề nghiệp, trở thành công dân mới trong cộngđồng xã hội Đối với các môn học, các em luôn có xu hướng thích tìm hiểu,say mê nghiên cứu Giống như các môn khoa học khác, việc học tập mônLịch sử cũng cần tuân theo sự phát triển tâm lí của thanh thiếu niên, phù hợpvới mức độ nhận thức của học sinh Giai đoạn trực quan trong nhận thức lịch
sử của học sinh là quá trình các em tiếp xúc và khai thác nguồn tài liệu, tranhảnh liên quan tới một vấn đề nhất định của lịch sử Việt Nam hay lịch sử thếgiới Thông qua các thao tác tư duy của mình, học sinh hình thành những trithức lịch sử cụ thể, từ đó nắm được các khái niệm lịch sử, tự rút ra đượcnhững bài học kinh nghiệm quý giá và biết cách vận dụng nó vào trong thựctiễn cuộc sống Có thể nói, giai đoạn nhận thức cảm tính hay tạo biểu tượng
lịch sử là giai đoạn có tính chất “bản lề” cho toàn bộ quá trình nhận thức, có ý
nghĩa giáo dục lớn đối với học sinh
1.1.4.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa
VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy, sáng tạo của người học, từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” [5; tr33].
Những quan điểm này được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005) điều 28,
đó là: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập của học sinh” [5;tr29] Thực hiện theo yêu cầu đổi mới, tại các trường phổ
thông đã tiến hành đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học
và bước đầu ghi nhận được những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, hạn chế
Trang 36nổi bật nhất trong chất lượng giáo dục của bộ môn Lịch sử là kĩ năng thựchành và khẳ năng học sinh vận dụng kiến thức vào cuộc sống còn kém Có
nhiều yếu tố chi phối dẫn tới hạn chế trên, trong đó có sự “vụng về” của một
số giáo viên khi sử dụng các phương pháp dạy học, quan niệm sai lệch về
“môn chính”, “môn phụ” vẫn còn tồn tại ở các trường THPT Bên cạnh đó,
việc tổ chức thi cử, tổ chức bồi dưỡng giáo viên còn nặng về hình thức, chủyếu tập trung vào nội dung, coi nhẹ phương pháp dạy học bộ môn Như vậy,đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết, nhưng đổi mới không có nghĩa làxóa bỏ tất cả những kinh nghiệm quý giá được đúc kết trong thực tiễn ởtrường phổ thông từ trước tới nay mà đổi mới chính là giữ lại những mặt cơbản đúng kết hợp với cái “mới” tích cực để phát triển cao hơn, phù hợp vớiyêu cầu của thời đại
1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng nhân vật đối với việc giáo dục nhân cách học sinh trong DHLS ở trường THPT
1.1.5.1 Vai trò
Thực tế cho thấy, tạo biểu tượng nhân vật trong DHLS không những làmột phương pháp quen thuộc đối với các giáo viên dạy sử hay những nhànghiên cứu mà còn là sự lựa chọn ưu tiên khi học tập về các nhân vật trongmỗi bài học nội khóa Vì thế, có thể khẳng định tính quan trọng của việc tạobiểu tượng nhân vật đối với cả GV và HS trong quá trình dạy học lịch sử
Đối với GV
Trước hết, việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử (chính diện hay phảndiện) là cơ sở để hình thành khái niệm lịch sử tức là giúp học sinh đi sâu vàoviệc tìm hiểu các kiến thức mới Nội dung của các hình ảnh lịch sử, của bứctranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống kinh nghiệm mà họcsinh thu được càng vững chắc bấy nhiêu Việc tạo biểu tượng nhân vật chohọc sinh không chỉ dừng lại ở việc miêu tả bề ngoài, khái quát qua về nhữngbiến cố trong cuộc đời của họ mà còn đi sâu vào những nhân vật ấy để tìm ranhững nét cá tính đặc trưng đại diện cho cả một giai cấp, cả một thời đại Ví
Trang 37dụ, khi nói tới cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi năm 1427 trước giặcMinh bạo tàn, thông qua hình tượng nhân vật Nguyễn Trãi – một nhà Nho yêunước, đi theo tiếng gọi giải phóng dân tộc, đến với căn cứ Lam Sơn của Lê
Lợi, chúng ta có thể giúp học sinh hình thành khái niệm “khởi nghĩa”, phân biệt được hai thuật ngữ cơ bản: “khởi nghĩa” và “kháng chiến” Mặt khác,
việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử giúp làm sống lại những hình ảnh sinhđộng, những câu chuyện hay mà sâu sắc về các vị anh hùng dân tộc, các đấngminh quân hay những kẻ hèn nhát, luồn cúi, hại dân hại nước Về khía cạnhnày, tạo biểu tượng nhân vật đóng vai trò là chất xúc tác, giúp cho bài học lịch
sử trở nên hấp dẫn và thú vị hơn, qua đó, GV sẽ thêm yêu nghề và tâm huyếthơn với sự nghiệp trồng người
Đối với HS
Một tiết học lịch sử sẽ thật khô khan và cứng nhắc nếu HS luôn ở trạng
thái bị động “thầy đọc – trò chép” Học sinh THPT vốn đang trong lứa tuổi ưa
tìm tòi, thích khám phá nên chỉ cần người giáo viên đưa ra một câu hỏi mangtính gợi mở khi trình chiếu một bức chân dung của một nhân vật lịch sử cụ
thể: Nhân vật này là ai? Em hiểu biết gì về nhân vật này? sẽ khích lệ tinh thần
ham học hỏi và thể hiện hiểu biết của các em Qua đó, với những biện pháp sưphạm phù hợp khi tạo biểu tượng nhân vật lịch sử sẽ góp phần tạo hứng thú
và động cơ học tập cho học sinh, đồng thời làm cho không khí lớp học sôinổi, thoải mái
Trang 38có ích cho xã hội Về cợ bản, tạo biểu tượng nhân vật trong DHLS có ý nghĩaquan trọng về cả 3 mặt: kiến thức, thái độ, kĩ năng Cụ thể:
Về mặt kiến thức:
Biểu tượng nhân vật lịch sử chính là bệ đỡ vững chắc để GV khắc sâu vàonhững nội dung trọng tâm của bài học nội khóa Mặt khác, việc tạo biểu tượng
nhân vật còn giúp học sinh tránh những sai lầm về “hiện đại hóa” lịch sử,
những nhận thức thiếu chủ quan, phiến diện, thông qua đó bài học sẽ trở nênđầy ý nghĩa, góp phần giáo dục ở các em một nhân cách tốt Ví dụ, trong mục
I, bài 20: Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc trong các thể kỉ X - XV, để
góp phần giải thích về sự hưng thịnh của Phật giáo đặc biệt dưới thời Lý –Trần, GV có thể kể về một truyền thuyết còn lưu lại trong dân gian về Lý CôngUẩn trước khi lên ngôi Chuyện kể rằng:
“Sư trụ trì chùa Ứng Tầm đêm trước nằm mơ thấy Long thần về báo mộng: “Ngày mai dọn chùa cho sạch, có Hoàng đế đến” Tỉnh dậy, trụ trì vội sai chú tiểu quét dọn chùa sạch sẽ, tươm tất Tuy nhiên, chờ cả ngày chỉ có một người đàn bà mang thai đến, xin ngủ nhờ qua đêm Đêm đấy, bỗng nhà chùa phát sáng, hương thơm tỏa ra ngào ngạt, sư trụ trì dạy xem thì người đàn bà đã sinh hạ được một cậu con trai, hai bàn tay có 4 chữ: “Sơn hà xã tắc” Sau đó, trời nổi trận mưa to, gió lớn, người mẹ mất sau khi sinh chú bé Nhà chùa thương tình nhận chú bé nuôi nấng Khi chú bé lên 8, 9 tuổi được theo học sư Vạn Hạnh ở chùa Tiên Sơn Chú bé đó chính là Lý Công Uẩn Vốn thông minh bẩm sinh lại cần cù, chịu khó học tập, Lý Công Uẩn lớn lên khảng khái, ưu tú hơn người Khi vận nước nhà Tiền Lê đã cạn, ông được suy tôn lên làm vua.Bằng tấm lòng biết ơn các vị thiền sư đã nuôi dạy khôn lớn
và trưởng thành, Lý Công Uẩn đã đề cao Phật giáo trong nước.” [20; tr81] Đại Việt sử kí toàn thư viết: “ Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tôn miếu chưa dựng, xã tắc chưa lập mà trước đã dựng 8 chùa ở phủ Thiên Đức… cấp độ điệp cho hơn 1000 người ở kinh sư làm tăng” [1; tr101]
Thông qua câu chuyện trên, dựa vào năng lực tư duy, HS sẽ tự tìm rađược một trong những lí do mà ở thời Lý – Trần Phật giáo được coi là quốc
Trang 39giáo Mặt khác, từ việc tạo biểu tượng nhân vật Lý Công Uẩn – vị vua đầutiên của triều Lý, GV có thể giáo dục được tinh thần cần cù, siêng năng tronghọc tập cho HS.
Về tư tưởng, thái độ:
Tạo biểu tượng nhân vật lịch sử có lợi thế rất lớn khi giáo dục nhân cách
HS, khơi dậy trong các em những tình cảm yêu thương và niềm tin mãnh liệtvào bản thân mình Những công trình nghiên cứu được thực hiện bởiCongvington (1983) và Harte (1980) đã cho thấy ảnh hưởng của niềm tintrong nỗ lực vươn lên của con người Nghiên cứu chỉ ra rằng: nếu bạn tin vào
nỗ lực bản thân là thứ quan trọng nhất khi bạn làm một việc gì đó, bạn sẽ cóđược động lực làm việc trong bất cứ tình huống nào Nhưng trên thực tế,không phải tất cả các công dân trong độ tuổi cắp sách đến trường có thể hiểuđược điều đó Nhiệm vụ của người giáo viên lịch sử chính là giúp các em giảiphóng tất cả năng lực tiềm ẩn của bản thân để tạo động lực vươn lên trong
cuộc sống Ví dụ như khi giảng dạy nội dung phần giáo dục ở bài 20: Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc trong các thế kỉ X – XV, GV có thể tạo
biểu tượng nhân vật Mạc Đĩnh Chi – cậu bé đốn củi trở thành Lưỡng quốcTrạng nguyên để giáo dục tinh thần dũng cảm, vươn lên trong học tập dù khókhăn, vất vả:
Mạc Đĩnh Chi (1272 – 1346) vốn mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹcon phải đi vào rừng sâu đốn củi để kiếm sống hàng ngày Trong những thángngày nhọc nhằn, tủi nhục, bà mẹ vẫn cắn răng chịu đựng, chỉ ao ước con mình
sẽ có ngày đỗ đạt, giúp ích cho đời, thoát khỏi cảnh nghèo khó Vốn là cậu bé
có tư chất thông minh, lại phải sống trong cảnh mồ côi, nghèo khổ, bị ngườiđời khinh rẻ nên cậu nhận ra chỉ có học tập thành tài mới là lối thoát duynhất! Vì vậy, không mấy lúc Mạc Đĩnh Chi ngơi đọc sách, nghiền ngẫm nghĩasách, kể cả lúc gánh củi đi bán Không uổng công đèn sách, Mạc Đĩnh Chi đãđược chấm đỗ Trạng Nguyên trong kì thi Đình năm 1304 Nhưng khi vào ramắt nhà vua, vua Trần Nhân Tông thấy ông tướng mạo xấu xí, tỏ ý không
Trang 40muốn cho ông đỗ đầu Biết ý, ông đã làm bài thơ “Ngọc tỉnh liên phú” bằng
chữ Hán Bài thơ lấy hình tượng của một bông sen thuần khiết được sinh ratrong giếng ngọc ở núi Hoa Sơn do một vị đạo sĩ hái mang xuống cõi trần đểtượng trưng cho phẩm chất trác việt, phong thái cao quý của một người khácthường Vua xem xong khen là thiên tài mới cho đậu Trạng nguyên, ban cờhiển vinh quy bái tổ Với tài năng xuất chúng khi được cử sang làm Chánh sứnhà Nguyên, Mạc Đĩnh Chi cũng khiến cho nước bạn phải ngả mũ kính phục.Ông chính là một tấm gương sáng hiếm có trong lịch sử Việt Nam
(Dẫn theo: Trần Quốc Vượng,2004, Danh nhân Hà Nội, NXB Quân đội
nhân dân)
Thông qua việc tạo biểu tượng nhân vật Mạc Đĩnh Chi, các em có thể tựngẫm ra rằng: Con người sinh ra dù không thể tự lựa chọn ngoại hình đẹp hayxấu, giàu hay nghèo nhưng mỗi người có thể lựa chọn cách sống cho riêng mình,dám ước mơ và dũng cảm theo đuổi ước mơ để thành công Giáo dục trong bộmôn Lịch sử chỉ đơn giản bằng những câu chuyện chân thật của các tấm gươngsáng trong quá khứ cũng có thể làm lay động trái tim, thức tỉnh trí óc của các em,giúp các em có động lực trong học tập và trong cuộc sống thường ngày
Về kĩ năng:
Tạo biểu tượng nhân vật lịch sử giúp các em rèn luyện thành thục kĩnăng quan sát thông qua các bức chân dung về nhân vật Ngoài ra, với nhữngcâu chuyện kể hấp dẫn, HS được rèn luyện kĩ năng lắng nghe tích cực và tưduy phản biện để phản hồi những ý kiến, thắc mắc về nhân vật lịch sử đangtìm hiểu Trong trường hợp GV sử dụng biện pháp cho HS đóng vai nhân vật,
HS có thể được rèn luyện các kĩ năng như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyếttrình, kĩ năng làm việc nhóm…
Tóm lại, rõ ràng, tạo biểu tượng nhân vật lịch sử có ý nghĩa quan trọngđối với việc thực hiện những mục tiêu về kiến thức, tư tưởng – thái độ, kĩnăng cho HS Trên cơ sở đó, các em sẽ rút ra được nhiều bài học bổ ích vềnhân sinh quan, thế giới quan khoa học, đúc kết được nhiều bài học lịch sử để