1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUY tắc XUẤT xứ HÀNG HÓA THEO TPP THUẬN lợi VÀ KHÓ KHĂN với VIỆT NAM

51 758 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 113,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, quy tắc xuất xứ hàng hóa được hiểu chung là “các quy định được pháp luật quốc gia hoặc các điều ước quốc tế xây dựng, được một quốc gia áp dụng để xác định xuất xứ của hà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA THEO THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN VỚI VIỆT NAM

TPP-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA THEO THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN VỚI VIỆT NAM

TPP-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên : NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

Tôi cam đoan: khóa luận tốt nghiệp: “Quy tắc xuất xứ hàng hóa theo TPP– thuận lợi và khó khăn với Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi,các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, chưa công bố ở bất kỳ đâu Các sốliệu trong luận văn được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trìnhnghiên cứu đã được công bố, các website

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội,tháng 5 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bích Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

BẢNG TỪ VIẾT TẮT

ASEAN(Association of Southeast Asian Nations): Hiệp hội các Quốc giaĐông Nam A

C/O (certificate of origin): Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa

FTA (Free Trade Agreement): Hiệp định thương mại tự do

NĐ: Nghị định

RVC (regional value content): Hàm lượng giá trị khu vực

TPP (Trans – Pacific Partnership): Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình DươngWTO (World Trade Organization): Tổ chức Thương mại Quốc tế

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Hiệp định Hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – TPP) là một trong nhữngchủ đề kinh tế đang được cácdoanh nghiệp Việt Nam rất quan tâm.Đây là đàmphán thương mại tự do quan trọng nhất của Việt Nam trong thời điểm hiện tại,với phạm vi đàm phán rộng, mức độ cam kết sâu và dự kiến sẽ có tác động rấtlớn đến triển vọng hoạt động kinh doanh của các ngành, các doanh nghiệp cũngnhư đời sống xã hội nói chung

(Trans-Một câu hỏi đặt ra là liệu Hiệp định TPP sẽ mang lại những cơ hội và tháchthức gì trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có nhiều khó khăn và doanh nghiệpViệt Nam còn gặp rất nhiều trở ngại trong việc đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao sứccạnh tranh trên thị trường thế giới như hiện nay Đặc biệt, TPP đặt ra một số vấn đềkhá mới, tác động sâu rộng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nóichung và hoạt động thương mại quốc tế của các doanh nghiệp nói riêng Một trongcác vấn đề đáng quan tâm là quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa

Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong TPP được hiểu là: Để được miễn giảmthuế nhập khẩu, hàng hóa trao đổi giữa các nền kinh tế thành viên TPP phải đượcsản xuất hoặc lắp ráp từ linh kiện do các nước TPP sản xuất, không sử dụng linhkiện từ các nước bên ngoài TPP Như vậy, những ngành nào, sản phẩm nào, sửdụng các nguyên liệu của các nước thứ ba, ngoài thành viên TPP đều không đượchưởng các ưu đãi thuế suất 0%.Có thể thấy các quy tắc xuất xứ có tác dụng như mộtcông cụ chính sách, góp phần làm giảm lợi thế cạnh tranh của các nước nằm ngoàiTPP, tăng cường thương mại vào giữa các nước thành viên TPP và thúc đẩy thươngmại song phương giữa nước cho hưởng và nước được hưởng ưu đãi

Theo thống kê, hơn 50% Doanh nghiệp Việt Nam hiện đã đáp ứng đượcnguyên tắc này Tuy nhiên, trong hiệp định TPP này lại có thêm quy định về hàmlượng giá trị khu vực; nghĩa là sản phẩm phải đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 55% tổnggiá trị trở lên Doanh nghiệp chỉ được phép nhập tối đa 45% nguyên vật liệu từcác nước ngoài khối để sản xuất ra một sản phẩm, kể cả chi phí gia công

Trang 7

Đối với Việt Nam, mục tiêu lớn nhất khi tham gia TPP là tăng cường lợithế xuất khẩu sang các nước TPP, thông qua việc các nước này miễn hoặc giảmthuế cho hàng hóa VN Tuy nhiên, điều này chỉ đạt được nếu hàng hóa của VNđáp ứng đầy đủ các yêu cầu cao và phức tạp về quy tắc xuất xứ, bắt buộc phải cónguyên liệu hoặc giá trị chủ yếu từ các nước thành viên.

Để đạt được những ưu đãi thuế quan khi tham gia TPP đòi hỏi hàng hóaphải đảm bảo những tiêu chuẩn vô cùng khắt khe Việc nghiên cứu quy tắc xuấtxứ hàng hóa quy định tại Hiệp định này có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc đưa

ra giải pháp, thúc đẩy hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa, đúng nhưmong đợi của Việt Nam khi ký kết hiệp định này

2 Mục tiêu nghiên cứu.

Mục tiêu chung của bài nghiên cứu: Phân tích quy tắc xuất xứ hàng hóađược quy định trong hiệp định TPP, từ đó đưa ra giải pháp cho Việt Nam để tậndụng các thuận lợi, hạn chế khó khăn, phát triển thương mại Quốc tế

3 Đối tượng nghiên cứu.

- Quy tắc xuất xứ hàng hóa nói chung và quy tắc xuất xứ hàng hóa được quy địnhtrong hiệp định TPP

- Thực trạng áp dụng pháp luật về quy tắc xuất xứ hàng hóa tại Việt Nam hiệnnay

4 Phương pháp nghiên cứu.

− Phương pháp nghiên cứu tài liệu

− Phương pháp so sánh: so sánh với quy tắc xuất xứ hàng hóa trong các hiệp địnhthương mại tự do khác, so sánh thực tiễn Việt Nam và các quốc gia khác

Trang 8

− Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích điều luật, phân tích các nghiên cứusẵn có từ đó tổng hợp thành kết luận chung.

Trang 9

CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA VÀ QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA

THEO QUY ĐỊNH CỦA WTO

1.1 Khái niệm quy tắc xuất xứ hàng hóa.

1.1.1 Xuất xứ hàng hóa

1.1.1.1 Khái niệm

Ngày nay, rất nhiều các sản phẩm được sản xuất theo các công đoạn khácnhau, mỗi công đoạn thực hiện ở một nước nhằm tận dụng những lợi thế liênquan của nước đó (ví dụ nhân công, nguồn nguyên liệu, kỹ thuật…) Vì vậy nếukhông có các quy tắc xuất xứ thì không thể xác định được xuất xứ chính thức củacác hàng hóa này để từ đó áp dụng quy chế đặc biệt liên quan, nếu có

Xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hànghóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóatrong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sảnxuất ra hàng hóa đó

Công đoạn chế biến hàng hóa là quá trình sản xuất chính tạo ra những đặcđiểm cơ bản của hàng hóa

Sản xuất là các phương thức để tạo ra hàng hóa bao gồm trồng trọt, khaithác, thu hoạch, chăn nuôi, chiết khấu, thu lượm, thu nhặt, đánh bắt, đánh bẫy,sắn bắn, chế tạo, chế biến, gia công hay lắp ráp

Trong thương mại quốc tế, việc xác định xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa hếtsức quan trọng bởi lẽ xuất xứ hàng hóa là cơ sở để áp dụng các công cụ chínhsách thương mại đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu Hàng hóa có xuất xứ từ cácquốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau sẽ được đối xứ khác nhau trong xuất nhậpkhẩu, mà phổ biến nhất là ưu đãi về thuế quan

Theo Điều 3(b) Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO, “một nước được xác định là nước xuất xứ của một hàng hóa cụ thể nếu như hàng hóa được hoàn toàn sản xuất ra ở nước đó hoặc khi nhiều nước cùng tham gia vào quá trình

Trang 10

sản xuất ra hàng hóa đó, thì nước Xuất xứ hàng hóa là nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng.”

Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm về xuất xứ hàng hóa cũng được quy

định có sự tương đồng: “Xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất

ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó” [khoản 14, điều 3, Luật Thương mại 2005].

Từ khái niệm trên, có thể thấy, hàng hóa có xuất xứ được phân loại thành:hàng hóa có xuất xứ thuần túy và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Hànghóa được coi là có xuất xứ thuần túy khi nó hoàn toàn được sản xuất ra tại mộtquốc gia Hầu hết các hàng hóa có xuất xứ thuần túy, theo quy định trên thế giớiđều giống nhau, và chủ yếu liên quan tới các mặt hàng nông lâm thủy hải sản vàkhoáng sản Ngược lại, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy là các loại hàng hóa

có thành phần nhập khẩu Trường hợp này xảy ra khi có nhiều hơn một quốc giatham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa [6]

Xuất xứ hàng hóa được thể hiện qua giấy chứng nhận xuất xứ (C/O certificate of origin) C/O được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền của nước xuấtkhẩu cho hàng hóa xuất khẩu được sản xuất tại nước đó C/O phải tuân thủ theoquy định của cả nước, vùng lãnh thổ xuất khẩu và nhập khẩu, chính vì vậy cónhiều loại CO (miễn thuế, ưu đãi thuế quan, có hạn ngạch,…) Mục đích củaC/O là chứng minh hàng hóa có xuất xứ rõ ràng, hợp pháp về thuế quan và cácquy định khác của pháp luật về xuất nhập khẩu

-1.1.1.2 Vai trò của việc xác định xuất xứ hàng hóa.

Hiện nay, các nguyên tắc ưu đãi thuế quan được các nước, vùng lãnh thổ

áp dụng rộng rãi Theo đó, các quốc gia áp dụng các biện pháp thuế quan và phithuế quan tương tự như nhau với hàng hóa đến từ các quốc gia khác nhau Tuynhiên, trên thực tế, việc xác định xuất xứ hàng hóa với hàng hóa nhập khẩu vàonước mình nhằm các mục đích sau:

- Để thực thi các biện pháp/công cụ thương mại như thuế chống bán phá giá, thuếđối kháng, biện pháp tự vệ (vốn chỉ áp dụng với hàng hóa xuất xứ từ một số

Trang 11

- Xác định xem hàng hóa nhập khẩu thuộc diện áp dụng thuế tối huệ quốc (MFN)hay diện ưu đãi thuế quan (ví dụ GSP);

- Để phục vụ công tác thống kê thương mại (ví dụ xác định lượng nhập khẩu, trịgiá nhập khẩu từ từng nguồn);

- Để phục vụ việc thực thi các quy định pháp luật về nhãn và ghi nhãn hàng hóa;

- Để phục vụ các hoạt động mua sắm của chính phủ theo quy định [15]

1.1.2 Quy tắc xuất xứ hàng hóa

1.1.2.1 Khái niệm

Xác định xuất xứ hàng hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong Thươngmại, nhất là thương mại Quốc tế Việc xác định xuất xứ hàng hóa, đặc biệt làtrong trường hợp hàng hóa có xuất xứ không thuần túy là điều không hề đơngiản Cách xác định xuất xứ hàng hóa được gọi là quy tắc xuất xứ Quy tắc xuấtxứ có tính chất tương đối, được quy định trong các điều ước Quốc tế mà Quốcgia hay vùng lãnh thổ đó tham gia và lựa chọn áp dụng

Như vậy, quy tắc xuất xứ hàng hóa được hiểu chung là “các quy định được pháp luật quốc gia hoặc các điều ước quốc tế xây dựng, được một quốc gia áp dụng để xác định xuất xứ của hàng hóa.”[2]

Mục đích chính của quy tắc này là xác định hàng hóa có được hưởng ưu đãihay không? Chế độ ưu đãi chỉ được dành cho những sản phẩm có được do thuhoạch, sản xuất, gia công, chế biến ở những nước xuất khẩu được hưởng Đồng thời,quy tắc này cũng xác định tỉ lệ ưu đãi mà các hàng hóa này được hưởng

Quy tắc xuất xứ hàng hóa là tập hợp các quy định nhằm xác định quốc gianào được coi là đã sản xuất ra hàng hóa (nước xuất xứ của hàng hóa) Trongnhiều trường hợp, các nước nhập khẩu cần biết xuất xứ hàng hóa nhập khẩu đểxác định quy chế đặc biệt áp dụng cho hàng hóa đó (ví dụ ưu đãi thuế quan, thuếchống bán phá giá, hạn ngạch…)

Quy tắc xuất xứ nhằm xác định sự hợp lệ của hàng nhập khẩu để được hưởngmức thuế ưu đãi Nếu không có quy tắc xuất xứ, hiện tượng thương mại chệch hướng(trade deflection) sẽ rất khó ngăn chặn được khi hàng hóa nhập khẩu từ các nước

Trang 12

không tham gia FTA sẽ vào khu vực FTA thông qua nước thành viên áp dụng mứcthuế thấp nhất đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA.

Quy tắc xuất xứ không chỉ là một công cụ kỹ thuật để thực thi FTA màcòn là một công cụ chính sách thương mại

chi tiết Luật thương mại về xuất xứ hàng hóa]

Quy tắc xuất xứ ưu đãi là các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa

có thỏa thuận ưu đãi về thuế quan và ưu đãi phi thuế quan

- Quy tắc xuất xứ ưu đãi theo các điều ước quốc tế.

Việc xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu để đượchưởng chế độ ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan được áp dụng theo các Điềuước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và các văn bản quy phạm phápluật có liên quan quy định chi tiết việc thi hành các Điều ước này

- Quy tắc xuất xứ ưu đãi theo chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập và các ưu đãi đơn phương khác.

Việc xác định xuất xứ hàng hoá xuất khẩu để được hưởng chế độ ưu đãithuế quan phổ cập và các ưu đãi đơn phương khác được thực hiện theo quy tắcxuất xứ của nước nhập khẩu dành cho các ưu đãi này

Quy tắc xuất xứ không ưu đãi là các quy định về xuất xứ áp dụng chohàng hóa không thực hiện theo quy tắc xuất xứ ưu đãi và trong các trường hợp

áp dụng các biện pháp thương mại không ưu đãi về đối xử tối huệ quốc, chốngbán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, hạn chế số lượng hay hạn ngạch thuế quan,mua sắm chính phủ và thống kê thương mại

Trang 13

Tiêu chí xác định xuất xứ hàng hóa

Xuất xứ thuần túy Xuất xứ không thuần túy

Tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực (RVC)Tiêu chí chuyển đổi mã hàng hóa Tiêu chí mặt hàng cụ thể Khác

Như vậy, quy tắc xuất xứ ưu đãi được sử dụng để xác định xuất xứ hànghóa nhằm các mục đích áp dụng các ưu đãi đặc biệt về thuế quan và phi thuếquan Ngược lại, quy tắc xuất xứ không ưu đãi được sử dụng để xác định xuất xứhàng hóa nhằm các mục đích không ưu đãi như trừng phạt thương mại Chính vìthế, quy tắc xuất xứ không ưu đãi có tính chất phân biệt đối xử Và các quy tắcxuất xứ ưu đãi cũng đa dạng hơn rất nhiều so với quy tắc xuất xứ không ưu đãi.1.1.2.3 Các quy tắc cơ bản xác định xuất xứ hàng hóa.

Các loại quy tắc xuất xứ đều dựa trên hai tiêu chí xác định nguồn gốchàng hóa: tiêu chí xuất xứ thuần túy và tiêu chí chuyển đổi cơ bản

- Tiêu chí xuất xứ thuần túy: quy định hàng hóa sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ mộtnước thành viên xuất khẩu duy nhất (xuất xứ nội địa hoàn toàn) được xác định

có xuất xứ

- Tiêu chí chuyển đổi cơ bản: xác định hàng hóa xuất xứ trong trường hợp quátrình chuyển đổi xảy ra tại một quốc gia hoặc khu vực Việc xác định nguồn gốckhá phức tạp vì các bộ phận, phụ tùng của sản phẩm sản xuất tại nhiều quốc giahoặc có nguyên vật liệu đầu vào không rõ xuất xứ Tiêu chí này có sự quy địnhkhác nhau trong các điều ước Quốc tế và Pháp luật Quốc gia, tuy nhiên, có thểkhái quát qua sơ đồ sau:

Tiêu chí xác định hàng hóa có xuất xứ [14]

Trang 14

1.2 Quy tắc xuất xứ hàng hóa theo WTO

Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO nhằm hài hòa hóa các qui tắc xuấtxứ trong dài hạn, thay vì các qui tắc xuất xứ liên quan đến việc cấp ưu đãi thuếquan, và đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ bản thân nó không tạo ra những trởngại không cần thiết đối với thương mại

Hiệp định xây dựng một chương trình hài hóa hóa bắt đầu ngay khi vòngđàm phán Uruguay kết thúc và được hoàn thành sau đó 3 năm Chương trình nàyđược xây dựng dựa trên một bộ nguyên tắc bao gồm quy tắc xuất xứ cần phảikhách quan, dễ hiểu và có thể dự đoán trước được Công việc này được tiến hànhbởi Ủy ban về Qui tắc xuất xứ (CRO) của WTO và một Ủy ban Kĩ thuật (TCRO)dưới sự hỗ trợ của Hội đồng Hợp tác Hải quan tại Bỉ

Cho đến khi chương trình hài hòa hóa hoàn thành, các Thành viên thamgia kí kết hiệp định phải đảm bảo rằng các qui tắc xuất xứ của họ phải minhbạch, không làm hạn chế, bóp méo hay xáo trộn thương mại quốc tế; và các quitắc này được quản lý thống nhất, nhất quán, công bằng và hợp lý; đồng thờichúng phải được dựa trên một tiêu chuẩn tích cực (hay nói cách khác là các quitắc nên nói rõ cái gì nên bàn đến nguồn gốc, cái gì không nên)

Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO quy định các nguyên tắc áp dụngchung mà tất cả các nước thành viên khi ban hành và thực thi các quy định phápluật hoặc hành chính liên quan đến việc xác định nước xuất xứ của hàng hóa đềuphải tuân thủ Tuy nhiên, các nguyên tắc của Hiệp định không áp dụng cho cáctrường hợp quy tắc xuất xứ theo các thỏa thuận ưu đãi Hiệp định quy định 2 hệthống các nguyên tắc liên quan đến xuất xứ bắt buộc áp dụng (trừ trường hợpquy tắc xuất xứ theo các thỏa thuận ưu đãi), để áp dụng trong hai giai đoạn:

- Thời kỳ quá độ (áp dụng trong quá trình Ủy ban kỹ thuật của Hiệp định hoànthành việc hài hòa hóa các quy tắc xuất xứ)

- Giai đoạn sau quá độ (khi đã đạt được các quy tắc xuất xứ thống nhất/hài hòa).1.2.1 Thời gian quá độ.

Trong giai đoạn này, trước khi có các quy định về hài hòa hóa quy tắcxuất xứ, các nước thành viên WTO khi ban hành và thực thi các quy định về xuấtxứ phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu nêu tại Điều 2 Hiệp định

Trang 15

“Cho đến khi hoàn thành chương trình hài hoà qui tắc xuất xứ qui định trong Phần IV, các Thành viên phải đảm bảo rằng:

(a) Khi ban hành quyết định hành chính để áp dụng chung cần phải định nghĩa rõ ràng các yêu cầu Cụ thể là:

(i) trường hợp các tiêu chí chuyển đổi hạng mục trên biểu thuế quan được

áp dụng, một quy tắc như vậy hoặc bất kỳ ngoại lệ nào khác của quy tắc đó sẽ quy định rành mạch dòng thuế hoặc nhóm các dòng thuế (tương đương 4 số HS –ND) trên biểu thuế chịu sự điều chỉnh của qui tắc đó.

(ii) trong trường hợp áp dụng tiêu chí theo tỷ lệ phần trăm theo giá trị, cần phải qui định phương pháp tính phần trăm này trong qui tắc xuất xứ.

(iii) trong trường hợp tiêu chí về công đoạn chế tác hay gia công được

áp dụng, công đoạn tạo nên xuất xứ của hàng hóa liên quan cần phải được qui định chính xác.

(b) bất kể biện pháp hay công cụ chính sách thương mại nào có liên hệ với chính sách đó, các quy tắc xuất xứ của chúng không được sử dụng để trực tiếp hay gián tiếp theo đuổi mục tiêu chính sách đó ;

(c) qui tắc xuất xứ bản thân nó không được tạo ra các tác động hạn chế, bóp méo hay làm rối loạn thương mại quốc tế Qui tắc xuất xứ không được đưa

ra yêu cầu chặt chẽ trái lệ thường hoặc các điều kiện không liên quan đến sản xuất hoặc chế biến như là điều kiện tiên quyết để xác định nước xuất xứ Tuy nhiên, các yếu tố chi phí không liên quan đến sản xuất hoặc chế biến có thể tính gộp vào để áp dụng tiêu chí tỷ lệ phần trăm theo giá trị phù hợp với điểm (a);

(d) qui tắc xuất xứ áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu không được chặt chẽ hơn qui tắc xuất xứ áp dụng để xác định xem một hàng hóa có phải là hàng nội địa hay không và không được phân biệt đối xử giữa các Thành viên khác, bất kể đến mối liên hệ giữa công ty mẹ, công ty con hay chi nhánh 1 ;

(e) qui tắc xuất xứ phải được quản lý nhất quán, thống nhất, vô tư và hợp lý; (f)qui tắc xuất xứ trong đó nêu những gì không tạo nên xuất xứ hàng hoá (tiêu chuẩn phủ định) cũng được phép coi như một phần của phân loại tiêu

1

Trang 16

chuẩn khẳng định, hoặc trong một số trường hợp cá biệt khi các xác định các tiêu chuẩn khẳng định của xuất xứ là không cần thiết ;

(g) các luật, qui định dưới luật, quyết định tư pháp và hành chính để áp dụng chung liên quan đến qui tắc xuất xứ sẽ được công bố như là đối tượng chịu

sự điều chỉnh và tuân thủ các qui định tại khoản 1 Điều X GATT 1994;

(h) theo yêu cầu của nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu hoặc bất kỳ người nào

có lý do chính đáng, kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa có thể được chấp nhận sớm nhất có thể nhưng không chậm hơn 150 ngày 2 , kể từ ngày có yêu cầu đánh giá với điều kiện đã nộp đầy đủ các yếu tố cần thiết Yêu cầu đánh giá xuất xứ hàng hóa phải được chấp nhận trước khi hoạt động thương mại đối với hàng hóa đó bắt đầu và có thể được chấp nhận bất kỳ lúc nào sau đó Kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa có giá trị trong vòng 3 năm nếu như các yếu tố và điều kiện liên quan đến hàng hóa kể cả qui tắc xuất xứ dẫn đến kết quả đó vẫn tương đồng Trong quá trình rà soát qui tắc xuất xứ theo qui định tại điểm (j) nếu có một quyết định mới trái với kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa thì kết quả đánh giá xuất xứ hàng hóa đó sẽ không còn giá trị nhưng các bên liên quan phải được thông báo trước Kết quả đánh giá phải được công khai theo qui định tại điểm (k);

(i) khi có thay đổi trong qui tắc xuất xứ hoặc ban hành các qui tắc xuất xứ mới, các Thành viên không được áp dụng hồi tố những thay đổi này dù các luật, quy định dưới luật có thể quy định và không vì thế làm tổn hại đến chúng;

(j) bất kỳ một hành động hành chính nào liên quan đến xác định xuất xứ

có thể được Toà án, trọng tài hoặc toà án hành chính, độc lập với cơ quan đã ra quyết định và có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính đó xem xét lại một cách nhanh chóng;

(k) tất cả các thông tin bí mật, hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm thực thi các quy tắc xuất xứ phải được các cơ quan có liên quan bảo đảm tuyệt mật, không tiết lộ thông tin những thông tin đó nếu như không được sự cho phép cụ thể của người hoặc chính phủ cung cấp thông tin, trừ trường hợp phải tiết lộ thông tin ở mức độ nhất định theo yêu cầu của thủ tục tư pháp.” [Điều 2,

Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hóa của WTO]

Trang 17

Cụ thể, các quy tắc xuất xứ của các nước thành viên WTO phải đảm bảocác yêu cầu:

- Minh bạch: Phải được định nghĩa rõ ràng, Phải được công bố kịp thời, Các quy tắcxuất xứ (kể cả quy tắc mới và quy tắc sửa đổi) không được có giá trị hồi tố

- Không cản trở thương mại bất hợp lý: Không được sử dụng làm công cụ chínhsách thương mại; Không được tạo ra sự hạn chế hoặc làm gián đoạn thương mạiquốc tế; Không được đòi hỏi đầy đủ các điều kiện không liên quan đến việc chếtạo hay gia công sản phẩm;

- Thống nhất, không phân biệt đối xử: Phải được áp dụng một cách nhất quán, thốngnhất, không thiên vị và hợp lý; Quy tắc áp dụng cho nhập khẩu và xuất khẩu khôngđược khó khăn hơn quy tắc áp dụng để xác định hàng hóa nào là hàng hóa nội địa;Không phân biệt đối xử giữa hàng hóa của các nước thành viên WTO

- Các yêu cầu khác:

+ Tiêu chuẩn xác định xuất xứ phải là các tiêu chí tích cực (tức là loại tiêuchí xác định khi nào được xem là có xuất xứ); chỉ sử dụng tiêu chuẩn tiêu cực (làloại tiêu chí xác định trường hợp nào không được xem là có xuất xứ) khi nó làmột phần để làm rõ tiêu chí tích cực hoặc trong những trường hợp mà tiêu chítích cực về xuất xứ là không cần thiết;

+ Thủ tục xem xét xuất xứ không được kéo dài quá 150 ngày kể từ khi cóđơn yêu cầu cấp xuất xứ của tổ chức, cá nhân;

+ Thông tin do tổ chức, cá nhân cung cấp để xem xét xuất xứ phải đượcxem là thông tin mật và không được công bố trừ khi có yêu cầu của cơ quan tưpháp trong một thủ tục tố tụng;

+ Mọi quyết định về xuất xứ (ví dụ cấp/từ chối cấp chứng nhận xuất xứ)đều có thể bị khiếu kiện ra tòa hoặc theo một thủ tục độc lập với cơ quan đã raquyết định đó [15]

1.2.2 Giai đoạn sau quá độ.

Sau thời gian quá độ, khi các quy tắc xuất xứ đã thống nhất, hài hòa vớinhau, các quy định về quy tắc xuất xứ được thực thi một cách đồng nhất với cácnước thành viên WTO và tuân theo chuẩn mực chung, nhằm tạo một hệ thốngthống nhất, dễ dự đoán và dễ áp dụng, dựa trên các nguyên tắc:

Trang 18

- Nguyên tắc cơ bản: Nước xuất xứ phải là nước nơi tiến hành sự thay đổi cơ bảncuối cùng đối với sản phẩm;

- Thay đổi cơ bản về sản phẩm được xác định theo sự thay đổi mã số hải quan HS

là chủ yếu;

- Trường hợp thay đổi mã số hàng hóa không phản ánh sự thay đổi cơ bản về sảnphẩm thì áp dụng các tiêu chí bổ sung, chủ yếu là “tỷ lệ phần trăm trị giá và/hoặccông đoạn chế biến/gia công”

Tuy nhiên, hài hòa hóa quy tắc xuất xứ trên phạm vi rộng là điều không

hề đơn giản Thực tế, theo hiệp định ban đầu, việc hài hòa hóa quy tắc xuất xứnày đã được hoàn thành vào năm 1998 và cho đến nay, trải qua một lần gia hạnvào năm 2006, giai đoạn quá độ vẫn đang trong quá trình triển khai

Trang 19

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA

THEO TPP VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

QUY TẮC XUẤT XỨ HÀNG HÓA.

2.1 Quy tắc xuất xứ trong TPP

TPP được đánh giá là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tương đốitoàn diện (thể hiện ở số lượng và nội dung các Chương và điều khoản mà hiệpđịnh này điều chỉnh) TPP gắn kết các quốc gia có sự chênh lệch về trình độ pháttriển kinh tế; khác biệt về thể chế chính trị, không tương đồng về văn hóa, ngônngữ, không cận kề về vị trí địa lý, nhưng sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho thànhviên tham gia hiệp định, thể hiện ở việc nắn dòng chảy FDI hướng về các quốcgia này, điều chỉnh chuỗi cung ứng giá trị khu vực trong phạm vi FTA này vàhạn chế không cho các quốc gia ngoài TPP được hưởng lợi thông qua việc thiết

kế bộ quy tắc xuất xứ theo đó bắt buộc một số nhóm hàng trọng điểm phải sửdụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu có xuất xứ trong khối, qua đó giúpnâng cao hàm lượng chế biến có xuất xứ TPP trong thành phẩm xuất khẩu, nângcao giá trị gia tăng ở lại với quốc gia sản xuất, xuất khẩu hàng hóa trong TPP

Việc tuân thủ quy tắc xuất xứ TPP là yếu tố then chốt quyết định việc đượchưởng ưu đãi thuế quan TPP Nếu các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Namkhông đáp ứng bộ quy tắc xuất xứ này, việc hưởng thuế quan ưu đãi sẽ vô nghĩa

Hiệp định TPP dành riêng 1 chương (Chương 3, gồm 3 phần, 32 điều và 3phụ lục) quy định về quy tắc xuất xứ và thủ tục về xuất xứ Quy tắc xuất xứ hànghóa trong TPP cũng có những điểm chung, cũng như đặc trưng khác biệt so vớiquy tắc xuất xứ trong các FTA khác

Về cơ bản, chương 3 này gồm hai phần:

- Phần 1: Quy tắc xuất xứ chung;

- Phần 2: Các thủ tục liên quan đến xuất xứ như chứng nhận xuất xứ, xác minhxuất xứ

- Các Phụ lục đi kèm:

• Phụ lục 3-A: Các hình thức chứng nhận xuất xứ khác

Trang 20

• Phụ lục 3-B: Yêu cầu thông tin tối thiểu

• Phụ lục 3-C: Loại trừ áp dụng De Minimis

• Phụ lục 3-D: Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng: Phụ lục liệt kê quy tắc xuất xứ cụthể toàn bộ các mặt hàng của 97 Chương theo Hệ thống mã số HS ở cấp 6 số, vớikhoảng hơn 5000 mặt hàng

• Phụ lục 1 đi kèm Phụ lục 3-D (PSR) quy định quy tắc dành riêng cho ô tô và cácphụ tùng của ô tô

Theo nội dung hiệp định, Hàng hóa được xem là có xuất xứ nếu:

“Thu được hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một hoặc nhiều bên như Quy định tại điều 3.3 (Hàng hóa có xuất xứ thuần túy);

Được sản xuất hoàn toàn trong lãnh thổ của một hay nhiều bên và hoàn toàn từ các nguyên liệu có xuất xứ;

Được sản xuất hoàn toàn trong lãnh thổ của một hay nhiều bên sử dụng nguyên liệu không có xuất xứ với điều kiện hàng hóa thoản mãn đầy đủ các yêu cầu có hiệu lực tại phụ lục 3-D (Quy tắc xuất xứ cụ thể theo mặt hàng) và đáp ứng đầy đủ những yêu cầu khác trong chương này” [Điều 3.2, Chương 3 Hiệp

định TPP]

TPP cũng chia hàng hóa có xuất xứ thành 2 loại: hàng hóa có xuất xứthuần túy và hàng hóa có xuất xứ không thuần túy

2.1.1 Hàng hóa có xuất xứ thuần túy.

“Mỗi Bên quy định rằng trong phạm vi Điều 3.2 (Hàng hóa có xuất xứ), một hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất hoàn toàn trong lãnh thổ của một hoặc nhiều Bên nếu hàng hóa đó là:

(a) một loại thực vật hoặc hàng hóa thực vật được trồng, thu hoạch, hái hoặc tập trung trong lãnh thổ đó;

(b) một động vật sống được sinh ra và nuôi lớn trong lãnh thổ đó;

(c) một loại hàng hóa thu được từ một động vật sống trong lãnh thổ đó; (d) một động vật bị săn, bẫy, đánh bắt, khai thác hoặc bắt trong lãnh thổ đó; (e) một hàng hóa thu được từ nuôi trồng thủy sản trong lãnh thổ đó;

(f) một khoáng chất hoặc chất phát sinh một cách tự nhiên, không bao gồm trong các điểm từ (a) đến (e), được chiết xuất hoặc lấy trong lãnh thổ đó;

Trang 21

(g) cá, động vật có vỏ và các loài sinh vật biển khác đánh bắt từ biển, đáy biển hoặc lòng đất dưới đáy bên ngoài lãnh thổ của các Bên và, theo luật pháp quốc tế, bên ngoài lãnh hải của các nước ngoài khối TPP 1 bằng tàu được đăng

ký, niêm yết, hoặc ghi nhận với một Bên và được phép treo cờ của Bên đó;

(h) một hàng hóa được sản xuất từ các loại hàng hoá nêu tại điểm (g) trên một tàu chế biến thủy sản được đăng ký, niêm yết với một Bên và được phép treo cờ của Bên đó;

(i) một hàng hóa khác ngoài cá, động vật có vỏ và các sinh vật biển khác

do một Bên hoặc một người của một Bên bắt từ đáy biển hoặc lòng đất dưới đáy bên ngoài lãnh thổ của các Bên, và ngoài phạm vi mà các nước ngoài khối TPP thực hiện quyền tài phán với điều kiện Bên đó hoặc người của Bên đó có quyền khai thác đáy biển hoặc lòng đất dưới đáy theo luật pháp quốc tế;

(j) là một trong các loại sau:

(i) chất thải hoặc phế liệu có nguồn gốc từ sản xuất trong lãnh thổ đó; hoặc (ii) chất thải hoặc phế liệu có nguồn gốc từ hàng đã qua sử dụng thu thập trong lãnh thổ đó, với điều kiện những mặt hàng này chỉ phù hợp cho việc thu hồi nguyên liệu thô; và

(k) một hàng hóa sản xuất trong lãnh thổ đó hoàn toàn từ các loại hàng hóa nêu trong các điểm từ (a) đến (j), hoặc từ các dẫn xuất của chúng.”

[Điều 3.3 Chương 3 Hiệp định TPP]

Có thể nói, hàng hóa có xuất xứ thuần túy là một khái niệm có tính tuyệt đối.Các loại hàng hóa có xuất xứ thuần túy được sinh trưởng hoàn toàn, được lấy từ đấthoặc được thu hoạch trong nước, hoặc được sản xuất chỉ từ các sản phẩm này.Chúng hoàn toàn không sử dụng các bộ phận hay nguyên phụ liệu nhập khẩu, hoặckhông rõ xuất xứ Một thành phần nhỏ nhất của hàng hóa được nhập khẩu, haykhông xác định được xuất xứ sẽ làm mất tính thuần túy của chúng

2.1.2 Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy.

Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy là hàng hóa trong quá trình SX hoặcgia công hay chế biến có thành phần nguyên vật liệu hoặc lao động của hai haynhiều nước tham gia vào hoạt động tạo ra sản phẩm này Hàng hóa được công nhận

Trang 22

có xuất xứ từ một quốc gia, vùng lãnh thổ khi quốc gia, vùng lãnh thổ đó thực hiệncộng đoạn chế biến cơ bản cuối cùng làm thay đổi cơ bản hàng hóa này.

Trường hợp hàng hóa không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của mộthay nhiều Nước thành viên, nhưng đáp ứng các quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng

về việc tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ được dùng để sản xuất hànghóa đó đều đã được chuyển đổi dòng thuế phù hợp hoặc hàng hóa đó thỏa mãnyêu cầu về hàm lượng giá trị khu vực hoặc kết hợp cả hai quy tắc trên, hoặc hànghóa đó đáp ứng các quy tắc khác được quy định trong hiệp định về quy tắc xuấtxứ Các quy tắc này chủ yếu liên quan đến các mặt hàng cụ thể để xác địnhchuyển đổi dòng thuế hoặc tính toán hàm lượng giá trị khu vực

Để xác định một hàng hóa là có xuất xứ, TPP căn cứ vào các tiêu chí: hàm lượnggiá trị khu vực (RVC), chuyển đổi mã hàng hóa (CTC) và theo mặt hàng cụ thể

2.1.2.1 Chuyển đổi dòng thuế (hay chuyển đổi mã số hàng hóa)

Quy tắc chuyển đổi dòng thuế hoặc chuyển đổi mã số được viết dựa theo

mã số của Hệ thống hài hòa phân loại thuế quan (HS - Harmonized System ofTariff Classification)

Trong các FTA trước đây thì Hệ thống phân loại HS sử dụng từ 6 đến 10con số để xác định hàng hóa Sáu con số đầu tiên của một số HS được quy địnhhài hòa cho hầu hết tất cả các nước trên thế giới, trong đó hai số đầu tiên là tênchương HS (chapter), bốn số đầu tiên được gọi là mục (heading), ví dụ 1905(chương 19, mục 5), và sáu số đầu tiên được gọi là tiểu mục (sub-heading) ví dụ:1905.90 (chương 19, mục 5, tiểu mục 90)

Khi chuyển đổi mã số HS theo chương (2 chữ số), thường được gọi tắt làCTC hoặc CC – Change to chapter; chuyển đổi theo mục, hoặc nhóm (4 chữ số),

là CTH – Change to heading; chuyển đổi theo tiểu mục, hoặc phân nhóm (6 chữsố) là CTSH – Change to subheading

Trong các phụ lục của TPP hiện nay thì cũng không có gì thay đổi hơn,TPP sử dụng các định nghĩa sau:

“Phần là phần của Hệ thống hài hòa;

Chương là chương của Hệ thống hài hòa;

Trang 23

Nhóm là 4 số đầu tiên của mã số hàng hóa trong Hệ thống hài hòa; và Phân nhóm là 6 số đầu tiên của mã số hàng hóa trong Hệ thống hài hòa.”[phụ lục 3 – C Hiệp định TPP]

Thay đổi Chương (CC – Change of Chapter) có nghĩa là tất cả các nguyênvật liệu không có xuất xứ sử dụng trực tiếp trong việc sản xuất các sản phẩmcuối cùng phải được xếp vào một chương khác nhau từ sản phẩm cuối cùng Nếunguyên liệu được phân loại trong cùng một chương được sử dụng phải được sảnxuất tại Việt Nam hoặc các nước khác trong nội khối TPP;

Thay đổi nhóm (CTH – Change of Heading) có nghĩa là tất cả các nguyênvật liệu không có xuất xứ sử dụng trực tiếp trong việc sản xuất các sản phẩmcuối cùng phải được xếp vào một nhóm khác với sản phẩm cuối cùng Nếunguyên liệu được phân loại vào cùng nhóm được sử dụng, phải được sản xuất tạiViệt Nam hoặc các nước khác trong nội khối TPP;

Thay đổi phân nhóm (CTSH – Change to SubHeading) có nghĩa là tất cảcác nguyên vật liệu không có xuất xứ sử dụng trực tiếp trong việc sản xuất cácsản phẩm cuối cùng phải được phân loại theo phân nhóm khác nhau từ sản phẩmcuối cùng Nếu nguyên liệu phân loại vào cùng một phân nhóm được sử dụng,phải được sản xuất tại Việt Nam hoặc các nước khác trong nội khối TPP;

Một ví dụ đơn giản về quy tắc chuyển đổi dòng thuế như sau:

Quy tắc xuất xứ: "Chuyển đổi mục 1905 từ bất kỳ một chương nào Change to heading 1905 from any other chapter."

-Sản phẩm: Bánh mì, bánh ngọt, bánh nước, bánh bích quy (HS 1905.90),nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ từ các Nước thành viên: Bột mỳ (phânloại HS chương 11) được nhập khẩu từ Trung Quốc

Nghĩa là: Đối với tất cả hàng hóa được phân loại HS thuộc mục 1905, tất cảcác nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ từ các Nước thành viên phải được phânloại trong chương HS khác so với chương HS19 để hàng hóa này được hưởng ưuđãi thuế quan Và trong trường hợp này thì bánh mì nướng sẽ được hưởng ưu đãithuế quan do nguyên liệu không có xuất xứ nằm ngoài Chương HS 19 Tuy nhiên,nếu những hàng hóa này lại được sản xuất từ bộn trộn sẵn không có xuất xứ từ các

Trang 24

nước Thành viên thì các sản phẩm này sẽ không được hưởng mức thuế ưu đãi dobộn trộn sẵn có mã chương HS 19, cùng chương với các sản phẩm nước.

Nói một cách khác, theo quy tắc này thì một sản phẩm sẽ được coi là cóxuất xứ từ một nước (sản xuất sản phẩm cuối cùng) nếu như sản phẩm đó chuyểndòng thuế từ các dòng thuế của nguyên liệu (NK) để sản xuất ra nó và sự thayđổi đó đáp ứng các yêu cầu nhất định về chuyển đổi dòng thuế (các nguyên liệu

đó phải thuộc hoặc không thuộc những dòng thuế nhất định) Đây là phươngpháp được áp dụng phổ biến nhất hiện nay Phương pháp này có ưu điểm là việcxác định đơn giản, dựa trên phân loại của HS đã có sẵn Nhưng phương pháp nàycũng có hạn chế là phải xác định đúng sản phẩm và nguyên liệu sản xuất sảnphẩm đó theo đúng phân loại của bảng HS mà đôi khi các doanh nghiệp ViệtNam còn chưa thông thạo [11]

Quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa chỉ áp dụng cho nguyên phụ liệukhông có xuất xứ;

Nếu quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng loại trừ một số nguyên phụ liệu của

Hệ thống hài hòa, việc loại trừ này sẽ được hiểu quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàngyêu cầu nguyên phụ liệu bị loại trừ phải có xuất xứ để hàng hóa có xuất xứ

Ví dụ 1: Chương 4 (sản phẩm bơ sữa, trứng, mật ong…trong phụ lục 3Dtrang 17)

Chuyển đổi cho hàng hóa của nhóm 04.01 đến 04.04 từ bất kỳ chương nàokhác, ngoại trừ các chế phẩm từ sữa của phân nhóm 1901.90 có chứa hơn 10%sữa ở thể rắn tính theo trọng lượng khô

Điều này có nghĩa là nếu mặt hàng của nhóm HS 04.01 đến HS 04.04 không cóxuất xứ thì được xem là “có xuất xứ” nếu được sản xuất từ nguyên liệu có mã HS nằmngoài chương 04, ngoại trừ chế phẩm từ sửa có phân nhóm (tiểu mục) HS 1901.90

(Trong khi chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột, sửa, các loại bánh ở chương

19 có mã HS 1901.90 -> Chuyển đổi cho hàng hóa của phân nhóm 1901.90 có chứahơn 10% sữa ở thể rắn tính theo trọng lượng khô từ bất kỳ chương nào khác, ngoạitrừ từ nhóm 04.01 đến 04.06; Trang 29 phụ lục 3D - TPP)

Như vậy điều kiện (I) ta có thể hiểu rằng nếu mặt hàng có mã HS 04.01đến HS 04.04 sẻ được công nhận là có xuất xứ nếu được sản xuất từ nguyên liệu

có mã HS năm ngoài Chương 04;

Trang 25

Ngoại trừ các chế phẩm sữa của phân nhóm 1901.90 Ở đây điều kiện loạitrừ xác định ở phân nhóm có nghĩa là nếu mã HS được xác định ở Chương 19 vàNhóm 01 đều được công nhận là “có xuất xứ”, chỉ loại trừ phân nhóm 90 hay1901.90 có chưa hơn 10% sữa ở thể rắn tính theo trọng lượng khô thì mới khôngđược công nhận mà thôi (theo qui định trên thì mặt hàng có mã HS 04.01 đến HS04.04 nếu được công nhận là hàng "có xuất xứ"thì mặt hàng chuyển đổi thuộcphân nhóm HS 1901.90 phải có xuất xứ (nghĩa là phải có xuất xứ nội khối).

Trong phụ lục 3 D nêu: Nếu hàng hóa được áp dụng quy tắc xuất xứ thaythế thì hàng hóa sẽ có xuất xứ nếu đáp ứng một trong các quy tắc thay thế đó;

Ví dụ 2: Chương 40 - cao su và các sản phẩm bằng Cao su (phụ lục 3Dtrang 55, 56)

Chuyển đổi cho hàng hóa của nhóm 40.01 từ bất kỳ Nhóm nào khác; hoặcKhông chuyển đổi mã số hàng hóa cho hàng hóa của Nhóm 40.01, vớiđiều kiện hàm lượng giá trị khu vực không thấp hơn 40% theo cách tính giántiếp

Điều này có nghĩa là hàng hóa có mã HS 40.01 không có xuất xứ đượcxem là “có xuất xứ” nếu được sản xuất từ nguyên vật liệu có mã HS nằm ngoàinhóm 01 hay 40.01, như vậy Doanh Nghiệp có thể sử dụng mã HS 40.02; 40.03;40.04…(chú ý ở đây là nằm ngoài nhóm chứ không phải nằm ngoài chương) đềuđược xem là hàng hóa có xuất xứ

Hoặc:

Nhóm 40.01 có hàm lượng giá trị khu vực thấp hơn 40% theo cách tínhgián tiếp thì mới được chuyển đổi, nói ngược lại hàm lượng giá trị khu vựckhông thấp hơn 40% thì không được chuyển đổi

Quy tắc chuyển đổi dòng thuế thường được các nước đang phát triển nhưViệt Nam nghiên cứu và phân tích một cách sâu sắc hơn, bởi vì kỹ thuật chúng tahiện nay vẫn còn yếu (ví dụ như việc nhuộm vải trong Dệt may, tẩm hương liệutrong phương pháp chế biến Trà…thường phải dựa vào các đối tác nước ngoàichẳng hạn như Trung Quốc), mặc dầu các nước trong nội khối như Nhật Bản,Hoa Kỳ thì kỹ thuật của họ cũng chẳng thua gì, có khi hơn hẳn nữa là khác

Ngày đăng: 24/06/2016, 17:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Giảng viên Bộ môn Giao dịch thương mại Quốc tế - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Đại học Ngoại thương (2013), “Vai trò bảo hộ của quy tắc xuất xứ trong thương mại Quốc tế”, Tạp chí kinh tế Đối ngoại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò bảo hộ của quy tắcxuất xứ trong thương mại Quốc tế”
Tác giả: Giảng viên Bộ môn Giao dịch thương mại Quốc tế - Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Đại học Ngoại thương
Năm: 2013
7. Giang Phương – Tuyết Anh (2016),“Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp khi tham gia TTP”, Báo Nhân dân Điện tửhttp://www.nhandan.com.vn/kinhte/thoi_su/item/28964302-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cho-doanh-nghiep-khi-tham-gia-ttp.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh chodoanh nghiệp khi tham gia TTP”, "Báo Nhân dân Điện tử
Tác giả: Giang Phương – Tuyết Anh
Năm: 2016
8. Hoàng Thiên (2015), “Hiệp định TPP - Cơ hội, thách thức và giải pháp chiến lược”, báo điện tử Doanh nghiệp Việt Namhttp://doanhnghiepvn.vn/hiep-dinh-tpp---co-hoi-thach-thuc-va-giai-phap-chien-luoc-d58534.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định TPP - Cơ hội, thách thức và giải phápchiến lược”, báo điện tử "Doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thiên
Năm: 2015
9. Lê Thị Anh Tuyết, “Quy tắc xuất xứ trong TPP – Cơ hội và thách thức cho hàng xuất khẩu Việt Nam”, Trường Cao đẳng Công thương TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy tắc xuất xứ trong TPP – Cơ hội và thách thức cho hàngxuất khẩu Việt Nam
11. Phạm Thị Hồng Yến (2014), “Một số nội dung về quy tắc xuất xứ trong hiệp định TPP”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung về quy tắc xuất xứ trong hiệpđịnh TPP”, "Tạp chí Kinh tế đối ngoại
Tác giả: Phạm Thị Hồng Yến
Năm: 2014
12. Thái Sơn (Văn phòng UBQG-HTKTQT, Bộ Công Thương) (2014), “FTA:Tận dụng và không tận dụng?” Tạp chí Công thươnghttp://tapchicongthuong.vn/fta-tan-dung-va-khong-tan-dung--20149169031914p12c16.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: FTA:Tận dụng và không tận dụng?” "Tạp chí Công thương
Tác giả: Thái Sơn (Văn phòng UBQG-HTKTQT, Bộ Công Thương)
Năm: 2014
13. Trịnh Thị Thu Hiền (2014), “Hỗ trợ xuất khẩu cho doanh nghiệp thông qua tận dụng ưu đãi FTA” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ xuất khẩu cho doanh nghiệp thông quatận dụng ưu đãi FTA
Tác giả: Trịnh Thị Thu Hiền
Năm: 2014
15. Trung tâm WTO (2010), “Giới thiệu Hiệp định về quy tắc xuất xứ”http://www.trungtamwto.vn/wto/hiep-dinh-ve-quy-tac-xuat-xu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Hiệp định về quy tắc xuất xứ”
Tác giả: Trung tâm WTO
Năm: 2010
16. Vương Đức Anh, Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công thương,“Tóm tắt nội dung chương 3 hiệp định TPP: Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứng nhận xuất xứ”http://tpp.moit.gov.vn/App_File%5CTPP%5Cabout/Tai%20lieu%20gioi%20thieu%20noi%20dung%20Quy%20tac%20xuat%20xu%20trong%20TPP.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt nộidung chương 3 hiệp định TPP: Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứngnhận xuất xứ
17. Phùng Thị Phương Anh (2015), “Chúng ta có vượt nổi quy tắc khắc nghiệt”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo - Bộ Kế hoạch và Ðầu tý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng ta có vượt nổi quy tắc khắcnghiệt”
Tác giả: Phùng Thị Phương Anh
Năm: 2015
2. Công ước Kyoto về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan (sửa đổi năm 1999) Khác
3. Phụ lục hiệp định TPP, bản dịch không chính thức của Cục xuất nhập khẩu, Bộ Công thương Khác
5. Toàn văn hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương TPP.Tài liệu khác Khác
10. Nhóm chuyên gia: Stefano Inama, Hồ Quang Trung, Trần Bá Cương, Phan Sinh (2011), Báo cáo đánh giá tác động của quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do của Việt Nam, Dự án hỗ trợ thương mại đa biên EU – Việt Nam MUTRAP III Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w