Ngoài quan hệ tài chính với các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp có thể có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác như doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội… Quan
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập
Tác giả luận văn tốt nghiệp
Văn Minh Tuấn
Trang 2MỤC LỤC MỤC LỤC ii LỜI MỞ ĐẦU iv CHƯƠNG I 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1
Về cơ bản lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp sẽ được chia thành 2 phần, một phần dành để chia cho chủ sở hữu (chia lãi hay chia cổ tức) một phần dành để tái đầu tư trở lại doanh nghiệp Việc quyết định chia lợi nhuận hay giữ lại lợi nhuận không làm thay đổi số lợi nhuận của doanh nghiệp đã được tạo ra cho chủ sở hữu,nhưng nó lại tác động đến rủi ro và mức tăng trưởng thu nhập cho chủ sở hữu trong tương lai Nếu nghiệp chia hết lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu thì chủ sở hữu sẽ ăn chắc số lợi nhuận này, nhưng do chia hết lợi nhuận nên nguồn vốn tích lũy từ lời nhuận là thấp, dẫn đến tốc độ tăng trưởng thu nhập cho chủ sở hữu trong tương lai sẽ không cao 6 KẾT LUẬN CHƯƠNG 37 CHƯƠNG II 39 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BIBICA 39 KẾT LUẬN CHƯƠNG 119 KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DTT Doanh thu thuần
TCDN Tài chính doanh nghiệp
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Sau những năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, các doanh nghiệp ngày càng trưởng thành hơn trong quá trình hội nhập,việc liên doanh, liên kết tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận được với công nghệ sản xuất hiện đại và tiên tiến trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn cho sự phát triển như vậy là những thách thức không nhỏ Sự non kém của các doanh nghiệp trước một thị trường lớn với các quy định khắc nghiệt đồng thời mất đi sự bảo hộ của nhà nước, vì thế mà các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau để tồn tại và phát triển, đem lại lợi nhuận cao nhất
có thể cho doanh nghiệp Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có mộtlượng vốn nhất định Và doanh nghiệp phải tổ chức hoạt động, sử dụng vốn sao cho có lợi nhuận nhiều nhất trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật và các nguyên tắc tài chính, tín dụng Do đó để hạn chế rủi
ro, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất doanh nghiệp phải phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Việc này đồng nghĩa với việc phải thường xuyên phân tích tình hình tài chính, nhằm biết được thực trạng tài chính hiện tại, xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến tính hình tài chính Từ đó, tìm ra nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục, tăng cường tình hình tài chính, đồng thời dự đoán điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, vạch ra phương hướng hoạt động cho phù hợp với tình hình mới Đối với các doanh nghiệp, những thông tin tài chính luôn giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính và ngược lại, tình hình tài chính cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh Với vai trò quan trọng như vậy, phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là công việc không thể thiếu trong công tác quản lý, nó có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Chính vì tầm quan trọng
đó, em chọn đề tài “Đánh giá thực trạng tài chính và một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Bibica” để làm đề tài luận văn
tốt nghiệp
Trang 52 Mục tiêu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là trên cơ sở tình hình tài chính của công ty hiện nay để thấy được những mặt đã đạt được cần phát huy, đồng thời cũng thấy được những tồn tại cần khắc phục, từ đó đưa ra những biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu lý luận chung về phân tích tình hình tài chính
và thực trạng tài chính tại Công ty Cổ phần Bibica thời gian từ 2012 đến
2014 Từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp điều tra, phân tích, tổng hợp, thống kê, logic…đồng thời sử dụng các bảng biểu để minh họa
5 Kết cấu đề tài
Chuyên đề này ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có các nội dung chính :
Chương 1: Lý luận chung về đánh giá thực trạng tài chính của doanh
bạn để đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2016
Học viên
Trang 6Văn Minh Tuấn
Trang 7CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA
DOANH NGHIỆP 1.1 TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.1.1.Tài chính doanh nghiệp và các quyết định Tài chính Doanh nghiệp.
1.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu…và sức lao động để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường để có các yếu tố đầu vào đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn tiền tệ nhất định Với từng loại hình pháp lý tổ chức, doanh nghiệp có phương thức thích hợp tạo lập số vốn tiền tệ ban đầu,từ số vốn tiền tệ đó doanh nghiệp mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…sau khi sản xuất xong, doanh nghiệp thực hiện bán hàng hóa và thu được tiền bán hàng
Từ số tiền bán hàng,doanh nghiệp sử dụng để bù đắp các khoản chi phí vật chất đã tiêu hao, trả tiền công cho người lao động,các khoản chi phí khác, nộp thuế cho Nhà nước và phần còn lại là lợi nhuận sau thuế Từ số lợi nhuận sau thuế này, doanh nghiệp tiếp tục phân phối cho các mục đích có tích chất tích lũy và tiêu dùng Như vậy quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình đó đã làm phát sinh, tạo ra sự vận động của các dòng tiền bao hàm dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên hàng ngày của doanh nghiệp
Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh
Trang 8nghiệp và bao hàm các quan hệ tài chính chủ yếu sau:
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và Nhà nước.
Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thực hiện các nghĩa
vụ tài chính với nhà nước, như nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội khác
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa,dịch vụ cho nhau (bao hàm cả các dịch vụ tài chính)
Ngoài quan hệ tài chính với các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp có thể
có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác như doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội…
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp
Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán trả tiền công, thực hiện thưởng, phạt vật chất với người lao động trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp…
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp
Mối quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện việc đầu tư,góp vốn vào, hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thế của doanh nghiệp
Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch toán nội
bộ doanh nghiệp
Từ những vấn đề trên,có thể rút ra một số nhận xét sau:
Trang 9Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập,sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập,phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.1.2: Các quyết định tài chính của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp thực chất quan tâm nghiên cứu ba quyết định chủ yếu,
đó là quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định phân phối lợi nhuận
*Quyết định đầu tư: Là những quyết định liên quan đến tổng giá trị tài
sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản cố định và tài sản lưu động) Quyết định đầu tư ảnh hưởng đến bên trái (phần tài sản) của bảng cân đối kế toán.Các quyết định đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm:
- Quyết định đầu tư tài sản lưu động: Quyết định tồn quỹ, quyết định tồn kho, quyết định chính sách bán hàng, quyết định đầu tư tài chính ngắn hạn
- Quyết định đầu tư tài sản cố định: Quyết định mua sắm tài sản cố định, quyết định đầu tư dự án, quyết định đầu tư tài chính dài hạn…
- Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và đầu tư tài sản
cố định: Quyết định sử dụng đòn bẩy kinh doanh, quyết định điểm hòa vốn
- Quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất trong các quyết định của tài chính doanh nghiệp bởi nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp Một quyết định đầu tư đúng sẽ góp phần làm tăng giá trị doanh nghiệp,qua đó làm tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, ngược lại một quyết định đầu tư sai lầm sẽ làm tổn thất giá trị doanh nghiệp dẫn tới thiệt hại tài sản cho chủ sở hữu doanh nghiệp
*Quyết định huy động vốn: Là những quyết định liên quan đến việc nên
chọn nguồn vốn nào để cung cấp cho các quyết định đầu tư Quyết định nguồn vốn tác động đến bên phải (phần nguồn vốn) của bảng cân đối kế toán Các quyết định huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm :
-Quyết định huy động vốn ngắn hạn: Quyết định vay vốn ngắn hạn hay sử dụng tín dụng thương mại
Trang 10-Quyết định huy động vốn dài hạn: Quyết định sử dụng nợ dài hạn thông qua vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty; quyết định phát hành vốn cổ phần (cổ phần phổ thông hay hay là cổ phần ưu đãi); quyết định quan hệ cơ cấu giữa nợ và vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính);quyết định vay để mua hay thuê tài sản…
Các quyết định huy động vốn là một thách thức không nhỏ đối với các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp Để có các quyết định huy động vốn đúng đắn, các nhà quản trị tài chính phải có sự nắm vững những điểm lợi,bất lợi của việc sử dụng các công cụ huy động vốn, đánh giá chính xác tình hình hiện tại và dự báo đúng đắn diễn biến thị trường – giá cả trong tương lai…trước khi đưa ra quyết định huy động vốn
*Quyết định phân chia lợi nhuận: Gắn liền với quyết định về phân chia
cổ tức hay chính sách cổ tức của doanh nghiệp Các nhà quản trị tài chính sẽ phải lựa chọn giữa việc sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức,hay giữ lại để tái đầu tư Những quyết định này liên quan đến việc doanh nghiệp nên theo đuổi một chính sách cổ tức như thế nào và liệu chính sách cổ tức có tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp hay giá cổ phiếu của công ty trên thị trường hay không
Ngoài ba loại quyết định chủ yếu trong tài chính doanh nghiệp như trên đã đưa ra còn nhiều loại quyết định khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như quyết định mua bán, sáp nhập, quyết định phòng ngừa rủi
ro tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh…
Căn cứ vào thời gian thực hiện có thể chia các quyết định tài chính của doanh nghiệp ra thành 2 nhóm là quyết định tài chính dài hạn và quyết định tài chính ngắn hạn
*Quyết định tài chính dài hạn
Đây là những quyết định có tính chất chiến lược, có tầm ảnh hưởng lâu dài đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Mỗi quyết định này đòi hỏi nhà quản trị phải cân nhắc kỹ lưỡng, phân tích một cách bài bản và khoa học để
Trang 11đảm bảo hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra Thuộc quyết định tài chính dài hạn bao gồm: Quyết định đầu tư dài hạn, quyết định huy động vốn dài hạn
và quyết định về chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
+Quyết định đầu tư dài hạn: Là quyết định lựa chọn doanh nghiệp nên đầu
tư vào những cơ hội hay những dự án đầu tư nào trong điều kiện nguồn lực tài chính có giới hạn để tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu
Thông thường các cơ hội đầu tư có nguy cơ rủi ro cao thường mang lại tỷ suất sinh lời cao và ngược lại Giá trị doanh nghiệp là tổng giá trị hiện tại của dòng tiền trong tương lai được chiết khấu theo tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư Nếu nhà quản trị lựa chọn cơ hội đầu tư có tỷ suất sinh lời cao để tối đa hóa dòng tiền cho chủ sở hữu,nhưng kéo theo đó tỷ suất sinh lời đòi hỏi cũng bị đẩy lên cao do rủi ro cao.Vì vậy, chưa chắc giá trị doanh nghiệp sẽ đạt được mục tiêu tối đa hóa
+Quyết định huy động vốn dài hạn: Là quyết định lựa chọn nên huy động vốn dài hạn từ những nguồn nào,với quy mô bao nhiêu để tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu
Xét về tổng thể, nguồn vốn của doanh nghiệp được chia làm 2 nguồn là nguồn vốn nợ và nguồn vốn chủ sở hữu Trong trường hợp tỷ suất sinh lời kinh
tế của vốn cao hơn lãi suất vay vốn,nếu doanh nghiệp gia tăng sử dụng nguồn vốn vay sẽ làm tăng thêm dòng tiền mà chủ sở hữu nhận được, vì nhận được nhiều thu nhập hơn từ vốn vay tạo ra, đồng thời cũng làm tăng nguy cơ rủi ro vỡ
nợ dẫn đến tổn thất cho chủ sở hữu Ngược lại, nếu như doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu thì mặc dù nguy cơ rủi ro vỡ nợ sẽ thấp hơn nhưng thu nhập cho chủ sở hữu sẽ ít hơn so với việc sử dụng vốn vay Khi đó, việc sử dụng vốn vay một mặt sẽ làm tăng giá trị cho chủ sở hữu, vì nó làm tăng dòng tiền cho chủ sở hữu, tuy nhiên việc vay nợ quá mức sẽ làm tăng rủi ro khiến cho chủ sở hữu đòi hỏi mức sinh lời cao hơn làm cho giá trị doanh nghiệp bị sụt giảm Vì vậy, nhà quản trị tài chính phải đưa ra quyết định lựa chọn nguồn vốn nào, đặc biệt phải quyết định quy mô của từng nguồn vốn tài trợ cho dự án đầu tư, cũng
Trang 12như cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Quyết định về chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp: Là quyết định lựa chọn nên dành bao nhiêu lợi nhuận để chia cho chủ sở hữu, dành bao nhiêu lợi nhuận để tái đầu tư trở lại doanh nghiệp nhằm tối đa hóa cho chủ
sở hữu
Về cơ bản lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp sẽ được chia thành 2 phần, một phần dành để chia cho chủ sở hữu (chia lãi hay chia cổ tức) một phần dành để tái đầu tư trở lại doanh nghiệp Việc quyết định chia lợi nhuận hay giữ lại lợi nhuận không làm thay đổi số lợi nhuận của doanh nghiệp đã được tạo ra cho chủ sở hữu,nhưng nó lại tác động đến rủi ro và mức tăng trưởng thu nhập cho chủ sở hữu trong tương lai Nếu nghiệp chia hết lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu thì chủ sở hữu sẽ ăn chắc số lợi nhuận này, nhưng do chia hết lợi nhuận nên nguồn vốn tích lũy từ lời nhuận là thấp, dẫn đến tốc độ tăng trưởng thu nhập cho chủ sở hữu trong tương lai sẽ
không cao.
Ngược lại, nếu như để lại toàn bộ lợi nhuận tái đầu tư thì tốc độ tăng trưởng thu nhập của chủ sở hữu sẽ tăng cao, nhưng kéo theo đó là sự gia tăng về rủi ro đối với các khoản lợi nhuận giữ lại ở doanh nghiệp, từ đó sẽ tác động đến giá trị doanh nghiệp.Vì vậy, nhà quản trị tài chính phải quyết định lựa chọn phân chia bao nhiêu lợi nhuận cho chủ sở hữu, giữ lại bao nhiêu lợi nhuận để tái đầu
tư là phù hợp và đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp,phù hợp với chiến lược phát triển và giai đoạn phát triển trong chu kỳ sống của doanh nghiệp
*Quyết định tài chính ngắn hạn
Đây là những quyết định có tính chất tác nghiệp, ảnh hưởng không lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, vì vậy con người ta còn gọi là các quyết định tài chính chiến thuật Thuộc quyết định tài chính ngắn hạn bao gồm : Quyết định dự trữ vốn bằng tiền,quyết định về nợ phải thu, quyết định về việc
Trang 13thực hiện chiết khấu thanh toán, quyết định về dự trữ vốn tồn kho, quyết định về việc khấu hao TSCĐ…tính hợp lý và đúng đắn của các quyết định này ảnh hưởng nhất định đến rủi ro và lợi ích cho doanh nghiệp, cũng như cho chủ sở hữu doanh nghiệp Điều này được thể hiện như sau:
+Quyết định dự trữ vốn bằng tiền: Khi doanh nghiệp dự trữ vốn bằng tiền
sẽ đảm bảo cho việc thanh toán, chi trả nhằm thực hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp với các chủ thể khác được thuận lợi, hạn chế rủi ro trong quá trình hoạt động Tuy nhiên, việc dự trữ vốn bằng tiền sẽ làm tăng chi phí cơ hội của vốn và tăng nguy cơ rủi ro do tiền có thể bị mất giá do lạm phát, thay đổi tỷ giá…gây ra
+Quyết định về nợ phải thu: Khi doanh nghiệp bán chịu sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh dẫn đến làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên, bán chịu sẽ gia tăng nợ phải thu, dẫn đến ứ đọng vốn và doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro không thu hồi được công nợ
+Quyết định về chiết khấu thanh toán : Việc áp dụng chiết khấu thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp thu hồi nhanh tiền bán hàng, giảm nhu cầu vốn dẫn đến giảm bớt chi phí sử dụng vốn Tuy vậy, do thực hiện chiết khấu cho khách hàng nên lợi nhuận bán hàng của doanh nghiệp có thể bị sụt giảm
+Quyết định về sự trữ vốn tồn kho: Việc duy trì tồn kho dự trữ sẽ làm giảm thiểu rủi ro gián đoạn hoạt động SXKD, nhưng nó lại làm tăng chi phí cơ hội của vốn, tăng chi phí bảo quản, cất trữ… làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
+Các quyết định tài chính ngắn hạn khác : Như quyết định về khấu hao TSCĐ, quyết định về trích lập dự phòng, quyết định về việc thanh toán…cũng luôn tạo ra mối quan hệ giữa lợi ích và rủi ro cho doanh nghiệp nói chung và cho chủ sở hữu doanh nghiệp nói riêng
Từ những phân tích ở trên,cho thấy nhà quản trị tài chính phải cân nhắc đưa ra quyết định tài chính ngắn hạn hợp lý đảm bảo tối thiểu hóa rủi ro và tối
đa hóa dòng tiền cho chủ sở hữu, khi đó sẽ tối đa hóa được giá trị của doanh nghiệp cho chủ sở hữu
Trang 14Tóm lại, nhà quản trị tài chính phải đưa ra các quyết định tài chính nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Với mỗi quyết định tài chính nhà quản trị phải luôn luôn đối mặt với mâu thuẫn giữa rủi ro và sinh lời Một quyết định tài chính khôn ngoan là quyết định có thể tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp, muốn vậy quyết định tài chính phải đảm bảo tối thiểu hóa được rủi ro và tối đa hóa được tỷ suất sinh lời cho chủ sở hữu Đây là điều rất khó cho các nhà quản trị tài chính trong quá trình phân tích và ra quyết định lựa chọn các quyết định tài chính phù hợp.
1.1.2 Quản trị Tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1.Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn đưa ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Do các quyết định tài chính của doanh nghiệp gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy quản trị tài chính doanh nghiệp còn được nhìn nhận là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiên, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động của người quản lý liên quan đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Có thể thấy rằng quản trị tài chính doanh nghiệp liên quan đến ba loại quyết định chính: Quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn và quyết định phân phối lợi nhuận làm ra, sao cho có lợi nhất cho các chủ sở hữu doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận, là nội dung quan trọng hàng đầu của quản trị doanh nghiệp, nó có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động của doanh nghiệp Hầu hết các quyết định quản trị doanh nghiệp đều dựa trên cơ sở những kết quả rút ra từ việc đánh giá về mặt tài chính của hoạt động quản trị tài chính đối với doanh nghiệp
Trang 151.1.2.2.Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
a Tham gia việc đánh giá, lựa chọn quyết định đầu tư.
Triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vào quyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn như quyết định đầu tư đổi mới công nghệ mới, mở rộng SXKD, sản xuất sản phẩm mới…để đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc trên nhiều mặt về kinh tế, kỹ thuật và tài chính Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và dự tính thu nhập do đầu tư đưa lại,nói cách khác là xem xét dòng tiền
ra và dòng tiền vào liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội đầu tư về mặt tài chính Đó là quá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư
b Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời,đủ nhu cầu vốn do các hoạt động của doanh nghiệp.
Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn Nhà quản trị tài chính phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp ở trong kỳ (bao gồm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn) tiếp theo, phải
tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: Kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc
sử dụng mỗi nguồn vốn
c Sử dụng có hiệu quả vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu,chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Nhà quản trị tài chính phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn hiện
có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, thường xuyên tìm biện pháp thiếp lập sự
Trang 16cân bằng giữa thu và chi vốn bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
d.Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế, cũng như trích lập và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp, giải quyết hài hòa giữa lợi ích trước mắt của chủ sở hữu với lợi ích lâu dài – sự phát triển của doanh nghiệp
e Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hằng ngày, các báo cáo tài chính, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác, thông qua việc định kỳ tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp để đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn,những điểm mạnh và điểm yếu trong quản lý, dự báo trước tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp kịp thời đưa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ tới
g.Thực hiện kế hoạch hóa tài chính
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được thực hiện trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính, có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp mới
có thể đưa ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình chủ động đưa ra các giải pháp hữu hiệu khi thị trường có sự biến động
1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị TCDN
Quản trị tài chính doanh nghiệp trong các doanh nghiệp là không giống nhau Sự khác biệt đó chịu sự chi phối của các nhân tố cơ bản là hình thức pháp
lý tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của ngành kinh doanh và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 17• Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp đều tồn tại dưới những hình thức pháp lý nhất định về
tổ chức doanh nghiệp Ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp 2005, có 4 hình thức pháp lý cơ bản của doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chứ tài chính doanh nghiệp như: Phương thức hình thành và huy động vốn, việc tổ chức quản lý sử dụng vốn, việc chuyển nhượng vốn, phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với khoản nợ của doanh nghiệp…
Nhưng ảnh hưởng của hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp đến quản trị tài chính của các loại hình doanh nghiệp thể hiện ở những đặc điểm chủ yếu sau:
*Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do 1 cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp là người đầu tư bằng vốn của mình và có thể huy động thêm vốn từ bên ngoài qua các hình thức đi vay Tuy nhiên, việc huy động vốn từ bên ngoài là rất hạn hẹp và loại hình doanh nghiệp này không được phép phát hành bất cứ loại chứng khoán nào để huy động vốn trên thị trường Qua đó, cho thấy nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân là rất hạn chế,vì vậy loại hình doanh nghiệp này thường thích hợp với việc kinh doanh quy mô nhỏ
Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả các hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình,có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác hoặc có quyền tạm ngừng hoạt động kinh doanh Việc thực hiện cho thuê hay bán doanh nghiệp hoặc tạm ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải tuân thủ các yêu cầu của pháp luật hiện hành
Lợi nhuận sau thuế là tài sản hoàn toàn thuộc quyền sở hữu và sử dụng của chủ doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân tự chịu trách
Trang 18nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động Điều đó cũng có nghĩa
là về mặt tài chính, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp Đây cũng là một điều bất lợi của hình thức doanh nghiệp này
*Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp,trong đó:
Phải có ít nhất 2 thàng viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghê nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp đã góp vào công ty
Trong công ty hợp danh, các thành viên hợp danh có quyền quản lý công
ty, tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty, cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại điều lệ của công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty
Ngoài vốn điều lệ, công ty hợp danh có quyền lựa chọn hình thức huy động vốn theo quy định của pháp luật, nhưng không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn
Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của công ty còn thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty
*Công ty trách nhiệm hữu hạn.
Theo Luật Doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam, có 2 dạng công ty trách nhiệm hữu hạn: Công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên:
Trang 19Là doanh nghiệp, trong đó:
Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp
Phần góp vốn của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật
Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá 50
Thành viên của công ty có quyền biểu quyết tương ứng với phần vốn góp Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết Ngoài phần vốn góp của thành viên, công ty có quyền lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn theo quy định của pháp luật, nhưng công ty không được phát hành cổ phiếu
Trong quá trình hoạt động, theo quyết định của hội đồng thành viên, công ty
có thể tăng hoặc giảm vốn điều lệ theo quy định của pháp luật
Lợi nhuận sau thuế thuộc về các thành viên của công ty, việc phân phối lợi nhuận do các thành viên quyết định, số lợi nhuận mỗi thành viên được hưởng tương ứng với phần vốn góp công ty
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Là doanh nghiệp do 1 tổ chức hoặc 1 các nhân làm chủ sở hữu (sau này gọi là chủ sở hữu công ty), chủ
sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Công ty công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, phải xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty và tài sản của công ty, chủ sở hữu công
ty là cá nhân phải tách biệt với các chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch công ty và Giám đốc
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành
cổ phiếu
Trang 20*Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp, trong đó:
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp có quy định của pháp luật
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
Ngoài các hình thức huy động vốn thông thường, công ty cổ phần có thể phát hành các loại chứng khoán ra công chúng để huy động vốn đủ tiêu chuẩn theo quy định
Việc phân phối lợi nhuận sau thế thuộc quyền quyết định của Đại hội đồng cổ đông công ty
Trong nền kinh tế thị trường, loại hình công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp chủ yếu, có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
Cổ đông có thể chuyển nhượng khoản đầu tư dễ dàng, điều này tạo tính thanh khoản, linh hoạt và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Đối với công ty cổ phần có sự tách biệt giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu đối với tài sản của công ty nên các cổ đông của công ty được tự do chuyển nhượng cổ phần cho người khác (trừ cổ dông sáng lập có thể bị hạn chế)
Ngoài ra thu nhập của cổ đông bao gồm cổ tức được chia từ lợi nhuận sau
Trang 21thuế và chênh lệch giá cổ phần Chính điều này đã làm cho các quyết định tài chính trở nên quan trọng, có tác động không chỉ đến lợi nhuận của doanh nghiệp, mà xa hơn là tác động tới giá cổ phiếu của công ty trên thị trường Khi đó, lợi ích của chủ
sở hữu bị tác động bởi sự thay đổi giá cổ phiếu trên thị trường
Tóm lại, khi phân tích đánh giá và lựa chọn các quyết định tài chính thì nhà quản trị tài chính không thể bỏ qua hình thức pháp lý của doanh nghiệp,bởi với mỗi hình thức pháp ký doanh nghiệp sẽ có những đặc điểm khác nhau trong việc lựa chọn các quyết định tài chính, chẳng hạn như quyết định về huy động vốn hay quyết định về việc phân phối lợi nhuận
Trong các chủ trương tiếp theo chủ yếu chú trọng vào các quyết định tài chính của loại hình công ty cổ phần Mặc dù ở Việt Nam hình thức pháp lý này không phải là duy nhất, nhưng xét về lâu dài thì công ty cổ phần là lựa chọn hợp
lý nhất cho công ty có quy mô lớn và đang trên đà phát triển, trong điều kiện nền kinh tế thị trường
Trang 22• Đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của ngành kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của 1 doanh nghiệp thường được thực hiện trong 1 hoặc 1 số ngành kinh doanh nhất định Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp
Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại dịch vụ thì vốn lưu động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn lưu động cũng nhanh hơn so với các ngành nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng Ở các ngành này, vốn cố định thường chiếm tỷ lệ cao hơn vốn lưu động,thời gian thu hồi vốn cũng chậm hơn
Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng,nhờ đó có thể dễ dàng bảo đảm cân đối giữa thu và chi bằng tiền,cũng như đảm bảo vốn cho nhu cầu kinh doanh Ngược lại, những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phản ứng ra lượng vốn lưu động lớn hơn Những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành sản xuất có tính thời vụ thì nhu cầu về vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm chênh lệch nhau rất lớn, giữa thu và chi bằng tiền thường có sự không ăn khớp nhau về thời gian Đó là điều phải tính đến trong việc tổ chức tài chính,nhằm đảm bảo vốn kịp thời, đầy
đủ cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như đảm bảo cân đối giữa thu và chi bằng tiền
• Môi trường kinh doanh
Doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp: Môi trường kinh tế-tài chính,môi trường chính trị, môi trường luật pháp, môi trường công nghệ, môi trường văn hóa-xã hội…dưới đây, xem xét tác động của môi trường kinh tế tài chính đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Trang 23Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: Nếu cơ cở hạ tầng phát triển (hệ thông
giao thông thông tin liên lạc, điện, nước…) thì sẽ giảm bớt được nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trong kinh doanh
Tình trạng của nền kinh tế: Một nền kinh tế đang trong quá trình tăng
trưởng thì có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư phát triển, từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tích cực áp dụng các biện pháp huy động vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư Ngược lại, nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái thì doanh nghiệp khó có thể tìm được cơ hội tốt để đầu tư
Lãi suất thị trường: Lãi suất thị trường là yếu tố tác động rất lớn đến hoạt
động của tài chính doanh nghiệp Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến cơ hội đầu
tư, đến chi phí sử dụng vốn và cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp Mặt khác, lãi suất thị trường còn ảnh hưởng gián tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi lãi suất thị trường tăng cao,thì người ta có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng, điều đó hạn chế đến việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Lạm phát: Khi nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao thì việc tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp gặp khó khăn khiến cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp căng thẳng Nếu doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp tích cực thì
có thể còn bị thất thoát vốn kinh doanh Lạm phát cũng làm cho nhu cầu vốn kinh doanh tăng lên và tình hình tài chính doanh nghiệp không ổn định
Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước đối với doanh nghiệp: Như
các chính sách khuyến khích đầu tư,chính sách thuế, chính sách xuất khẩu,nhập khẩu, chế độ khấu hao tài sản cố định…đây là yếu tố tác động lớn đến các vấn
đề tài chính của doanh nghiệp
Mức độ cạnh tranh: Nếu doanh nghiệp hoạt động trong những ngành
nghề,lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn trong đổi mới thiết bị, công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm,cho quảng cáo,tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm
Trang 24Thị trường tài chính và các trung gian tài chính: Hoạt động của doanh
nghiệp gắn liền với thị trường tài chính, nơi mà doanh nghiệp có thể huy động gia tăng vốn, đồng thời có thể đầu tư các khoản tài chính tạm thời nhàn rỗi để tăng thêm mức sinh lời của vốn hoặc có thể dễ dàng hơn thực hiện đầu tư dài hạn gián tiếp Sự phát triển của thị trường làm đa dạng hóa các công cụ và các hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như sự xuất hiện và phát triển của các hình thức thuê tài chính,sự hình thành và phát triển của các thị trường chứng khoán…
Hoạt động của các trung gian tài chính cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp Sự phát triển lớn mạnh của các trung gian tài chính
sẽ cung cấp các dịch vụ tài chính ngày càng phong phú, đa dạng hơn các doanh nghiệp, như sự phát triển của các ngân hàng thương mại là đa dạng hóa các hình thức thanh toán như thanh toán qua chuyển khoản, thẻ tín dụng…sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trung gian tài chính tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp tiếp cận,sử dụng nguồn vốn tín dụng với chi phí thấp hơn
Khi xem xét tác động của môi trường kinh tế- tài chính không chỉ xem xét
ở phạm vi trong nước mà còn phải xem xét đánh giá môi trường kinh tế tài chính trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ,những biến động lớn về kinh tế, tài chính trong khu vực và thế giới ảnh hưởng mau lẹ đến nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của một quốc gia
1.1.2.4 Vai trò của quản trị TCDN
Ngày nay vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên hết sức quan trọng đối với hoạt động của mỗi doanh nghiệp, bởi vì:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất cả hoạt động của doanh nghiệp
Quy mô kinh doanh và nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp càng lớn Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính thì các công cụ tài chính để huy động vốn ngày càng phong phú và đa dạng hơn Vì vậy các quyết định huy
Trang 25động vốn, quyết định đầu tư…của nhà quản trị tài chính ảnh hưởng lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Các thông tin về tình hình tài chính là căn cứ quan trọng đối với nhà quản lý doanh nghiệp trong việc kiểm soát và chỉ đạo các hoạt động của doanh nghiệp.
Vai trò của quản trị tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện qua các mặt chủ yếu sau:
a Huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn
ra bình thường và liên tục.
Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường xuyên nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên, cũng như cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nếu không huy động kịp thời và đủ vốn sẽ khiến cho các hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai được
Do vậy, việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp
Nhà quản trị tài chính trên cơ sở xem xét tình hình thị trường tài chính,nhu cầu vốn và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định tối ưu nhất trong việc tổ chức huy động các nguồn vốn (bên trong, bên ngoài) đáp ứng nhu cầu cho các hoạt động của doanh nghiệp Một chính sách tài trợ đúng đắn không những giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro tài chính, mà còn tác động rất lớn đến việc thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
b Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Với việc lựa chọn các dự án đầu tư tối ưu trên cơ sở cân nhắc,so sánh giữa
tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức rủi ro của dự án đầu tư…nhà quản trị tài chính đã tạo tiền đề cho việc sử dụng vốn tiết kiệm và đạt hiệu quả cao
Việc tổ chức huy động vốn kịp thời,đầy đủ sẽ giúp cho doanh nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp.Việc
Trang 26lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, đảm bảo cơ cấu vốn tối ưu có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt được chi phí sử dụng vốn tối ưu
có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, góp phần tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Mặt khác với việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giúp doanh nghiệp tránh được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó giảm được tiền trả lãi vay, góp phần tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
c.Kiểm tra, giám sát một cách toàn diện các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình vận động,chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ Vì vậy, thông qua việc xem xét tình hình thu chi tiền tệ hằng ngày, và nhất là thông qua việc phân tích đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp và việc thực hiện các chỉ tiêu tài chính, các nhà quản trị tài chính có thể kiểm soát kịp thời và toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó chỉ ra những tồn tại và những tiềm năng chưa được khai thác để đưa ra các quyết định thích hợp, điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp
1.2.Đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu đánh giá thực trạng tài chính DN
(1) Khái niệm:
Đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp là việc xem xét, phân tích kết quả của việc quản lý và điều hành tài chính của doanh nghiệp thông qua các
số liệu trên báo cáo tài chính bằng việc sử dụng tổng hợp các phương pháp, công
cụ và kỹ thuật phân tích,từ đó chỉ ra những gì đã làm được, những gì làm chưa được và dự đoán những gì sẽ xảy ra đồng thời tìm ra nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó đề ra các biện pháp tận dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu và nâng cao chất lượng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 27(2) Mục tiêu:
Tài chính doanh nghiệp là một mặt không thể thiếu trong doanh nghiệp,
nó gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp giúp cho các nhà quản trị và các đối tượng quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp có thể nhận thức các vấn đề liên quan đến tài chính doanh nghiệp, thấy được thực trạng thực trạng tài chính, khả năng triển vọng tài chính của doanh nghiệp từ đó đưa ra các giải pháp kịp thời nhằm cải thiện tình hình tài chính hiện tại và tương lai của doanh nghiệp Cụ thể:
+ Đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các khía cạnh khác nhau như cơ cấu nguồn vốn, tài sản, khả năng thanh toán, lưu chuyển tiện tệ, hiệu quả sử dụng tài sản, khăng năng sinh lời, rủi ro tài chính,… nhằm đáp ứng thông tin cho tất cả các đối tượng quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp như các nhà đầu tư, cung cấp tín dụng, quản lý doanh nghiệp, cơ quan thuế, người lao động…
+ Định hướng các quyết định của các đối tượng quan tâm theo chiều hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi nhuận,…
+ Trở thành cơ sở cho các dự báo tài chính, từ đó dự đoán được tiềm năng tài chính của doanh nghiệp trong tương lai
+ Giúp kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở kiểm tra, đánh giá các chỉ tiêu kết quảđạt được so với các chỉ tiêu kế hoạch, dự toán, định mức… từ đó xác định được những điểm mạnh và điểm yếu trong hoạt động kinh doanh giúp cho doanh nghiệp có được những quyết định và giải pháp đúng đắn, đảm báo kinh doanh đạt hiệu quả cao Mục tiêu này đặc biệt quan trọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp
Tuy nhiên có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng các thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp trên các giác độ và mục tiêu khác nhau
+ Đối với chủ doanh nghiệp và nhà quản trị doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm các mục tiêu chủ yếu là:
- Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro trong doanh nghiệp…
Trang 28- Hướng các quyết định của ban Giám đốc theo chiều hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận…
- Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho những dự đoán tài chính
- Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là một công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động trong doanh nghiệp
+ Đối với nhà đầu tư, các chủ nợ: Đánh giá thực trạng giúp họ đánh giá
được khả năng thanh toán, khả năng sinh lời,… để từ đó đưa ra các quyết định nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không, có nên cho doanh nghiệp vay hay không…?
+ Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Thông qua đánh giá thực trạng
tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá và kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các cơ chế chính sách, giải pháp tài chính phù hợp với tình hình của doanh nghiệp
+ Đối với cán bộ công nhân viên, người lao động trong doanh nghiệp:
thu nhập của họ (thường là lương, cổ tức hoặc tiền lãi) phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, đánh giá thực trạng tài chính giúp họ định hướng chỗ làm ổn định cho mình, đồng thời có thể dốc tâm sức vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo vị trí được phân công
Từ những phân tích trên cho thấy: Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá các mặt mạnh mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm Vì vậy, đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là một hoạt động không thể thiếu đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
1.2.2 Nội dung đánh giá thực trạng tài chính của DN
1.2.2.1 Tình hình huy động vốn:
Phân tích tình hình huy động vốn của doanh nghiệp để thấy được doanh nghiệp đã huy động vốn từ những nguồn nào? Quy mô nguồn vốn huy động được đã tăng hay giảm? Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp tự chủ hay phụ
Trang 29thuộc, thay đổi theo chiều hướng nào? Xác định các trọng điểm cần chú ý trong chính sách huy động vốn của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu chủ yếu trong chính sách huy động vốn ở mỗi thời kỳ.
a, Phân tích tình hình huy động vốn:
Về chỉ tiêu phân tích: Nguồn vốn doanh nghiệp huy động để tài trợ cho nhu cầu vốn bao gồm: VCSH, vay và nợ Vốn chủ sở hữu chủ yếu gồm: Vốn đầu tư của chủ sở hữu và phần lợi nhuận giữ lại tái đầu tư Vay và nợ gồm: Vay tín dụng, phát hành trái phiếu, thuê tài chính, tín dụng thương mại và nguồn vốn chiếm dụng khác Mỗi nguồn vốn huy động có ưu thế và hạn chế nhất định tác động đến khả năng huy động và sử dụng của doanh nghiệp Để đánh giá thực trạng và tình hình biến động nguồn vốn của doanh nghiệp cần sử dụng 2 nhóm chỉ tiêu: Các chỉ quy mô nguồn vốn và các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn (hệ số cơ cấu nguồn vốn)
Hệ số cơ cấu nguồn vốn là hệ số tài chính hết sức quan trọng đối với nhà quản lý doanh nghiệp với các chủ nợ cũng như các nhà đầu tư Đối với nhà quản
lý doanh nghiệp, thông qua hệ số nợ cho thấy sự độc lập về tài chính, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và rủi ro tài chính có thể gặp phải để từ đó có sự điều chỉnh về chính sách tài chính phù hợp Đối với các chủ nợ, qua xem xét hệ số nợ của doanh nghiệp thấy được sự an toàn của khoản cho vay để đưa ra các quyết định cho vay và thu hồi nợ Nhà đầu tư có thể đánh giá mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp trên cơ sở đó cân nhắc để đầu tư
Phân tích tình hình nguồn vốn cần phân tích sự biến động và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp:
• Sự biến động của nguồn vốn được thực hiện bằng cách so sánh cả tổng
số và từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn giữa cuối kì với đầu kì để xác định chênh lệch tuyệt đối và tương đối của tổng số cũng như từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn
• Phân tích cơ cấu nguồn vốn được xác định bằng tỷ trọng từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn chiếm trong tổng của nó ở đầu kỳ và cuối kỳ; so sánh tỷ trọng từng loại, từng chỉ tiêu giứa cuối kỳ và đầu kỳ; căn cứ vào kết quả xác
Trang 30định và kết quả so sánh để đánh giá cơ cấu nguồn vốn và sự thay đổi cơ cấu.
- Hệ số nợ: phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh các
doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vốn vay nợ
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Hệ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn Thông thường các chủ nợ thích tỷ lệ vay nợ vừa phải vì tỷ lệ này càng thấp thì khoản nợ càng được bảo đảm trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp lại ưa thích tỷ lệ nợ cao vì họ nắm trong tay một lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư một lượng vốn nhỏ và các nhà tài chính sử dụng nó như một chính sách tài chính để gia tăng lợi nhuận
- Hệ số vốn chủ sở hữu: Phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh
doanh, doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vốn chủ sở hữu
Hệ số vốn chủ
Vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn Hoặc: Hệ số vốn chủ sở hữu = 1 - Hệ số nợ
Hệ số này đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn hiện nay của doanh nghiệp Hệ số vốn chủ sở hữu càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn chủ sở hữu, tính độc lập cao với các khoản nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản nợ vay Thông thường các chủ nợ thích hệ số này càng cao càng tốt vì họ thấy một sự đảm bảo cho các món nợ vay được hoàn trả đúng hạn
b Phân tích hoạt động tài trợ của doanh nghiệp:
+ Hoạt động tài trợ phản ánh mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản trên cả 3 phương diện: Thời gian, giá trị, và hiệu quả Hoạt động tài trợ lấy viêc tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn trên cơ sở tôn trọng các ràng buộc chiến lược về cấu trúc tài chính cũng như ràng buộc về quy mô phát triển và quan hệ
cả doanh nghiệp và môi trường kinh doanh làm mục tiêu Vì vậy phân tích chính sách tài trợ cần nghiên cứu các quyết định về việc tài trợ vốn trên cơ sở cấu trúc
Trang 31tài chính mục tiêu của doanh nghiệp.
+ Các chỉ tiêu phân tích: Hoạt động tài trợ của doanh nghiệp được đánh gía thông qua 4 chỉ tiêu: Vốn lưu chuyển, nhu cầu vốn lưu chuyển, chi phí sử dụng vốn bình quân và tình hình sử dụng nguồn tài trợ
• Xét tổng thể về thời gian thì hoạt động tài trợ của doanh nghiệp ở trạng thái ổn định khi một phần tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn hay doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn và nguồn vốn đó được gọi là vốn lưu chuyển (VLC), VLC được xác định theo công thức:
VLC = Tài sản ngắn hạn – nguồn vốn ngắn hạn = nguồn vốn dài hạn – tài sản dài hạn
VLC phản ánh tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn theo hai phương diện:
- Cân đối giữa giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản bởi đây chỉ là hai mặt của một lượng tài sản
- Cân đối về thời gian vận động của tài sản và nguồn vốn tức là thời gian đảm bảo tính thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền) của tài sản phải phù hợp với thời gian phải hoàn trả của nguồn vốn
Tính cân đối này được hình thành dựa trên cơ sở kết cấu khối của bảng cân đối
kế toán và chu trình tài chính của doanh nghiệp:
Theo kết cấu khối của B01-DN thì tài sản được phân theo khả năng thanh khoản, nguồn vốn được phân theo tính cấp thiết cần thanh toán
* Xét theo chu trình tài chính tức là quy trình vận động của các quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các bên liên quan như sau:
Trang 32Chu trình tài chính của DN chỉ rõ 2 giai đoạn là tài trợ và phân phối (sử dụng và hoàn trả) Hoạt động tài trợ diễn ra trước, hoạt động phân phối diễn ra sau Tuy nhiên trong thực tế, tài sản ngắn hạn gồm tài sản ngắn hạn thường xuyên và tài sản ngắn hạn tạm thời, để ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì tài sản ngắn hạn thường xuyên cần được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn Bên cạnh đó, khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắn hạn hoàn toàn phụ thuộc vào chủ quan của doanh nghiệp còn yêu cầu hoàn trả các nguồn vốn khi đến hạn là cần thiết, nên toàn bộ tài sản ngắn hạn không thể chỉ được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn Như vậy, xét đến độ ổn định của quá trình sản xuất kinh doanh và độ an toàn trong thanh toán, thì nguyên tắc cân bằng tài chính đòi hỏi: Tài sản dài hạn chỉ được tài trợ bởi một phần nguồn vốn dài hạn và chỉ một phần của tài sản ngắn hạn đươc tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn.
Dựa vào việc phân chia các mục trên bảng cân đối kế toán, sự đòi hỏi của nguyên tắc cân bằng tài chính có thể diễn giải như sau:
- Tài sản dài hạn < nguồn vốn dài hạn
- Tài sản ngắn hạn > nguồn vốn ngắn hạn
Thực tế VLC có thể > 0, có thể < 0 và có thể bằng 0 Khi VLC < 0 hoặc bàng 0 thì tình hình tài trợ của doanh nghiệp có dấu hiệu mạo hiểm Khi VLC >
0 thì tình hình tài trợ của doanh nghiệp có thể đánh giá là ổn định, tuy nhiên
Phân
Tổng thu nhập cả doanh nghiệp
Thực hiện các nghĩa vụ
Phân chia cho chủ sở hữu
Giữ lại trong doanh nghiêp
Trang 33mức độ ổn định cao hay thấp còn tùy thuộc vào nhu cầu cần tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn của tài sản ngắn hạn của mỗi doanh nghiệp trong mỗi thời kì cụ thể.
* Xét thời gian mỗi chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì nhu cầu cần tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn, vay ngắn hạn của các tài sản ngắn hạn chủ yếu gọi là nhu cầu vốn lưu chuyển (NCVLC) NCVLC là nhu cầu vốn cần tài trợ để dự trữ hàng tồn kho và cấp vốn tín dụng cho các bên quan hệ tài chính với doanh nghiệp sau khi đã cân đối với nguồn tài trợ từ tín dụng thương mại ngắn hạn của kỳ đó Nhu cầu vốn cần tài trợ của chu kỳ sản xuất kinh doanh được xác định theo công thức sau:
NCVLC = Hàng tồn kho+ Các khoản phải thu ngắn hạn- Các khoản phải trả ngắn hạn
Các khoản phải trả ngắn hạn = Nợ ngắn hạn – Vay và nợ ngắn hạn
Khi đánh giá cũng cần phải xem xét nhu cầu cần tài trợ của chu kì kinh doanh với từng quan hệ hàng – tiền trong tín dụng thương mại; dự trữ thực tế với định mức dự trữ của từng loại hàng tồn kho? Nếu doanh nghiệp giảm thiểu được nhu cầu cần tài trợ ngắn hạn mà vẫn đảm bảo được hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục và quan hệ tín dụng thương mại với các bên liên quan đều ở trạng thái tốt thì sẽ giảm thiểu được chi phí vốn và tránh được rủi ro kinh doanh cũng như rủi ro tài chính
* Xét về định lượng thì diễn biến của tình hình huy động và sử dụng nguồn tài trợ của doanh nghiệp được xem xét một cách trực quan khi quan sát về
sự thay đổi về lượng của các loại tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp qua mỗi thời kì Nội dung phân tích này cho thấy trong kỳ doanh nghiệp huy động vốn với quy mô là bao nhiêu, huy động được từ những nguồn nào? Sử dụng nguồn vốn huy động vào việc gì? Lượng sử dụng cho từng mục tiêu cụ thể Từ đó, có thể đánh giá trình độ quản trị ngắn hạn của doanh nghiệp Quy trình xác định chỉ tiêu này như sau:
- So sánh từng chỉ tiêu tài sản, nguồn vốn giữa cuối kì với đầu kì để xác định chênh lệch tuyệt đối
Trang 34- Xác định nguồn tài trợ trong năm trên cơ sở: Tổng cộng các chỉ tiêu nguồn vốn tăng do huy động thêm các nguồn vốn trong kì và chỉ tiêu tài sản giảm do thu hồi các khoản đầu tư hoặc bán, thanh lí tài sản để thu hồi vốn.
- Xác định việc sử dụng nguồn tài trợ trên cơ sở: Tổng cộng các chỉ tiêu tài sản tăng tức là chi dùng vốn để đầu tư nâng cấp, mua sắm, xây dựng thêm tài sản và chỉ tiêu nguồn vốn giảm tức là hoàn trả các nguồn vốn đã huy động trước đó
Tùy thuộc vào mục tiêu quan tâm và tài liệu thu thập được để xác đinh chi tiết của các loại tài sản, nguồn vốn thay đổi trong kì
* Xét về hiệu quả thì hoạt động tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp được huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau Để được quyền sử dụng các nguồn này, doanh nghiệp phải trả cho chủ sở hữu của các nguồn vốn này một lượng giá trị nhất định, đó là giá của việc sử dụng các nguồn tài trợ hay còn gọi là chi phí các nguồn tài trợ (chi phí sử dụng vốn) Xét về phương diện sử dụng vốn thì chi phí sử dụng vốn là mức sinh lời đòi hỏi của thị trường đối với số vốn mà doanh nghiệp huy động để thực hiện mục tiêu của mình Xét ở góc độ các chủ thể quản
lý DN chi phí sử dụng vốn là khả năng sinh lời tối thiểu cần phải đạt được khi sử dụng vốn huy động thêm mà không làm giảm khả năng sinh lời hiện hành của chủ sở hữu Thực chất, chi phí sử dụng vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Rủi ro đầu tư vốn, lãi suất của các khoản nợ phải trả, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, chính sách phân phối lợi nhuận
Vì vậy, khi tính toán về chi phí sử dụng vốn cần có tầm nhìn xa và phải lượng hóa được chi phí bình quân của tất cả các nguồn tài trợ
1.2.2.2 Tình hình đầu tư và sử dụng vốn:
Thông qua quy mô và sự biến động quy mô của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản ta sẽ thấy sự biến động về mức độ đầu tư, quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh, khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng như việc sử dụng vốn của doanh nghiệp như thế nào
Thông qua cơ cấu tài sản của doanh nghiệp ta thấy được chính sách đầu tư
Trang 35đã và đang thực hiện của doanh nghiệp, sự biến động về cơ cấu tài sản cho thấy sự thay đổi trong chính sách đầu tư của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu đánh giá :
Tỉ lệ đầu tư vào từng loại tài sản =
Giá trị từng loại TS
1.2.2.3 Đánh giá tình hình huy động và sử dụng vốn bằng tiền của doanh nghiệp
*Vốn bằng tiền: Gồm tiền mặt mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển Tiền là một bộ phận cấu thành tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Đây
là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất và quyết định khả năng thanh toán của nghiệp Tuy nhiên vốn bằng tiền bản thân nó không tự sinh lời, nó chỉ được sinh lời khi được đầu tư sử dụng vào một mục đích nhất định Hơn nữa với đặc điểm là tài sản có tính thanh khoản cao nên vốn bằng tiền cũng dễ bị thất thoát, gian lận, lợi dụng
*Trong doanh nghiệp, nhu cầu lưu giữ vốn bằng tiền thường do ba lý do chính: nhằm đáp ứng các yêu cầu giao dịch thanh toán hàng ngày như trả tiền mua hàng, trả tiền lương, tiền công, thanh toán cổ tức hay nộp thuế… của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nắm bắt các cơ hội đầu tư sinh lời hoặc kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận; từ nhu cầu dự phòng hoặc khắc phục các rủi ro bất ngờ có thể xảy ra ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
Trang 36*Quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp có yêu cầu cơ bản là vừa phải đảm bảo sự an toàn tuyệt đối, đem lại khả năng sinh lời cao nhưng đồng thời cũng đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp Như vậy khi có tiền mặt nhàn rỗi, doanh nghiệp có thể đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn, cho vay hay gửi vào ngân hàng để thu lợi nhuận Ngược lại khi cần tiền mặt, doanh nghiệp có thể rút tiền gửi ngân hàng, bán chứng khoán hoặc
đi vay ngắn hạn ngân hàng để có tiền mặt sử dụng
a Phân tích khả năng tạo tiền của doanh nghiệp:
Mục đích phân tích: Nhằm đánh giá cao khả năng tạo tiền và mức độ đóng góp của từng hoạt động trong việc tạo ra tiền trong kỳ giúp các chủ thể quản lý đánh giá được quy mô, cơ cấu dòng tiền và trình độ tạo ra tiền của doanh nghiệp Chỉ tiêu phân tích: Gồm 3 nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô, cơ cấu, trình độ tạo tiền của doanh nghiệp
+ Phân tích quy mô tạo ra tiền của từng hoạt động và cuả cả doanh nghiệp trong từng kỳ thông qua các chỉ tiêu dòng tiền thu vào trong kỳ trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ
+ Xác định cơ cấu dòng tiền thông qua tỷ trọng dòng tiền thu vào của từng hoạt động trong tổng số dòng tiền thu vào của doanh nghiệp
Tỉ trọng dòng tiền thu vào
của từng hoạt động
= Tổng tiền thu vào của từng hoạt động x 100
Tổng số tiền thu vào của DN
+ Trình độ tạo tiền của doanh nghiệp thông qua hệ số tạo tiền:
Hệ số tạo tiền (Hc) = Dòng tiền thu về
Dòng tiền chi ra
b Phân tích tốc độ luân chuyển vốn bằng tiền
Mục đích phân tích: Vốn bằng tiền là phần vốn của doanh nghiệp dự trữ
để chi trả thường xuyên cho các bên có liên quan trong khâu thanh toán phải đối ứng ngay bằng tiền Loại vốn này thường chiếm phần khá nhỏ trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhưng ảnh hưởng của nó lại không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nếu quản trị loại vốn này không tốt doanh nghiệp có thể đối mặt với nguy cơ phải tuyên bố phá sản khi các khoản nợ tới
Trang 37hạn không hoàn trả được và cũng không đàm phán được với chủ nợ lùi thời hạn thanh toán Do đó, thường xuyên phân tích tốc độ luân chuyển vốn bằng tiền vừa cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp về việc chấp hành định mức dự trữ bằng tiền có hợp lý hay không, vừa cung cấp thông tin về việc đảm bảo an ninh thanh toán cũng như tình hình lưu chuyển tiền của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu phân tích: Tốc độ luân chuyển vốn bằng tiền được thể hiện ở hai chỉ tiêu: Số vòng quay vốn bằng tiền và Kỳ hạn dự trữ tiền bình quân
Số dư tiền bình quân =
Dư tiền đầu kỳ + dư tiền cuối kỳ
2
Số dư tiền đầu kỳ và cuối kỳ lấy trên bảng cân đối kế toán mục: Tiền và các khoản tương đương tiền
Kỳ hạn dự trữ tiền bình quân = Số ngày trong kỳ
Số vòng quay của vốn bằng tiền
1.2.2.4 Đánh giá tình hình công nợ và khả năng thanh toán - Phân tích chính sách tín dụng (quy mô công nợ,tình hình công nợ) - Phân tích các hệ số khả năng thanh toán
*Đánh giá tình hình công nợ
Trong kinh doanh việc chiếm dụng và đi chiếm dụng vốn là điều bình thường do luôn phát sinh các quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các đối tượng như nhà nước, khách hàng và nhà cung cấp… Điều này làm các nhà quản trị doanh nghiệp lo ngại là các khoản nợ dây dưa, lòng vòng khó đòi, các khoản phải thu không có khả năng thu hồi và các khoản phải trả không có khả năng thanh toán Để nhận biết được điều đó cần phân tích tình hình công nợ để thấy được tính chất hợp lý của các khoản công nợ Xét về tổng thể, trong mối quan hệ giữa các khoản công nợ phải thu và các khoản công nợ phải trả thì nếu các
Trang 38khoản công nợ phải thu lớn hơn thì khi đó doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu công nợ phải thu nhỏ hơn công nợ phải trả thì doanh nghiệp đang
đi chiếm dụng vốn của người khác Chiếm dụng và bị chiếm dụng vốn là điều bình thường, song nhất thiết phải xem xét tính chất hợp lý của từng khoản công
nợ để có giải pháp quản lý phù hợp tránh hiện tượng dây dưa, lòng vòng khó đòi
Để phân tích tình hình công nợ ta thực hiện việc so sánh giữa các khoản
đi chiếm dụng và các khoản bị chiếm dụng cuối kỳ so với đầu năm về cả số tuyệt đối và tương đối
*Các hệ số về khả năng thanh toán
Các số liệu trên BCTC của doanh nghiệp mới chỉ cung cấp một cái nhìn khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong khi yêu cầu quản lý cũng như mong muốn của các đối tượng ngoài doanh nghiệp còn là những số liệu cụ thể chi tiết Muốn vậy họ cần các hệ số tài chính đặc trưng để giải thích thêm các mối quan hệ tài chính Người ta coi hệ số tài chính là những biểu hiện đặc trưng nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Tình hình tài chính của doanh nghiệp trước hết thể hiện ở khả năng thanh toán Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp người ta sử dụng các hệ
Thông thường nếu hệ số này cao là tốt, tuy nhiên việc đánh giá còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại hình kinh doanh của doanh nghiệp, cơ cấu TSLĐ, hệ số luân chuyển vốn lưu động Trong trường hợp hệ số này quá cao so với các doanh nghiệp khác cùng ngành thì phải xem xét có thể xảy ra tình trạng hàng hoá, thành phẩm của doanh nghiệp ứ đọng không tiêu thụ được, nợ phải
Trang 39thu quá lớn hay dự trữ nguyên vật liệu quá mức cần thiết…Do vậy để đánh giá tốt hơn cần xem xét thêm tình hình của DN.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là một chỉ tiêu đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp vì hệ số này đã loại bỏ hàng tồn kho là loại tài sản không dễ dàng chuyển đổi thành tiền ngay được Song một số trường hợp hệ
số này cao chưa phản ánh chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt
vì nhiều doanh nghiệp tỷ trọng các khoản phải thu rất lớn
Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng Tiền + các khoản tương đương tiền
Hệ số thanh toán lãi vay
Lãi vay là một khoản chi phí cố định Nguồn để thanh toán lãi vay là lợi nhuận trước lãi vay và thuế Hệ số thanh toán lãi vay biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận trước lãi vay và thuế với lãi vay mà doanh nghiệp phải trả trong kỳ
Hệ số này được xác định như sau:
Hệ số thanh toán = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Lãi vay phải trả trong kỳ
Qua hệ số này ta thấy được mức độ thanh toán các khoản lãi vay mà doanh nghiệp phải trả Hệ số thanh toán lãi vay càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp càng tốt, ngược lại nếu hệ số này thấp thì khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp là kém, doanh nghiệp phải xem xét độ an toàn của các khoản vay cũng như hiệu quả sử dụng vốn của mình Việc phân tích, đánh giá hệ số này cũng không đơn giản vì nó liên quan trực tiếp đến khả năng độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp
Trang 401.2.2.5 Đánh giá hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Nhóm các chỉ số này được sử dụng để mô tả chi tiết hơn nữa quá trình quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp Công tác ấy có hiệu quả, tiết kiệm hợp lý mới tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư, hơn nữa đây cũng là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
Số vòng quay hàng tồn kho
Là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng tỷ số giữa giá vốn hàng bán với số hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Số vòng quay hàng
tồn kho
Hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ hàng tồn kho của doanh nghiệp đã quay được bao nhiêu vòng Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm, ngành nghề kinh doanh
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền Số dư bình quân các khoản phải thu
Doanh thu bình quân 1 ngày trong kỳ
Là một hệ số hiệu suất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh
độ dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng Kỳ thu tiền bán hàng của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng
Từ chỉ tiêu này cũng có thể biết được một đồng vốn lưu động bỏ vào kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Nếu hệ số này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao, hàng hoá tiêu thụ nhanh, các khoản phải thu ít Ngược lại nếu hệ số này càng thấp thì tức là hàng hoá tồn kho nhiều, lượng tiền nhàn rỗi trong quỹ lớn, còn nhiều khoản phải thu của khách hàng, hiệu quả sử dụng vốn