1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận triết học phép biện chứng của hegel tiểu luận cao học

18 702 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 28,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền triết học cổ điển Đức là nền triết học được tạo nên từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là thành tựu rực rỡ của nền văn minh Tây Âu và thế giới. Đây là đỉnh cao của thời kỳ triết học Tây Âu, đồng thời có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại triết học cổ điển Đức. Vì vậy, nó trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành chủnghĩa Marx nguồn gốc triết học (cùng với kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp). Nền triết học cổ điển Đức là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học Tây Âu. Một giai đoạn lịch sửkhởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân loại, làm tiền đềcho toàn bộhệthống triết học sau này. Nền triết học thời cận đại là khoảng lặng của những phách nhạc thời gian trải qua hàng ngàn năm và mới được thăng hoa lên những nốt thăng cung bậc là thời kỳ hiện đại. Đây là giai đoạn quan trọng bừng dậy sau dấu lặng mà khoảng trắng quá dài. Từ những âm ba của những nốt nhạc thăng trầm đó mà ta có cả nền triết học hiện đại nhưngày nay. Trong bản giao hưởng đầy tính bác học của triết học Tây Âu mà khúc dạo đầu lại rực rỡâm sắc trang hoàng đó là tưtưởng biện chứng triết học cổ điển Đức, nó bức ra khỏi những nốt nhạc trời đầy màu sắc thần linh đểkhảy lên bằng chính đôi tay người phàm tục. Những đôi tay vàng ấy được phản ánh qua những triết gia dệt nên những trang bất hữu bởi thời gian. Đặc biệt là tư tưởng biện chứng của triết học cổ điển Đức thể hiện thông qua một số đại biểu tiêu biểu như: Canter, Hegel, Feurbach. Tuy đứng trên lập trường duy tâm nhưng các nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng nên các hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, logic biện chứng, học thuyết vềcác quá trình phát triển mà tìm tòi lớn nhất trong tất cảcác tìm tòi của họ đó là phép biện chứng. Với cách nhìn tổng quát về phương pháp biện chứng, các nhà triết học cổ điển Đức có ý đồ hệ thống hóa toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạt được. Trong số các nhà triết học vĩ đại nhất đó không thểkhông kểtới Georg Wilhelm Friedrich Hegel. Ông là nhà biện chứng lỗi lạc, phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit. Triết học của Hegel có ảnh hưởng rất mạnh đến tưtưởng của nước Đức và cả Châu Âu đương thời, triết học của ông được gọi là tinh thần Phổ. Phép biện chứng của Hegel là phép biện chứng duy tâm, tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với biện chứng sự vật. B. Nội dung bài tiểu luận. 1. Phép biện chứng duy tâm khách quan về ý niệm tuyệt đối:

Trang 1

A Lời mở đầu

Nền triết học cổ điển Đức là nền triết học được tạo nên từ cuối thế kỷ XVIII

- đầu thế kỷ XIX là thành tựu rực rỡ của nền văn minh Tây Âu và thế giới Đây là đỉnh cao của thời kỳ triết học Tây Âu, đồng thời có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại triết học cổ điển Đức Vì vậy, nó trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành chủnghĩa Marx - nguồn gốc triết học (cùng với kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp) Nền triết học cổ điển Đức là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học Tây Âu Một giai đoạn lịch sửkhởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân loại, làm tiền đềcho toàn bộhệthống triết học sau này Nền triết học thời cận đại là khoảng lặng của những phách nhạc thời gian trải qua hàng ngàn năm và mới được thăng hoa lên những nốt thăng cung bậc là thời kỳ hiện đại Đây là giai đoạn quan trọng bừng dậy sau dấu lặng mà khoảng trắng quá dài Từ những âm ba của những nốt nhạc thăng trầm đó

mà ta có cả nền triết học hiện đại nhưngày nay Trong bản giao hưởng đầy tính bác học của triết học Tây Âu mà khúc dạo đầu lại rực rỡâm sắc trang hoàng đó là tưtưởng biện chứng triết học cổ điển Đức, nó bức ra khỏi những nốt nhạc trời đầy màu sắc thần linh đểkhảy lên bằng chính đôi tay người phàm tục Những đôi tay vàng ấy được phản ánh qua những triết gia dệt nên những trang bất hữu bởi thời gian Đặc biệt là tư tưởng biện chứng của triết học cổ điển Đức thể hiện thông qua một số đại biểu tiêu biểu như: Canter, Hegel, Feurbach Tuy đứng trên lập trường duy tâm nhưng các nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng nên các hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, logic biện chứng, học thuyết vềcác quá trình phát triển mà tìm tòi lớn nhất trong tất cảcác tìm tòi của họ đó là phép biện chứng Với cách nhìn tổng quát về phương pháp biện chứng, các nhà triết học

cổ điển Đức có ý đồ hệ thống hóa toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạt được Trong số các nhà triết học vĩ đại nhất đó không thểkhông kểtới Georg Wilhelm Friedrich Hegel Ông là nhà biện chứng lỗi lạc, phép biện chứng của ông

Trang 2

là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit Triết học của Hegel có ảnh hưởng rất mạnh đến tưtưởng của nước Đức và cả Châu Âu đương thời, triết học của ông được gọi là "tinh thần Phổ" Phép biện chứng của Hegel là phép biện chứng duy tâm, tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với biện chứng sự vật

B Nội dung bài tiểu luận.

1 Phép biện chứng duy tâm khách quan về ý niệm tuyệt đối:

Đây là điểm khởi đầu và là nền tảng của triết học Hegel Nó là thực thể tinh thần sáng tạo ra giới tự nhiên và toàn thể nhân loại Theo Hegel, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, kể cả những sản phẩm hoạt động của con người chỉ là hiện thân của ý niệm tuyệt đối

Ý niệm tuyệt đối là thực thể tinh thần, giống thượng đế sáng tạo ra giới tự nhiên và toàn thể nhân loại Theo Hegel, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều được sinh ra bởi một thực thể tinh thần, ý thức, tinh thần có trước vật chất nhưng

đó không phải là ý thức, tinh thần của từng cá nhân, con người cụ thể mà là một thực thể tinh thần bên ngoài con người và ông đặt tên là ý niệm tuyệt đối Điều đó chứng tỏ triết học của Hegel là duy tâm khách quan Ông coi ý niệm tuyệt đối là cái có trước

Trong quá trình vận động, phát triển, ý niệm tuyệt đối tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội, cuối cùng lại trở về với chính mình trong tinh thần tuyệt đối Sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hegel là ở chỗ ông cho rằng biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật Đó là phép biện chứng duy tâm khách quan, thiếu triệt để, thiếu khoa học Cho dù là nhà triết học duy tâm nhưng Hegel đặc biệt đề cao con người, không hạ thấp con người xuống, đó là điểm sáng của triết học Hegel Hegel cho rằng: ý niệm tuyệt đối sinh ra vạn vật, con người là giai đoạn phát triển cao nhất của ý niệm tuyệt đối, giống như bảo rằng: “Thượng đế sinh ra vạn vật, con người là giai đoạn phát triển cao nhất của

Trang 3

thượng đế”, vậy ông đề cao con người Chính Hegel khẳng định hoạt động của con người và nhận thức của con người là chìa khóa để ý niệm tuyệt đối nhận thức bản thân mình trở về với chính bản thân mình Điều này cho thấy rằng với những nhà triết học duy tâm trước đây thường hạ thấp con ngườixuống, đề cao thực thể tinh thần nhưng duy tâm

2 Phép biện chứng duy tâm về triết học:

- Theo Hegel, đối tượng nghiên cứu của triết học là ý niệm tuyệt đối, lịch sử nhân loại là giai đoạn phát triển cao nhất Đây là quan điểm duy tâm Triết học nghiên cứu lịch sử nhân loại, mà lịch sử nhân loại là giai đoạn cao nhất của ý niệm tuyệt đối Thật ra, triết học là ngành khoa học nghiên cứu ý niệm tuyệt đối

- Hegel là người có công khôi phục lại quan điểm triết học là khoa học của mọi khoa học Hegel muốn xây dựng triết học mang tính vạn năng, đóng vai trò nền tảng cho tất cả các ngành khoa học, nghĩa là toàn bộ khoa học cụ thể phải nằm trong triết học Quan điểm này là quan điểm sai lầm và sau này đã gợi mởi cho Marx và Engels một cách hiểu mới về vai trò của triết học với khoa học cụ thể Trong tư tưởng của Hegel có một điểm đáng lưu ý là triết học là khoa học của tất

cả mọi khoa học Quan niệm này ra đời trong thời buổi trình độ nhận thức con người chưa cao nên triết học là một lý luận mang tính phổ quát, bao trùm và thậm chí là duy nhất Nó có tham vọng giải thích tất cả lĩnh vực khoa học cụ thể mà trong thời kỳ đó còn mang tính chất tảng mạn và sơ khai Thời kỳ đó, khoa học chưa phân ngành, người ta không thể tìm thấy tri thức về khoa học tự nhiên trong khoa học cụ thể như ngày hôm nay mà chỉ có thể tìm thấy những tư tưởng khoa học tự nhiên trong hệ thống triết học tự nhiên của các nhà triết học Từ đó nảy sinh quan điểm cho rằng triết học là khoa học của tất cả mọi khoa học, còn các nhà triết học là các nhà thông thái, không chỉ am hiểu một lĩnh vực mà am hiểu mọi lĩnh vực khác nhau của nhận thức

Trang 4

Quan điểm này bắt đầu từ Hy Lạp cổ đại, được khẳng định qua các thời đại lịch sử và đến Hegel là toan tính cuối cùng Đến tận nửa đầu thế kỷ XIX, Hegel vẫn cho rằng triết học vẫn là môn học mang tính phổ quát và bao trùm Quan điểm

đó là quan điểm sai lầm, gợi mở cho Marx cách hiểu mới về triết học và liên minh của triết học khoa học tự nhiên Đến giữa thế kỷ XIX, Marx và Engels mới xóa bỏ quan điểm này, chỉ ra rằng triết học là ngành khoa học độc lập, có đối tượng nghiên cứu riêng của mình Chính từ đó, người ta đã biến triết học thành đặc quyền của một số nhà thông thái, tách lý luận ra khỏi thực tiễn và biến lý luận thành nhận thức để nhận thức, tư duy để tư duy, tức là nhận thức tự thân

3 Phép biện chứng duy tâm trong khoa học logic:

Để xây dựng logic học mới với tính cách là logic biện chứng, Hegel đã nghiên cứu toàn bộ quá trình phát triển của logic hình thức cổ điển trước đây Tuy không phủ nhận ý nghĩa và vai trò của logic hình thức trong lịch sử nhận thức nhưng Hegel đã chỉ ra những hạnchế của nó Hegel phê phán logic học cũ ở các khía cạnh:

- Đối tượng nghiên cứu

- Tính bất động của các phạm trù quy luật của nó Logic học là bộ môn khoa học nghiên cứu về tư duy Trong thời kỳ cổ đại đã có hình thức logic học của Aristote, đến thời cận đại phát triển thành logic toán gắn liền với tên tuổi của Leibniz Hegel phê phán logic cũ vì logic học nghiên cứu về tư duy, còn logic trước đây là logic học hình thức nghiên cứu về tư duy hình thức chủ quan, nghĩa là

tư duy trong trạng thái bất biến, cô lập, không sinh thành, không biến đổi và không phát triển Vì vậy logic học trước đây chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được với sự phát triển của triết học và khoa học Trên cơ sở đó, Hegel đã sáng tạo ra một hệ thống logic học mới - logic biện chứng nhằm đem lại cho con người một cách hiểu mới về bản chất của tư duy và trang bị cho các ngành khoa học một phương pháp

Trang 5

nhận thức mới, đó chính là phương pháp biện chứng Phép biện chứng của Hegel

là một trong những thành tựu quý giá nhất của triết học cổ điển Đức nói riêng và lịch sử triết học trước Marx nói chung Tuy nhiên, Hegel đã sáng tạo logic biện chứng trên lập trường duy tâm, ông đã xuất phát từ cơ sở đồng nhất giữa tư duy và tồn tại khi coi những quy luật của tự nhiên, của lịch sử cũng là những quy luật của

tư duy

Phương pháp tư duy là phương thức, cách thức nhìn nhận của đối tượng để hình thành nên hiểu biết về chúng trong đầu óc con người Phương pháp tư duy hình thức là phương pháp tư duy nhận thức của sự vật trong trạng thái bất biến, trạng thái tĩnh và cô lập Còn phương pháp tư duy biện chứng là phương pháp tư duy khảo sát đối tượng trong sinh thành, biến đổi và phát triển Chính Hegel là người đã khai sinh ra phương pháp tư duy biện chứng này, trở thành phương pháp khoa học, làm công cụ khoa học khám phá ra chân lý Theo Hegel, tư duy ở đây hoàn toàn không được xem xét như là sản phẩm đặc biệt của bộ óc con người như

là nét đặc thù của con người Hegel đồng nhất tư duy với hoạt động của ý niệm tuyệt đối với tư cách là cơ sở của mọi sự vật, hiện tượng của thế giới Hơn nữa tư duy đồng thời vừa là khách thể, vừa là chủ thể, nó vừa là những gì đang tư duy, vừa là những gì được tư duy Tuy nhiên, Hegel cũng thừa nhận cảm giác, trực giác, biểu tượng,mong muốn là những hình thức của ý thức con người Nhưng tất cả chúng đối với ông chỉ là những thể hiện không đầy đủ, là những nét hoa văn bên ngoài của tư duy, tư tưởng Vì vậy, vật chất theo ông cũng thuộc về tư duy, tư tưởng mà thôi Hegel cho rằng, đối tượng đúng đắn của tư tưởng chính là bản thân

tư tưởng vì tư tưởng là chân lý của mọi sự vật, cho nên sự phát triển cũng cần phải được tiến hành theo những quy luật của tư tưởng, theo những quy luật của logic học Chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối của Hegel vì vậy còn được xác định như là chủ nghĩa duy tâm logic Ý niệm tuyệt đối là tư duy về tư duy, đồng thời cũng có nghĩa

là tự nhận thức, là sự mở rộng những xác định logic vốn có đối với nó.phát triển

Trang 6

Những phạm trù là những xác định logic này, hơn nữa chúng còn thể hiện sự phát triển của ý niệm tuyệt đối Theo Hegel, những phạm trù không phải là sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan mà là những khái niệm thuần túy Những nguyên lý, phạm trù của logic học trước đây là bất biến, cô lập và không thay đổi Hegel lại cho rằng những phạm trù của tư duy phải mang tính sống động, nó cũng nằm trong trạng thái sinh thành, biến đổi và phát triển Như vậy, phép biện chứng là linh hồn của logic học, nhờ đó logic học trở thành cơ thể sống sống động, không phải bất động như logic học trước đây Điều này chứng tỏ rằng Hegel là người đầu tiên đã trang bị cho khoa học một phương pháp nhận thức mới, đó chính là phương pháp biện chứng Theo Hegel, những phạm trù logic không phải là cái gì khác hơn là những trừu tượng được tách ra từ bản thân hiện thực, cho nên chúng có nội dung sinh động, phong phú, từ đó tạo nên nội dung sâu sắc của khoa học logic Tuy nhiên, dưới góc độ duy tâm, Hegel đã đánh giá những phạm trù cao hơn thế giới khách quan khi ông coi chúng là những tấm vải mộc, còn mọi hiện tượng, quá trình của thế giới chỉ là những hoa văn được trang trí trên những tấm vải này

4 Phép biện chứng duy tâm về nhà nước:

Theo Hegel, nhà nước là hiện thân của ý niệm tuyệt đối Nó ra đời nhằm duy trì, bảo tồn các gia đình, xã hội và công dân Nhà nước ra đời từ những mâu thuẫn trong xã hội nhằm điều hòa mâu thuẫn các giai cấp, đẳng cấp khác nhau Bản chất của nhà nước là tổng thể các quy chế, kỷ cương về chính trị, văn hóa, pháp luật… Đây chính là quan niệm duy tâm của Hegel về nhà nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến quan điểm của Marx Năm 1841, lúc bảo vệ luận án tiến sĩ của mình, Marx đã chuyển đổi quan điểm này của Hegel Hegel cho rằng nhà nước Phổ là cuối cùng trong lịch sử và nhà nước cho mọi giai cấp

Sai lầm đầu tiên của Hegel là quan niệm sai về bản chất của nhà nước Trong thời kỳ công xã nguyên thủy, nền kinh tế là săn bắt và hái lượm Săn bắt do

Trang 7

đàn ông đảm đương bằng công cụ thô sơ, hái lượm do đàn bà đảm đương bằng sự khéo léo của đôi tay mình Lúc này xã hội chưa có của cải dư thừa Vậy thời công

xã nguyên thủy, của cải xã hội do con người làm ra chỉ vừa đủ Nhưng đến cuối thời công xã nguyên thủy, nghề trồng trọt, chăn nuôi mới xuất hiện, xã hội bắt đầu

có của cải dư thừa Khi đó người đứng đầu thị tộc, bộ lạc có điều kiện chọn lòng son, hoán đổi của mình, người ta bắt đầu dùng quyền lực, chiếm của dư thừa đó làm của cải riêng và chế độ tư hữu bắt đầu xuất hiện Trong thời công xã nguyên thủy, tất cả đều là của chung, thậm chí chồng chung, vợ chung Khi chế độ tư hữu xuất hiện, loài người bắt đầu phân thành giai cấp Hai giai cấp đối lập đầu tiên trong lịch sử là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Để bảo vệ lợi ích của mình, các giai cấp tiến hành đấu tranh với nhau Cuộc đấu tranh có nguy cơ đưa các giai cấp

có thể tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn toàn xã hội Để tránh thảm họa đó không xảy ra, để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp thống trị là giai cấp chủ nô đã lập nên

bộ máy trấn áp bạo lực Bộ máy đó chính là nhà nước và giai cấp chủ nô này đã sử dụng bộ máy nhà nước thông qua quân đội, cảnh sát, nhà tù, trại giam, trại tập trung… để duy trì các giai cấp tầng lớp trong vòng trật tự do mình đặt ra Như vậy

nó thống trị bằng bạo lực

Tuy nhiên, thống trị bằng bạo lực là chưa đủ và không thể mang tính lâu dài, cần phải thống trị luôn về mặt tư tưởng Vậy nhà nước ra đời từ sản phẩm mâu thuẫn giai cấp không điều hòa được, nhưng nhà nước ra đời không phải để điều hòa mâu thuẫn giai cấp mà trái lại làm mâu thuẫn giai cấp càng sâu sắc, không thể điều hòa được vì nhà nước là của các giai cấp thống trị về kinh tế Nhà nước chủ

nô, phong kiến, tư sản là của giai cấp chủ nô, phong kiến, tư sản, còn nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước vô sản mang bản chất của giai cấp vô sản Hegel cho rằng nhà nước ra đời để duy trì xã hội công dân và bảo toàn các gia đình, để điều hòa mâu thuẫn các giai cấp là sai lầm của ông Theo Hegel, nhà nước là cho tất cả mọi tầng lớp nhưng lịch sử đã chứng minh điều đó hoàn toàn sai lầm

Trang 8

5 Phép biện chứng duy tâm của Hegel:

Đây là một trong những cống hiến vĩ đại của Hegel trong lịch sử khoa học của nhân loại Phép biện chứng của Hegel bao gồm những nội dung:

- Phép biện chứng của Hegel có hạt nhân là tư tưởng về sự phát triển là điểm sáng nhưng đó là phép biện chứng duy tâm Phép biện chứng của Hegel là phép biện chứng của những khái niệm mà Hegel đồng nhất với bản thân sự vật Đáng lẽ khái niệm phản ánh sự vật thì trong tư tưởng Hegel, ý niệm, khái niệm có trước sự vật Đáng lẽ phép biện chứng của sự vật sinh biện chứng của tư tưởng nhưng theo Hegel biện chứng của tư tưởng lại sinh biện chứng của sự vật, phép biện chứng đó là duy tâm Ý thức của tư duy con người phản ánh sự vật trong thế giới, nhưng nếu bản thân sự vật là liên hệ, biến đổi thì tư duy con người phản ánh

nó cũng liên hệ, biến đổi Đó là tư tưởng biện chứng mang tính duy vật Theo Hegel, ý niệm tuyệt đối có trước tự nhiên và sinh ra giới tự nhiên, biện chứng của ý niệm tuyệt đối sinh ra biện chứng của sự vật, do đó phép biện chứng của Hegel là duy tâm

- Luận điểm xuyên suốt toàn bộ phép biện chứng của Hegel là tất cả những

gì hiện thực đều hợp lý, tất cả những gì hợp lý đều là hiện thực Hiện thực là sự tồn tại trong tính tất yếu Đây là cách đánh giá của Marx: “Luận điểm xuyên suốt toàn

bộ phép biện chứng của Hegel: hiện thực không chỉ đơn giản là sự tồn tại mà là sự tồn tại trong tính tất yếu, nghĩa là tất cả các sự vật, hiện tượng và cả vũ trụ này vận động và phát triển theo các quy luật vốn có” Đây là tư tưởng tuyệt vời của Hegel Đằng sau vỏ duy tâm hợp lý đó, ông cho rằng tất cả sự vật trên thế giới, kể cả tư duy của con người đều vận động, phát triển theo các quy luật, chính Hegel là người đầu tiên khái quát nên quy luật đó Toàn bộ ba quy luật cơ bản, sáu quy luật không

cơ bản, sáu khoa học phạm trù được khái quát lên chính là Hegel Đây là điểm sáng thứ hai trong phép biện chứng

Trang 9

Theo Hegel, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả hoạt động của mình, nhận thức và tư duy của con người được hình thành trong chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới Ý thức của mỗi cá nhân là sự khái quát lại toàn bộ ý thức mà nhân loại đã trải qua Quan điểm con người là sản phẩm, là chủ thể của chính bản thân mình là quan điểm hoàn toàn đúng đắn Hegel đã thấy được vai trò của lao động đối với sự hình thành và phát triển của ý thức Lao động đã giải phóng hai tri thức của loài người, đưa con người đi lên thẳng đứng, tách con người

ra khỏi thế giới loài vật Cũng chính lao động, con người đã tạo thức ăn mới hoàn thiện não bộ Trong lao động, con người tác động vào thế giới xung quanh, bộc lộ những đặc điểm, tính chất để con người nhận thức Cũng chính trong quá trình lao động, con người tự hoàn thiện chính bản thân mình

Vậy không có quá trình lao động, con người không tách khỏi loài vật, bộ óc con người không hoàn thiện, không nảy sinh nhu cầu nhận thức về thế giới, không

có ý thức của con người Hegel khẳng định ý thức và tư duy của con người hình thành trong chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới, chứng tỏ rằng đã bắt đầu thấy vai trò của lao động đối với sự hình thành và phát triển ý thức và tư duy Từ đó Hegel cho rằng: bằng cách đó, con người tác động vào giới tự nhiên, tạo ra giới tự nhiên thứ hai cho mình và làm chủ giới tự nhiên Quan điểm giới tự nhiên thứ hai người đầu tiên đưa ra chính là Hegel Chân lý là sự thống nhất của tinh thần và vật chất là cả một quá trình Chân lý là tri thức có nội dung phản ánh phù hợp với hiện thực khách quan Ví dụ: tổng ba góc trong một tam giác = 1800là chân lý

Những quan điểm về chân lý sau này của Marx cũng chính là sự kế thừa quan điểm của Hegel Chân lý là cả một quá trình, nghĩa là toàn bộ tri thức mà con người có được đến thời điểm hiện tại là chân lý, có thể thực tiễn sau đó sẽ bác bỏ

nó, không là chân lý nữa Có nhiều luận điểm cả ngàn năm là chân lý, thực tiễn sau

đó bác bỏ nó, nghĩa là thực tiễn kiểm tra chân lý

Trang 10

- Hegel là người nâng phép biện chứng từ trình độ tự phát lên trình độ lý luận và là người đầu tiên trình bày phép biện chứng ở dạng nguyên lý, quy luật, phạm trù

Đến nửa đầu thế kỷ XIX, phép biện chứng đã phát triển lên trình độ lý luận trong phép biện chứng duy tâm của Hegel, chính Hegel làm sống lại tư tưởng biện chứng Có thể nói Hegel là người đầu tiên có công nâng phép biện chứng từ trình

độ tự phát lên trình độ lý luận và và chính ông là người đầu tiên đã khái quát được đầy đủ phép biện chứng dưới dạng nguyên lý, quy luật, phạm trù

Toàn bộ hai nguyên lý, ba quy luật và sáu phạm trù chính Marx kế thừa của Hegel Theo phép biện chứng của Hegel, các sự vật, hiện tượng trên thế giới không

cô lập, tách rời nhau mà liên hệ tác động qua lại với nhau và không ngừng chuyển hóa cho nhau, nghĩa là vạn vật liên hệ với nhau một cách phổ biến Điều này hiện nay đã được khoa học chứng minh Theo Hegel, vạn vật không những liên hệ, tác động qua lại với nhau mà còn không ngừng vận động và phát triển từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện cho đến hoàn thiện hơn Nguồn gốc của động lực và phát triển là sự đấu tranh của những mặt đối lập Đây là tư tưởng hoàn toàn bình đẳng, hợp lý Đây cũng là quan điểm của triết học Marx về sau này.Cách thức phát triển là chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại (quy luật vật chất)

Nguyên nhân phát triển là theo con đường xoắn ốc mà mỗi vòng khâu của

nó là một mắc xích quá trình phủ định của phủ định

Phủ định biện chứng là một sợi dây chuyền diễn ra liên tục và vô tận trong tất cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Liên tục diễn ra cái mới hay cái cũ nhưng

nó kế thừa cái cũ những mặt tích cực, còn khả năng thúc đẩy sự phát triển Và cũng theo phép biện chứng của Hegel, giữa cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất hiện tượng, khả năng

Ngày đăng: 24/06/2016, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w