1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ

72 427 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 383,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết vào năm 1991, mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực và trên thế giới bắt đầu có những chuyển biến tích cực. Trong đó mối quan hệ với Mỹ ngày càng được cải thiện, đến năm 1994, Mỹ tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và đến năm 2000, Hiệp định thương mại giữa hai nước được ký kết, sự kiện này đã nâng tầm quan hệ Việt - Mỹ lên một nấc cao hơn...

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ

BÀI TIỂU LUẬN KHOA HỌC

CHUYÊN ĐỀ: LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT – MỸ

Trang 2

MỤC LỤC

A PHẦN DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Trang 3

Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là một mối quan hệ phức tạp trong lịch sử, trải qua nhiều giai đoạn với nhiều biến cố đã tác động làm cho mối quan hệ này vận động theo những chiều hướng khác nhau Đáng chú ý, từ sau khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam chấm dứt, đặc biệt là sau khi “chiến tranh lạnh” kết thúc, quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ đã có sự chuyển biến tích cực, quá trình bình thường hóa đã được lãnh đạo của cả hai quốc gia quan tâm và có những dấu hiệu đáng ghi nhận Việt Nam và Hoa

Kỳ đã xóa bỏ ranh giới của sự thù địch, chuyển dần sang quan hệ giữa những người bạn, giữa các đối tác với nhau trên trường quốc tế

Ngày 3/2/1994, Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố xóa bỏ chính sách cấm vận chống Việt Nam, đây là một trong những khâu quan trọng nhất trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Sau những nỗ lực của cả hai bên, ngày 11/07/1995, Tổng thống B.Clinton đã chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam Sự kiện này đã đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ của hai nước, kể từ đây, Việt Nam và Hoa Kỳ có thể hợp tác một cách triệt để nhất trên nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, giải quyết các vấn đề về binh lính Mỹ mất tích, các vấn đề về tôn giáo, nhân quyền,…

Trong tất cả các lĩnh vực hai bên thiết lập đã thiết lập quan hệ, kinh tế nổi lên như một lĩnh vực đóng vai trò trung tâm, chi phối các lĩnh vực còn lại Sau khi lệnh cấm vận được Mỹ gỡ bỏ, hơn thế là sau khi hai nước chính thức bình thường hóa, quan hệ kinh tế của hai bên đã không ngừng phát triển Tuy nhiên, quá trình phát triển

đó đã không như mong đợi vì giữa Mỹ và Việt Nam còn nhiều rào cản về chính sách kinh tế, thương mại Chính vì thế, việc đi đến ký kết một hiệp định thương mại sẽ tạo

ra một khung pháp lý cần thiết và rõ ràng, tạo cơ sở nền tảng để xúc tiến quan hệ kinh

tế - thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đi vào chiều sâu và đảm bảo lợi ích của hai bên

Ngay từ sau khi hai bên bình thường hóa quan hệ ngoại giao, các phái đoàn của Việt Nam và Hoa Kỳ đã bắt tay ngay vào quá trình trao đổi, đàm phán để sớm đưa ra một hiệp định chung về thương mại Đến ngày 13/07/2000, “Hiệp định giữa Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thương mại1” được ký kết,

và đến 10/12/2001 hiệp định này chính thức có hiệu lực Quá trình đàm phán, ký kết

và thực thi hiệp định thương mại Việt – Mỹ là một quá trình phức tạp và đòi hỏi sự

1 Gọi tắt là Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA – Bilateral Trade Agreement)

Trang 4

tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng Hiệp định thương mại chính là một điểm sáng trong toàn bộ quá trình hợp tác giữa hai nước, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Chính vì vậy chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Quá trình đàm phán, ký kết và thực thi hiệp định thương mại Việt – Mỹ” để tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu và làm rõ Trong quá trình thực hiện đề tài này, do những hạn chế về mặt nhận thức, thời gian và tài liệu, chắc hẳn chúng tôi sẽ còn nhiều thiếu sót Chúng tôi kính mong thầy sẽ thông cảm và giúp đỡ chúng tôi hoàn thiện hơn nữa bài tiểu luận của mình Chúng tôi xin chân thành cám ơn.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với đề tài “Quá trình đàm phán, ký kết và thực thi hiệp định thương mại Việt –

Mỹ ”, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của mình là những nỗ lực đàm phán của cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ trong việc đi kết kí kết một hiệp định thương mại Đồng thời quá trình thực thi những điều khoản trong hiệp định của cả hai bên cũng là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi Ngoài ra, để làm rõ hơn vấn đề này, chúng tôi cũng sẽ đề cập đến những nhân tố tác động đến quá trình đàm phán, ký kết

và thực thực hiệp định thương mại này và phân tích những tác động của nó đối với quan hệ kinh tế giữa hai nước

Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi sẽ tìm hiểu những cuộc đàm phán đầu tiên của hai bên bắt đầu từ năm 1996 để từ đó đi đến ký kết hiệp định vào năm 2000 Thêm vào đó, quá trình thực thi hiệp định bắt đầu từ năm 2001 trở về sau cũng được chúng tôi cố gắng đề cập một cách cụ thể nhất

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

- Khái quát lại bối cảnh lịch sử tác động đến việc kí kết Hiệp định Thương mại giữa

Việt Nam và Mỹ

- Làm rõ quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ.

- Phân tích tác động của việc kí kết Hiệp định đối với quan hệ thương mại và đầu tư hai

nước

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu về tình hình thế giới và khu vực cũng như những nhân tố khác tác động đến

việc kí kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ

- Tìm hiểu quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định của cả hai phía Việt Nam và

Mỹ

Trang 5

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu vấn đề này chúng tôi đã sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các phương pháp chuyên ngành khác của khoa học lịch sử như: phương pháp phân tích, tổng hợp, sưu tầm tư liệu, phương pháp phán đoán khoa học…

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quá trình đàm phán, ký kết và thực thi hiệp định thương mại Việt – Mỹ đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, ở đây chúng tôi đã tìm được một số công trình, bài viết có liên quan đến vấn đề này:

Cuốn sách Về việc thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ do

Nguyễn Bá Diến và Hoàng Ngọc Giao chủ biên đã tập hợp những bài viết của nhiều tác giả khác nhau xoay quanh ba vấn đề chính: tổng quan về hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ; những lĩnh vực cụ thể của Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và việc thực thi hiệp định; thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ

và quá trình cải cách hành chính – tư pháp của Việt Nam

Bản báo cáo Đánh giá tác động 5 năm triển khai Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đối với thương mại, đầu tư và cơ cấu kinh tế của Việt Nam do Dự án STAR của USAID phối hợp với Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế

Trung ương (CIEM) và Cục Đầu tư nước ngoài (FIA) thuộc Bộ Kế hoạc và Đầu tư biên soạn đã đánh giá một cách chi tiết những tác động của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ đối với thương mại, đầu tư cũng như cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong khoảng thời gian 5 năm từ sau khi hiệp định có hiệu lực

Luận văn thạc sĩ Tác động của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và việc Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới đối với quan hệ thương mại Việt – Mỹ của

Nguyễn Xuân Tĩnh năm 2011 cũng đã đề cập đến những nhân tố tác động đến chính sách thương mại của Việt Nam và Mỹ trong bối cảnh đương thời, từ đó hai nước đã đi vào quá trình đàm phán và kí kết hiệp định thương mại song phương Và tác giả luận văn cũng phân tích những tác động tích cực của hiệp định thương mại đối với quan hệ xuất nhập khẩu của hai nước trong một khoảng thời gian dài sau khi hiệp định được thực hiện

Trang 6

Nguyễn Đình Lương (chủ biên) (2010), Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa

Kỳ tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, Nxb Công

thương, Hà Nội đã tập hợp những bài viết của các tác giả trước đây là những người đã tham gia vào quá trình đàm phán với phía Mỹ Các tác giả này đã giới thiệu một số thông tin liên quan đến quá trình đàm phán, những nội dung cơ bản của hiệp định và phân tích những cơ hội của Việt Nam sau khi hiệp định này có hiệu lực để hội nhập vào nền kinh tế thế giới

Kỷ yếu hội thảo Nhìn lại năm đầu tiên thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ2 do nhà xuất bản Thế giới xuất bản cũng tập hợp nhiều bài phát biểu, báo cáo của nhiều cấp lãnh đạo trong các bộ về những vấn đề liên quan đến việc thực Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong khoảng thời gian 1 năm Những bài phát biểu, báo cáo này cũng cung cấp nhiều thông tin quan trọng giúp chúng ta nắm bắt được những thuận lợi, khó khăn của Việt Nam khi hiệp định này được thực thi

Công trình Tiến độ đạt được sau một năm: Kỷ niệm một năm ngày ký Hiệp định Thương mại song phương Hoa Kỳ - Việt Nam do Trung tâm thông tin tư liệu xuất bản

bao gồm một số bài phỏng vẫn của phóng viên báo Thanh niên đối với một số quan chức Việt Nam cũng như Hoa Kỳ về những thành quả mà hai bên đã đạt được sau một năm qua đi

Phan Hữu Thư (2002), Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại – Thời cơ và thách thức, Nxb Quân

đội nhân dân, Hà Nội bao gồm 4 phần với 4 nội dung khác nhau Ở phần 1, tác giả trình bày các nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ; phần 2 tác giả đề cập đến sự cần thiết, tác động của hiệp định thương mại nhìn từ phía Mỹ; phần 3 tác giả đưa ra một số nhận xét ban đầu về Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và cuối cùng ở phần 4 tác giả nêu ra những vấn đề cụ thể liên quan đến hiệp định này

Cuốn sách Hoàn thiện pháp luật đầu tư nhằm thực nguyên tắc đối xử quốc gia theo hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ của Nguyễn Khánh Ly đã đưa ra

phương hướng hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư của nước ta nhằm thực thi nguyên tắc đối xử quốc gia theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ

2 Hội thảo này do Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội tổ chức vào ngày 21/03/2003 tại Hà Nội.

Trang 7

Ngoài ra chúng tôi cũng tìm được rất nhiều những công trình, tác phẩm khác có

đề cập đến đề tài của chúng tôi Chẳng hạn như:

Nguyễn Thiết Sơn (2004), Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư, Nxb Khoa học xã hôi, Hà Nội; Nguyễn Thiết Sơn (chủ biên) (2011), Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ vẫn đề chính sách và xu hướng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Trần Nam Tiến (2010), Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: thực trạng và triển vọng, Nxb Thông tin và Truyền thông; Nguyễn Mại (chủ biên) (2008), Quan hệ Việt Nam – Hoa

Kỳ hướng về phía trước, Nxb Tri thức, Hà Nội; Ngô Xuân Bình (chủ biên) (2014), Hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Hoa Kỳ, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội; Nguyễn Anh Cường (2015), Quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 1976 – 2006, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê Văn Quang (2005), Quan hệ Việt – Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990 – 2000), Nxb

Đại học Quốc gia TpHCM; Cục xúc tiến thương mại – Công ty truyền thông – TM –

DV Nhịp Cầu Việt (2010), 15 năm quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Nxb Tổng hợp, TpHCM; Đỗ Đức Định (2000), Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ, Nxb Thế giới, Hà Nội…

Chúng tôi cũng tìm được một số bài viết được in trong các tạp chí: Châu Mỹ ngày nay, Nghiên cứu kinh tế, Cộng sản, Khoa học xã hội, Kinh tế và dự báo, Nghiên cứu Quốc tế, Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới,…giúp chúng tôi có thêm thông tin cho bài tiểu luận của mình

Nội dung của đề tài

Chương 1: Những nhân tố tác động đến việc ký kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ

Chương 2: Quá trình đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định thương mại Việt – Mỹ

Chương 3: Tác động của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ đối với quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước

Đánh giá và kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

DANH MỤC MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – Association of Southeast Asia Nation BTA: Hiệp định Thương mại song phương – Bilateral Trade Agreement

OPIC: Công ty đầu tư tư nhân ở hải ngoại - Overseas Private Investment Corporation WTO: Tổ chức Thương mại thế giới – World Trade Organization

MFN: Quy chế Tối huệ quốc – Most favoured nation

NTR: Quy chế thương mại bình thường – Normal Trade Relations Status

NT: Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia – National Treatment

APEC: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương Asia-Pacific Economic

Cooperation

AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – ASEAN Free Trade Area

PNTR: Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn – Permanent Normal

- Agreement on Trade – Related Aspects of IPR

TRIMS: Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại – The

Agreement on Trade-Related Investment Measures

FDI: Đầu tư trưc tiếp nước ngoai – Foreign Direct Investment

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC KÝ KẾT HIỆP

ĐỊNH THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ MỸ

1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực (từ nửa sau thập niên 90 của thế kỉ XX)

Nửa đầu thập niên 90 của thế kỷ XX có nhiều sự kiện quan trọng xảy ra, đã tác động mạnh mẽ đến quan hệ giữa các nước thế giới Sự sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên xô, chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực Yalta tan rã đã thúc đẩy tình hình thế giới bắt đầu vận động theo một nhịp điệu mới, cũng chứa đựng nhiều điều phức tạp không kém so với khoảng thời gian trước đó Tuy nhiên, bắt đầu từ nửa sau thập niên 90 của thế kỷ XX, trên bình diện quốc tế, hầu như không diễn ra những sự kiện có sức chấn động lớn như bước chuyển từ cuối thập niên

80 sang thập niên 903 Thế nhưng, “các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt thậm chí sâu sắc hơn, nhưng nội dung và hình thức lại có nhiều nét mới Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt, trước hết là nguy cơ của chiến tranh hạt nhân bị đẩy lùi và giảm thiểu, nhưng các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật

đổ, khủng bố…vẫn thường xuyên xảy ra ở nhiều khu vực trên thế giới”4 Dù vậy, xu

thế vận động chung của thế giới là xu thế hòa bình hợp tác, cùng phát triển

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ với trình

độ ngày càng cao, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội5 Trong tương lại, khoa học và công nghệ sẽ có bước nhảy vọt, kinh tế tri thức sẽ có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất toàn thế giới Với tình

hình đó, “các nước đều đứng trước những cơ hội để phát triển Nhưng do ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường, v.v thuộc về các nước tư bản chủ nghĩa phát triển và các công ty đa quốc gia, cho nên các nước chậm phát triển và đang phát triển đứng trước

3 Lê Văn Quang (2005), Quan hệ Việt – Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990 – 2000), Nxb Đại học Quốc gia

Thành phố Hồ Chí Minh, Tr 101.

4 Trần Nam Tiến (2010), Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ thực trạng và triển vọng, Nxb Thông tin và truyền thông,

Tr 47.

5 Nguyễn Anh Cường (2015), Quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 1976 –

2006, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Tr 77.

Trang 10

những thách thức to lớn Chênh lệch giàu nghèo giữa các nước ngày càng mở rộng Cuộc cạnh tranh kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ diễn ra gay gắt”6

Quá trình toàn cầu hóa về kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng

nhiều ước tham gia Toàn cầu hóa về kinh tế “với những đặc điểm nổi bật là sự lưu chuyển tự do ngày càng tăng các dòng hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ, lao động;

sự hình thành các mạng lưới sản xuất quốc tế với vai trò chi phối của các công ty xuyên quốc gia; sự cạnh tranh giữa các quốc gia và khu vực trong việc giành các ưu thế của toàn cầu hóa và chiếm lĩnh các vị trí mới trong nền kinh tế thế giới; sự hình thành các định chế quốc tế ở nhiều cấp độ…”7 Với những đặc điểm vừa nêu, toàn cầu hóa đã, đang và sẽ đóng một vai trò tích cực giúp các quốc gia và khu vực hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế, giới, càng có nhiều cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển Đi liền với toàn cầu hóa về kinh tế, nhất là sau khi Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập năm 1995, sự bùng nổ của các hiệp định thương mại song phương đã đẩy mạnh các nền kinh tế tiến gần đến nhau hơn nữa, bắt tay hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi Trong dòng chảy chung của nhân loại, các quốc gia

và khu vực ra sức tìm kiếm những cơ hội để phát triển kinh tế quốc gia Sự phát triển của các hiệp định thương mại song phương là một quá trình hoàn toàn khác quan, phù hợp với sự vận động của thế giới

Không chỉ dừng lại ở sự phát triển không ngừng của các quan hệ kinh tế, cộng đồng thế giới còn đứng trước nhiều vấn đề mang tình toàn cầu như: bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân số, đẩy lùi dịch bệnh hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế…8 Việc giải quyết các vấn đề này đỏi hỏi phải có sự hợp tác đa phương, bởi

lẽ, không một quốc gia nào có thể tự đứng lên để giải quyết một cách riêng rẽ được

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển nǎng động và tiếp tục phát triển với tốc độ cao Đồng thời khu vực này cũng tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định như: Bán đảo Triều Tiên và hoạt động của các phần tử khủng bố cực

6 “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

của Đảng”, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nguồn: dangcongsan.vn.

7 Nguyễn Thiết Sơn (2011), Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ vấn đề, chính sách và xu hướng, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, Tr 90.

8 “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

của Đảng”, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nguồn: dangcongsan.vn.

Trang 11

đoan, vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông,…Về mặt kinh tế, sự không ổn định trong phát triển của các nền kinh tế Hoa Kỳ, Nhật Bản, hoặc sự biến động về giá dầu mỏ ở khu vực Trung Đông…đề có thể tác động tới tình hình chung và có thể gây nên sự mất ổn định về kinh tế của khu vực9.

Với những đặc điểm chung như thế, bước vào nửa cuối thập niên 90, theo nhận định của Đảng ta, trong quan hệ quốc tế nổi lên năm xu thế chủ yếu sau đây10:

Trước hết, hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới Các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tǎng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia

Thứ hai, các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác

và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác Hợp tác ngày càng tǎng nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt

Thứ ba, các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền vǎn hoá dân tộc

Thứ tư, các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội

Thứ năm, các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa dấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình

Có thể thấy, “xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển đã và đang trở thành trào lưu chính trong sự vận động và phát triển của thế giới Dưới tác động của toàn cầu hóa, với tư cách là xu thế phổ biến, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành khuôn khổ phát triển cho mọi quốc gia, bất luận đó là quốc gia lớn, nhỏ, ở trình độ phát triển và thuộc về chế độ chính trị xã hội như thế nào Không gian phát triển rộng mở, tự do

9 Trần Nam Tiến (2010), Tlđd, Tr 49.

10 “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

của Đảng”, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nguồn: dangcongsan.vn.

Trang 12

hóa là trụ lực chính, các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc và trọng tâm là tập trung vào phát triển kinh tế”11.

Các đặc điểm và xu thế nêu trên đã làm nảy sinh tính đa phương, đa dạng trong quan hệ quốc tế và trong chính sách đối ngoại của các nước Tác động sâu sắc đến đến các mặt đời sống xã hội nước ta, đưa đến những thuận lợi cũng như những khó khăn nhất định Tình hình đó cũng không thể không tác động đến quan hệ giữa nước ta với

Mỹ, nhất là mối quan hệ về kinh tế Từ đó thúc đẩy hai nước đi đến ký kết hiệp định thương mại song phương để tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tệ giữa hai nước Đó chính là một bước tiến nổi bật kể từ sau khi hai nước bình thường hòa quan hệ từ năm 1995

1.2 Chíến lược kinh tế đối ngoại của Việt Nam và chính sách thương mại của Mỹ (từ

sau thập niên 90 của thế kỷ XX)

1.2.1 Chiến lược kinh tế đối ngoại của Việt Nam (đối với Mỹ)

Kể từ sau khi đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và bắt đầu phát triển về nhiều mặt Sau khi chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên xô sụp đổ, nước ta cũng không thể tránh khỏi sự khủng hoảng, nhất là về mặt tư tưởng, đường lối Nhưng trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, đường lối đối ngoại của Đảng ta cũng đã phản ứng một cách linh

hoạt, nhằm chèo lái đất nước qua sự khủng hoảng đó Và “đến năm 1995, trong tình hình thế giới diễn biến phức tạp Trong nước những khó khăn, thử thách tiếp tục là trở ngại để Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, đưa đất nước từng bước thoát khỏi khủng hoảng, vượt lên trên những khó khăn trở ngại đó, Việt Nam tiếp tục dành được những kết quả to lớn về cả đối nội lẫn đối ngoại”12 Trong giai đoạn từ năm 1995, tiếp

tục đường lối đối ngoại rộng mở, Đảng ta xác định: Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đã phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc

11 Nguyễn Xuân Thắng (2007), “Bình thường hóa và phát triển mối quan hệ hợp tác Việt Nam và Hoa Kỳ trong

quá trình đổi mới đất nước”, Những vẫn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 11, Tr 33.

12 Nguyễn Xuân Tĩnh (2011), Tác động của Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ và việc Việt Nam gia nhập tổ

chức Thương mại thế giới đối với quan hệ thương mại Việt – Mỹ, Luận văn thạc sĩ, ĐHKHXH và NV –

ĐHQGTPHCM, Tr 41.

Trang 13

lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp bằng thương lượng13 Và trong bối cảnh, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các nước đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, vì vậy trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1996 – 2000, Đại hội VIII cũng nêu rõ nhiệm vụ và giải

pháp trong chương trình phát triển kinh tế đối ngoại là: “Mở rộng thị trường xuất khẩu, đối mới cơ cấu và nâng cao chất lượng xuất khẩu Tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến sâu và tinh, giảm mạnh việc xuất khẩu hàng thô Củng cố vị trí ở các thị trường quen thuộc, khôi phục quan hệ với các thị trường truyền thống, tìm thị trường và bạn hàng mới, giảm sự tập trung quá mức vào một thị trường…”14 Đường lối kinh tế đối ngoại này cũng tiếp tục được khẳng định trong các Hội nghị Trung ương (khóa VIII) của Đảng

Đối với Mỹ, kể từ sau khi bình thường hóa quan hệ, chúng ta đã xác định: Mỹ, với một nền kinh tế phát triển vượt trội, sẽ là nhân tố quan trọng để Việt Nam thực hiện thành công chiến lược hướng mạnh ra xuất khẩu của mình Những kết quả đạt được trong quan hệ kinh tế với Mỹ sẽ trở thành động lực để chúng ta tiếp tục mở rộng chính sách kinh tế đối ngoại mới với Mỹ trong các thời kỳ tiếp theo Chính sách về kinh tế của nước ta với Mỹ nằm trong tổng thể chiến lược kinh tế đối ngoại của Đảng, trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII nêu rõ, cho đến năm 2000, chúng ta phải tiến hành khẩn trương vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ…15 Điều đó nói lên rằng quan hệ kinh tế với Mỹ được xác định là một trong những quan

hệ trọng tâm của Việt Nam trong giai đoạn này Định hướng kinh tế đối ngoại đúng đắn của Việt Nam đối với Mỹ xuất phát từ nhiều yếu tố Trước hết, đó là những ảnh hưởng của nhân tố Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, là thị trường rộng lớn nhất thế giới của Mỹ hằng năm nhập khẩu 1.200 tỷ USD, các doanh nghiệp Việt Nam

13 “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

của Đảng”, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nguồn: dangcongsan.vn.

14 “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

của Đảng”, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nguồn: dangcongsan.vn.

15 Nguyễn Anh Cường (2014), “Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với Hoa Kỳ (1975 –

2013)”, Châu Mỹ ngày nay, số 1, Tr 45.

Trang 14

quan tâm đến thị trường lớn này để tiêu thụ hàng hóa, tạo việc làm có thu nhập Đó còn là vì Hoa Kỳ là nước có trình độ khoa học và công nghệ cao nhất thế giới, có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực16.

Với chủ tương tiếp tục thực hiện phương châm “khép lại quá khứ, hướng tới tương lại”, cùng hợp tác và có lợi đối với Mỹ, chúng ta đã có những chính sách phù hợp với tình hình trong nước và thế giới, hợp tác một cách hiệu quả nhất đối với Mỹ, một cường quốc hàng đầu của thế giới Và chính sách của ta đối với Mỹ, nhất là về kinh tế, đã phát huy được những mặt tích cực của nó Góp phần đưa quan hệ kinh tế hai nước nâng lên một tầm cao mới với sự ký kết hiệp định thương mại song phương

1.2.2 Chính sách thương mại của Mỹ (đối với Việt Nam)

Nước Mỹ không chỉ là một quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới, mà còn là nước đứng đầu thế giới về giá trị trao đổi thương mại toàn cầu Với vị trị là nền kinh

tế lớn nhất thế giới, chính sách đối ngoại Mỹ phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của Mỹ trong các hệ thống tài chính – thương mại toàn cầu, duy trì nền thịnh vượng Mỹ cần thường xuyên và có nhu cầu lớn đối với các yếu tố đầu vào như tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ, nhân công Sự giàu có của nước Mỹ một phần quan trọng là nhờ vào phần còn lại của thế giới17 Chính vì thế, Mỹ phải thi hành một chính sách thương mại phù hợp với lợi ích và vị thế của mình Đặc biệt, dưới thời tổng thống B.Clinton, Mỹ đã có sự điều chỉnh đáng kể chính sách thương mại của mình, “theo tư duy kinh tế, chính quyền Clinton đặc biệt coi trọng các hiệp định tự do thương mại, khu vực và toàn cầu”18 Chính sách thương mại này nằm trong tổng thể chiến lược an

ninh quốc gia “Cam kết và mở rộng” của tổng thống B.Clinton, “đây là một chiến lược toàn cầu của Mỹ, khá toàn diện và đầy tham vọng nhằm bảo đảm không không chỉ cho sự phát triển mạnh mẽ của bản thân nước Mỹ (đối nội) mà còn cho vai trò

16Nguyễn Văn Lan (2004), “Một số thuận lợi, khó khăn và vấn đề đặt tra sau chín năm bình thường hóa quan

hệ Việt – Mỹ, Châu Mỹ ngày nay, số 8, Tr 21

17 Lê Đình Tĩnh (2001), “Chính sách đối ngoại Mỹ kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc: hướng tiếp cận và một

số vấn đề lý thuyết”, Nghiên cứu quốc tế, số 4 (87), tr 72.

18 Lê Đình Tĩnh (2001), Tlđd, Tr 72.

Trang 15

lãnh đạo, chi phối thế giới của Mỹ (đối ngoại) với tư cách là siêu cường duy nhất của thời kỳ hậu chiến tranh lạnh”19.

Đối với Việt Nam, từ sau khi bình thường hóa, xét từ quan điểm của Mỹ, quan

hệ hai nước cũng không nằm ngoài khuôn khổ của chiến lược trên Chính sách thương mại của Tổng thống B.Clinton đối với Việt Nam cũng có sự thay đổi mạnh mẽ Đối

với Hoa Kỳ, “Việt Nam là một nước nhỏ bé song có một vị trí quan trọng ở khu vực [châu Á – Thái Bình Dương]”20, bên cạnh đó sau nhiều năm đổi mới Việt Nam cũng

đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,…dần khẳng định và có tiếng nói ngày càng quan trọng trong khu vực21 Những lý do đó làm cho chính quyền B.Clinton không thể không chú ý tới Việt Nam Người Mỹ đã nhìn thấy ở Việt Nam một thị trường lao động, nguyên liệu dồi dào, giá rẻ, việc thiết lập quan hệ kinh tế với Việt Nam sẽ giúp nước Mỹ thu được nhiều lợi ích, đồng thời

mở rộng ảnh thưởng của mình trong khu vực Và trong giai đoạn này, Mỹ tiếp tục đi đến bình thường hóa quan hệ một cách đầy đủ với Việt Nam, nhằm xóa bỏ những bất đồng trong nội bộ nước Mỹ xung quanh “vấn đề Việt Nam”; tạo điều kiện cho giới tư bản Mỹ thâm nhập, kinh doanh ở thị trường Việt Nam và cạnh tranh có hiệu quả với các đối thủ khác của Mỹ trên thị trường này22 Từ đó, việc đi kết ký kết hiệp định

thương mại đã được Mỹ quan tâm và đẩy mạnh thực hiện “Mỹ bình thường hóa quan

hệ kinh tế với Việt Nam là một khâu trong chiến lược kinh tế đối ngoại hướng tới Châu Á – Thái Bình Dương, nơi mà Mỹ đang có nhiều bất lợi so với các đối thủ trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,…Hơn nữa Mỹ muốn thông quan việc chuyển hướng này để mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác, ngoài thị trường Châu Âu, Nhật Bản, Bắc Mỹ,…”23.

1.3 Quan hệ kinh tế Việt Nam – Mỹ (nửa sau thập niên 90 đến trước khi kí hiệp định

thương mại)

19 Lê Văn Quang (2005), Tlđd, Tr 113.

20 Nguyễn Thị Kim Chi (2009), “Chính sách thương mại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam từ năm 2001 đến nay”,

Châu Mỹ ngày nay, số 7, Tr 11 – 12.

21 Nguyễn Xuân Tĩnh (2011), Tlđd, Tr 40.

22 Trần Nam Tiến (2010), Tlđd, Tr 54.

23 Nguyễn Văn Lan (2004), “Một số thuận lợi, khó khăn và vấn đề đặt tra sau chín năm bình thường hóa quan

hệ Việt – Mỹ, Châu Mỹ ngày nay, số 8, Tr 21.

Trang 16

Sau khi cuộc chiến tranh tại Việt Nam kết thúc, bằng những nỗ lực ngoại giao tích cực, Việt Nam và Mỹ đã bắt đầu có những thỏa thuận chung, từ đó đi đến bình thường hóa quan hệ hai nước Đặc biệt, trong quan hệ về kinh tế, ngày 3 tháng 2 năm

1994, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố bãi bỏ chính sách cấm vận đối với thương

mại và đầu tư của Mỹ ở Việt Nam “Đây là một trong những khâu quan trọng nhất trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ Ngày 10-2-1994, Bộ Thương mại

Mỹ (Vụ quản lý xuất khẩu) đã điều chỉnh lại phần 385 của Bộ luật Liên bang về Thương mại, chuyển Việt Nam từ nhóm Z lên nhóm Y trong hệ thống quan hệ thương mại của Mỹ với nước ngoài, ít bị hạn chế hơn về quan hệ thương mại”24 Không

những thế, phía Mỹ đã có những hoạt động trong quan hệ kinh tế, cũng trong năm

1994, được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức Mỹ, Việt Nam đã tổ chức triển lãm VIETEXEPORT – 94 tại San Francisco (Mỹ) Việt Nam đã đưa 70 doanh nghiệp sang

Mỹ giới thiệu về các sản phẩm nông sản, thủ công mỹ nghệ, hàng dệt may, da giầy, thủy, hải sản,…Triển lãm đã thu được nhiều kết quả khả quan về kinh tế, giới kinh doanh và người dân Mỹ có điều kiện hiểu hơn về Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện để làm quen với thị trường và giới kinh doanh Mỹ25

Sau khi dỡ bỏ cấp vận, quan hệ kinh tế Việt – Mỹ đã có những dấu hiệu tích

cực, tờ Tạp chí kinh doanh của Việt Nam (VBJ, số tháng 1 – 2/1995) viết, “kể từ tháng 2 [năm 1994]…trong danh mục đầu tư nước ngoài chia theo nước…vị trí của Hoa Kỳ đã được nâng lên…thứ 12 vào cuối năm, trên Thái Lan (13), Nga (15), Canađa (18), và Trung Quốc (28) Với 28 dự án cam kết trị giá hơn 270 triệu đôla”26

Bên cạnh đó, trong năm 1994, Mỹ cũng đã có nhiều chương trình viện trợ nhân đạo giúp Việt Nam (nhân đạo, lĩnh vực giáo dục, đào tạo,…)

Ngày 11 tháng 7 năm 1995, Tổng thống B Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Sự kiện quan trọng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển toàn diện các quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, trong đó có các mối quan hệ về kinh

tế27 Trong tuyên bố của Tổng thống B.Clinton, ông cũng đã nhấn mạnh: “chúng ta sẽ bắt đầu bình thường hóa các quan hệ thương mại của chúng ta với Việt Nam, nền kinh

24 Lý Hoàng Mai (2005), “Lộ trình quan hệ thương mại Việt – Mỹ”, Lịch sử kinh tế, số 327, Tr 36.

25 Lý Hoàng Mai (2005), Tlđd, Tr 36 – 37.

26 Đỗ Đức Định (2000), Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ, Nxb Thế giới, Hà Nội, Tr 122.

27 Trần Nam Tiến (2010), Tlđd, Tr 67.

Trang 17

tế của họ hiện nay đang tự do hóa và liên kết với nền kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương Chính sách của chúng ta là sẽ thực hiện các chương trình thích hơp của chính phủ Hoa Kỳ để phát triển quan hệ thương mại với Việt Nam phù hợp với pháp luật Hoa Kỳ”28 Tuy còn nhiều cản trở, nhưng nhìn chung từ sau năm 1995, các hoạt

động thương mại và đầu tư của các doanh nghiệp Mỹ đã diễn ra khá nhộn nhịp đối với thị trường Việt Nam

Đối với thương mại, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với Mỹ đã tăng nhanh

Năm 1994, “năm đầu tiên Mỹ bỏ cấm vận chống Việt Nam, kim ngạch thương mại giữ hai nước đã đạt tới 223 triệu USD, tăng 31 lần so với năm 1993 Năm 1995, tăng lên

452 triệu USD, tăng hơn gấp 2 lần năm 1994”29 Tổng kim ngạch thương mại hai

chiều tiếp tục tăng nhanh, đặc biệt sau khi Văn phòng thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội khai trương trong tháng 4 năm 1996 và chuyên thăm của Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ

Anthony Lake vào tháng 7 năm 1996 “Chỉ trong ba tháng đầu năm 1996, số xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam đã tăng vọt lên gần chín lần so với cùng kỳ của năm 1995 (37 triệu USD quý I 1995 so với 361 triệu USD của quý I năm 1996)”30.

Bảng 1: Quan hệ thương mại Việt – Mỹ (1994 – 2000)31

Đơn vị: Triệu USD

Năm Nhập Xuất Tổng kim ngạch xuất khẩu Cán cân

(Nguồn: Tổng hợp số liệu của US Census Bureau, Foreign Trade Divison)

Từ bảng số liệu trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự tăng trưởng về thương mại giữa Việt Nam và Mỹ trong giai đoạn từ 1994 đến năm 2000 (trước khi Hiệp định thương mại có hiệu lực) Trong đó, giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng liên

28 “Tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam”, dẫn theo Đỗ Đức Định (2000), Tlđd, Tr 126.

29 Nguyễn Tuấn Minh (2010), “15 năm quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ”, Châu Mỹ ngày nay, số 6, Tr

32.

30 Nguyễn Hữu Cát – Lê Thu Hằng, “Quan hệ kinh tế thương mại Việt – Mỹ thuận lợi và khó khăn”, Châu Mỹ

ngày nay, số 4, Tr 44 dẫn theo Lê Văn Quang (2005), Tlđd, Tr 179.

31 Nguyễn Thiết Sơn (2004), Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Tr 49.

Trang 18

tục qua các năm Việt Nam xuất sang Mỹ chủ yếu là các mặt hàng hải sản, sản phẩm nông nghiệp và hàng tiêu dùng Nhìn chung, trước khi Hiệp định thương mại Việt –

Mỹ có hiệu lực, thị trường Mỹ chỉ chiếm khoảng 7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng trong giai đoạn từ 1996 – 2001, xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ tăng bình quân khoảng 27%/năm32

Cùng với quan hệ thương mại, sau khi chính sách cấm vận được gỡ bỏ, và sau khi Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, quan hệ đầu từ giữa hai nước cũng bắt đầu tăng lên đáng kể, nhất là nguồn vốn đầu tư từ các công ty Hoa Kỳ vào Việt Nam Nếu như trước đây, trong giai đoạn từ 1988 đến 1993, do còn bị cấm vận, số dự án đầu

tư của các công ty Mỹ ở Việt Nam tăng rất hạn chế, tất cả chỉ có 7 dự án đầu tư vào Việt Nam33, thì sau khi bình thường hóa, các công ty Mỹ đã tích cực đầu tư vào Việt

Nam, “mở đầu cuộc đấu tranh để giành trài tim và ví tiền của người Việt Nam”34

Trong năm 1995, quan hệ đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ đã có bước phát triển quan trọng với 19 dự án đầu tư mới của các công ty Mỹ được đăng ký với số vốn là 397,871 triệu USD35 Và tính đến ngày 28-8-1995, số vốn đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam đã tăng lên hơn 700 triệu USD trong 42 dự án khác nhau và xếp thứ 7 trong danh sách các quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam36 “Tính đến giữa năm 1995, đã có 119 văn phòng đại diện của Mỹ ở Việt Nam (gấp hai lần so với cuối năm 1994), trong đó có hơn mười văn phòng của các tập đoàn kinh doanh lớn, hai chi nhánh ngân hàng nổi tiếng tầm cỡ như CitiBank, hai văn phòng đại điện của Công ty vận tải lớn, và một văn phòng của Công ty bảo hiểm lớn…”37.

Bảng 2: Đầu tư của Mỹ vào Việt Nam từ năm 1988 đến năm 200038

32 Lê Văn Quang (2005), Tlđd, Tr 181.

33 Nguyễn Thiết Sơn (2004), Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Tr 69.

34 Đỗ Đức Định (2000), Tlđd, Tr 137.

35 Nguyễn Thiết Sơn (2004), Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Tr 70.

36 Dẫn theo Trần Nam Tiến (2010), Tlđd, Tr 73.

37 Dẫn theo Lê Văn Quang (2005), Tlđd, Tr 165 – 166.

38 Lại Lâm Anh – Vũ Xuân Trường (2007), “Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam: Thực trạng và triển

vọng”, Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 6, Tr 61.

Trang 19

Đầu tư của Hoa Kỳ vào

Việt Nam (Không qua nước thứ ba)

Số lượng

dự án

Vốn đăng

kỳ ban đầu (triệu USD)

Vốn đăng

kỳ hiện nay (triệu USD)

Tỷ trọng trong tổng vốn đăng

ký (%)

Số lượng

dự án

Vốn đăng

kỳ ban đầu (triệu USD)

Vốn đăng

kỳ hiện nay (triệu USD)

Tỷ trọng trong tổng vốn đăng

ký (%)

(4/1996), “có khoảng hơn 140 công ty Hoa Kỳ đã mở văn phòng đại diện tại Việt Nam; và Hoa Kỳ đứng hàng thứ sáu trong danh sách các quốc gia và lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, với hơn 50 dự án có tổng giá trị 1,1 tỷ USD (…) Tính đến giữa năm

1996, đã có trên 400 công ty Hoa Kỳ có mặt tại Việt Nam, trong đó có khoảng 100 công ty nằm trong danh sách 500 công ty lớn nhất của Hoa Kỳ như Bank of America, CitiBank, General Ele, Ford, Chrysler, AIG, USA Telecom, Coca Cola, Mobil Oil,

…”40 Trong những năm tiếp theo, đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam có nhiều biến động, đến năm 2000, trước khi Hiệp định thương mại được ký kết, số dự án đầu

tư của Mỹ vào Việt Nam chỉ là 12 dự án, và số vỗn đầu tư chỉ đạt 20 triệu USD Và đến tháng 6 năm 2000, Mỹ đã tụt xuống hàng thứ 13 trong các nước đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên, nếu xét một cách tổng thể, số lượng dự án và vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng kể từ sau khi hai nước chính thức bình thường hóa quan hệ

39 Nguyễn Thiết Sơn (2004), Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Tr 71.

40 Trần Nam Tiến (2010), Tlđd, Tr 74 – 75.

Trang 20

Mặc dù, quan hệ kinh tế Việt – Mỹ tăng nhanh sau khi hai nước bình thường hóa, nhưng sự tăng trưởng đó lại gặp nhiều cản trở Nó đòi hỏi phải có một khung

pháp lý chung để hai nước có thể hợp tác nhiều hơn nữa, bởi lẽ “một khi khung khổ hợp tác chưa được xác lập, các kết quả hợp tác sau bình thường hóa vẫn còn ở mức khiêm tốn”41 Từ sau khi bình thường hóa, hai nước đã đạt được một số thành tựu

nhất định, chẳng hạn, năm 1996 hai nước đã trao cho nhau văn bản về nguyên tắc bình thường hóa quan hệ kinh tế - thương mại Năm 1997, vấn đề nợ của chính quyền cũ được giải quyết, hai nước ký Hiệp định về Quyền tác giả (26/7/1997) Năm 1998, Mỹ bắt đầu không áp dụng điều luật Jackson – Vanik đối với Việt Nam, tiếp đó Mỹ kỳ Hiệp định OPIC liên quan đến đầu tư tư nhân của Mỹ tại nước ngoài, cho phép OPIC hoạt động tại Việt Nam Năm 1999, Hiệp định bảo lãnh khung và Hiệp định khuyến khích dự án ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ đã được ký kết42 Nhưng việc ký kết một hiệp định thương mại vẫn là một nhu cầu bức thiết vì lợi ích kinh tế của cả hai nước Việc Việt Nam và Mỹ dành cho nhau những quy chế quan hệ buôn bán bình thường là điều cần phải tiến hành, như lời khẳng định

của Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Lê Văn Bằng: “Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, bước tiếp theo là vấn đề bình thường hóa quan hệ kinh tế và thương mại Trong quan

hệ kinh tế và thương mại có những vấn đề như quy chế Tối huệ quốc Về vấn đề này, chúng tôi chỉ muốn là Việt Nam quan hệ với Mỹ cũng như là các thành viên ASEAN khác Có quan hệ với Mỹ thì được hưởng quê chế Tối huệ quốc, điều này tôi nghĩ là

có lợi cho cả hai bên và đặc biệt là có lợi cho các công ty Mỹ khi mà sản xuất ra hàng hóa mà muốn nhập lại Mỹ và cũng có lợi cho Việt Nam và tôi mong muốn điều này sớm diễn ra”43.

41 Nguyễn Xuân Thắng (2007), “Bình thường hóa và phát triển mối quan hệ hợp tác Việt Nam và Hoa Kỳ trong

quá trình đổi mới đất nước”, Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 11 (139), Tr 34.

42 Nguyễn Tuấn Minh (2010), “15 quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ”, Châu Mỹ ngày nay, số 6, Tr 30.

43 Dẫn theo Trần Nam Tiến (2010), Tlđd, Tr 67 – 68.

Trang 21

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT VÀ THỰC THI HIỆP ĐỊNH

THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ

.1 Quá trình đàm phán đi đến ký kết Hiệp định thương mại Việt – Mỹ

Quá trình đàm phán và đi đến ký kết Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và

Mỹ là một quá trình phức tạp, kéo dài, trải qua nhiều vòng đàm phán khác nhau Bắt đầu từ năm 1994, chính quyền Clinton đã chính thức gỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam Đến tháng 7/1995, Việt Nam và Mỹ lại chính thức bình thường hóa quan hệ Những sự kiện này đã chi phối rất mạnh quan hệ kinh tế giữa hai nước Tuy nhiên những rào cản do chưa có một hiệp định thương mại song phương đã làm giảm tốc độ, quy mô và tính hiệu quả của quan hệ đó Do vậy, điều đó đòi hỏi hai bên tiếp tục bước vào cuộc đàm phán mới để ký kết hiệp định thương mại, hoàn tất quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt Nam – Mỹ Hai nước đã trải qua 9 cuộc đàm phán

và nhiều cuộc tiếp xúc cấp bộ trưởng

Chúng ta có thể liệt kê ra đây vài sự kiện có vị trí bản lệ giúp hai bên có thể từng bước đi đến bình thường hóa hoàn toàn về kinh tế Tháng 12/1992, Tổng thống

G Bush đã ra quyết định cho phép các doanh nghiệp Mỹ mở văn phòng đại diện tại Việt Nam; ngày 2/7/1993, Mỹ ngừng phản đối các nước giúp Việt Nam tra nợ cho quỹ tiền tệ quốc tế; đến ngày 3/2/1994, lệnh cấm vận không còn hiệu lực; ngày 11/7/1995,

Mỹ tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; tháng 10/1995, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam và đại diện thương mại Hoa Kỳ kí thỏa thuận hai bên tập trung thúc đẩy quan hệ kinh tế và chuẩn bị đàm phán hiệp định thương mại; tháng 11/1995, đoàn Liên bộ Hoa Kỳ thăm Việt Nam để tìm hiểu hệ thống luật lệ thương mại, đầu tư của Việt Nam; tháng 4/1996, Hoa Kỳ trao cho Việt Nam bản “Những yếu tố bình thường hóa quan hệ kinh tế thương mại với Việt Nam”; tháng 7/1995 Việt Nam trao cho Hoa Kỳ bản “Năm nguyên tắc bình thường hóa quan

hệ kinh tế - thương mại và đàm phán hiệp định thương mại với Hoa Kỳ” đáp lại văn bản nói trên; sau đó các cuộc gặp gỡ, đàm phán đã được triển khai để hai nước cùng trao đổi về việc ký kết một hiệp định thương mại song phương chính thức

Từ 01/06/1997, đoàn đại biểu Việt Nam do Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm dẫn đầu đang sang Washington dự Hội nghị “Bình thường hóa quan hệ kinh tế

Trang 22

Việt Nam – Hoa Kỳ: Những bước sắp tới” Tại cuộc trao đổi ý kiến với tinh thần cởi

mở, xây dựng đã giúp hai bên hiểu rõ luật lệ, thủ tục, tập quán kinh doanh của nhau, cùng nhu cầu về khả năng thuận lợi, khó khăn của mỗi bên, thiết thực chuẩn bị cho

đàm phán thương mại “Đây là cuộc trao đổi ý kiến đầu tiên giữa đại diện hai chính phủ về những vấn đề cụ thể liên quan đế tiến trình bình thường hóa quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Hoa Kỳ và hai bên đều cọi là trọng tâm của giai đoạn mới sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao”44.

Vòng đàm phán thứ nhất diễn ra từ ngày 21 đến 26/09/1996 tại thủ đô Hà Nội: Trong vòng đàm phán này, Việt Nam và Mỹ đã tập trung thảo luận những vấn đề liên quan trong bản phác thảo phần thương mại hàng hóa mà Hoa Kỳ trao cho Việt Nam45 Hai bên đã thống nhất việc đàm phán dựa trên những tiêu chuẩn chung của WTO, khái niệm thương mại không chỉ dừng lại ở thương mại hàng hóa mà còn được mở rộng ra bao gồm cả thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ46 Phía Việt Nam đồng ý kí hiệp định tổng thể, quy mô bao gồm những quy định của WTO Vòng đàm phán thứ nhất kết thúc, hai bên đã đạt được một số thỏa thuận, tuy nhiên, còn nhiều trở ngại để tiến tới ký một hiệp định thương mại Trên tinh thần xây dựng, hai bên nhất trí tiếp tục

mở rộng vòng đàm phán tiếp theo trong những điều kiện thời gian hợp lý

Vòng đàm phán thứ hai và ba diễn ra trong các ngày từ 09 – 11/12/1996 và từ ngày 12 – 17/04/1997, tại Hà Nội Đây là vòng đàm phán mà hai bên bắt đầu đàm

phán chính thức Trong vòng đàm phán thứ ba, “Hoa Kỳ đã chính thức trao cho phía Việt Nam Bản dự thảo Hiệp định thương mại Việt Mỹ”47 gồm các nội dung: thương mại hàng hóa, sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, phát triển quan hệ đầu tư Trong hai vòng đàm phán này, phía Hoa Kỳ vẫn duy trì những nguyên tắc, quan điểm mà họ nêu

ra buộc Việt Nam phải chấp nhận Do đó, đàm phán vấn trong tình trạng bế tắc48

44 Nguyễn Xuân Tĩnh (2011), Tlđd, Tr 45.

45 Nguyễn Xuân Tĩnh (2011), Tlđd, Tr 46.

46 Đỗ Gia Lan (2001), Về Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và cái gọi là Đạo luật nhân quyền Việt

Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Tr 15.

47 Lê Văn Quang (2005), Tlđd, Tr 207.

48 Nguyễn Xuân Tĩnh (2011), Tlđd, Tr 46.

Trang 23

Vòng đàm phán thứ tư được tổ chức tại Washington, từ ngày 06 – 11/10/1997 Trong vòng đàm phán này, hai bên đã bắt đầu trao đổi sơ bộ về các chương “Quy định chung” và chương “Thương mại hàng hóa”49 Quá trình thảo luận, hai bên bắt đầu có

sự thay đổi quan điểm theo hướng mềm dẻo hơn, nhất là phía Hoa Kỳ có những nhân nhượng tích cực mang tính xây dựng cao Kết thúc vòng đàm phán, hai bên yêu cầu nghiên cứu sâu hơn nữa bản dự thảo Việt Nam để vòng đàm phán sau đạt nhiều kết quả tốt hơn nữa

Vòng đàm phán thứ năm: Từ ngày 16 – 22/05/1998 tại Washington, Việt Nam

và Hoa Kỳ đã tiến hành vòng đàm phán mới về hiệp định thương mại giữa hai nước

“Trên cơ sở Dự thảo hiệp định mà Hoa Kỳ trao cho Việt Nam tháng 04/1997 với đầy

đủ những nội dung, nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ kinh tế thương mại của hai bên theo những quan điểm của thị trường thế giới, gồm những chương thương mại hàng hóa, sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ và phát triển quan hệ đầu tư đầy đủ”50

Vòng đàm phán thứ sáu: ngày 15/09, vòng đàm phán thứ sáu Hiệp định thương mại Việt nam – Mỹ đã được khai mạc tại thủ đô Hà Nội Hai đoàn làm việc trong vòng

7 ngày, từ 15 – 22/9 Hai bên đã tập trung trảo đổi trong những vấn đề thuộc về quan điểm mà trong vòng đàm phán trước hai bên còn nhiều bất đồng, nhưng rút ngắn thêm một bước khoảng cách giữa hai bên trong sở hữu trí tuệ và phát triển quan hệ đầu tư51

Vòng đàm phán thứ bảy diễn ra từ ngày 15/03 đến 19/03 tại Hà Nội Tại vòng đàm phán này, tất cả các nội dung còn lại của bản Dự thảo hiệp định đã được hai bên tiến hành thảo luận, các chương “Thương mại hàng hóa”, “Sở hữu trí tuệ”, “Thương mại dịch vụ” và “Đầu tư”52 Hai bên đã cơ bản nhất trí về khuôn khổ nguyên tắc và các điều khoản của hiệp định cho phép các công ty Mỹ đầu tư, buôn bán tại Việt Nam

Theo quan chức Mỹ, “kết quả đàm phán lần này là tích cực Hai bên tập trung thu hẹp các khoảng cách bất đồng, cam kết sẽ nỗ lực hơn nữa để giải quyết những vấn đề

49 Lê Văn Quang (2005), Tlđd, Tr 207.

50 Báo Nhân dân, số 15668, ngày 25/05/1998, Tr 8.

51 Báo Nhân dân, số 15778, ngày 23/09/1988, Tr 8.

52 Lê Văn Quang (2005), Tlđd, Tr 207.

Trang 24

còn tồn tại tạo điều kiện cho những bước tiếp theo để hai nước sớm ký Hiệp định thương mại song phương”53.

Vòng đàm phán thứ tám (tại Washington từ ngày 14/06 đến 18/06 năm 1999) Đây là vòng đàm phán có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn tất hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Mỹ Trưởng đoàn Việt Nam, Nguyễn Đình Lương đã nêu rõ lập trường của chính phủ Việt nam đối với việc bình thường hóa quan hệ thương mại giữa hai nước nói chung cũng như vòng đàm phán lần này nói riêng Ông

tuyên bố: “để thúc đẩy vòng đàm phán này, Việt Nam sẵn sàng đưa ra những đề xuất mới nhằm xử lý những vấn đề còn tồn tại trong các cuộc đàm phán trước đây, đồng thời yêu cầu phía Mỹ thực hiện sự hiểu biết đầy đủ hơn nữa về điều kiện kinh tế Việt Nam, tình hình hệ thống pháp luật Việt Nam để có thể chấp nhận một hiệp định có tính thực tế đối với cả hai bên”54 Còn về phĩa Mỹ, Đại diện Thương mại Charlene

Barshefsky đã phát biểu trong cuộc họp thông báo báo chí: “Chúng tôi đã thu hẹp được một khoảng cách có ỹ nghĩa một số vấn đề còn tồn tại trong cuộc đàm phán, từ

đó có thể tạo thuận lợi cho việc bình thường hóa quan hệ hai nước”55 Tuy nhiên vẫn

còn một số vấn đề then chốt mà hai bên còn cần tiếp tục đàm phán, đó là những vấn

đề có liên quan đến việc tiếp cận thị trường của một số loại hàng hóa và dịch vụ Phúa

Mỹ đang tìm kiếm một thỏa thuận toàn diện, bao gồm các điều khoản về thâm nhập thị trường hàng hóa nông nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, phim ảnh, sản phẩm tri thức, đầu tư Việt Nam đã đưa ra nhiều đề xuất mới đối với các vấn đề tồn tại trong tất cả các lĩnh vực của hiệp định, thể hiện sự quyết tâm cao của Việt Nam56 Một điểm mới

và cũng là một tiến bộ trong vòng đàm phán hai bên đó là: nếu các vòng đàm phán trước đây chỉ xoay quanh những khác biệt về quan niệm, thì vòng đàm phán này chuyển sang thực hiện vấn đề thời điểm và các giai đoạn chuyển tiếp để đi đến hoàn tất quyết định

53 Nguyễn Xuân Tĩnh (2011), Tlđd, Tr 48.

54 Báo Nhân dân, số 16054, ngày 20/06/1999, Tr 8.

55 Tài liệu của Đại sứ quán Mỹ ở Việt Nam.

56 Nguyễn Thiết Sơn (2004), Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Tr 27 – 28.

Trang 25

Xen kẽ giữa hai vòng đàm phán 8 và 9 là cuộc gặp gỡ cấp bộ trưởng giữa hai nước diễn ra từ ngày 23 đến 25 tháng 7 năm 1999 tại Hà Nội Hai bên đã ra tuyên bố chung về việc đạt được thỏa thuận nguyên tắc cho một hiệp định thương mại Việt –

Mỹ: “Các đàm phàn giữa Việt nam và Mỹ đã đạt được về những thỏa thuận về nguyên tắc các điều khoản của hiệp định thương mại, bao gồm thỏa thuận về đối xử MFN giữa hai nước với nhau về thâm nhập thị trường hàng hóa và dịch vụ, bản quyền sản phẩm trí tuệ và quyền của các nhà đầu tư trực tiếp”57 Đây là bước tiến

đáng kể nhất mà hai bên đạt được từ vòng đàm phán thứ nhất Sở dĩ như vậy vì những điều khoản mà hai bên thông qua đều là những điều khoản theo tiêu chuẩn của WTO58

Vòng đàm phán thứ 9 (từ 28/8 – 02/9/1999 tại Washington, các vấn đề kỹ thuật của hiệp định được giải quyết trong vòng đàm phán này Đến ngày 3/7/2000 hai bên

đã kết thúc đàm phán trong một cuộc thảo luận Bản hiệp định đã được hoàn thành 10 ngày sau đó, ngày 13/07/2000 tại Washington Bộ trưởng Bộ Thương mại Việt Nam

Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Charlene Barshefsky đã chính thức kí kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ

Có thể thấy, đối với Việt Nam, quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ là một cuộc đấu tranh gay go phức tạp, vì đât là Hiệp định thương mại gắn với đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, mà lần đầu tiên nước ta đàm phán với cường quốc kinh tế đứng đầu thế giới trong bối cảnh chưa có nhiều kinh nghiệm và chưa sẵn sàng về môi trường pháp lý ở trong nước Việc tiến hành đàm phán với Mỹ trên bàn hội nghị gặp không ít khó khăn; nhưng có lẽ khó khăn lớn hơn là cuộc đấu tranh nội bộ của các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo các Bộ có chức năng khác nhau để đi đến thống nhất

về nhận thức và quan điểm đối với lợi ích mà Hiệp định đưa lại, những nhượng bộ cần thiết để có được Hiệp định Thương mại với Mỹ59

2.2 Những quan điểm và nguyên tắc căn bản của Hiệp định

57 Nguyễn Thiết Sơn (2004), Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Tr 28.

58 Nguyễn Xuân Tĩnh (2011), Tlđd, Tr 50.

59 Nguyễn Mại (2008), Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hướng về phía trước, Nxb Tri thức, Hà Nội, Tr 194

Trang 26

Tháng 7 năm 2000, Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ được ký kết, đánh dâu sự thành công của một quá trình đàm phán lâu dài, liên tục trong 4 năm và tính đến thời điểm có hiệu lực là 5 năm Có thể thấy, quá trình đàm phán hiệp định thương mại song phương giữa nước ta với Mỹ đã diễn ra hết sức phức tạp, thời gian đàm phán gần như

tương đương với quá trình đàm phán hiệp định Paris năm 1973 “Nếu hiệp định Paris

là cơ sở pháp lý cho hòa bình thống nhất đất nước thì hiệp định lần này tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy quan hệ kinh tế hai nước và là điều kiện thuận lợi để Việt Nam gia nhập WTO, hoàn tất quá trình bình thường hóa quan hệ”60

Một trong những vấn đề cơ bản của Hiệp định Thương mại song phương là hai nước dành cho nhau quy chế tối huệ quốc (MFN), như trước đây thường nói, hay như hiện nay là Quy chế Quan hệ thương mại bình thường (NTR) Mà cốt lỗi của nó là mức thuế quan đánh vào hàng hóa Việt Nam nhập vào Mỹ khi chưa có MFN 40% hoặc hơn nữa, khi áp dụng MFN mức thuế trung bình là 3%61

Vấn đề cơ bản thứ hai trong quá trình đàm phán đó là, đối với ta, những quan điểm mà Hoa Kỳ đưa ra trong bản Dự thảo có hơi nặng nề và quá sức, nhưng ngược lại nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm đàm phán trong thương mại quốc tế, từng bước rút ngắn khoảng cách với WTO Bởi lẽ, về phía Mỹ, Luật Thương mại của họ năm 1994 đã quy định một hiệp định thương mại ký kết với nước ngoài phải bao gồm những nội dung chính như: bảo đảm an ninh quốc gia, bảo đảm an toàn cho sự phát triển kinh tế, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, quy định rõ ràng những nguyên tắc giải quyết tranh chấp, thúc đẩy thương mại phát triển và thực hiện

tư vấn; đồng thời trong hiệp định phải có các điều khoản về NTR/MFN, NT, hàng rào thương mại, quyền kinh doanh, sự công khai, minh bạch, rõ ràng của pháp luật, những quy định về trợ cấp, đầu tư, dịch vụ…Những quy định này có nhiều điều giống với các quy định của WTO Thêm vào đó, khi đi đến thỏa thuận hiệp định thương mại song phương, quan điểm của Mỹ luôn dựa theo tinh thần của WTO, từ đó có thể tạo nên bước khởi đầu để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới62 Và hơn nữa, để

Trang 27

tiếp tục phát triển, Việt Nam phải tiếp tục đàm phán để gia nhập WTO, những gì đã thỏa thuận với Mỹ trong hiệp định sẽ giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc đàm phán với các nước thành viên khác của WTO, và việc đàm phán gia nhập WTO sẽ ít phức tạp hơn63.

Quá trình đàm phán và kí kết một hiệp định tầm cỡ như Hiệp định thương mại

Việt – Mỹ, chúng ta đã phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức “Khâu yếu nhất của Việt Nam và cũng là quan tâm lớn nhất của Hoa Kỳ là về pháp luật và chính sách thương mại của Việt Nam”64 Chính vì vậy, phía Mỹ đã đặt ra rất nhiều câu hỏi, yêu cầu phía Việt Nam phải làm rõ chính sách thương mại của mình, đòi hỏi Việt Nam phải có chính sách thương mại rõ ràng, cụ thể ít rườm rà về thủ tục hành chính Như

phía Hoa Kỳ rất muốn “hiểu rõ và có thông tin về các hoạt động về chính sách và quy định của Việt Nam về giá cả và điều tiết giá cả như thế nào: hệ thống thuế, biểu thuế

và các quy định có liên quan, đặc biệt trong nông nghiệp, luật và chính sách đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, cán cân thanh toán và chi tiêu của chính phủ, chính sách thương mại, luật thương mại ở Việt Nam”65.

Mặc dù khi bước vào quá trình đàm phán, cả phía Việt Nam và Mỹ đều rất muốn đạt được những thỏa thuận một cách nahnh chóng nhất, nhưng ngay từ những vòng đàm phán đầu tiên hai bên đã chạm chán ở những vấn đề rất khó có thể tìm được những điểm chung nếu không có sự nhân nhượng Phía Mỹ mong muốn và đề nghị việc đàm phán cần được tiến hành trên cơ sở tương tự nhu những đòi hỏi của WTO Nhưng điều này hoàn toàn quá sức đối Việt Nam lúc này Trong khi Mỹ đã là thành viên của WTO và đang thực hiện những quy định đòi hỏi của WTO, còn Việt Nam vẫn chưa là thành viên của tổ chức này, đất nước chúng ta mới tiến hành đổi mới chưa được bao lâu, những dư âm của cách thức quản lý cũ vẫn còn ảnh hưởng rất lớn đến

bộ máy lãnh đạo của ta Đồng thời tính đến thời điểm đó, Việt Nam vẫn chưa có những hoạt động đàm phán một hiệp định như vậy Hơn nữa, giữa hai nước còn có một số vấn đề do lịch sử để lại, lợi ích quốc gia giữa hai nước rất khác nhau trong

63 Hoàng Ánh (2007), “Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ: nhìn lại và nghĩ về kĩ năng đàm phán của

các doanh nhân Việt Nam”, Cộng sản, số 777, Tr 104.

64 Nguyễn Xuân Tĩnh (2011), Tlđd, Tr 53.

65 Nguyễn Thiết Sơn (2004), Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Tr 31 – 32.

Trang 28

nhiều vấn đề, Việt Nam cũng còn phải tính đến việc thực hiện tự do hóa thương mại trong tiến trình AFTA và trong khuôn khổ của APEC66.

Từ những quan điểm cơ bản trên, Việt Nam và Hoa Kỳ đã đưa những nguyên tắc của mình và nó đã được duy trì trong suốt quá trình đàm phán Hai bên đã thống nhất thảo luận dựa trên những nguyên tắc sau67:

- Thực hiện không đối xử với mọi cá nhân, tổ chức kinh tế được thực hiện trong điều khoản về MFN/PNTR hàng hóa nước ngoài; trong nước và ngoài nước trong các hoạt động kinh tế Theo nguyên tắc này nhập khẩu được đối xử bình đẳng như hàng hóa trong nước Điều này được áp dụng cho tất cả các công ty của hai nước kể cả công ty

tư nhâu, quốc doanh theo quy định điều khoản đãi ngộ quốc gia (NT) Quy định này

sẽ loại bỏ mọi loại hình tự cáp, ưu đãi với các công ty, họ phải tự kinh doanh và cạnh tranh công bằng trên thị trường

- Một nguyên tắc quan trọng được áp dụng trong quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước là Việt Nam có quyền được tự vệ trong xuất nhập khẩu, khi hàng của nước ngoài nhập vào Việt Nam gây nên tình trạng lộn xộn trên thị trường, ảnh hưởng đến sản xuất

ổn định của Việt Nam, nhà nước Việt Nam có quyền ngăn chặn gian lận thị trường, bán phá giá,…

- Mỹ cam kết tôn trọng việc Việt Nam từng bước gỡ bỏ các rào cản trong quan hệ kinh

tế giữa hai nước Tiến trình này kéo dài 20 năm lúc đó sẽ có hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa hai nước Quy định này được căn cứ vào tình hình kinh tế ở Việt Nam, tiến trình gia nhập AFTA vào khuôn khổ ASEAN và tham gia APEC của Việt Nam Như vậy trong quan hệ kinh tế với Mỹ Việt Nam có bảo hộ sản xuất thông qua thuế nhập khẩu (không tăng thuế và không quota) và hàng rào thuế quan này sẽ được giảm dần qua các năm và hơn 20 năm sau thuế sẽ giảm xuống còn 0 – 0,5%

- Các chính sách thương mại, thuế và luật thuế phải rõ ràng, minh bạch và phải được phổ biến công khai Đây là việc làm bình thường của các quốc gia trên thế giới Việt Nam đang gặp những khó khăn nhất định trong việc rà soát và hoàn chỉnh các luật liên quan đến hoạt động của nền kinh tế quốc dân Nhưng đây là việc phải làm, vì Việt Nam muốn tham gia rộng rãi vào các quá trình kinh tế toàn cầu, do đó điều chỉnh các

66 Nguyễn Xuân Tĩnh (2011), Tlđd, Tr 53.

67 Nguyễn Thiết Sơn (2004), Việt Nam – Hoa Kỳ quan hệ thương mại và đầu tư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Tr 34 – 36.

Trang 29

luật kinh tế cho phù hợp với luật kinh tế, cũng như các quy định của WTO Và chỉ khi nào nền kinh tế của nước ta hoạt động theo những nguyên tắc đó, chúng ta mới có thể

có những mối quan hệ đa dạng hóa, đa phương hóa có hiệu quả với các nền kinh tế thị trường khác trên thế giới, đặc biệt là với Mỹ

2.3 Nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ68

Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa

Kỳ về quan hệ thương mại (Agreement between The socialist Republic of Vietnam and The United States of America on Trade Relations) không chỉ đề cập đến các quan

hệ thương mại mà còn bao gồm cả các hoạt động đầu tư, các quyền sở hữu trí tuệ liên

quan đến thương mại “Do được cấu thành từ cơ sở pháp lý của tổ chức Thương mại thế giới (WTO, bản Hiệp định là cơ sở pháp lý cho hoạt động thương mại giữa hai quốc gia, đồng thời là cơ sở cho đàm phán thương mại giữa Việt Nam với từng quốc gia hoặc lãnh thổ thành viên của WTO sau này Trong hiệp định, Việt Nam cam kết áp dụng các luật lệ quy đinh của WTO, đồng thời cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư theo đngs nguyên tắc của WTO”69 Đối với Hoa Kỳ, hiệp định là kết

quả tổng hợp từ rất nhiều điều ước các loại mà Hoa Kỳ đã ký trong lịch sử phát triển của mình, trong đó có các điều ước về quan hệ hữu nghị, thương mại, hàng hải, đầu tư GATT/WTO, Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA)…Còn đối với Việt Nam, tuy đã ký 80 hiệp định thương mại, khoảng 40 hiệp định đầu tư song phương, tham gia vào cam kết trong các tổ chức khu vực như ASEAN, APEC, nhưng một hiệp định thương mại có tầm cỡ như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ là một hiệp định khá mới mẻ và phức tạp70

Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ bao gồm 7 chương với 72 điều: Thương mại hàng hóa (9 điều); Quyền sở hữu trí tuệ (18 điều); Thương mại dịch vụ (11 điều); Phát triển quan hệ đầu tư (15 điều); Tạo thuận lợi cho kinh doanh (3 điều); Các quy định liên quan tới tính minh bạch, công khai và quyền khiếu kiện (8 điều); Những điều khoản chung (8 điều) và cuối cùng là phần phụ lục

68 Phần này chúng tôi sẽ tóm tắt nội dung của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ dựa theo nội dung đầy đủ trong

Hiệp định giữa cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại , Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

69 Trần Nam Tiến (2010), Tlđd, Tr 89.

70 Nguyễn Văn Long (2001), “Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ một số đánh giá về tác động kinh tế -

xã hội đối với Việt Nam”, Nghiên cứu quốc tế, số 43, Tr 16.

Trang 30

Một số nội dung cơ bản của Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ:

Về thương mại hàng hóa: ngay sau Hiệp định có hiệu lực, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ được hưởng mức thuế MFN (Quy chế tối huệ quốc) trung bình khoảng 3% so với mức thuế hiện tại rất cao trên 40% Việt Nam cam kết cắt giảm mức thuế một số mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu và từng bước hủy bỏ hàng rào phi thuế quan để mở cửa thị trường hàng hóa Cụ thể, về thuế quan: trong vòng 3 – 6 năm sau khi hiệp định có hiệu lực, giảm trung bình 30% mức thuế suất của 224 mặt hàng và giữ nguyên mức thuế hiện hành đối với 20 mặt hàng; về quyền xuất nhập khẩu và quyền phân phối: trong vòng 3 – 10 năm cho phép kinh doanh xuất nhập khẩu hoặc phân phối đối với 225 nhóm hàng theo mã HS 4 số, tức khoảng 2890 mặt hàng theo mã số HS 8 số (bao gồm cả các nhóm mặt hàng Việt Nam đưa vào lịch trình những không cam kết); về giá trị tính thuế: sau hai năm sẽ thực hiện theo Hiệp định định giá hải quan (CVA) của WTO

Về sở hữu trí tuệ: Việt Nam nhất trí tuân thủ hoàn toàn các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) trong tất cả các lĩnh vực trong một khuôn khổ thời gian ngắn, bao gồm: việc bảo hộ bản quyền và nhãn hiệu hàng hóa trên cơ sở TRIPs được thi thi trong 18 tháng; Việt Nam đồng ý thực hiện những biện pháp bảo hộ mạnh

mẽ hơn trong một số lĩnh vực khác, như tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã dược

mã hóa, bảo hộ bản quyền đối với các động vật và thực vật, bảo hộ những dữ liệu kiểm tra bí mật được trình cho các chính phủ Đối với trường hợp bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình mã hóa, sẽ được thực hiện theo giai đoạn là 30 tháng

Về thương mại dịch vụ: Việt Nam từng bước mở cửa thị trường dịch vụ cho nước ngoài tham gia theo những quy định của Hiệp định về thương mại dịch vụ GATTs trong WTO Đặc biệt đối với dịch vụ viễn thông, Việt Nam cam kết một lộ trình từ 2 – 6 năm mới cho phép thành lập liên doanh 49% với dịch vụ viễn thông cơ bản, 50% với dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng Các liên doanh và công ty của Hoa

Kỳ kinh doanh tại Việt Nam sẽ phải thuê đường tục và cổng vào của các công ty cung cấp dịch vụ viễn thông của Việt Nam

Về đầu tư: Việt Nam cam kết trong vòng 9 năm từng bước thực hiện việc đăng

ký thay cho chế độ cấp giấy phép đầu tư, tuy nhiên bảo lưu đãi ngộ quốc gia đối với một số lĩnh vực nhạy cảm như văn hóa, vận tải, khai thác khoán sản Cụ thể về phía

Trang 31

Việt Nam là bảo lưu chế độ đối xử quốc gia theo một số lĩnh vực nhất định như đầu tư trong phát thanh truyền hình, ngân hàng, đánh bắt cá và hải sản, kinh doanh bất động sản…duy trì không giới hạn chế độ cấp giấy phép đầu tư với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định của thủ tướng chính phủ Tương ứng với các cam kết của Việt Nam, Hoa Kỳ cũng duy trì hoặc có thể ban hành một số ngoại lệ về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong những lĩnh vực như thủy sản, ngân hàng, vận tải, chứng khoán,

…Đây cũng là các ngoại lệ mà Hoa Kỳ duy trì đối với hầu hết các nước có các hiệp định song phương về đầu tư với Hoa Kỳ

Việc ký kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đã mở ra những cơ hội to lớn cho Việt Nam trong việc tăng trưởng xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó, việc hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) của Mỹ là một trong những lợi ích quan trọng đối với Việt Nam Và việc ký kết này cũng đánh dấu bước đột phá quan trọng của Việt Nam trong việc tiếp cận thị trường Mỹ, cũng như mở rộng quan hệ kinh tế thương mại quốc tế nói chung Đó cũng là một thắng lợi lớn trong quá trình binhf thường hóa hoàn toàn và đầy đủ quan hệ với Hoa Kỳ71

2.4 Việc thực thi Hiệp định thương mại Việt – Mỹ của cả hai phía

2.4.1 Phía Việt Nam

Việt Nam và Mỹ đã thực hiện một bước tiến quan trọng trong tiến trình bình thường hóa mối quan hệ kinh tế giữa hai nước khi Hiệp định Thương mại có hiệu lực

từ ngày 10/12/2001 Sau nhiều năm đàm phán, bắt đầu từ năm 1995, cho tới nay Hiệp định Thương mại là những trong những hiệp định thương mại song phương toàn diện nhất mà Việt Nam từng đàm phán và là một hiệp định hoàn toàn giống với các hiệp định thương mại tương tự mà Hoa kỳ từng đàm phán với các nước đang phát triển Đối với Việt Nam, một nước đang trong cải cách, đổi mới đất nước, bước đầu hội nhập kinh tế thế giới, việc thực thi hiệp định ý nghĩa này đòi hỏi những nỗ lực rất lớn

Cụ thể hơn, “Việt Nam ký kết Hiệp định Thương mại với một hệ thống pháp luật và chính sách còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi cơ cấu kinh tế kế hoạch tập trung và nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong các hoạt động kinh tế”72 Do vậy, để tuân thủ các tiêu

71 Lê Văn Quang (2005), Tlđd, Tr 218 – 219.

72 STAR Việt Nam – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007), Đánh giá tác động của 5 năm triển khai Hiệp định

thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đối với thương mại, đầu tư và cơ cấu kinh tế của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, Tr 37.

Trang 32

chuẩn quốc tế nêu trong Hiệp định Thương mại, Việt Nam phải thực hiện nhiều thay

đổi về luật pháp, quy định và các thủ tục hành chính, “theo Hiệp định Thương mại, Việt Nam cam kết thực hiện theo lộ trình, trong vòng 10 năm các thay đổi về luật pháp, chính sách, quy định và cải cách hành chính, chủ yếu theo các tiêu chuẩn của

tổ chức Thương mại thế giới WTO và các thông lệ quốc tế”73, trong đó các nghĩa vụ

pháp lý quan trọng đều phải thực hiện vào năm thứ hai cho đến năm thứ tư sau khi

hiệp định có hiệu lực (10/12/2001 – 10/12/2005) Theo ước tính của một báo cáo mà

Bộ Tư pháp thực hiện, khoảng gần 100 luật và quy định cần phải sửa đổi hoặc ban hành mới để đáp ứng các yêu cầu của Hiệp định Thương mại Và Hiệp định Thương mại cũng yêu cầu Việt Nam phải mở cửa cho các công ty Hoa Kỳ tiếp cận thị trường đối với trên 20 lĩnh vực dịch vụ và một số lĩnh vực đầu tư, giảm thuế xuất nhập khẩu MFN đối với 261 hạng mục thuế quan, và loại bỏ gần như toàn bộ các hạn ngạch nhập khẩu74 Bên cạnh đó, Việt Nam cũng phải thực hiện một số cam kết theo Hiệp định, chẳng hạn: trao đổi quy chế đối xử tối huệ quốc (NTR/MFN) và Đối xử quốc gia (NT) cho các công ty và công dân Mỹ; cải cách cơ chế và các thủ tục hải quan; không được

sử dụng các thủ tục hành chính và các quy chuẩn kĩ thuật vì mục đích bảo hộ; tự do hóa và đơn giản hóa các quyền kinh doanh; cải tiến các thủ tục giải quyết tranh chấp; tăng cường về cơ bản việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; tự do hóa thương mại dịch vụ;

tự do hóa và bảo hộ đầu tư nước ngoài; tạo thuận lợi hơn nữa cho kinh doanh; tăng cường minh bạch hóa các luật, quy định và thủ tục hành chính; xây dựng cơ chế khiếu kiện các quy định hành chính; áp dụng luật một cách thống nhất, vô tư và hợp lý75

Để đảm quá trình thực thi hiệp định thương mại Việt – Mỹ, trong Nghị quyết 48/2001/QH10 – Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

về việc phê chuẩn Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Quốc hội đã quy định:

“Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan tư pháp khẩn trương xây dựng chương trình hành động cụ thể, đồng bộ, tiến hành việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo lộ trình của Hiệp định, tăng cường hệ thống các

73 Lại Lâm Anh – Vũ Xuân Trường (2007), “Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt nam: thực trạng và triển

vọng”, Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 6 (134), Tr 60.

74 STAR Việt Nam – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007), Tlđd, Tr 37.

75 STAR Việt Nam – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007), Tlđd, Tr 38 – 41.

Trang 33

cơ quan tư pháp, hoàn thiện cơ chế chính sách, đào tạo nguồn nhân lực, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cần hiểu rõ các quy định của Hiệp định, ra sức mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng, hiệu quả của sản xuất và thương mại, sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Các tầng lớp nhân dân trong cả nước cùng các doanh nghiệp tăng cường nội lực của nền kinh tế đất nước”76 Quy định này góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhưng quy định của Hiệp định, để Việt Nam có thể tận dụng mọi thuận lợi mà Hiệp định đã mang lại, đồng thời tạo ra bước đệm vững chắc giúp chúng ta gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO.

Sau một năm thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam, chúng ta đã đạt được một số thành tựu nhất định trong việc điều chỉnh, cải cách hệ thống pháp luật, quy định, chính sách,…Trong Hội thảo “Nhìn lại năm đầu tiên thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ” do Ủy ban đối ngoại của Quốc hội tổ chức, các cơ quan, các bộ, ngành và các công ty lớn đã tổng kết và đưa ra báo cáo của mình về việc thực hiện những quy định của Hiệp định

Trong lĩnh vực lập pháp, một lĩnh vực quan trọng hàng đầu đối với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Hiệp định Thương mại, chúng ta đã có nhiều động

thái tích cực để sửa đổi, bổ sung nhiều quy định trong hệ thống pháp luật “Tổng hợp kết quả rà soát của các Bộ ngành, đối chiếu với các quy định của Hiệp định với 130 văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam, Bộ Tư Pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ một lịch trình cần làm xong trong hai năm 2002 đến 2004 trong đó cần sửa đổi, bổ sung 24 văn bản trong đó có 8 bộ luật và luật, 4 pháp lệnh; cần ban hành mới

29 văn bản trong đó dự kiến có 4 luật và 11 pháp lệnh; dự kiến hủy bỏ 1 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 5 Quyết định cấp Bộ; cần tham gia 5 Điều ước quốc tế mới và sửa đổi bảo lưu 1 Điều ước đã ký kết”77

Những yêu cầu do Hiệp định đặt ra đối với hệ thống luật pháp của Việt Nam đã được Quốc hội tính đến trong kế hoạch xây dựng luật và pháp lệnh năm 2003 và trong

76 “Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc phê chuẩn Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ”, nguồn: thuvienphapluat.vn.

77 Quốc hội khóa XI - Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (2003), Kỷ yếu hội thảo Nhìn lại năm đầu tiên thực hiện

Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (Hà Nội, 21/3/2003), Nxb Thế giới, Tr 37.

Trang 34

Chương trình xây dựng pháp luật trong nhiệm kỳ thứ XI Tính đến 28/2/2003: Quốc hội đã thông qua hai luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

Ủy ban Thường vụ quốc hội đã ban hành bảy pháp lệnh: Pháp lệnh Quảng cáo, Pháp lệnh Giá, Pháp lệnh Đối xử tối huệ quốc và Đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế, Pháp lệnh về các biện pháp tự vệ trong thương mại hàng hóa đối với nước ngoài, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân và Pháp lệnh Trọng tài thương mại78

Bênh cạnh đó Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung và ban hành mới 10 Nghị định79:

1 Nghị định 86/2001/NĐ-CP ngày 16/11/2001 về điều kiện kinh doanh một số ngành nghề thủy sản

2 Nghị định 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 Quy định chi tiết Pháp lệnh luật sư

3 Nghị định 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 Quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan

4 Nghị định 102/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

5 Nghị định 33/2002/NĐ-CP ngày 28/03/2002 Quy đinh chi tiết thi hành Pháp lệnh Bí mật Nhà nước

6 Nghị định 57/2002/NĐ-Cp ngày 03/06/2002 Quy định chi tiết Pháp lệnh phí

và lệ phí

7 Nghị định 60/2002/NĐ-CP ngày 06/06/2002 về trị giá tính thuế hải quan

8 Nghị định 87/2002/NĐ-CP ngày 15/11/2002 Về hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ tư vấn

9 Nghị định 61/2002/NĐ-CP ngày 11-06-2002 về chế độ nhuận bút

10 Nghị định 107/2002/NĐ-CP ngày 23-12-2002 Quy định phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; quan hệ phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vị khác vi phạm pháp luật hải quan

78 Quốc hội khóa XI - Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (2003), Tr 37.

79 Quốc hội khóa XI - Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (2003), Tr 61.

Trang 35

Đối chiếu với lịch trình do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, quá trình sửa đổi

và ban hành các văn bản pháp luật đã không đạt được tiến độ đề ra Vẫn còn nhiều văn bản cần đổi sửa đổi, sổ sung cho phù hợp với Hiệp định Thương mại80:

- 5 luật: Luật Thủy sản (mới), Bộ luật Tố tụng Dân sự (mới), Luật Thương mại (sửa đổi,

bổ sung), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân (mới), Luật Cạnh tranh (mới)

- 7 pháp lệnh: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (sửa đổi, bổ sung), PHáp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (sửa đổi, bổ sung), Pháp lệnh Kiểm toán (mới), Pháp lệnh Vệ sinh, An toàn Thực phẩm (mới), Pháp lệnh Giống cây trồng (mới), Pháp lệnh Giống vật nuôi (mới)

5 Nghị định 76/CP ngày 29/11.1996 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một

số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi, bổ sung)

6 Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài (sửa đổi, bổ sung)

7 Nghị định 57/CP ngày 31/5/1997 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường chất lượng hàng hóa (sửa đổi, bổ sung)

8 Nghị định 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 về Giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp tư nhân theo hướng cho nhà đầu tư nước ngoài mua, nhận khoán kinh doanh, quản lý, thuê các doanh nghiệp trong nước (sửa đổi, bổ sung)

9 Nghị định về Bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp (mới),

10 Nghị định về Hành nghề kiến trúc (mới)

11 Nghị định về Công báo (mới)

80 Quốc hội khóa XI - Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (2003), Tr 38, 62 – 63.

Trang 36

12 Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh chất lượng hàng hóa (sửa đổi, bổ sung).

13 Nghị định quy định các biện pháp kiểm soát biên giới và thủ tục xử lý các

vi phạm về sở hữu trí tuệ tại biên giới (mới)

14 Nghị định quy định các biện pháp kiểm soát thị trường và thủ tục xử lý các

vi phạm về sở hứu trí tuệ trong hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ (mới)

15 Nghị định về sáng kiến, cải tiến kỹ thuật (sửa đổi, bổ sung)

Một điểm đáng chú ý nữa là trong năm 2002, Việt Nam vẫn chưa ký kết hay tham gia bất kì Công ươc quốc tế nào theo yêu cầu của Hiệp định Có thể thấy, quá trình thực thi Hiệp định trong năm đầu tiên của Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn Thực trạng đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau Nhưng nguyên nhân chủ yếu là do trước khi kí Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, phía Việt Nam vẫn chưa từng tham gia bất kì một hiệp định song phương nào mà những nguyên tắc của nó được xây dựng dựa trên những quy định của WTO Chính vì vậy, hệ thống pháp luật của nước ta

có khá nhiều điểm cần được thay đổi để phù hợp với những quy định đó Việc thay đổi một số lượng lớn các quy định trong hệ thống pháp luật, đòi hỏi một quá trình lâu dài

và nhiều công sức bỏ ra, điều đó có thể lý giải cho việc, sau một năm thực thi Hiệp định, nước ta vẫn còn khá nhiều điều chưa thực hiện được

Quá trình thực thi Hiệp định Thương mại vẫn tiếp tục được đẩy mạnh tiến hành

trong các giai đoạn sau đó, “Chính phủ Việt Nam đã thực hiện các chương trình phát triển pháp luật và tư pháp quan trọng trên diện rộng, tiến hành cải cách hành chính công và chống tham nhũng”81 Và cho đến năm 2006, Việt Nam đã đạt được nhiều

thành tựu quan trọng về cải cách pháp luật cơ bản theo yêu cầu của Hiệp định:

Bảng 3: Các cải cách pháp luật cơ bản theo yêu cầu trực tiếp và gián tiếp của Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được tiến hành trong giai đoạn

2002 – 200682.

Năm năm trước Thực trạng hiện nay Các cải cách đã thực hiện được

Không có khung pháp lý

bảo đảm cho việc không Có các quy định mới về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc Pháp lệnh về đối xử MFN/NT và các quy

81 STAR Việt Nam – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007), Tlđd, Tr 43.

82 STAR Việt Nam – Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007), Tlđd, Tr 44 – 47.

Ngày đăng: 24/06/2016, 16:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng”, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nguồn: dangcongsan.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng”, "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
2. Cù Chí Lợi (2010), “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hướng tới mối quan hệ chiến lược”, Châu Mỹ ngày nay, số 8, Tr. 37 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hướng tới mối quan hệ chiến lược”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Cù Chí Lợi
Năm: 2010
3. Cục xúc tiến thương mại – Công ty truyền thông – TM – DV Nhịp Cầu Việt (2010), 15 năm quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Nxb. Tổng hợp, TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: 15 năm quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
Tác giả: Cục xúc tiến thương mại – Công ty truyền thông – TM – DV Nhịp Cầu Việt
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp
Năm: 2010
4. Đỗ Đức Định (2000), Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ, Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ
Tác giả: Đỗ Đức Định
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2000
5. Đỗ Đức Định (2014), “Việt Nam – Mỹ từ bình thường hóa đến đối tác toàn diện”, Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 2 (214), Tr. 65 – 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam – Mỹ từ bình thường hóa đến đối tác toàn diện”, "Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
Tác giả: Đỗ Đức Định
Năm: 2014
6. Hà Mỹ Phương (2008), “Quan hệ Việt – Mỹ những năm đầu thế kỷ 21: Một vài nhận xét và thực trạng và dự báo triển vọng”, Nghiên cứu Quốc tế, số 75, Tr. 9 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt – Mỹ những năm đầu thế kỷ 21: Một vài nhận xét và thực trạng và dự báo triển vọng”, "Nghiên cứu Quốc tế
Tác giả: Hà Mỹ Phương
Năm: 2008
7. Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
8. Hoàng Xuân Hòa (2005), “Đặc điểm thị trường và những điều chỉnh trong chính sách thương mại của Mỹ”, Châu Mỹ ngày nay, số 1, Tr. 12 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm thị trường và những điều chỉnh trong chính sách thương mại của Mỹ”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Hoàng Xuân Hòa
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 6: Một số hàng chế tác xuất khẩu sang Mỹ giai đoạn 2002 – 2006 95 - Quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
Bảng 6 Một số hàng chế tác xuất khẩu sang Mỹ giai đoạn 2002 – 2006 95 (Trang 45)
Bảng 7 : Các mặt hàng sơ chế xuất khẩu sang Mỹ giai đoạn 2001 – 2006 96 - Quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
Bảng 7 Các mặt hàng sơ chế xuất khẩu sang Mỹ giai đoạn 2001 – 2006 96 (Trang 47)
Bảng 9: Đầu tư đăng kí của Hoa Kỳ vào Việt Nam giai đoạn - Quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
Bảng 9 Đầu tư đăng kí của Hoa Kỳ vào Việt Nam giai đoạn (Trang 51)
Bảng 11: Vốn đầu tư của Hoa Kỳ theo ngành (Dự án còn hiệu lực đến - Quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
Bảng 11 Vốn đầu tư của Hoa Kỳ theo ngành (Dự án còn hiệu lực đến (Trang 53)
Bảng 12: Đầu tư của Hoa Kỳ theo hình thức đầu tư (Dự án còn hiệu lực - Quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
Bảng 12 Đầu tư của Hoa Kỳ theo hình thức đầu tư (Dự án còn hiệu lực (Trang 54)
Hình 1: Lễ kí Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ - Quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
Hình 1 Lễ kí Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ (Trang 71)
Hình 2: Ông Bill Clinton – Tổng thống Mỹ khi đó họp báo công bố việc Hiệp  định thương mại Việt – Mỹ đã được ký kết hồi 16h ngày 13/7/2000 - Quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
Hình 2 Ông Bill Clinton – Tổng thống Mỹ khi đó họp báo công bố việc Hiệp định thương mại Việt – Mỹ đã được ký kết hồi 16h ngày 13/7/2000 (Trang 71)
Hình 3: Cựu Tổng thống Bill Clinton tiếp ông Nguyễn Đình Lương (Trưởng phái  đoàn đàm phán của Việt Nam) tại Nhà Trắng ngày 13/7/2000 - Quá trình đàm phán, kí kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
Hình 3 Cựu Tổng thống Bill Clinton tiếp ông Nguyễn Đình Lương (Trưởng phái đoàn đàm phán của Việt Nam) tại Nhà Trắng ngày 13/7/2000 (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w