Các nền kinh tế đang phát triển được khoảng 5% trong năm nay, so với mức tăng trưởng 1,2% của các nước phát triển.. IMF kêu gọi các ngân hàng trung ương tại các nước phát triển hiện đố
Trang 1TS NGUYỄN MINH PHONG DT.0912.266.399
- - Phó Vụ trưởng-Phó Ban TT.Lý luận-Báo Nhân dân Phó Vụ trưởng-Phó Ban TT.Lý luận-Báo Nhân dân
- - Giảng viên kiêm nhiệm ĐH Kinh tế-ĐHQG HN Giảng viên kiêm nhiệm ĐH Kinh tế-ĐHQG HN
Trang 2NỘI DUNG CHÍNH
I Những xu hướng kinh tế thế giới 2013
II Điểm nhấn kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm
II Triển vọng & giải pháp những tháng cuối năm 2013
Trang 3I BỐN XU HƯỚNG KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2013
Về tổng thể, năm 2013 là năm đáy khó khăn chung của kinh tế thế
giới và của Việt Nam Các dự báo kinh tế thường xuyên bị điều chỉnh theo hướng giảm xuống với những điểm nhấn nổi bật sau:
Thứ nhất, xu hướng cải thiện nhẹ về tăng trưởng kinh tế sẽ
đậm dần ở hầu hết các khu vực, khối và quốc gia trước khi đạt mức bình thường trong giai đoạn 2014-2015 và tiếp theo
Trong đó: Mỹ và Nhật sẽ nổi lên, Trung Quốc, Đức, Pháp đang trì trệ hơn
Tháng 4.2013, IMF hạ dự báo GDP toàn cầu cả năm 2013 còn 3,3%( so với 3,5% đưa ra hồi tháng 1.2013); các nước phát triển là 1,2% (1,3%) và ĐPT là 5,3%(5,5%); Thương mại toàn cầu tăng trưởng 3,3% (PT: 1,5% và ĐPT là
5,5%); FDI phục hồi nhẹ, đạt 1400 ty USD
Báo cáo cập nhật Triển vọng kinh tế toàn cầu công bố 9/7/2013, Quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo, kinh tế toàn cầu năm 2013 sẽ tăng trưởng
khoảng 3,1%, không đổi so với năm 2012, nhưng thấp hơn dự báo 3,3%
đưa ra hồi tháng 4/2013 Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2014 được dự
Trang 4
Tháng 6.2013, WB giảm dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc từ
8,4% xuống còn 7,7% cho năm 2013
eurozone sẽ âm - 0,6% (-0,3%) Nhật Bản 2%, cao hơn dự báo trước
đó là 1,6% Các nền kinh tế đang phát triển được khoảng 5% trong năm nay, so với mức tăng trưởng 1,2% của các nước phát triển
Theo đánh giá của IMF, rủi ro với triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn
cầu vẫn còn Đặc biệt các nền kinh tế mới nổi tăng trưởng chậm lại khi Mỹ giảm kích thích tiền tệ khiến dòng vốn đảo chiều
IMF kêu gọi các ngân hàng trung ương tại các nước phát triển hiện
đối mặt với lạm phát thấp, kinh tế trì trệ nên tiếp tục bơm kích thích cho tới khi đà phục hồi bền vững Trong khi đó, các nền kinh tế đang
Trang 5 Theo đánh giá của IMF, rủi ro với triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn
cầu vẫn còn đặc biệt các nền kinh tế mới nổi tăng trưởng chậm lại khi
Mỹ giảm kích thích tiền tệ khiến dòng vốn đảo chiều
IMF kêu gọi các ngân hàng trung ương tại các nước phát triển hiện
đối mặt với lạm phát thấp, kinh tế trì trệ nên tiếp tục bơm kích thích cho tới khi đà phục hồi bền vững Trong khi đó, các nền kinh tế đang phát triển cần cảnh giác với các rủi ro tài chính trong trường hợp Cục
dự trữ liên bang Mỹ (Fed) giảm dần kích thích tiền tệ
Thứ hai, xu hướng thất nghiệp và nợ công cao sẽ còn tiếp diễn , thất
nghiệp ở Mỹ giảm, khoảng 8%, Hy lạp25-27%, đóng cửa đài THQG vì hết tiền.
Thứ ba, xu hướng nới lỏng tài chính-tiền tệ và áp lực lạm phát sẽ tiếp
Trang 6
II Điểm nhấn kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm 2013
* Các chỉ tiêu chủ yếu của năm 2013 bao gồm:
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 5,5%;
- Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 6-6,5%;
- Kim ngạch xuất khẩu tăng 10%; tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch
xuất khẩu khoảng 8%;
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm 2%, riêng các huyện nghèo giảm 4%
- Dự toán ngân sách nhà nước 2013:
- Dự toán thu nội địa: 545.500 tỷ đồng
- Dự toán thu từ dầu thô: 99.000 tỷ đồng
- Thu cân đối từ xuất nhập khẩu: 157.500 tỷ đồng
- Thu viện trợ: 5.000 tỷ đồng
Trang 7Nghị quyết 01/NQ-CP 7.1.2013 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013, gồm 9 giải pháp lớn:
Thứ nhất, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát
Thứ hai, tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển SXKD (riêng NQ
02 và Giải Nhất báo chí quốc gia lần VII-2012 về chủ đề này-MP)
Thứ ba, đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền
kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Thứ tư, bảo đảm an sinh-xã hội và cải thiện đời sống nhân dân
Thứ năm, phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ
Thứ sáu, tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi
trường, phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thứ bảy, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, phòng chống tham nhũng, lãng phí, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng đời sống văn hóa
Thứ tám, bảo đảm quốc phòng an ninh và ổn định chính trị, xã hôi; nâng
Trang 819.2.2013, Thủ tướng ký quyết định số 339/QĐ-TTg phê duyệt
Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế
2013-2020
phân bố và sử dụng nguồn lực xã hội chủ yếu theo cơ chế thị
trường, phát huy lợi thế cạnh tranh, nâng cao năng suất lao
động, năng suất các yếu tố tổng hợp và năng lực cạnh tranh
Hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý trên cơ sở cải thiện, nâng cấp trình độ phát triển các ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế; phát triển các ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng cao từng bước thay thế các ngành công nghệ thấp, giá trị gia tăng thấp để trở thành các ngành kinh tế
chủ lực Đồng thời, từng bước củng cố nội lực của nền kinh tế,
chủ động hội nhập quốc tế và củng cố vị thế quốc gia trên
trường quốc tế, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh
Trang 9 Đẩy mạnh 3 trọng tâm tái cơ cấu kinh tế và các ngành sản xuất, dịch vụ, điều chỉnh chiến lược thị trường, tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế; tái cơ
cấu, xây dựng và phát triển vùng kinh tế hợp lý Phát triển CN phụ trợ, sản xuất nông nghiệp theo hướng tăng quy mô, hiện đại, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và bền vững kết hợp với xây dựng nông thôn mới; Phát huy lợi thế của từng vùng, đa dạng về ngành, nghề và trình độ phát triển; kinh tế biển chiếm 50-55% GDP vào năm 2020 (Việt Nam đã đứng thứ 11 về khai thác thủy sản, thứ 3 về nuôi thủy sản, thứ 4 trong 10 nước hàng đầu thế giới về giá trị xuất khẩu thủy sản đến 164 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới)
Bảo đảm tổng đầu tư xã hội khoảng 30 - 35% GDP (đầu tư nhà nước khoảng
35 - 40% tổng đầu tư xã hội; dành khoảng 20 - 25% tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển), duy trì hợp lý các cân đối lớn: tiết kiệm, đầu tư và tiêu
dùng, ngân sách nhà nước, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế,
nợ công và nợ nước ngoài quốc gia,
Trang 10KINH TẾ VIỆT NAM 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2013
mới Đây được coi là năm đáy của nền kinh tế trước khi sẽ hồi
phục nhẹ vào thời điểm từ cuối năm 2013 và đầu năm 2014.
trước là 4,93%, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,07%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,18%, dịch
vụ tăng 5,92% Tốc độ tăng trưởng GDP quý II/2013 ước đạt 5%, cao hơn mức tăng 4,76% của quý I/2013 Nền kinh tế đang dần phục hồi, hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các ngành, lĩnh vực khác đều đã có những chuyển biến tích cực, đúng hướng
Nhìn chung, nhiều DN, đặc biệt là khoảng 1/3 số DN vừa và nhỏ đang ở
tình trạng hết sức khó khăn về nợ xấu, hàng tồn kho, điều kiện tiếp cận
Trang 11 Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tám tháng đầu năm 2013 đã
xuất hiện những tín hiệu tích cực hơn, khi số lượng DN thành lập mới hoặc quay lại hoạt động gia tăng, đồng thời số doanh nghiệp gặp khó khăn có xu hướng chững lại,
8 tháng đầu năm 2013: cả nước có trên 52.400 DN đăng ký thành lập
mới và 39.400 doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động
(trong năm 2012 cả nước có hơn 69.500 DN đăng ký thành lập mới và hơn
58.000 DN phá sản hoặc dừng hoạt động; năm 2011 con số tương ứng là hơn 77.500 DN và 79.000 DN)
Số lượng DN thành lập mới trong bốn tháng đầu năm giảm 1,2%; năm
tháng tăng 4,8%; sáu tháng tăng 7,8% và tám tháng tăng 15,5% so cùng
kỳ năm truớc
Số DN đã quay trở lại hoạt động trong sáu tháng đầu năm đạt khoảng
9.300 DN
Trang 12 Các lĩnh vực có số lượng doanh nghiệp hồi phục nhanh là khu vực bán lẻ, hoạt động dịch vụ lao động việc làm, cho thuê máy móc thiết bị giáo dục đào tạo, y tế Trong đó, một số lĩnh vực lại có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ với sự đào thải cao như xây dựng, đường sắt, đường bộ, vận tải viễn thông
Khu vực tiếp tục khó khăn là ngân hàng, tài chính và nông, lâm, thủy
sản
Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/8/2013 toàn ngành công nghiệp chế biến,
chế tạo tăng 9% so với cùng thời điểm năm 2012 Tỷ lệ tồn kho bình
quân 7 tháng là 74,6% Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8/2013 tăng 2,6% so với cùng thời điểm năm trước Trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 1%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 0,1%; khu vực có vố đầu tư nước
Trang 13 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2013 tăng 0,05% so với tháng trước và tăng 6,69% so với
tháng 6/2012 và tăng trung bình tháng là 6,73% trong 12 tháng qua ở mức trung bình so với
các con số tương ứng của các tháng trước (tháng 5 tăng 6,36%, tháng 4 tăng 6,61%, tháng 3 tăng 6,64%, tháng 2 tăng 7,02%, tháng 1 tăng 7,07%, tháng 12/2012 tăng 6,81% ) CPI tháng 7/2013 đã tăng 0,27% so với tháng trước và tăng 2,68% so với tháng 12/2012 CPI tháng 8/2013 tăng 0,83% so với tháng trước; tăng 3,53% so với tháng 12/2012 và tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước CPI bình quân tám tháng đầu năm nay tăng 6,90% so với bình quân cùng kỳ năm 2012 Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung là: Thuốc
và dịch vụ y tế tăng cao với 4,11% (Dịch vụ y tế tăng 5,09%); giao thông tăng 1,11%; giáo dục tăng 0,9% (Dịch vụ giáo dục tăng 0,86%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,88% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm gồm: Hàng
ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,54% (Lương thực tăng 0,7%; thực phẩm tăng 0,62%); may mặc,
mũ nón, giày dép tăng 0,44%; hai nhóm đồ uống và thuốc lá và văn hóa, giải trí và du lịch đều tăng 0,27%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,22%; bưu chính viễn thông giảm 0,02% Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2013 tăng 0,06% so với tháng trước; tăng 1,59% so với tháng 12/2012; tăng 1,63% so với cùng kỳ năm 2012 Chỉ số giá vàng tháng 8/2013 tăng 0,32% so với tháng trước; giảm 20,17% so với tháng 12/2012; giảm 13,43% so với cùng kỳ năm trước
Trang 14 Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp
hơn mức tăng chung hoặc giảm gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,54% (Lương thực tăng 0,7%; thực phẩm tăng
0,62%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,44%; hai nhóm
đồ uống và thuốc lá và văn hóa, giải trí và du lịch đều tăng
0,27%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,22%; bưu chính viễn thông giảm 0,02% Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2013 tăng 0,06% so với tháng trước; tăng 1,59% so với tháng 12/2012; tăng 1,63% so với cùng kỳ năm 2012 Chỉ số giá vàng tháng 8/2013 tăng 0,32% so với tháng trước; giảm 20,17% so với tháng 12/2012; giảm 13,43% so với cùng kỳ năm trước
Tính đến 20/8/2013 tín dụng ước tính tăng 5,4% so với tháng
Trang 15 thu hút FDI được cải thiện hơn cả về vốn đăng ký, bổ sung,
vốn giải ngân và cơ cấu ngành, chủ đầu tư, ngược so với
2009-2012
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến
20/8/2013 đạt 12627,9 triệu USD, bằng 119,5% cùng kỳ năm
trước, bao gồm: Vốn đăng ký, bằng 92,2% số dự án và bằng 112,2% số vốn; vốn đăng ký bổ sung là 5223,3 triệu USD Vốn thực hiện tám tháng ước tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu năm nay tập trung chủ
yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 88,9%
tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản chiếm 4%; các ngành còn lại chiếm 7,1%
Trang 16 Điều này cho phép Việt Nam tự tin điều chỉnh chỉ tiêu thu hút tới
16,3 tỷ USD so với mức dự kiến 13-14 tỷ USD của kế hoạch đã
thông qua cho năm 2013 (nếu duyệt dự án hóa dầu Nhơn Hòa-Bình Định 27 tỷ USD thì sẽ khả quan hơn nhiều) dự án Công ty TNHH Samsung Việt Nam ở Thái Nguyên hơn 2 tỷ USD, chiếm 39,6% tổng lượng vốn đăng ký mới; dự án Công ty TNHH BusIndustrial Center ở Bình Định 1 tỷ USD
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng so với
cùng kỳ năm 2012, nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 5,1% Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ tăng 3,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng cao ở mức 21,6% Giá cả các mặt hàng nông sản có xu hướng giảm phần nào làm ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu nói chung Các doanh
Trang 17 EU vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 11,6
tỷ USD, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2012; tiếp đến là Hoa
Kỳ đạt 11 tỷ USD, tăng 18,5%; ASEAN đạt 9,3 tỷ USD, tăng
17,7%; Hàn Quốc đạt 3,1 tỷ USD, tăng 26,9%; Nhật Bản đạt 6,4 tỷ USD, giảm 0,9%; Trung Quốc đạt 6 tỷ USD, giảm 1,9%
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt
trên 17 tỷ USD, tăng 33,2%; ASEAN đạt 10,8 tỷ USD, tăng
5,3%; Hàn Quốc đạt 10,1 tỷ USD, tăng 39,8%; Nhật Bản đạt 5,6 tỷ USD, tăng 4,3%; EU đạt 4,7 tỷ USD, tăng 21,6%; Hoa Kỳ đạt 2,7 tỷ USD, tăng 14%
tiện vận tải và phụ tùng tăng từ 31,5% trong sáu tháng đầu
Trang 18 số khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt trên 2,9 triệu lượt
người, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước;
Một số nước có số lượng khách lớn đến nước ta nhưng giảm so
với cùng kỳ năm trước là: Nhật Bản 250,8 nghìn lượt người,
giảm 0,6%; Hoa Kỳ 194,3 nghìn lượt người, giảm 6,9%; Đài Loan 148,2 nghìn lượt người, giảm 22,6%; Cam-pu-chia 126,8 nghìn lượt người, giảm 11,2%
tỷ lệ thấp nghiệp xã hội tiếp tục tăng, cuối quý 1.2013 ở khu
vực thành thị là 3,4% và thiếu việc làm ở nông thôn là 4%, cao hơn cùng kỳ năm 2012 và tập trung trong ngành công nghiệp-xây dựng
Trang 19 năm tháng đầu năm nay, cả nước có 287,5 nghìn lượt hộ thiếu
đói, giảm 12,9% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với
1199,4 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 12,8% Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 19,4 nghìn tấn lương
thực và 11,5 tỷ đồng, riêng tháng Năm đã hỗ trợ 3,3 nghìn tấn lương thực và hơn 3 tỷ đồng
thu NSNN cũng tiếp tục có những áp lực, khi mà thực hiện dự
toán năm 2013 thì thu ngân sách hết tháng 8/2013 chỉ đạt
62%, bội chi NSNN 8 tháng đầu năm 102.000 tỷ đồng Áp lực cân đối NSNN còn bị gia tăng bởi nhiều nguy cơ bất ngờ về
hiện tượng thời tiết cực đoan và dịch bệnh trong chăn nuôi
Trang 20 Trái phiếu chính phủ “đắt hàng” (nhưng ế từ tháng 7.2013-bán
được 20%) và Nợ công vẫn tăng (theo cách tính chung của thế giới, nếu bao gồm cả nợ của DNNN tự vay hoặc được Chính phủ bảo lãnh, thì đã khoảng 100% GDP, chứ không phải vấn ở mức quốc hội cho phép như cách tính hiện nay của Việt Nam)
Trang 21 Điều đáng mừng là, theo Báo cáo thường niên về môi trường
kinh doanh năm 2013 của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được xếp thứ 99/185 quốc gia (năm 2011 đứng thứ 98/183 - tụt 8 bậc so với năm 2010) Đánh giá chi tiết của báo cáo này, VN xếp thứ 108 về mức độ thuận lợi cho khởi nghiệp, thứ 40 về tiếp cận tín dụng, thứ 169 về bảo vệ nhà đầu tư, thứ 138 về đóng thuế, thứ 74 về giao thương xuyên biên giới và thứ 28 về cấp phép xây dựng Lĩnh vực được đánh giá có cải cách là
thành lập doanh nghiệp với quy định cho doanh nghiệp được tự
in hóa đơn giá trị gia tăng
Trang 22 Trong báo cáo Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu (Global
Competitiveness Index - GCI) vừa được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 70/148 quốc gia
và vùng lãnh thổ, thăng 5 hạng so với năm ngoái, nhưng Việt Nam vẫn bị đánh giá là có năng lực cạnh tranh kém hơn so với nhiều quốc gia trong cùng khu vực Đông Nam Á được xếp
hạng, như Singapore (vị trí số 2), Malaysia (24), Brunei (26), Thái Lan (37), Indonesia (38) và Philippines (59) Các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á có xếp hạng sau Việt Nam là Lào (81), Campuchia (88) và Myanmar (139).
Trang 23 Báo cáo WEF Việt Nam đã có tiến bộ trong sự cải thiện trong
xếp hạng môi trường kinh tế vĩ mô (hạng 87, tăng 19 bậc); cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông và năng lượng, dù còn ở mức thấp (hạng 82, tăng 13 bậc) Tổ chức này cũng nêu
rõ, Việt Nam đã đạt tiến bộ về hiệu quả thị trường hàng hóa (hạng 74, tăng 17 bậc) Tuy nhiên, theo WEF, nền móng của nền kinh tế Việt Nam còn yếu, trong đó Việt Nam bị tụt hạng ở một số yếu tố đánh giá như hiệu quả thị trường lao động, phát triển thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng công nghệ…
Trang 24 Trên cơ sở GDP bình quân đầu người, báo cáo của WEF
cũng phân loại các quốc gia và vùng lãnh thổ vào ba giai đoạn phát triển bao gồm tăng trưởng dựa vào nguồn lực như lao động hay tài nguyên thiên nhiên, tăng trưởng dựa vào hiệu suất sản xuất, và tăng trưởng dựa vào
công nghệ đột phá Trong đó, Việt Nam được xếp ở giai đoạn đầu tiên GCI được WEF công bố từ năm 1979, dựa trên 70% dữ liệu khảo sát từ các doanh nghiệp tư nhân trên thế giới, 30% dữ liệu từ thống kê Có 141 tiêu chí được sử dụng để thực hiện đánh giá các quốc gia và
vùng lãnh thổ.
Trang 25 Tỷ giá ổn định là tín hiệu tích cực cho nền kinh tế và tỷ giá năm
2013 sẽ tăng không quá 2-3% so với cuối năm 2012 như cam kết của NHNN Tuy nhiên, thực tế mua-bán vượt trần tỷ giá ấn định vẫn xẩy ra và độ nóng của nó là tiềm tàng
năm 2011 đã được đẩy lùi Hoạt động hệ thống và thị trường nói chung hiện tương đối ổn định…
thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
(VAMC) có hiệu lực VAMC có vốn điều lệ 500 tỷ đồng do Nhà
nước nắm 100% vốn.
Trang 26 Ngày 26/7/2013, VAMC đã chính thức đi vào hoạt động và dự kiến, trong năm 2013, công ty này sẽ xử lý được từ 40 - 70 nghìn tỷ đồng nợ xấu.
Thông tin mới nhất từ Thanh tra Ngân hàng Nhà nước cho hay, đến hết tháng 5/2013, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng đã giảm về 4,65%, so với mức khoảng 6% được công bố hồi cuối tháng 2/2013 và 8% cuối năm 2012
Tuy nhiên, tính đến cuối tháng 7/2013 nợ xấu đã tăng nhẹ trở lại và
ở mức 4,58% Tỷ lệ này tương ứng với quy mô 138,98 nghìn tỷ đồng
Bộ Chính trị thông qua và Chính phủ phê duyệt đề án xử lý nợ xấu của hệ
thống các tổ chức tín dụng Trong đó, nguyên tắc xử lý nợ xấu là huy
động mọi nguồn lực trong xã hội và hạn chế sử dụng vốn ngân
sách để xử lý.
Trang 27 5 nhóm giải pháp đồng bộ xử lý nợ xấu và phòng ngừa, hạn chế nợ
xấu gia tăng trong tương lai cần triển khai từ nay đến năm 2015 được xác
định, gồm: nhóm giải pháp đối với tổ chức tín dụng, nhóm giải pháp đối với khách hàng của tổ chức tín dụng, nhóm giải pháp về cơ chế chính
sách, nhóm giải pháp về thanh tra, giám sát và giải pháp thành lập
Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).
tổng nợ xấu được xử lý bằng dự phòng rủi ro và đưa ra theo dõi ngoại bảng trong năm 2012 và 7 tháng đầu năm 2013 là 86,3
nghìn tỷ đồng (năm 2012 là 69,2 nghìn tỷ đồng và 7 tháng đầu năm
2013 là 17,1 nghìn tỷ đồng) Tổng số dư dự phòng còn lại đến cuối tháng 7/2013 là 75,05 nghìn tỷ đồng, tăng 10,85 nghìn tỷ so cuối năm 2012.
Theo Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình, cuối năm 2011, hệ thống đứng trước bờ vực nguy cơ đổ vỡ do nhiều ngân hàng bấp bênh về khả năng chi trả; nhiều trường hợp phải đi vay nóng có thế chấp trên liên ngân
Trang 28 Gần đây, hàng loạt động thái mới về hạ lãi suất ngân hàng (NH) đã
liên tiếp được ghi nhận, thể hiện những thay đổi phù hợp trong
nhận thức và hành động của ngành NH Chúng đang và sẽ góp
phần gỡ nút thắt tín dụng ngân hàng và tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực cho doanh nghiệp và cả NH
nước ghi nhận động thái mới: Các NH không chỉ chấm dứt cuộc
đua tăng và lách trần lãi suất huy động kéo dài trước đó, mà gần đây còn chủ động giảm lãi suất huy động dưới trần quy định.
Tính đến cuối tháng Sáu, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 3,8 -
4% so với cuối năm 2012 và gấp hai lần mức tăng cùng kỳ năm
Trang 29 Đồng loạt giảm lãi suất liên ngân hàng
1073/QĐ – NHNN đồng loạt hạ 1% các lãi suất chủ chốt, cụ thể: Lãi suất tái cấp vốn hạ từ 8%/ năm xuống 7%/ năm; lãi suất tái chiết khấu từ 6%/ năm xuống 5%/ năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên NH và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các NH từ 9% xuống 8%/ năm (thấp hơn 3-4 lần so với cuối năm 2011, khi nhiều ngân hàng phải đi vay nóng có thế chấp trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất từ 25 - 30%/năm, thậm chí
35%/năm); cho vay các tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng lãi suất giảm từ 12% xuống còn 11%/năm
Trang 30 Áp lại trần lãi suất cho vay
Đặc biệt, NHNN cũng quy định áp trở lại trần lãi suất cho vay ngắn
hạn tối đa của tổ chức tín dụng và chi nhánh NH nước ngoài đối với với 5 lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công
nghiệp hỗ trợ; doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp ứng dụng
công nghệ cao từ ngày 13/5 giảm từ 11%/ năm xuống 10%/ năm
Lãi suất cho vay các khoản vay cũ khác cũng phải kéo về mức tối đa 13%/ năm.
Hiện nay, lãi suất huy động của tổ chức tín dụng phổ biến ở các ngân
hàng thương mại Nhà nước không kỳ hạn từ 1-1,2%/năm, kỳ hạn từ
1 tháng đến dưới 6 tháng 5-6,8%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới
12 tháng khoảng 7%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng khoảng
Trang 31 lãi suất giao dịch bình quân bằng USD cũng có xu hướng tăng đối
với hầu hết các kỳ hạn; trong đó, lãi suất bình quân kỳ hạn từ
qua đêm đến 2 tuần và kỳ hạn 6 tháng tăng nhẹ, với các mức
tăng từ 0,01 điểm % (kỳ hạn 1 tuần) đến 0,06 điểm % (kỳ hạn 2 tuần); các kỳ hạn từ 1 tháng đến 3 tháng, lãi suất giao dịch bình quân có các mức tăng từ 0,24 điểm % đến 0,97 điểm % Trong tuần, không phát sinh giao dịch USD kỳ hạn 9 tháng; giao dịch kỳ hạn 3 tuần, 2 tháng và từ 12 tháng trở lên phát sinh không đáng
kể Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do Ngân hàng Nhà nước quy định là 0,25%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và 1,25%/năm đối với tiền gửi của dân cư Còn lãi suất cho vay USD phổ biến 4-7%/năm, trong đó các ngân hàng thương mại Nhà
nước là 4- 5%/năm đối với đối với ngắn hạn, 6-7%/năm đối với
Trang 32 Lãi suất cho vay VND cũng ổn định so với tuần trước, các tổ chức
tín dụng nghiêm túc thực hiện quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước Đối với nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước: lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên như
nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa,
công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở mức 7-9%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác khoảng 9- 10,5%/năm đối với ngắn hạn; trung và dài hạn khoảng 11,5-
12,8%/năm; trong đó, một số doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả đã được các ngân hàng thương mại cho vay với mức lãi suất chỉ 6,5-7%/năm Lãi suất cho vay ở các ngân hàng thương mại cổ
Trang 33 Quỹ tín dụng trung ương và mạng lưới hệ thống đã kết thúc tên
gọi từ 24/6 và chính thức chuyển sang hoạt động theo tên gọi
mới là Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam trên toàn quốc từ 1/7
và khai trương vào ngày 9/7 vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng,trụ sở chính Cầu Giấy, Hà Nội
cầu và cung cấp dịch vụ cho các Quỹ tín dụng nhân dân thành viên, Ngân hàng Hợp tác xã được nhận tiền gửi từ các tổ chức,
cá nhân khác và cho vay đối với các khách hàng không phải là Quỹ tín dụng nhân dân thành viên
Ngoài ra, ngân hàng còn được phát hành các loại giấy tờ có giá;
vay vốn trên thị trường tiền tệ trong và ngoài nước; tham gia
Trang 34 Họp báo ngày 8/7 "Tổng kết thực hiện chỉ thị 57 về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân”, từ 24/6, Quỹ tín dụng trung ương và mạng lưới hệ thống chính thức chuyển sang hoạt động trên toàn quốc theo tên gọi mới là
Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (thành lập 1/7 và khai trương vào ngày 9/7), vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng, có trụ sở chính tại đường Nguyễn Thị Định,
phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội Chức năng như NHTM.
viên, Ngân hàng Hợp tác xã được nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân khác và cho vay đối với các khách hàng không phải là Quỹ tín dụng nhân dân thành viên.
trong và ngoài nước; tham gia đấu thầu giấy tờ có giá; kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngoại hối, các sản phẩm phái sinh, kinh doanh vàng, đầu tư chứng khoán
Trang 35 Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trọng tâm là tập đoàn
kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015” ban hành
theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Tài chính đã có văn bản yêu cầu các tập đoàn kinh tế tăng
cường tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, tiết giảm chi phí quản
lý theo hướng tối thiểu bằng hoặc cao hơn so với thực hiện năm
2012, tập trung giảm giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp
Điện lực; Dệt may; Thuốc lá; Máy và Thiết bị Công nghiệp; Giấy; Hóa Chất đã thực hiện tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị thành viên.
4 tập đoàn và tổng công ty, gồm Điện lực; Dệt may; Than- Khoáng
Trang 36 Tính đến tháng 6/2013 có 66 tập đoàn, tổng công ty đã xây dựng đề
án tái cấu trúc trình bộ chủ quản và Thủ tướng; 44 đề án đã được phê duyệt.
Theo số liệu thống kê của 90 tập đoàn, tổng công ty, có 42 tập đoàn, tổng công ty đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư, ngân hàng với giá trị ước tính đến 30/9/2012 là
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) thoái vốn tại Eximbank là 4,44
tỷ đồng Tổng công ty Thép thoái vốn tại VietinBank là 61,5 tỷ đồng