Mục đích nghiên cứu luận án Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam, luận án trình bày và phân tích thực
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Về cơ sở lý luận, tại Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về thị trường xuất khẩu hàng hoá nói chung và hàng nông sản nói riêng Tuy nhiên, chưa có một
đề tài nào nghiên cứu về thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay khi Việt Nam đang hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực thông qua việc ký kết nhiều FTA chiến lược Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện khung lý thuyết về phát triển thị trường xuất khẩu làm cơ sở giải quyết các vấn đề thực tế là một yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay
Về thực tiễn, Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nhiều lợi thế và tiềm năng
về đất đai, lao động và điều kiện sinh thái cho phép phát triển sản xuất nhiều loại nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn Hàng nông sản xuất khẩu có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Xuất khẩu nông sản góp phần tạo nguồn vốn quan trọng để tiến hành công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực và lợi thế quốc gia, tạo ra công ăn việc làm, giữ
ổn định nền kinh tế đất nước, mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại và tăng cường vị thế kinh tế của Việt Nam trên thị trường thế giới
Theo số liệu của Bộ Công thương, hiện nay hàng nông sản của Việt Nam đã
có mặt tại nhiều nước trên thế giới, thâm nhập được các thị trường nhập khẩu nông sản như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc, trong đó thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam Tuy nhiên, thị phần hàng nông sản Việt Nam tại các thị trường này còn nhỏ bé và đang có sự phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc Điều này mang đến rất nhiều rủi ro cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam khi thị trường có biến động
Bên cạnh các thị trường truyền thống, hàng nông sản Việt Nam đã có mặt tại các thị trường ở khu vực Trung Đông, châu Phi nhưng mới ở mức độ thăm dò hoặc
Trang 2giới thiệu mặt hàng chứ chưa có thị phần ổn định và chưa nắm vững được kết cấu, sức mua cũng như kênh tiêu thụ của thị trường
Trong điều kiện Việt Nam ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nền kinh tế khu vực thông qua việc tham gia các FTA, hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ
và thách thức mới Một mặt, mở ra rất nhiều cơ hội cho hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam, đặc biệt là tại các thị trường mới thông qua cắt giảm thuế nhập khẩu Mặt khác, các hàng rào phi thuế quan có xu hướng tăng tại các thị trường này lại gây cản trở cho hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là phải nhanh chóng phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam Bên cạnh việc chủ động khai thác các thị trường mới để tránh rủi ro khi phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường hiện nay, xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận, duy trì và phát triển những thị trường truyền thống thông qua việc nâng cao chất lượng và giá trị các mặt hàng nông sản mà Việt Nam có lợi thế xuất khẩu Góp phần giải quyết vấn đề này về
phương diện lý luận và thực tiễn, tác giả quyết định chọn đề tài “Phát triển thị
trường xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam trong bối cảnh hiện nay” làm đề tài
luận án tiến sỹ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu luận án
Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam, luận án trình bày và phân tích thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản thời gian qua, chỉ ra được những thành công và hạn chế của hoạt động này cùng với các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế Từ đó, luận án sẽ đưa ra ra những mục tiêu, định hướng và giải pháp nhằm tiếp tục phát triển thị trường hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn 2030 góp phần triển khai đáp ứng mục tiêu Chiến lược phát
Trang 3triển xuất nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 của
Bộ Công thương
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục tiêu của luận án nêu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của một quốc gia Nghiên cứu kinh nghiệm về phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của một số nước trong khu vực và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phân tích thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2014 Đưa ra đánh giá về những thành công, những hạn chế của hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam thời gian qua
và nguyên nhân dẫn của hạn chế làm cơ sở cho các đề xuất giải pháp khắc phục
- Đưa ra các quan điểm, định hướng và đề xuất một số giải pháp và kiến nghị tiếp tục phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu về hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam thời gian qua
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Một là, luận án tập trung nghiên cứu các mặt hàng
nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (gạo, cà phê, cao su và hạt điều), hai là các thị trường xuất khẩu hàng nông sản chính của Việt Nam (Trung Quốc, Hoa Kỳ
và EU)
Về nội dung: Chủ yếu nghiên cứu thị trường và phát triển thị trường xuất khẩu
hàng nông sản từ mục tiêu vĩ mô của nhà nước, dưới giác độ thương mại xuất khẩu,
không đi sâu nghiên cứu các nội dung sản xuất và chế biến nông sản
Trang 4- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 đến 2014 (thời kỳ sau khủng hoảng kinh
tế thế giới) Đề xuất các giải pháp chính và kiến nghị nhằm phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam định hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án
Đề tài được thực hiện trên cơ sở tiếp thu kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây, có cập nhật thông tin để đánh giá và đề xuất sát thực hơn; đồng thời trên
cơ sở các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án còn sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp thống kê có so sánh đối chiếu kinh nghiệm của một số nước và thực tiễn của Việt Nam, đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, thống nhất, khả thi và minh bạch của hệ thống giải pháp đề xuất Cụ thể là:
- Phương pháp thống kê kinh tế: Được tác giả sử dụng sau khi thực hiện các
khảo sát thực tế, điều tra thu thập thông tin, lấy số liệu ở các địa phương, doanh nghiệp làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng tình hình phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam
- Phương pháp so sánh: Dựa trên các số liệu báo cáo thống kê, luận án sử
dụng phương pháp này nhằm so sánh, đánh giá thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam với các nước có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng với Việt Nam để rút ra những nhận xét, kinh nghiệm, mô hình tốt, củng cố cho việc đề xuất các giải pháp của luận án
- Phương pháp kế thừa, bổ sung: Tác giả sử dụng nguồn thông tin và số liệu
thứ cấp sẵn có về những vấn đề liên quan để tham khảo, bổ sung cho việc phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam Đề tài sử dụng phương pháp này
để cập nhật tình hình thực hiện cam kết của Việt Nam với WTO và lộ trình ký kết, thực hiện TPP để đề xuất giải pháp nhằm phát triển thị trường hàng nông sản của Việt Nam một cách sát thực, sáng tạo và khoa học
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia (chuyên sâu): Được tác giả sử dụng để
phỏng vấn, trao đổi, thảo luận với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, lãnh đạo
Trang 5các bộ ngành về các vấn đề liên quan đến thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay nhằm giúp cho đề tài đưa ra các giải pháp có tính khả thi cao
5 Những đóng góp khoa học của luận án
- Hệ thống hoá được một số lý luận cơ bản về vấn đề phát triển thị trường xuất khẩu hàng hàng nông sản Việt Nam Luận án đã hệ thống và tổng hợp các tài liệu trong, ngoài nước và đưa ra khái niệm, xác lập mô hình, nội dung, yếu tố ảnh hưởng và chỉ tiêu đánh giá hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản
- Luận án nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Trung Quốc và Thái Lan nhằm rút ra bài học hữu ích cho Việt Nam
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam giai đoạn 2008-2014, gắn với mốc hậu khủng hoảng kinh tế thế giới Đưa ra những nguyên nhân hạn chế hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
- Đề xuất những quan điểm, định hướng và giải pháp đối với Nhà nước và doanh nghiệp nhằm tiếp tục phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam đến 2020, tầm nhìn 2030
6 Ý nghĩa của luận án
Luận án được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế thế giới, kinh tế khu vực thông qua ký kết các hiệp định song phương và đa phương chiến lược Do vậy, những vấn đề đặt ra và giải pháp của luận án xuất phát từ thực tiễn sinh động Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở các trường đại học; là gợi ý hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách của Nhà nước; là cẩm nang nghiên
cứu thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận án kết cấu thành 04 chương:
Trang 6Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của một quốc gia
Chương 3: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam từ 2008 đến 2014
Chương 4: Phương hướng, quan điểm và giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về thị trường xuất khẩu
Trên thế giới, các nghiên cứu về thị trường xuất khẩu của các quốc gia đã được nghiên cứu khá nhiều Phần lớn các nghiên cứu này đều sử dụng mô hình
trọng lượng (gravity model) để phân tích
Năm 1962 Jan Tinbergen (Nhà kinh tế học người Hà Lan, từng đạt giải Nobel
kinh tế năm 1969) lần đầu tiên sử dụng một nghiên cứu tương tự như Định luật hấp
dẫn của Newton để mô tả tổng hợp về dòng chảy thương mại giữa hai nước là "Tỷ lệ thuận với tổng sản phẩm quốc gia (GDP) của các quốc gia và tỉ lệ nghịch với khoảng cách giữa chúng” Ban đầu, khoảng cách đồng nghĩa với khoảng cách địa lý
giữa hai nước, nhưng sau đó nó bao gồm nhiều hình thức như: Rào cản thương mại, chi phí vận chuyển, thuế nhập khẩu và các loại thuế, hợp đồng, thông tin hoặc phân phối chi phí [72]
Kể từ sau nghiên cứu của Tinbergen đến nay, Mô hình trọng lượng đã trở thành một trong những mô hình thực nghiệm thành công nhất trên thế giới Nó là sự hợp nhất giữa lý thuyết nền tảng về trọng lượng và thực tiễn để phân tích mối quan
hệ về thương mại giữa các nước, từ đó đưa ra những dự đoán phong phú, chính xác hơn trong tương lai
Anderson (1979) là một trong những nhà kinh tế học đầu tiên phát triển
một nền tảng lý thuyết vững chắc của mô hình trọng lượng Anderson phân biệt hàng hóa không chỉ theo ngành (ví dụ: hóa chất, sản phẩm gỗ, ) mà còn bởi nơi sản xuất chúng Trong mô hình của mình, Anderson giả định sản phẩm được phân biệt với nhau bởi nơi sản xuất (thường được biết đến là giả định
Trang 8Armington ) Do đó, xuất xứ của hàng hoá là rất quan trọng cho các đặc tính của sản phẩm Armington giả định rằng hai hàng hóa cùng loại nhưng có nguồn gốc từ các nước khác nhau có thể thay thế hoàn hảo nhu cầu Bằng cách xác định nhu cầu của những hàng hoá này, Anderson đã giúp để giải thích sự xuất hiện của biến thu nhập trong mô hình lực hấp dẫn, cũng như đưa biến này vào
mô hình trọng lượng Bergstrand (1985) cũng sử dụng cách tiếp cận này, tuy
nhiên ông đã nghiên cứu kỹ hơn về phía cung của nền kinh tế Kết quả cho thấy giá cả (có tính đến yếu tố lạm phát) là một biến bổ sung quan trọng để đưa vào
mô hình trọng lượng [73]
Tuy nhiên, trong mô hình cạnh tranh độc quyền của lý thuyết thương mại mới
(Helpman, 1987 và Bergstrand, 1989) đã đề cập đến cách tiếp cận khác để cung
cấp cơ sở lý thuyết cho mô hình lực trọng lượng Theo lý thuyết này, sự khác biệt giữa các sản phẩm do sản xuất từ các nước khác nhau được thay thế bằng sự khác biệt do sản phẩm được sản xuất từ các sông ty khác nhau Sự thành công trong thực nghiệm của mô hình trọng lựơng này đã hỗ trợ cạnh tranh độc quyền giải thích nguyên nhân của trao đổi thương mại nội ngành
Ngoài ra, có những cách tiếp cận khác để giải thích mô hình trọng lượng trong quan hệ thương mại giữa hai nước mà không phụ thuộc vào vấn đề chuyên
môn hoá Đại diện tiêu biểu là Haveman và Hummels (2004) [62] đã tính toán
các ảnh hưởng đến thương mại song phương do khoảng cách giữa hai nước như: Chi phí vận chuyển, chi phí thương mại khác hay các rào cản thương mại Trong nghiên cứu của Brun(2005), chi phí do khoảng cách còn gia tăng bởi hệ thống cơ
sở hạ tầng, giá dầu và cơ cấu thương mại
Năm 2011, Shirley Ye Sheng và Michael R Mullen trong tác phẩm A hybrid model for export market opportunity analysi (Mô hình kết hợp phân tích cơ hội thị trường xuất khẩu) [77] đã đề xuất một mô hình mới cho việc phân tích cơ hội
đối với thị trường xuất khẩu, kết hợp giữa sự tiếp thị- dựa trên chỉ số cơ hội thị
Trang 9trường tổng thể (OMOI) và nền kinh tế - dựa trên mô hình trọng lượng để đánh giá chính xác hơn tiềm năng của thị trường xuất khẩu Kết quả nghiên cứu cho thấy: Quy mô thị trường, cường độ kinh tế, khoảng cách địa lý và ngôn ngữ, và các hiệp định thương mại khu vực (RTA) là những yếu tố quan trọng để đưa ra
dự báo về tiềm năng của thị trường xuất khẩu Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò thay thế hoặc bổ sung cho mặt hàng xuất khẩu Bên cạnh đó, khoảng cách về văn hoá không phải là yếu tố quan trọng cho dự báo về xuất khẩu Mô hình nghiên cứu kết hợp này là sự mở rộng của mô hình OMOI cũ và được áp dụng chủ yếu cho các ngành công nghiệp chủ thể
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về Mô hình trọng lượng kể trên, còn một
số công trình tiêu biểu khác như:
Angrist JC, Pischke J-S (2008) Mostly harmless econometrics: an empiricist's companion (Kinh tế lượng học: Bạn đồng hành của những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm), Princeton University Press, Princeton Arkolakis
C, Costinot A, Andres Rodriguez-Clare A (2012) New Trade Models, Same Old Gains?(Mô hình kinh doanh mới: Vẫn là những thành tựu cũ?), American; Armington, PS (1969) A theory of demand for products distinguished by place
of production (Học thuyết về nhu cầu sản phẩm theo phân theo nơi sản xuất); Baier SL, Bergstrand JH (2001) The growth of world trade: tariffs, transport costs and income similarity (Tăng trưởng thương mại toàn cầu: Điểm tương đồng giữa thuế quan, chi phí vận chuyển và thu nhập) J Int.Econ; Baier SL, Bergstrand JH (2004) Economic determinants of free trade agreements (Những yếu tố kinh tế quyết định trong thoả thuận thương mại tự do) J Int Econ; Baier SL, Bergstrand JH (2007) Do free trade agreements actually increase members’ international trade? (Các thoả thuận thương mại tự do có thực sự làm tăng lợi ích thương mại quốc tế của các nước thành viên?)J.Int Econ; Baier SL, Bergstrand JH (2009) Bonus vetus OLS: a simple method for
Trang 10approximating international trade-cost effects using the gravity equation (Một phương pháp đơn giản nhằm ước tính sơ bộ các tác động liên quan đến chi phí thương mại quốc tế sử dụng mô hình lực hấp dẫn; Baldwin R, Taglioni D (2006) Gravity for dummies and dummies for gravity equations, NBER Working Paper; Bergstrand JH (1985) The gravity equation in international trade: some microeconomic foundations and empir- ical evidence (Mô hình lực hấp dẫn cân bằng trong thương mại quốc tế: Một số nền tảng kinh tế vi mô và bằng chứng thực nghiệm ) Rev Econ Stat; Bernard, Andrew B., Jonathan Eaton,
J Bradford Jensen, and Samuel S Kortum, (2003) "Plants and Produc- tivity in International Trade" (Các nhà máy và năng suất sản xuất trong thương mại quốc tế), American Economic Review; Bernard A, Jensen JB, Redding S, Schott P (2007) Firms in international trade (Các hãng trong thương mại quốc tế) J of Econ
Nghiên cứu về xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
Nghiên cứu của Adam McCarthy, 2013, “Vietnam: Economic Update
2013 and Prospects to 2020”, phân tích những thành tựu của nền kinh tế Việt
Nam trong quá trình hội nhập và dự báo triển vọng phát triển xuất khẩu nói chung, hoạt động xuất khẩu nông sản nói riêng tới năm 2020
Nghiên cứu về thị trường Việt Nam thuộc chương trình “The Export Market Development Grants (EMDG) scheme” của chính phủ Australia (2011)
đã sử dụng mô hình trọng lượng để luận giải, phân tích sự thay đổi hình thái và
cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO Giai đoạn đầu gia nhập WTO cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam chưa
có những đột phá lớn Tuy nhiên, sau một thời gian Việt Nam đã có khả năng sản xuất ra các sản phẩm mới, độc đáo mở ra cơ hội xâm nhập vào thị trường mới, thị trường “khó tính” như Mỹ, Nhật Bản, EU
Trang 11Trong bài viết “Trade Facilitation and Economic Development: A New Approach to Quantifying the Impact”, (2013) The World Bank Economic Review, 2013 đã
phân tích những nhân tố tạo thuận lợi cho thương mại và thương mại ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương Hiệu quả cảng biển, môi trường hải quan, môi trường pháp lý, và thương mại điện tử được sử dụng để xây dựng các chỉ số để đo lường dòng chảy thương mại Mối quan hệ giữa các chỉ số và dòng chảy thương mại được ước tính bằng cách sử dụng một mô hình hấp dẫn bao gồm thuế nhập khẩu
và các biến số tiêu chuẩn khác Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tăng cường hiệu quả cảng biển, những cải cách trong thủ tục hải quan và mở rộng sử dụng thương mại điện tử có ảnh hưởng lớn và tích cực đối với dòng thương mại Ngược lại, rào cản pháp lý ngăn chặn thương mại
The US- Vietnam Trade council, 2009, “Catalog of Legal Updates: Vietnam Trade Policy Regime” đã phân tích chính sách thương mại nói chung và
chính sách phát triển xuất khẩu nói riêng của Việt Nam, so sánh mức độ phù hợp với các cam kết của BTA và với các quy định của WTO
Theo UNCTAD/UNDP (2014), The training of trainers Course on “Selected Issues of the International Economic Agenda and Accession to TPP”, Hanoi,
Vietnam đã chỉ ra các xu hướng mới trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế hiện nay Đồng thời, phân tích những cơ hội và thách thức đối với các quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng khi tham gia TPP
Tháng 5/2010, chương trình nghiên cứu “Assess the impact of economic integration in ASEAN and APEC trade flows in the region” của trung tâm
Thương mại quốc tế ( ITC, WTO) đã áp dụng mô hình trọng lượng để tính toán tiềm năng thương mại cho các nền kinh tế đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi Tuy nhiên trong nghiên cứu này, Việt Nam chỉ được đề cập đến với
tư cách là nước nhập khẩu chứ không phải nước xuất khẩu
Tóm lại, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về thị trường xuất
Trang 12khẩu hàng hóa dựa trên phân tích Mô hình trọng lượng và vai trò của phát triển thị trường xuất khẩu đối với các nước đang phát triển Tuy nhiên, chưa có công trình nào liên quan đến phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của một nước, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển thị trường xuất khẩu các
mặt hàng chủ lực, Chính phủ đã phê duyệt quyết định 2471/QĐ - TTg ”Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011- 2020, định hướng đến năm 2030”
với những nội dung chủ yếu là phát triển sản xuất để tăng nhanh xuất khẩu, đồng thời đáp ứng nhu cầu trong nước; khai thác tốt lợi thế so sánh của nền kinh tế, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh xuất nhập khẩu và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết việc làm
và tiến tới cân bằng cán cân thương mại Đồng thời, xây dựng, củng cố các đối tác hợp tác chiến lược để phát triển thị trường bền vững; kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của quốc gia, lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị - đối ngoại, chủ động và độc lập tự chủ trong hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh
đó cần đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu Tích cực và chủ động tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; chú trọng xây dựng và phát triển hàng hóa có giá trị gia tăng cao, có thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước
Trên cơ sở định hướng Chiến lược xuất khẩu của Nhà nước, các Bộ ngành
đã có những công trình nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá nói chung và hàng nông sản như sau:
Về phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá
- Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KC.06.12/06-11, “Nghiên cứu các giải pháp đồng bộ để phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp,
Trang 13nông nghiệp chủ lực”, (2012) của Bộ Công thương Nội dung nghiên cứu chính
của đề tài là:
Xây dựng cơ sở lý luận liên quan đến việc thực hiện các giải pháp đồng
bộ nhằm phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông, công nghiệp chủ lực giai đoạn 2011-2020 Theo nội dung đề tài, sản phẩm chủ lực và sản phẩm xuất khẩu chủ lực được xác định dựa trên vai trò quan trọng của nó đối với nền kinh tế quốc dân, thể hiện thông qua 6 tiêu chí là khả năng đóng góp lớn cho giá trị tăng thêm GDP; khả năng chiếm lĩnh thị trường nội địa hoặc thế giới; sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước với giá hợp lý để tăng khả năng cạnh tranh; tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đạt giá trị tăng thêm cao trên một đồng vốn tài sản lưu động và một đồng vốn tài sản cố định Trên cơ sở này các tác giả đã xác lập được 10 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam để phân tích, trong đó đối tượng nghiên cứu trọng tâm là các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (dệt may, giày dép, dầu thô, điện tử và linh kiện điện tử ), còn các các mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu chủ lực được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm thuỷ sản, chăn nuôi, trồng trọt và lâm nghiệp
Đề tài phân tích tác động của khoa học công nghệ, các rào cản của thị trường xuất khẩu và hệ thống cơ chế chính sách kích thích phát triển sản xuất, xuất khẩu đến hiệu quả sản xuất các sản phẩm công, nông nghiệp chủ lực Xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế vĩ mô về mặt lượng trong sản xuất hàng công, nông nghiệp chủ lực gồm: Đánh giá theo quan điểm giá trị tăng thêm và tốc độ tăng trưởng; Đánh giá theo quan điểm chiếm lĩnh thị trường nội địa; Đánh giá theo quan điểm sử dụng lao động trong nước; Đánh giá theo quan điểm sử dụng vốn đầu tư phát triển; Đánh giá theo quan điểm sử dụng tài nguyên và nguyên liệu trong nước; Đánh giá theo quan điểm bảo vệ môi trường và đạt trình độ quốc tế; Đánh giá theo quan điểm nâng cao
Trang 14thu nhập lao động và đánh giá theo quan điểm thiết yếu đối với sinh hoạt và thiết yếu đối với sản xuất Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập tới các tiêu chí đánh giá hiệu quả phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá
Trong phần thực trạng công nghệ, năng lực sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm công, nông nghiệp chủ lực của Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2011 các tác giả chủ yếu phân tích năng lực sản xuất các sản phẩm công, nông nghiệp và chỉ ra sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam không được tăng lên tương xứng trong so sánh tương quan với thế giới; giai đoạn này Việt Nam không đạt được mục tiêu đưa ra trong Đề án 546 (Quyết định số 546/2006/QĐ-TTg) về phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 Tuy nhiên,
đề tài chưa nghiên cứu về thực trạng thị trường xuất khẩu và các chính sách, biện pháp được chính phủ, doanh nghiệp sử dụng để phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá nói chung và hàng nông sản nói riêng giai đoạn 2001-2011 Trên cơ sở thực trạng và triển vọng phát triển xuất khẩu hàng chủ lực của Việt Nam trong thời gian tới, đề tài đã đưa ra lộ trình phát triển của ngành nông nghiệp; công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến thực phẩm; công nghiệp cơ khí; ngành hoá chất; công nghiệp ngành ô tô – xe máy; công nghiệp thép- giấy- xi măng; công nghiệp đóng tàu; và công nghiệp cao su- nhựa giai đoạn 2011-2020 Để thực hiện được lộ trình đã xác lập, các tác giả
đề xuất các kiến nghị và 2 nhóm giải pháp đồng bộ để phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm công, nông nghiệp chủ lực Nhóm giải pháp đồng bộ phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm chủ lực bao gồm các biện pháp đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá các ngành, các lĩnh vực kinh tế của Việt Nam và hệ thống các giải pháp, chính sách thực hiện quy hoạch Nhóm giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế bao gồm xác định các sản phẩm chủ lực và định kỳ hàng năm tiến hành đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm chủ
Trang 15lực; nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm; và một số giải pháp vượt qua các rào cản thương mại
Như vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài khá rộng từ khâu sản xuất đến khâu xuất khẩu của tất cả các sản phẩm chủ lực của cả ngành công nghiệp và nông nghiệp Nhóm tác giả chủ yếu nghiên cứu về khía cạnh sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ của các các ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực chứ chưa đi sâu nghiên cứu về vấn đề thị trường xuất khẩu các mặt hàng nói chung và hàng nông sản nói riêng
- Để xác định những định hướng lớn về chính sách phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2010-2020, PGS.TS Nguyễn Văn Nam (Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Công thương) đã tiến hành nghiên
cứu đề tài độc lập cấp nhà nước “Chính sách và giải pháp phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn 2020”
Trong phần cơ sở lý luận, tác giả đã phân tích tầm quan trọng của thị trường trong chiến lược hướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển Phát triển thị trường xuất khẩu trong giai đoạn 2010-2020 cần tiếp tục duy trì chính sách đa thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu; mối quan hệ 2 chiều giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế cũng như giữa phạm trù xuất khẩu và nhập khẩu trong chiến lược tăng trưởng xuất khẩu
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam giai đoạn 2001-2011, tác giả đã đưa ra đánh giá tổng quát chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu; kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Từ đó, tổng kết được 9 bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong quá trình phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá thời gian qua
Trang 16Đề tài đưa ra dự báo về triển vọng xuất khẩu một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam (nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản; nhóm hàng công tiêu nghiệp tiêu dùng; nhóm hàng vật liệu xây dựng; nhóm hàng dầu mỏ và các khoáng sản kim loại; nhóm điện tử- tin học) và dự báo tiềm năng các thị trường nhập khẩu của Việt Nam Từ đó, tác giả đã xác định hệ thống các quan điểm, mục tiêu, phương hướng, giải pháp và chính sách về phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ giai đoạn tiếp theo đến năm
2020, các quan hệ quản lý và mô hình tổng thể về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam Hai nhóm giải pháp chính được đề tài đưa ra nhằm tiếp tục phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá là tăng cường phát triển nguồn hàng và các giải pháp về thị trường xuất khẩu
Đề tài chủ yếu cung cấp những nghiên cứu về sự hình thành các quan điểm, mục tiêu, phương hướng, các chính sách định hướng phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu gắn với mô hình hướng về xuất khẩu; các chính sách nhằm tạo lập môi trường vĩ mô và vi mô để tạo lập sự thuận lợi bình đẳng cho các chủ thể tham gia vào hoạt động mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu Tuy nhiên, đề tài chưa nghiên cứu chiến lược sản phẩm – thị trường để đưa ra những giải pháp phù hợp cho từng nhóm hàng xuất khẩu cụ thể
- Đề tài khoa học của Bộ Công thương, mã số 54.11.RD/HĐ-KHCN,
“Nghiên cứu luận cứ khoa học xây dựng chiến lược phát triển thương mại của Việt Nam thời kỳ 2011-2020”, (2012) đã cung cấp những luận cứ khoa học về
chiến lược xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam nhằm đáp ứng định hướng
và mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước
Tổng quan một số lý luận trong xây dựng chiến lược phát triển thương mại, đề tài đã phân định những khái niệm liên quan đến chiến lược phát triển cũng như làm rõ những nội dung của chiến lược phát triển thương mại ở nước
ta, quy trình và tổ chức thực thi chiến lược thương mại Vấn đề cốt lõi trong lý
Trang 17luận về chiến lược thể hiện ở tính định hướng chung, định hướng lớn, đề ra các mục tiêu (khái quát và cụ thể), quan điểm, phân tích bối cảnh phát triển và các giải pháp thực thi chiến lược của chính sách thương mại
Đề tài đã tổng kết, đánh giá tình hình xây dựng và thực hiện chiến lược thương mại của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tập trung đánh giá tình hình xây dựng và thực hiện chiến lược xuất nhập khẩu và chiến lược đề án phát triển thị trường nội địa Trong thời kỳ thực thi chiến lược này, Việt Nam đã đạt được những mục tiêu cơ bản, nhưng do tác động của bối cảnh trong nước và bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến khó lường đã khiến cho một số mục tiêu và định hướng của chiến lược không hoàn thành được trong thực tiễn
Từ những phân tích và dự báo bối cảnh trong nước và quốc tế có tác động tới quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển thương mại của Việt Nam thời kỳ 2011-2020, đề tài đã xây dựng những mục tiêu tổng quát và cụ thể; định hướng chung và định hướng cụ thể phát triển xuất, nhập khẩu và thương mại nội địa gắn với bối cảnh và kịch bản phát triển Tựu trung, những định hướng lớn là tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam có lợi thế so sánh; chú trọng nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của hàng hoá; kiểm soát nhập khẩu, kìm chế nhập siêu và phấn đấu cân bằng thương mại vào năm 2020; chuyển dịch cơ cấu thương mại hàng hoá và dịch
vụ theo hướng tăng tỷ trọng kim ngạch thương mại dịch vụ; gắn kết thị trường trong nước va thị trường thế giới; phát triển thương mại bền vững và giải quyết an sinh xã hội… Để thực hiện những định hướng trên, tác giả đã kiến nghị các nhóm giải pháp chung; giải pháp phát triển xuất, nhập khẩu và thương mại trong nước
Đề tài cung cấp những tư liệu nghiên cứu về quy trình xây dựng, điều chỉnh và thực thi chiến lược xuất nhập khẩu và thương mại trong nước gắn với những bối cảnh cụ thể Các tác giả chủ yếu nghiên cứu mô hình chiến lược phát triển cả
Trang 18thương mại quốc tế gắn liền thương mại nội địa, chưa nghiên cứu sâu về các chính sách phát triển thị trường xuất khẩu
- Đề tài khoa học cấp nhà nước “Luận cứ khoa học cho xây dựng chính sách xuất nhập khẩu bền vững của Việt Nam thời kỳ 2011-2020” (2013) của
PGS.TS Lê Danh Đĩnh, Viện Nghiên cứu Thương mại chủ nhiệm đề tài Đề tài đưa ra các căn cứ khoa học cho xây dựng chính sách xuất, nhập khẩu bền vững của Việt Nam Đánh giá thực trạng xuất, nhập khẩu và các chính sách xuất, nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2012 theo các tiêu chí phát triển bền vững, từ đó đưa ra những định hướng phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách xuất nhập khẩu bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011-2020 Phạm vi nghiên cứu của đề tài khá rộng cả về lĩnh vực xuất khẩu lẫn nhập khẩu của Việt Nam, chưa có sự cụ thể hoá trong một số ngành hàng xuất nhập khẩu trọng
điểm có tỷ trong xuất khẩu cao, có tiềm năng giá trị gia tăng cao
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Nghiên cứu kinh nghiệm lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu hàng hoá của một số nước Đông Á trong tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới và đề xuất biện pháp áp dụng cho Việt Nam”,
mã số 10.13.RD/HĐ-KHCN của Bộ Công thương đã nghiên cứu những nội dung
chính sau:
Các tác giả làm rõ một số vấn đề lý luận về lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu hàng hoá trong tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới: Vai trò của việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu; Cơ sở lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu; và các chính sách lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu trong tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới
Đề tài tập trung phân tích kinh nghiệm lựa chọn thị trường và sản phẩm xuất khẩu của một số nước Đông Á (Thái Lan, Trung Quốc và Nhật Bản) trong tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới ; và rút ra bài học thành công và chưa thành công trong việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu cho Việt Nam
Trang 19Phân tích và đánh giá thực trạng lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2008-2012, chỉ rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Nhật Bản, Trung Quốc và Thái Lan và thực trạng lựa chọn sản phẩm, thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2008-2012, các tác giả đã tìm ra các bài học
có thể vận dụng cho Việt Nam trong việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu giai đoạn 2013-2020
Đề tài đã cung cấp những nghiên cứu về cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm của các nước trong khu vực Đông Á trong việc lựa chọn sản phẩm và thị trường trong thời kỳ khủng hoảng Tuy nhiên, các hàng hoá nghiên cứu trong đề tài khá rộng từ các sản phẩm công nghiệp đến các sản phẩm dịch vụ, nông nghiệp Hơn nữa, trong bối cảnh mới hiện nay nền kinh tế thế giới đã và đang từng bước phục hồi cùng với các hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn cần các nghiên cứu về thị trường xuất khẩu cập nhật hơn, phù hợp
hơn với thực tiễn
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Nghiên cứu, điều tra và
dự báo thị trường xuất khẩu cho một số chủng loại nông, lâm, thuỷ sản” , mã
số.06.13 NN do TS Trần Công Sách (Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương) chủ nhiệm đã tập chung điều tra thực trạng và dự báo thị trường các nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản để xây dựng chiến lược và cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp mà không đi sâu nghiên cứu các giải pháp vĩ mô nhằm phát triển thị trường cho các mặt hàng nông sản xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam
- Trong đề án “Phát triển thị trường xuất khẩu giai đoạn 2007-2015” do
Bộ Công thương thực hiện có phân tích, đánh giá những yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với việc phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá
Trang 20nói chung Nội dung cơ bản của đề án là tập trung xây dựng một cơ chế quản
lý, điều hành xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá ổn định, lâu dài phù hợp với các cam kết quốc tế
Nghiên cứu về hàng nông sản xuất khẩu
- Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam”, mã số KX.01.16/06-10 do PGS.TS Đinh Văn Thành làm chủ biên đề cập đến
những nội dung sau:
Phần lý luận làm rõ khái niệm và phân loại về chuỗi giá trị toàn cầu, phương thức tham gia vào chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu, đồng thời đưa
ra các tiêu chí xác định năng lực tham gia của các tác nhân kinh tế vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu
Các tác giả đã phân tích thực trạng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu một
số nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là : Gạo, cà phê, chè, hạt tiêu, hạt điều, hoa tươi, trái cây và thịt Kết quả đạt được là nhìn chung các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và hiện nay một số hàng nông sản của Việt Nam đã tạo ra những chuỗi giá trị riêng biệt, tham gia được vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi toàn cầu như chuỗi cà phê của Vinacafe, chuỗi thanh long Bình Thuận…Tuy nhiên, năng lực nhận thức và tham gia vào chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu của các tác nhân trong nền kinh tế còn hạn chế dẫn đến các chuỗi giá trị của Việt Nam có quy mô nhỏ và vị thế thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam chủ yếu tham gia vào khâu trồng trọt
Trên cơ sở xu hướng phát triển của chuỗi giá trị nông sản toàn cầu và điều kiện cụ thể của Việt Nam, các tác giả đã xây dựng quan điểm và định hướng tăng cường năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu theo hướng ưu tiên chủ yếu là: Phát triển các chuỗi giá trị riêng biệt đối với một số ngành hàng có thể
Trang 21đi tắt, đón đầu không nhất thiết phải leo theo các nấc thang gia tăng của chuỗi; Phát triển công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ; Nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn của thị trường quốc tế Để tăng cường năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của hàng nông sản, các tác giả đã
đề xuất nhóm giải pháp chung đối với toàn ngành hàng và các giải pháp đối với các mặt hàng cụ thể
Với nội dung tương tự, đề tài “Phát triển chuỗi cung ứng hàng nông sản xuất khẩu chủ lực” (2015) do TS Nguyễn Văn Long chủ biên cũng nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực trạng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của một số hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Từ đó đưa ra những phương hướng, chính sách và giải pháp nhằm tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu
Nhìn chung, cả hai công trình nghiên cứu kể trên đều đề cập chính sách tiêu thụ sản phẩm và phát triển thị trường nông sản với vai trò là yếu tố cấu thành năng lực tham gia của hàng nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu Tuy nhiên, nội dung chính của đề tài nhấn mạnh những lý luận về chuỗi giá trị toàn cầu và năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi này chứ không phải các thị trường xuất khẩu
- Theo quan điểm phát triển bền vững, đề tài khoa học và công nghệ cấp
bộ “Xuất khẩu bền vững hàng nông sản của Việt Nam trong bối cảnh gia nhập
tổ chức thương mại thế giới” mã số B2009.06.132 (2011) do TS Ngô Thị Tuyết Mai chủ nhiệm đã nghiên cứu những nội dung chính sau:
Đề tài đã nghiên cứu những lý luận chung về phát triển bền vững và xuất khẩu bền vững, cốt lõi của các mô hình phát triển bền vững là sự kết hợp hài hoà ba nhân tố chính là kinh tế, xã hội và môi trường Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ xuất khẩu bền vững bao gồm các đánh giá mức độ bền vững về mặt kinh tế (các chỉ số đo lường: Tốc độ tăng trưởng xuất
Trang 22khẩu, tỷ lệ tăng trưởng kim ngạch nông sản xuất khẩu, tỷ trọng hàng nông nghiệp qua chế biến…); Các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững về mặt xã hội ( mức thu nhập bình quân đầu người trong nông nghiệp, hệ số GINI,…); các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững về môi trường ( mức độ ô nhiễm do sản xuất và xuất khẩu nông sản gây ra, mức độ mở rộng diện tích nuôi trồng xuất khẩu và diện tích rừng ngập mặn, tỷ trọng các doanh nghiệp có chứng chỉ về môi trường…) Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu những bài học kinh nghiệm thành công của các nước trong khu vực về phát triển xuất khẩu bền vững hàng nông sản
Phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO, đề tài chỉ ra tính bền vững trong hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam thời gian qua chưa rõ nét, chất lượng tăng trưởng xuất khẩu chưa vững chắc, phát triển xuất khẩu còn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và gây suy thoái môi trường kinh tế và những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế kể trên
Kết hợp giữa cơ sở lý luận và tình hình thực tiễn, tác giả đưa ra 5 quan điểm xuất khẩu mang tính định hướng, từ đó đưa ra 3 nhóm giải pháp phát triển xuất khẩu bền vững hàng nông sản Việt Nam là: Việt Nam cần phải xây dựng
mô hình tăng trưởng kinh tế phù hợp đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng xuất khẩu hàng nông sản và bền vững; đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng xuất khẩu với giải quyết các vấn đề xã hội; đảm bảo kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tê với bảo vệ môi trường sinh thái
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là lý luận và thực tiễn về xuất khẩu bền vững, phạm vi nghiên cứu hàng nông sản xuất khẩu được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nhóm hàng nông sản, thuỷ sản và lâm sản Về khía cạnh phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam chỉ được đề cập đến với vai trò là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả xuất khẩu đối với
Trang 23Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trên cơ sở lý luận, đề tài đã phân tích và đánh giá một số cơ chế, chính sách phát triển xuất khẩu hàng nông sản, những tác động của cơ chế này đến sản xuất, xuất khẩu nông sản thời gian qua; tập trung đánh giá thực trạng về xuất khẩu một số mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, cao su và hạt điều, chỉ rõ những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế về cả cơ chế, chính sách cũng như triển khai thực hiện
Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, các tác giả đã đề xuất các quan điểm và kiến nghị các giải pháp nhằm tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của
Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
- Cuốn sách “Chính sách xuất khẩu nông sản của Việt Nam- Thực trạng
và giải pháp” do Trịnh Thị Ái Hoa biên soạn đã phân tích quá trình đổi mới và
thực trạng tác động của chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam trong quá trình đổi mới; đề xuất giải pháp hoàn thiện các công cụ chính sách xuất khẩu nông sản nhằm đạt được những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của hệ thống chính sách này Tuy nhiên, nội dung của cuốn sách tập trung phân tích các chính sách xuất khẩu nông sản của Việt Nam trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO nên các kết quả nghiên cứu không cập nhật trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta
- Cuốn sách “Marketing xuất khẩu” của Đỗ Đức Vinh biên soạn đã đề
cập đến việc lựa chọn và phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp, trong đó nêu rõ sự lựa chọn một chính sách về mở rộng thị trường xuất khẩu là yếu tố chiến lược, chủ chốt trong hoạt động xuất khẩu Việc thâm nhập và phát
Trang 24triển thị trường nước ngoài, bước đầu và đặt nền tảng lâu dài, thực hiện theo
những mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp
- Cuốn sách “Nâng cao sức cạnh tranh một số mặt hàng nông s ản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ”
của Ngô thị Tuyết Mai đề cập đến khung lý luận chung về sức cạnh tranh của hàng hoá và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Tác giả đã phân tích về thực trạng sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam (gạo, cao su, cà phê và hạt điều) để
từ đó đưa ra những đánh giá về kết quả đạt đươc, các hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, tác giả đã đưa ra những quan điểm cơ bản và một số giải pháp nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu, trong đó chú trọng giải pháp nâng cao
chất lượng hàng nông sản xuất khẩu
Nghiên cứu về xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang các
thị trường riêng biệt
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu thị trường nông sản của Trung Quốc và khả năng xuất khẩu một số sản phẩm nông sản của Việt Nam”,
mã số 26.11.RD/HD-KHCN (2011) do Hoàng Thị Vân Anh viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương làm chủ biên Nội dung chính của đề tài:
Tổng quan về thị trường hàng nông sản Trung Quốc, các tác giả đã tập trung phân tích các xu hướng gần đây về sản xuất, tiêu thụ và thương mại hàng nông sản, các kênh phân phối hàng nông sản nhập khẩu chủ yếu của Trung Quốc Khái quát các biện pháp chủ yếu ảnh hưởng đến thị trường hàng nông sản Trung Quốc, đặc biệt là các biện pháp kiểm soát hàng nông sản nhập khẩu như an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như một số rào cản kỹ thuật của Trung Quốc đối với nhập khẩu nông sản
Trang 25Đề tài nghiên cứu thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc, trong đó tập trung vào phân tích năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam với các sản phẩm sản xuất nội địa
và các đối thủ xuất khẩu khác trên thị trường Trung Quốc Những đánh giá về khả năng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam chủ yếu dựa trên việc phân tích các yếu tố tác động đến cầu nhập khẩu hàng nông sản của Trung Quốc
Trên cơ sở lý luận và tình hình thực tiễn, các tác giả đã đề xuất nhóm giải pháp chung và giải pháp đối với từng mặt hàng nông sản cụ thể nhằm tăng cường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc đạt hiệu quả cao nhất
- Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tận dụng những ưu đãi trong Hiệp định đối tác kinh tế Việt - Nhật (VJEPA) để đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản” (2012) của Viện
Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công thương nghiên cứu những nội dung chính sau:
Đề tài đã làm rõ những ưu đãi trong Hiệp định đối tác kinh tế Việt - Nhật (VJEPA): Những ưu đãi mà phía Việt Nam được hưởng và những ưu đãi mà phía Nhật Bản được hưởng Những ưu đãi mà mỗi nước được hưởng trong Hiệp định bao gồm những ưu đãi về thuế quan và những
ưu đãi ngoài thuế
Đánh giá thực trạng xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản giai đoạn 2001-2011 Những kết quả đạt được: Kim ngạch xuất khẩu nông sản không ngừng gia tăng; Cơ cấu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản dần được cải thiện theo chiều hướng tích cực,
gia tăng hàng chế biến và giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô Tuy nhiên,
qui mô xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản còn nhỏ bé so với tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu
Trang 26hàng năm của Nhật Bản; chất lượng hàng xuất khẩu của nước ta sang thị trường Nhật Bản còn yếu kém, nhiều lô hàng nông sản xuất khẩu chưa đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm của Nhật Bản; Thương hiệu hàng nông sản xuất khẩu còn yếu nên khả năng thâm nhập
và chiếm lĩnh thị trường Nhật Bản của hàng Việt Nam còn hạn chế Đồng thời, đề tài đã đánh giá thực trạng tận dụng những ưu đãi trong Hiệp định VJEPA để đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sang Nhật Bản từ năm 2009 đến nay
Trên cơ sở nội dung Hiệp định đã ký kết và thực trạng xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản thời gian qua, các tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp đối với Chính phủ, doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng nhằm tận dụng những ưu đãi trong Hiệp định VJEPA để đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sang Nhật Bản giai đoạn 2011-2020
- Luận án tiến sỹ “Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường EU trong điều kiện tham gia vào WTO” (2014) của Nguyến Thị
Thuý Hồng, Đại học Kinh tế quốc dân nghiên cứu về chính sách thương mại quốc tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá nói chung và hàng nông sản nói riêng của Việt Nam vào thị trường EU Tác giả tập trung vào ba chính sách: Chính sách mặt hàng, chính sách thị trường và chính sách hỗ trợ đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU là giày dép, dệt may, thuỷ sản và nông sản trong giai đoạn 2007-2014
Nghiên cứu về xuất khẩu từng mặt hàng nông sản xuất khẩu
Trong thời gian qua nước ta có những công trình nghiên cứu đến nội dung nêu trên như sau:
- Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất chính sách nhằm phát triển bền vững xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020” (2014) của Vương
Đức Toàn, Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công Thương
Trang 27- Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu các sàn giao dịch hàng nông sản trên thế giới
và kiến nghị các điều kiện áp dụng vào Việt Nam” (2012) của Lê Huy Khôi,
Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công Thương
- Đề tài cấp Bộ “Giải pháp chính sách xây dựng và bảo vệ thương hiệu nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đến năm 2020” (2013) của TS Hoàng
Văn Hoàn, Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công Thương
-Đề tài cấp Bộ “Phát triển chuỗi cung ứng hàng nông sản xuất khẩu chủ lực” (2014) của TS Nguyễn Văn Long, Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công
Thương
- Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu các giải pháp công nghệ và thị trường xuất khẩu cho một số cây ăn quả: Măng cụt, dứa, thanh long, nhãn, xoài, vải” (2013)
của Viện khoa học kinh tế nông nghiệp miền Nam
- Luận án tiến sỹ “Những giải pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm đẩy mạnh sản xuất vá xuất khẩu hàng nông sản ở đồng bằng sông Hồng” của Hoàng Văn Phấn,
Đại học Thương mại
Tham gia vào chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu (GVC) thông qua các công ty xuyên quốc gia của TS Đinh Văn Thành;Lúa gạo Việt Nam trước thiên niên kỷ mới - hướng xuất khẩu của TS Nguyễn Trung Vãn ; Cung cầu hàng hóa gạo và những giải pháp chủ yếu phát triển thị trường lúa gạo Việt Nam của TS Đinh Thiện Đức ; Cà phê Việt Nam và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới của TS Nguyễn Tiến Mạnh ; Cây chè Việt Nam: Năng lực cạnh tranh xuất khẩu và phát triển của TS Nguyễn Hữu Khải ; Một số giải pháp phát triển xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam đến năm 2020 của Viện Nghiên cứu Thương
mại, Bộ Công thương
Tóm lại, ở Việt Nam cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, cập nhật và có hệ thống về phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam Các công trình nghiên cứu về phát triển thị
Trang 28trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam thời gian qua chủ yếu nghiên cứu
về mặt “lượng” của hoạt động này Tuy nhiên, trong bối cảnh mới hiện nay, khi Việt Nam đang tham gia ký kết nhiều các hiệp định chiến lược và xu hướng chung phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản theo hướng bền vững thì việc nghiên cứu về mặt “chất” của hoạt động này là một yêu cầu cấp thiết Việc luận án nghiên cứu hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó chú trọng nghiên cứu theo chiều sâu của hoạt động này đặt trong bối cảnh mới hiện nay là hoàn toàn mới
mẻ Vì vậy, có thể nói đề tài được tác giả lựa chọn để nghiên cứu luận án có tính thời sự, có ý nghĩa khoa học và đáp ứng được những đòi hỏi trong thực tiễn xuất khẩu hàng nông sản của nước ta hiện nay
Trang 29CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN
VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
HÀNG NÔNG SẢN CỦA MỘT QUỐC GIA
2.1 Một số khái niệm cơ bản và sự cần thiết phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản
2.1.1 Khái niệm về phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản
2.1.1.1 Khái niệm về hàng nông sản xuất khẩu
Các hàng hóa nông sản có vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế, là loại hàng hóa “nhạy cảm” trong thương mại bởi nó liên quan đến lợi ích của một
bộ phận dân cư có thu nhập thấp là nông dân và nhu cầu đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định ở các quốc gia
Tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hàng nông sản, như:
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, nông sản được định nghĩa là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hàng hóa thông qua gây trồng và phát triển của cây trồng Sản phẩm nông nghiệp bao gồm nhiều nhóm hàng hóa thực phẩm, tơ sợi, nhiên liệu, nguyên vật liệu, dược phẩm và
ma túy bất hợp pháp (anh túc, cần sa), các sản phẩm độc đáo đặc thù
Theo FAO, nông sản hoặc các sản phẩm có nguồn gốc nông nghiệp là các sản phẩm hay mặt hàng ở dạng thô hoặc đã được chế biến đem ra bán để phục
vụ tiêu dùng của con người hoặc để làm thức ăn cho gia súc
Theo WTO, nông sản được xác định trong Hiệp định Nông nghiệp là tất cả các sản phẩm liệt kê từ chương 1 đến chương 24 (trừ cá và sản phẩm từ cá) thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hòa mã số thuế) Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:
- Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…;
- Các sản phẩm phái sinh như: Bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…;
- Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, thuốc lá…
Trang 30Đối với doanh nghiệp, việc xác định rõ sản phẩm của mình có thuộc nhóm nông sản theo quy định của WTO hay không có vai trò rất quan trọng bởi nhóm hàng nông sản sẽ được/phải áp dụng những quy chế đặc thù, không giống với quy chế áp dụng cho các loại hàng hóa phi nông nghiệp
Theo định nghĩa của Hiệp định về chương trình thuế quan ưu đãi của khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thì sản phẩm nông nghiệp là: Nguyên liệu nông nghiệp thô/các sản phẩm chưa chế biến được liệt kê trong các chương 1 đến
24 của hệ thống hài hòa HS ; và các sản phẩm đã qua sơ chế nhưng hình thức không thay đổi nhiều so với sản phẩm gốc
Như vậy, có thể hiểu khái niệm nông sản hay nông phẩm là sản phẩm do ngành nông nghiệp cung cấp Còn nông sản xuất khẩu là nông sản được sản xuất ra
từ nông nghiệp và được đưa ra thị trường thế giới để tiêu thụ
2.1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thị trường xuất khẩu hàng nông sản
Thị trường xuất khẩu là tập hợp người mua và người bán có quốc tịch khác nhau tác động với nhau để xác định giá cả, số lượng hàng hoá mua bán, chất lượng hàng hoá và các điều kiện mua bán khác theo hợp đồng, thanh toán chủ yếu bằng ngoại tệ mạnh và phải làm thủ tục hải quan qua biên giới [6, t55]
Thị trường xuất khẩu bao gồm cả thị trường xuất khẩu hàng hóa trực tiếp (người tiêu thụ cuối cùng) và thị trường xuất khẩu hàng hóa gián tiếp (xuất khẩu qua trung gian) Chẳng hạn, một nước nào đó tạm nhập tái xuất hàng hoá của Việt Nam hoặc nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam rồi đem xuất khẩu sang thị trường khác cũng được coi là thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Thị trường xuất khẩu hàng hóa không chỉ giới hạn ở những thị trường nước ngoài Trong một số trường hợp, thị trường trong nước cũng được coi là thị trường xuất khẩu hàng hóa, chẳng hạn như thị trường xuất khẩu tại chỗ đối với các ngành
du lịch, tài chính ngân hàng, bảo hiểm… Đối với hàng hoá xuất khẩu từ các khu chế xuất của Việt Nam vào chính thị trường Việt Nam thì khi đó, thị trường nội địa có thể coi là một thị trường xuất khẩu hàng hóa đối với hàng hoá của các khu chế xuất Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giới hạn ở những thị trường nước ngoài
Đứng trên góc độ chủng loại hàng hóa tham gia trao đổi trên thị trường thì thị trường xuất khẩu lại được phân thành nhiều loại như : Thị trường xuất khẩu hàng
Trang 31nông sản; Thị trường xuất khẩu hàng thủy sản; thị trường xuất khẩu hàng dệt may; thị trường xuất khẩu da giày
Có thể hiểu, thị trường xuất khẩu hàng nông sản là nơi diễn ra hoạt động mua và bán sản phẩm nông sản của các chủ thể có quốc tịch khác nhau
Nhằm nghiên cứu và xác định được các thị trường xuất khẩu mục tiêu, thị trường xuất khẩu nông sản có thể chia thành các phân khúc dựa trên một số tiêu chí như:
Căn cứ vào vị trí địa lý: Thị trường châu lục (Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Á…);
thị trường khu vực (thị trường ASEAN, Bắc Mỹ, Trung Đông, Tây Phi, Nam Á…); thị trường nước và vùng lãnh thổ (Đài Loan, Hồng Kông, Mỹ )
Căn cứ vào dung lượng và sức mua của thị trường: Thị trường xuất khẩu có
sức mua lớn; thị trường xuất khẩu có sức mua trung bình; thị trường xuất khẩu có sức mua thấp
Căn cứ vào kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu: Thị trường xuất siêu; thị trường nhập siêu
Căn cứ vào mức độ mở cửa của thị trường, mức bảo hộ, tính chặt chẽ và khả năng xâm nhập thị trường: Thị trường “dễ tính”, thị trường “khó tính”
Căn cứ vào sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp của nước xuất khẩu: Thị trường xuất khẩu có ưu thế cạnh
tranh; Thị trường xuất khẩu không có ưu thế cạnh tranh
Căn cứ vào loại hình cạnh tranh trên thị trường: Thị trường độc quyền, thị
trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Một dạng của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo đã được nhiều nước ứng dụng thành công khi tìm kiếm thị trường là thị trường ngách Thị trường ngách đóng vai trò rất quan trọng đối với những nước khả năng cạnh tranh của hàng nông sản còn kém so với các sản phẩm hiện đang có mặt trên thị trường quốc
tế Về khái niệm, phát triển thị trường ngách là một cố gắng nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ nhằm thoả mãn các nhu cầu của nhóm nhỏ khách hàng có nhu cầu
cụ thể, riêng rẽ Bằng việc tập trung vào khu vực thị trường hẹp, một nhà cung cấp nhỏ có thể thỏa mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn là những gì mà các đối thủ lớn hơn
có thể đáp ứng Những “khe nhỏ” hay “chỗ trống” trên thị trường là lý tưởng khi: chúng có quy mô vừa nhỏ để kinh doanh có lãi; đảm bảo tiềm năng tăng
Trang 32trưởng; không được những nhà dẫn đạo thị trường để ý, hoặc có để ý đến cũng không muốn đầu tư Đối với Việt Nam, thị trường ngách cần được đặc biệt lưu tâm nghiên cứu để xuất khẩu hàng nông sản vì quy mô và khối lượng xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản của nước ta phù hợp với loại thị trường này
Tính khác biệt về tính năng sản phẩm cũng như quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản xuất khẩu tạo nên những đặc trưng riêng của thị trường xuất khẩu mặt hàng này so với các thị trường xuất khẩu hàng hóa khác
Thứ nhất, thị trường xuất khẩu hàng nông sản nhìn chung có độ co giãn
của cầu theo giá thấp (tức là khi giá hàng nông sản thay đổi thì lượng cầu tiêu dùng sẽ thay đổi nhỏ hơn mức thay đổi của giá) Đây là vấn đề cần được quan tâm trong khi định giá nông sản và lượng cung trên thị trường để tối đa hóa kim ngạch xuất khẩu và đem lại giá trị gia tăng lớn nhất
Tuy nhiên, tồn tại sự khác biệt về biến động giá cả của cùng một chủng loại hàng hóa giao dịch trên thị trường xuất khẩu nông sản Cụ thể: Các sản phẩm thô xuất khẩu có tính nhạy cảm cao, giá cả thường thay đổi nhiều trên thị trường do ảnh hưởng bởi tính chất mùa vụ và sự tác động mạnh của điều kiện
tự nhiên; còn các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng chế biến cao thường ổn định và có giá trị gia tăng cao Ví dụ với mặt hàng cà phê, trong giai đoạn 2010-
2015 giá cà phê nhân Robusta giao dịch trên sàn Luân Đôn trung bình khoảng từ 100-120 đô la Mỹ/tấn nhưng có thời điểm lại lên tới trên 300 đô la Mỹ/tấn, trong khi đó giá cà phê rang và cà phê bột trên thế giới do các công ty đa quốc gia lớn như Kraft Foods, Sara Lee/DE và Nestle giá cả ổn định, hầu như không có sự biến đổi qua các năm
Thứ hai, cung trên thị trường xuất khẩu nông sản chủ yếu đến từ các quốc
gia đang phát triển nhưng họ không phải là người chiếm ưu thế trong hoạt thương mại nông sản thế giới
Trên thế giới có nhiều quốc gia xuất khẩu nông sản, trong đó chủ yếu là các nước đang phát triển Tuy nhiên, với điều kiện về kỹ thuật, tài chính thì sản phẩm nông sản xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển chủ yếu dưới dạng thô hoặc mới qua sơ chế và phải chịu sự cạnh tranh gay gắt
Thị trường nhập khẩu nông sản là những nước không có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, thị trường nhập khẩu
Trang 33nông sản đang bị thu hẹp do: (1) Mặc dù các nước phát triển có nhu cầu cao về nhập khẩu nông sản nhưng các nước này đã và đang thực hiện chính sách bảo
hộ thị trường nông sản nội địa dưới nhiều hình thức như các quy định chặt chẽ
về vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường sinh thái; (2) Các nước kém phát triển cũng có nhu cầu cao về nhập khẩu nông sản nhưng khả năng thanh toán thấp
Với tình trạng dư cung nông sản xuất khẩu, các quốc gia xuất khẩu nông sản nhiên liệu buộc phải hạ giá bán cho cho các nước phát triển (các quốc gia phát triển sẽ chế biến lại để xuất khẩu) Mặt khác, đối với xuất khẩu các mặt hàng nông sản chế biến sâu, các nước đang phát triển luôn ở thế yếu hơn các nước phát triển do hạn chế về công nghệ chế biến và khả năng đầu tư cho công nghệ chế biến nông sản xuất khẩu Trong điều kiện này, các nước phát triển đang chiếm ưu thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trở thành người chi phối trong thương mại nông sản trên toàn cầu
Thứ ba, trên thị trường xuất khẩu hàng nông sản tồn tại sự không tương
thích trong thông tin về chất lượng sản phẩm đối với người tiêu dùng Người tiêu dùng có thể nhận được thông tin về chất lượng sản phẩm theo 3 giai đoạn: Trước khi tiêu dùng, trong khi tiêu dùng hoặc sau khi tiêu dùng Nông sản xuất khẩu là loại sản phẩm mà thông tin chính xác về chất lượng chỉ có thể nhận được ở giai đoạn trong hoặc sau khi tiêu dùng Thậm chí, sau khi tiêu dùng rất lâu người ta mới đánh giá đúng được chất lượng của nó Đây là một khó khăn trong việc quảng bá chất lượng các sản phẩm mới nhưng lại là ưu thế của những sản phẩm đã định vị được thương hiệu và chất lượng muốn tăng thị phần trên thị trường
2.1.1.3 Khái niệm về phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản
Đứng trên giác độ doanh nghiệp, phát triển thị trường xuất khẩu hàng
nông sản là tổng hợp các cách thức, biện pháp của doanh nghiệp để đưa ngày càng nhiều khối lượng sản phẩm ra nhiều thị trường ngoài nước để tiêu thụ, mở rộng quy mô kinh doanh, tăng thêm lợi nhuận và nâng cao uy tín doanh nghiệp trên thị trường quốc tế Phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp không chỉ là việc phát triển thêm những thị trường mới mà còn phải làm tăng thị phần của sản phẩm trên các thị trường đã có sẵn
Trang 34Đối với mỗi loại hàng nông sản đều có một lượng nhu cầu nhất định Song không phải doanh nghiệp nào cũng chiếm được toàn bộ thị trường mà chỉ chiếm được thị phần nhất định và thị phần này cũng luôn luôn biến đổi Để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp phải gia tăng khả năng tiêu thụ được sản phẩm, tức phải gia tăng thị phần trên thị trường hàng hoá đó Cách tốt nhất
để đạt được điều đó là doanh nghiệp phải phát triển thị trường
Phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp chính là việc khai thác một cách tốt nhất thị trường hiện tại, đưa các sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp vào tiêu thụ ở những thị trường mới đáp ứng được cả nhu cầu thị trường hiện tại lẫn thị trường tiềm năng mà doanh nghiệp có ý định thâm nhập
Đứng trên giác độ quốc gia, phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản là
việc quốc gia đó đưa được sản phẩm của nước mình thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường quốc tế, mở rộng được phạm vi địa lý của thị trường và kết quả là tăng được kim ngạch xuất khẩu từ sản phẩm đó
Hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu của một quốc gia là sự kết hợp giữa hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu của tất cả các doanh nghiệp và các hoạt động hỗ trợ của các cơ quan nhà nước trong quốc gia đó Các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu đối với các mặt hàng mà doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, từ đó góp phần tạo nên thị trường xuất khẩu rộng lớn cho quốc gia đối với từng mặt hàng nông sản cụ thể Nếu quốc gia nào làm tốt hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu thì sự hiện diện của hàng hoá quốc gia đó trên thị trường quốc tế ngày càng được mở rộng
và thương hiệu sản phẩm ngày càng được nhiều người tiêu dùng nước ngoài biết đến
Trong hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu của một quốc gia thì Nhà nước và các tổ chức liên quan đóng vai trò quan trọng thông qua việc đề ra các chiến lược xuất khẩu và định hướng thị trường cho từng ngành hàng và cho các doanh nghiệp trong nước Các bộ, ngành, các tổ chức xúc tiến thương mại, các đại diện thương mại và ngoại giao ở nước ngoài cùng phối hợp để giới thiệu hàng hoá của quốc gia với bạn hàng quốc tế, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, tìm hiểu, dự báo thị trường xuất khẩu, cung cấp những thông tin cập nhật về thị trường cho doanh nghiệp Trong quan hệ đối ngoại, việc nhà
Trang 35nước nỗ lực tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế thông qua ký kết các hiệp định thương mại song phương, đa phương, đồng thời tham gia vào các tổ chức kinh
tế quốc tế cũng là một nội dung quan trọng của hoạt động mở rộng thị trường cho hàng xuất khẩu
Tóm lại, phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của một quốc gia là tổng hợp tất cả các hoạt động của các doanh nghiệp cùng với Nhà nước và các tổ chức liên quan nhằm khai thác có hiệu quả thị trường xuất khẩu hiện tại và tìm
kiếm, thâm nhập thị trường ngoài nước để tăng được giá trị kim ngạch xuất khẩu
Mở rộng thị trường xuất khẩu chỉ đơn thuần là sự tăng lên về số lượng thị trường, còn phát triển thị trường xuất khẩu là một quá trình thay đổi mọi mặt của thị trường xuất khẩu theo khuynh hướng từ thấp đến cao, theo hướng tiến bộ từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Hay nói cách khác, phát triển thị trường xuất khẩu là một quá trình biến đổi về mặt chất của hoạt động này theo hướng bền vững hơn, hiệu quả hơn Phát triển thị trường xuất khẩu bao hàm nội dung của mở rộng thị trường, nhưng nó được hiểu là tăng trưởng theo một cách vượt trội hơn do kim ngạch xuất khẩu cao hơn hẳn, cơ cấu thị trường, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu hợp lí
và hiệu quả hơn hẳn
Phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản có thể theo hướng là phát triển theo chiều rộng; phát triển thị trường theo chiều sâu; hoặc kết hợp cả hai hướng trên
Phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều rộng là sự gia tăng số lượng thị
trường xuất khẩu của một quốc gia Phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều rộng giúp hoạt động phát triển thị trường giảm sự phụ thuộc vào một vài thị trường xuất khẩu, giảm thiểu rủi ro biến động thị trường Để thực hiện hiệu quả phát triển thị trường xuất khẩu theo hướng này đòi hỏi nước xuất khẩu phải tiến hành tốt công tác nghiên cứu, dự báo thị trường để chọn xuất khẩu sản phẩm phù hợp với yêu cầu và tiêu chuẩn thị trường
Phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều sâu là việc gia tăng kim ngạch xuất
khẩu trên thị trường hiện tại
Xét về mặt địa lý, phát triển thị trường theo chiều sâu có số lượng thị trường tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu không thay đổi Vì vậy, để gia tăng kim ngạch thì các nước xuất khẩu phải sản xuất ra được những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hơn,
Trang 36có tính cạnh tranh cao hơn trên thị trường hiện có
Phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều rộng thích hợp với lĩnh vực chưa
có nhiều cạnh tranh hoặc có cạnh tranh nhưng chưa cao Do đó, vẫn còn nhiều vùng địa lý, nhiều đối tượng tiêu dùng chưa được tiếp cận với sản phẩm của doanh nghiệp và của đối thủ cùng loại Thông thường phát triển thị trường theo chiều rộng
là bước đầu tiên để sản phẩm của quốc gia xâm nhập vào thị trường khu vực và thế giới, giới thiệu sản phẩm của quốc gia đó với bạn hàng quốc tế
Tuy nhiên, để tạo thế vững chắc cho sản phẩm xuất khẩu, quốc gia và doanh nghiệp xuất khẩu cần phải phát triển thị trường theo chiều sâu, tìm cách tăng số lượng và kim ngạch xuất khẩu trên các thị trường đã thâm nhập được Phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều sâu liên quan đến một sự thay đổi căn bản trong cơ cấu thị trường xuất khẩu Nó đòi hỏi nước xuất khẩu phải có chính sách thị trường hiệu quả như đàm phán mở cửa thị trường, ký kết các FTA,…
Nếu một quốc gia chỉ quan tâm tới phát triển thị trường theo chiều rộng thì
sự hiện diện của các sản phẩm xuất khẩu trên thị trường chỉ mang tính chất tạm thời, không ổn định Chính vì vậy phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều rộng cần phải kết hợp chặt chẽ phát triển thị trường theo chiều sâu để nông sản xuất khẩu ngày càng có được vị trí vững chắc trên thị trường thế giới
2.1.2 Sự cần thiết phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản
Đối với nền kinh tế
Phát triển thị trường xuất khẩu góp phần nâng cao khối lượng và giá trị hàng hoá tiêu thụ- là yếu tố cơ bản để mở rộng và phát triển sản xuất, kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, nâng cao đời sống cho người lao động, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy đa dạng hoá quan hệ hợp tác kinh tế của một nước Thông qua việc mở rộng đầu ra cho các hàng hoá có tác động kích thích nhanh chóng sự phát triển của các ngành hướng về phục vụ xuất khẩu, cơ cầu kinh tế sẽ chuyển dịch theo hướng tăng dần cơ cấu tỷ trọng của thương mại, dịch vụ, từng bước lấy tiêu chuẩn và cầu của thị trường thế giới làm chuẩn mực cho sản xuất trong nước, qua đó định hướng sản xuất trong nước theo chuẩn mực quốc
tế, lấy các thông lệ quốc tế làm quy tắc ứng xử trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Đồng thời, phát triển thị trường tạo cơ hội đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu công nghệ mới, các sản phẩm mới từ đó thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, đặc biệt
Trang 37là sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác lợi thế so sánh của các vùng, địa phương Việc tập trung quá mức xuất khẩu hàng nông sản sang một hoặc một số thị trường trong một thời kỳ liên tục tuy có thể đem lại những kết quả nhất định về mức tăng trưởng nhanh và hiệu quả nhưng sẽ gặp nhiều khó khăn từ phía thị trường nhập khẩu như: Sự phụ thuộc quá mức vào những thị trường có thể tạo nên tính bị động trong việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu; những rào cản được dựng nên từ thị trường nhập khẩu (áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, tăng cường kiểm dịch ) Vì vậy, phát triển thị trường là một giải pháp tổng thể khắc phục được những hạn chế nêu trên, đồng thời đa dạng hoá thị trường cho các mặt hàng xuất khẩu, mở ra những tiềm năng cho các mặt hàng xuất khẩu tiếp cận với nhiều thị trường, đáp ứng được các thị hiếu tiêu dùng khác nhau
Đối với doanh nghiệp
Thị trường xuất khẩu đóng vai trò quyết định đối với hoạt động thương mại quốc tế của doanh nghiệp Mỗi hoạt động tiêu thụ hàng hoá đều gắn với thị trường này Chính vì vậy, phát triển thị trường vừa là mục tiêu, vừa là phương thức quan trọng để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển sản xuất kinh doanh Có phát triển được thị trường, doanh nghiệp mới duy trì được mối quan
hệ thường xuyên, gắn bó với khách hàng, củng cố và tạo dựng uy tín trước người tiêu dùng để tăng thêm khách hàng, có cơ hội đầu tư phát triển kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng thu nhập cho người lao động; thực hiện những mục tiêu đã vạch ra, từ đó có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt
Phát triển thị trường xuất khẩu nông sản còn giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng nguồn thu ngoại tệ, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam tới bạn bè quốc tế Đặc biệt, kinh doanh trên thị trường quốc tế có nhiều biến động, việc phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu giúp doanh nghiệp phân tán được rủi ro trong kinh doanh, thâm nhập thị trường thế giới, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ đó có điều kiện thuận lợi để xây dựng
cơ cấu kinh tế hợp lý, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong nhiều trường hợp như nhu cầu nội địa nhỏ bé hoặc cạnh tranh trong nước quá gay gắt dẫn đến việc kinh doanh trong thị trường nội địa khó khăn thì việc đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường quốc tế là một hướng kinh doanh mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp
Trang 382.2 Nội dung phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản
Phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam là quá trình kiến tạo thị trường quốc tế cho việc tiêu thụ hàng nông sản của Việt Nam Đó là quá trình tìm kiếm - mở - giữ vững - phát triển theo chiều rộng và theo chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam Đó là sự gắn kết giữa Nhà nước, các tổ chức hỗ trợ và doanh nghiệp trong phát triển thị trường
Dù theo phương hướng chiều rộng hay chiều sâu, phát triển thị trường xuất khẩu hàng nông sản là phương thức đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa ở thị trường nước ngoài Nó bao gồm tất cả các chính sách và biện pháp của cả nhà nước và doanh nghiệp nhằm tạo ra các cơ hội tăng giá trị và sản lượng của hàng hóa tại thị trường nước ngoài Mặc dù kết quả của những chính sách và biện pháp được áp dụng tạo ra các cơ hội được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau nhưng đó đều đưa đến kết quả cuối cùng là thực hiện được mục tiêu xuất khẩu được nhiều hàng hóa hơn ra thị trường nước ngoài
Chủ thể của phát triển thị trường xuất khẩu là doanh nghiệp và chính phủ, tức là vừa có chủ thể ở tầm vi mô và chủ thể đại diện ở tầm vĩ mô, vừa có chủ thể tác động trực tiếp và chủ thể tác động gián tiếp đến đối tượng cần phát triển thị trường xuất khẩu Để thực hiện mục tiêu thay đổi về “chất” của thị trường xuất khẩu hàng nông sản, cả chính phủ và doanh nghiệp đều phải có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến 3 khách thể chính của thị trường xuất khẩu là thị trường các nước nhập khẩu (bao gồm cả thị trường hiện tại và tiềm năng); các sản phẩm nông sản xuất khẩu; và hệ thống kênh phân phối, xúc tiến xuất khẩu
Mặc dù cùng thực hiện các tác động lên khách thể của thị trường xuất khẩu nhưng vai trò và nhiệm vụ của hai chủ thể hoàn toàn khác nhau Nhà nước có vai trò dẫn dắt, định hướng và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường; còn doanh nghiệp
có nhiệm vụ biến những hỗ trợ của nhà nước thành cơ hội, thành tiền đề cho hoạt động phát triển thị trường của mình Hay nói cách khác, nhiệm vụ của doanh nghiệp
là kết hợp hiệu quả những nhân tố nội lực của doanh nghiệp với sự hỗ trợ bên ngoài
Trang 39của nhà nước trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu nhằm tăng doanh thu từ hoạt động này
Hình 2.1: Mô hình nội dung phát triển thị trường xuất khẩu
hàng nông sản của một quốc gia
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Theo Hình 2.1, nhà nước thực hiện hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu thông qua các chính sách chủ yếu sau:
Thứ nhất, chính sách thị trường xuất khẩu: Đây là một trong những chính
sách quan trọng để gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung, hàng nông sản nói riêng Trên thực tế, chính sách thị trường của các nước là quá trình khai thác thị trường xuất khẩu theo 2 hướng: Tìm kiếm thị trường mới và tăng kim ngạch xuất khẩu trên các thị trường hiện tại Nói cách khác, mục tiêu chung của chính sách thị trường xuất khẩu là đa dạng hóa thị trường đi đôi với đa phương hóa bạn hàng nhằm duy trì và gia tăng mức xuất khẩu, giảm được tổn thất xảy ra khi có biến động
Nội dung phát triển thị trường xuất khẩu
Trang 40trên một vài thị trường xuất khẩu, góp phần ổn định kinh tế
Biện pháp chính nhằm thực hiện chính sách đa dạng hóa thị trường xuất khẩu
là hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua việc tham gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương
Song song với xu hướng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, các quốc gia đều xây dựng chính sách thị trường xuất khẩu trọng điểm nhằm đảm bảo cơ cấu thị trường xuất khẩu hợp lý và hiệu quả Nội dung của chính sách này dựa trên cơ sở
mở rộng thị trường xuất khẩu, lựa chọn một số thị trường tiềm năng mà quốc gia đó
có khả năng xuất khẩu và tập trung ưu tiên phát triển nó thành thị trường trọng điểm Thông thường, các thị thường được lựa chọn phải có quy mô lớn, có tính ổn định và triển vọng phát triển Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu có nhiều biến động như hiện nay, các nước có xu hướng tăng số lượng thị trường xuất khẩu trọng điểm, xây dựng một số thị trường từ không trọng điểm thành trọng điểm và giảm bớt sự phụ thuộc vào một số thị trường như trước đây
Biện pháp được các chính phủ sử dụng nhằm thực hiện chính sách xây dựng thị trường xuất khẩu trọng điểm là: Tích cực đàm phán và ký kết các FTA, đặc biệt
là các FTA thế hệ mới với các nước được lựa chọn là thị trường trọng điểm; Ưu đãi
về thuế và trợ giúp xuất khẩu (cho vay vốn với lãi suất ưu đãi để phát triển thị trường xuất khẩu trọng điểm, bảo hiểm và bảo lãnh xuất khẩu…); thực hiện các chương trình xúc tiến xuất khẩu, chú trọng các thị trường xuất khẩu trọng điểm…
Thứ hai, chính sách mặt hàng xuất khẩu: Đây là chính sách được các quốc
gia thực hiện nhằm gia tăng kim ngạch xuất khẩu thông qua : (1) Gia tăng số lượng sản phẩm xuất khẩu của một quốc gia; hoặc sự gia tăng số lượng lĩnh vực xuất khẩu; hoặc là sự mở rộng các lĩnh vực xuất khẩu và các sản phẩm xuất khẩu trong một nhóm sản phẩm nhất định; (2) Dịch chuyển cấu trúc sản phẩm xuất khẩu từ xuất khẩu sản phẩm thô, sơ chế sang các sản phẩm chế biến, có hàm lượng kỹ thuật cao, hay là sự thay đổi về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Sự thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thực hiện khó hơn so với tăng số