1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật anh Câu hỏi nhận định đúng sai

25 997 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 308 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nói về nguồn luật của nước Anh người ta thường nói đến hai loại nguồn chính là luật thành văn và luật bất thành văn. Luật thành văn theo như cách hiểu thông thường là các đạo luật do nghị viện và các văn bản phụ trợ do Chính phủ ban hành. Bên cạnh đó thì luật bất thành văn lại bao gồm ba bộ phận là: tập quán phổ biến từ thời thượng cổ hay chúng ta còn gọi là common law (các phán quyết của tòa án bao gồm cả án lệ); các tập quán hoặc luật lệ địa phương có ảnh hưởng đến những người sống ở một vùng địa phương nào đó; và cuối cùng là luật cá biệt.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT UEH

ĐỀ TÀI:

TÌM HIỂU ÁN LỆ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ANH

GV hướng dẫn: TS Đỗ Thị Mai Hạnh

SV thực hiện : Nhóm 6 – Lớp 03 – VB2 Luật kinh tế

Năm 2014

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Khi nói về nguồn luật của nước Anh người ta thường nói đến hai loại nguồn chínhlà luật thành văn và luật bất thành văn Luật thành văn theo như cách hiểu thôngthường là các đạo luật do nghị viện và các văn bản phụ trợ do Chính phủ ban hành.Bên cạnh đó thì luật bất thành văn lại bao gồm ba bộ phận là: tập quán phổ biến từthời thượng cổ hay chúng ta còn gọi là common law (các phán quyết của tòa ánbao gồm cả án lệ); các tập quán hoặc luật lệ địa phương có ảnh hưởng đến nhữngngười sống ở một vùng địa phương nào đó; và cuối cùng là luật cá biệt

Phần lớn thì các quy phạm pháp luật chi tiết thường được tìm thấy trong luật thànhvăn trong khi hầu hết các nguyên tắc pháp lí tại Anh thì thường là từ án lệ mà ra.Cho đến tận ngày nay, án lệ và luật thành văn vẫn được xem là hai nguồn luật lớnnhất tại Anh Vì vậy, nội dung nghiên cứu của nhóm là nhằm giúp chúng ta kháiquát và hiểu rõ hơn về án lệ, các nguyên tắc cơ bản, các đặc điểm cũng như

nguyên tắc quan trọng “stare decisis” của tiền lệ pháp, các hình thức của án lệ,

cách trích dẫn và việc đọc các án lệ…

Trong phần còn lại của bài nghiên cứu, nhóm sẽ trình bày về nghề luật sư ở Anhđồng thời phân biệt rõ hai hình thức hành nghề luật sư đang tồn tại trong hệ thốngpháp luật nước Anh và xứ Wales: luật sư tư vấn (solicitors) và luật sư bào chữa(barristers)

Trong thời gian ngắn cùng với lượng kiến thức còn hạn chế nên việc sai sót vàchưa hoàn chỉnh có thể sẽ xảy ra Nhóm nghiên cứu rất mong nhận được những sựđánh giá về mặt nội dung từ phía giáo viên hướng dẫn và các bạn, nhằm giúp chobài nghiên cứu này trở nên hoàn thiện

Trang 3

A ÁN LỆ:

1 Khái niệm:

Án lệ là những nguyên tắc pháp lý rút ra từ những phán quyết của tòa do các thẩmphán sáng tạo ra, cung cấp tiền lệ hay cơ sở pháp lý để các thẩm phán giải quyết cácvụ việc có tình tiết tương tự trong hiện tại và tương lai1 Trong khi đó theo Black’s

Law Dictionary thì khái niệm tiền lệ pháp (precedent) được ghi nhận như sau:

- Tiền lệ pháp là việc làm luật của tòa án trong việc công nhận và áp dụng cácnguyên tắc mới trong quá trình xét xử

- Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để ra phán quyết cho những trường hợp cótình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này 2

Lưu ý rằng điểm đặc thù trong hệ thống pháp luật Anh là bộ phận quan trọng của luậtthực định do các cơ quan tư pháp, tức tòa án sáng tạo ra dựa trên cơ sở áp dụng vàphát triển các án lệ hay tiền lệ pháp Và thêm một điều cần lưu ý nữa rằng là án lệ lànguồn pháp luật chính của các nước theo dòng họ pháp luật của hệ thống thông luật(common law)

Tuy nhiên trên thực tế, theo như tra cứu từ điển luật học thì Án lệ trong tiếng Anh là

“precedent”, có nghĩa là tiền lệ Nên từ “ precedent” có sách còn dịch là tiền lệ pháp hoặc có sách dịch là án lệ Thật ra, từ dùng nhiều hơn trong tiếng Anh là “ judical precedent” nghĩa là tiền lệ tư pháp3 Theo giáo sư Peter Cruz đã viết trong cuốn sách:

“Luật so sánh trong thế giới chuyển đổi” thì án lệ được hiểu theo hai nghĩa:

- Theo nghĩa rộng, là những nguyên tắc không theo luật định được ra từ các quyếtđịnh tư pháp

- Theo nghĩa hẹp, là việc đưa ra những nguyên tắc làm nền tảng cho những vụ việcsau này4

Để có thể hiểu rõ hơn khái niệm án lệ, theo chúng tôi cần phải xem xét nó với các khíacạnh khác nhau:

- Khía cạnh thứ nhất: án lệ dưới góc độ là một học thuyết, tức nó bao gồm một hệthống tri thức, hệ thống các nguyên tắc và quan điểm lý luận về án lệ Trong tiếngAnh học thuyết án lệ được sử dụng bằng những từ khác nhau và các cách định

nghĩa khác nhau, ví dụ như: “ doctrine of precedent” hay “doctrine of binding precedent” hay “doctrine of judicial precedent” và “doctrine of stare decisis” Học thuyết “stare decisis” có nguồn gốc từ tiếng Latinh và dịch sang tiếng Anh một

cách cẩn thận bởi Reid như sau: “to stand upon the dicision”5; đơn giản hơn thìchúng ta có thể dùng phần dịch nghĩa của nhóm tác giả David, Brierly, Mc Adam

1Giáo trình Luật So Sánh – ĐH Luật Hà Nội 2009, Tr 259.

2“Khái niệm và những nguyên tắc tiền lệ pháp – Hình thức pháp luật đặc thù trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ” –

Tạp chí khoa học pháp lý số 5/2006, ThS Phan Nhật Thanh – ĐH Luật Tp HCM, Phần khái niệm và nguyên tắc về precedent.

3Trích từ Luận Văn Tiến Sĩ “Evaluation of the applicability of common law approaches to precedent in Vietnam” của TS.

Đỗ Thị Mai Hạnh, ĐH Wollongong, Úc, Phần 3.2.1 The doctrine of precedent (stare decisis).

4Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay” Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM, Tr.8.

5Trích từ Luận Văn Tiến Sĩ “Evaluation of the applicability of common law approaches to precedent in Vietnam” của TS.

Đỗ Thị Mai Hạnh, ĐH Wollongong, Úc, The doctrine of precendent, Tr 30.

Trang 4

và Pyke thì “stare decisis” có nghĩa theo tiếng Anh là:“let the decision stand” 6,nghĩa là tuân thủ các phán quyết trước đây và không phá vỡ những quy phạm phápluật đã thiết lập trong án lệ7.

Nguyên tắc “stare decisis” có thể tóm tắt một cách đơn giản như sau: hai vụ việc

với các tình tiết chính tương tự như nhau sẽ được xét xử như nhau và thuật ngữnày còn có nghĩa là duy trì lý lẽ của những vụ việc trước8 Như vậy ở đây có thểhiểu khái quát án lệ là quyết định của một tòa án có mang ý nghĩa hay đặc trưngpháp lý Những đặc trưng pháp lý đó tồn tại trong các phán quyết của tòa án.Những bản án này trở thành hình mẫu và mang tính bắt buộc cho các tòa án trongviệc giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra trong tương lai Điều này được coi là

nội dung cơ bản nhất của học thuyết về án lệ “ the doctrine of precedent” hoặc

“stare decisis”.

- Khía cạnh thứ hai: án lệ với tư cách là nguồn luật (hình thức pháp luật), tức làphương thức tồn tại hay dạng tồn tại thực tế của pháp luật và thông qua đó conngười có thể nhận thức được nội dung của pháp luật 9 Ở khía cạnh này, án lệ đượcxem là nguồn luật chủ yếu của các nước thuộc hệ thống pháp luật common law Sovới các nước thuộc hệ thống Civil law thì toàn bộ hệ thống luật xoay quanh cácquy phạm pháp luật Mà đã là các quy phạm pháp luật thì thường phải do nghị viện

ban hành, các quy phạm pháp luật này tồn tại trong các văn bản pháp luật (Statute) hoặc trong các bộ luật (Code) Đó chính là lý do mà các văn bản quy phạm pháp

luật được xem là nguồn luật chủ yếu ở các nước thuộc hệ thống Civil law Ngượclại, yếu tố nền tảng lý luận cho toàn bộ hệ thống lý luận của hệ thống common lawlà án lệ hay nguyên tắc stare decissis, nghĩa là tôn trọng các tiền lệ Quyết định toàán không chỉ ràng buộc đối với các bên trong môt vụ việc cụ thể mà nó còn có ýnghĩa bắt buộc đối với các thẩm phán của tòa án sau này khi xét xử một vụ việctương tự

Một lưu ý quan trọng nữa là, khi đề cập án lệ với tính cách là một nguồn luật người ta

không sử dụng thuật ngữ “precedent” mà sử dụng thuật ngữ “case law” Theo từ điển

Black’s Law Dictionary thì case law có nghĩa là tập hợp các vụ việc đã xét xử của cơquan tư pháp trong quá trình xét xử”10

Trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay chưa có cách hiểu thống nhất giữa haikhái nệm tiền lệ pháp và án lệ Theo giáo trình “Lý luận nhà nước và pháp luật” củatrường đại học Luật Hà Nội thì: “Tiền lệ pháp là hình thức nhà nước thừa nhận cácquyết định của cơ quan hành chính hoặc xét xử giải quyết những vụ việc cụ thể để ápdụng đối với các vụ việc tương tự”11 Theo cách nghĩ của nhóm thì khi chúng ta sửdụng án lệ hay tiền lệ pháp điều như nhau cả và đều có cùng một tư cách là nguồnluật Trong hệ thống pháp luật Anh –Mỹ cũng như hệ thống Châu Âu lục đại thì tiềnlệ pháp không bao gồm các quyết định của cơ quan hành chính mà có thể đó chỉ là các

6Trích từ Luận Văn Tiến Sĩ “Evaluation of the applicability of common law approaches to precedent in Vietnam” của TS

Đỗ Thị Mai Hạnh, ĐH Wollongong, Úc, The doctrine of precendent, Tr.31

7Giáo trình Luật So Sánh – ĐH Luật Hà Nội 2009, Án lệ, Tr.260

8Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Giải thích án lệ, Tr.89

9Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay” Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM, Tr.10

10“Khái niệm và những nguyên tắc tiền lệ pháp – Hình thức pháp luật đặc thù trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ” –

Tạp chí khoa học pháp lý số 5/2006, ThS Phan Nhật Thanh – ĐH Luật Tp HCM, Tiền lệ pháp và án lệ, Tr.3

11Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB Tư Pháp, Tr.82, Trường ĐH Luật HN 2007.

Trang 5

phán quyết của tòa hành chính Hay nói cách khác, tiền lệ pháp chỉ có thể hình thànhtừ các cơ quan tư pháp chứ không từ các cơ quan lập pháp hay hành pháp.

Tiếp theo, chúng ta tìm hiểu thêm về một số đặc điểm cơ bản của án lệ Xét về nguồnluật với tư cách là án lệ trong hệ thống pháp luật Anh thì, không phải mọi bản án,quyết định của các tòa án đều trở thành án lệ Có các điều kiện cơ bản sau đây để bảnán trở thành án lệ12:

- Nội dung của bản án có liên quan đến vấn đề pháp luật (a point of law)

- Trong bản án thể hiện thái độ, quan điểm của thẩm phán về các vấn đề được đặt ra

- Án lệ do thẩm phán tạo ra phải xuất phát từ tranh chấp giữa các bên trong vụ án

- Hoạt động công bố và hệ thống hóa án lệ

- Bản án phải được trích dẫn làm căn cứ pháp lý cho việc giải quyết các vụ việc

tương tự xảy ra sau này (ratio decidendi).

Ở điều kiện thứ nhất, nội dung của vụ án có liện quan đến pháp luật ở đây có thể hiểulà khi một vụ việc tranh chấp được đưa ra tòa giải quyết thì liên quan đến hai vấn đề

chính: một là câu hỏi liên quan đến sự kiện thực tế trong vụ án ( question of fact)13 và

hai là câu hỏi liên quan đến vấn đề pháp luật giải quyết cho vụ việc ( question of law) Đối với vấn đề “question of fact” thì thẩm phán sau khi đã xác định rõ ràng đặc trưng

pháp lý của vụ việc thì áp dụng pháp luật đã có sẵn là các án lệ hoặc các văn bản phápluật để giải quyết Trong trường hợp này bản án của tòa án không tạo ra án lệ Còn đốivới câu hỏi thứ hai, thì vụ việc tranh chấp đưa ra tòa án nhưng chưa có luật để giảiquyết, chưa có lời giải đáp trong thực tiễn pháp lý Với vai trò là người đảm bảo cônglý, thẩm phán đưa ra những lý lẽ từ những căn cứ khác nhau để giải quyết vụ việc14 Để các thẩm phán có thể tạo ra các quy tắc mới giải quyết các tranh chấp (tạo ra án lệ)liên quan đến vấn đề quan trong mà các thẩm phán phải xác định là

“distingguishing”15 nghĩa là sự phân biệt (phân biệt tình tiết của vụ việc đang giảiquyết khác với vụ việc đã được giải quyết, tức là đã có tiền lệ thì thẩm phán phải tuântheo và không thể tạo ra án lệ)

Còn về điều kiện trong bản án phải thể hiện thái độ, quan điểm của thẩm phán về cácvấn đề pháp luật được đặt ra Các quan điểm và thái độ của thẩm phán chỉ được chấp

nhận khi đưa ra những lý lẽ hợp lý “ resonable” Thông thường những bản án tạo

thành những án lệ phổ biến gắn liền với việc các thẩm phán thể hiện quan điểm củamình đối với câu hỏi pháp luật đặt ra một cách rõ ràng và dứt khoát16 Ví dụ trong vụMoorgate Mercantile v Twitchings17 thẩm phán Lord Denning đã thể hiển quan điểmcủa ông với việc áp dụng chế định Estoppel18 trong luật Anh như sau: khi một ngườiđã thể hiện lời nói, lời hứa và các hành vi cụ thể của mình là cho người khác tin vàthiết lập các giao dịch với mình thì anh ta sẽ không được quyền thoái thác nghĩa vụ

12Bài viết “ Nghiên cứu so sánh nguồn luật án lệ trong hệ thống pháp luật nước Anh” của Nguyễn Văn Nam, một số đặc

điểm về nguồn án lệ, Tr.3.

13Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay” Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM, Tr.12.

14Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay” Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM, Tr.12.

15Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay” Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM, Tr 13.

16Bài viết “ Nghiên cứu so sánh nguồn luật án lệ trong hệ thống pháp luật nước Anh” của Nguyễn Văn Nam, Tr.4,

Một số đặc điểm về nguồn án lệ.

17Xem: Moorgate Mercantile v Twitchings, [1976], QB, 225, CA.

18Estoppel là chế định pháp lý đặc thù trong luật Common Law ở nước Anh Estoppel có nghĩa là “ngăn không cho phủ

nhận” – một nguyên tắc pháp luật khi một người đã khẳng định điều gì thì không được bác bỏ.

Trang 6

phát sinh từ lời hứa và các hành vi cụ thể nói trên của mình Quan điểm và thái độ củathẩm phán đối với vấn đề pháp luật mới phát sinh trong vụ án sẽ được chấp nhận khithẩm phán có lập luận đưa ra trong một án lệ phải hợp lý và có lôgic pháp luật.Đặc điểm này là một đặc trưng cơ bản trong văn hóa pháp lý của các thẩm phán tronghệ thống pháp luật bị ảnh hưởng bởi truyền thống pháp luật common law.

Ba là, án lệ được tạo ra phải xuất phát từ tranh chấp giữa các bên trong vụ án.Mỗi vụ án lệ đều hầu như gắn với một tình huống, một câu chuyện, trong đó các bêntranh chấp với nhau và tòa án là trọng tài giải quyết tranh chấp đó Đó chính là lý do

tại sao trong tên các bản án lệ thường thấy ký tự “v” ( tượng trưng cho versus: kiện).

Ngoài ra, điều này còn có ý nghĩa một mặt tạo sự thuận lợi cho người học luật và cũngnhư áp dụng luật vì dễ nhớ, nhưng mặt khác gây ra khó khăn trong việc xác định cáctình tiết vụ việc và tìm kiếm các quy tắc trong bản án dài dòng của các thẩm phán.Vì vậy, luật trong hệ thống common law thường hay được gọi là luật theo vụ việc –

án lệ (case law)19

Bốn là, hoạt động công bố và hệ thống hóa án lệ Phần này nhóm nghiên cứu sẽ trìnhbày rõ hơn trong phần “cách trích dẫn và đọc án lệ” ở phần 4 của bài nghiên cứu này.Và cuối cùng để trở thành án lệ thì bản án đó phải được trích dẫn làm căn cứ pháp lýcho việc giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra sau ra Khi giải quyết vụ việc các thẩmphán đã đưa ra những lập luận nhất định Những lập luận này được coi là lý do cho

quyết định hay còn gọi là “ratio dencidendi” trong tiếng Anh có nghĩa là” “the reason for the decision”20 nghĩa là lý do cho quyết định Khi giải quyết một vụ việc tương tự

các thẩm phán đã vận dụng “ratio decidendi” của bán án trước để giải quyết vụ việc

tương tự thì bản án trước đây mới được xem là án lệ thực tế Vấn đề này sẽ được

nhóm đưa vào phần 2 của bài nghiên cứu này nói về vấn đề “ ratio dencidendi” và

“obiter dictum” rõ hơn.

2 Thành phần, cấu trúc của án lệ:

Trước hết chúng ta nhắc lại về học thuyết “stare decisis” mà chúng ta đã trình bày ở phần trên, tuy nhiên ở đây nhóm muốn nhắc lại về nguyên tắc “stare decisis” có thể

được tóm tắt một cách đơn giản như sau: hai vụ việc với các tình tiết chính tương tựnhư nhau sẽ được xét xử như nhau Nhưng khi vụ việc được đem ra so sánh giữa haivụ việc khác nhau thì câu hỏi đặt ra là bằng cách nào để xác định được những tình tiếtnào là hoặc phải là có tính liên quan? Nguyên đơn của cả hai vụ việc đều có cùng tênthì khó có thể được coi là tình tiết liên quan tương tự nhưng ranh giới ở chổ nào?Hoặc giả định khi giải thích án lệ, nên chăng ta chỉ xem xét các tình tiết được tòa coilà những cơ sở quan trọng chủ yếu để lập luận cho phán quyết của mình21?

Ranh giới cơ bản khi giải thích án lệ của Anh là sự khác nhau giữa “Ratio decidendi”

(phần lý do hay nguyên tắc để phán quyết (mang tính bắt buộc)) còn được gọi là phần

chủ đạo và “ Obiter dictum” (phần bình luận của thẩm phán (mang tính không bắt

buộc))

19Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay” Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM, Đặc

điểm của bản án được xem là án lệ, Tr.14

20Trích từ Luận Văn Tiến Sĩ “Evaluation of the applicability of common law approaches to precedent in Vietnam” của

TS Đỗ Thị Mai Hạnh, ĐH Wollongong, Úc, Ratio decidende, Tr 39.

21Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Giải thích các án lệ, Tr 90.

Trang 7

2.1 Ratio decidendi: có nghĩa là lý do đưa ra quyết định, hay là “quy tắc pháp lý

của vụ kiện” do thẩm phán đưa ra để biện luận cho phán quyết của mình22 trong mỗibản án là cơ sở lập luận quan trọng để đi đến phán quyết, là những nguyên tắc, quyphạm pháp luật dựa vào đó người thẩm phán ra quyết định đối với các đương sự trongvụ việc đã xử Bộ phận này trong bản án có giá trị ràng buộc, tuy nhiên, thẩm phán cóthể từ chối áp dụng phần ratio decidendi của một phán quyết trong quá khứ vì một sốlý do:

- Một là do thẩm phán không đồng ý với phán quyết đó và đã cố gắng tìm ra nhữngtình tiết khác nhau giữa vụ việc đang xét xử và vụ việc đã xét xử

- Hai là do thẩm phán không tìm thấy nguyên tắc pháp lý trong án lệ có liên quan.Điều này có thể xảy ra vì thẩm phán Anh nhiều khi rất lan man23 và đã cho ra đờinhững bản án lệ dài lê thê, khó xác định rõ phần lý lẽ ra phán quyết

- Ba là khó xác định phần “ratio decidendi” vì phán quyết được đưa ra dựa trên

nhiều lý lẽ khác nhau Những phán quyết kiểu này có thể là đối tượng nghiên cứuhấp dẫn cho các học giả pháp lý nhưng sẽ là nỗi kinh hoàng cho các luật sư vàthẩm phán của các toà cấp dưới trong quá trình áp dụng tiền lệ pháp vào thực tiễnxét xử

Trong trường hợp có nhiều thẩm phán cùng xét xử và mỗi thẩm phán đều đưa ra lý dophán quyết, lý do nào được đa số thẩm phán đưa ra sẽ là ratio Nếu không lý do nàođược đa số thẩm phán đưa ra, sẽ không có án lệ phải tuân theo đối với tòa án sau này.Nếu các thẩm phán đưa ra hai hay nhiều hơn quy tắc pháp lý, thì mỗi quy tắc pháp lý

đó đều tạo nên một “ratio decidendi” bắt buộc phải tuân theo trong tương lai24

2.2 Obiter dictum: là phần bình luận, nhận xét hoặc ý kiến của thẩm phán đưa

ra trong quá trình xét xử vụ việc chứ không phải là những lý lẽ cần thiết để đưa đếnphán quyết, vì vậy không phải là tiền lệ pháp và không có giá trị ràng buộc25

Mục đích của nó tạo ra tính thuyết phục cho quyết định của toà án Có hai loại “obiter dicta”26:

- Loại thứ nhất là các quy tắc được thẩm phán đưa ra mà không dựa trên các sự kiệnpháp lý của vụ kiện

- Loại thứ hai là các quy tắc pháp lý do thẩm phán đưa ra dù đã dựa trên các sự kiệnpháp lý của vụ kiện, nhưng không phải là cơ sở của quyết định tòa án, ví dụ nhưquy tắc do thẩm phán thiểu số đưa ra

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng; mặc dù không có tính chất bắt buộc, nhưng nhiều khi

“obiter dicta” vẫn có uy tín như “ratio decidendi” và được áp dụng tùy thuộc vào uy

tín của thẩm phán đưa ra nó, thứ bậc của tòa án, tính chất thuyết phục của nó, vàbối cảnh cụ thể của vụ kiện đang được xem xét

22Trích dẫn http://luatminhkhue.vn/hinh-su/an-le-o-uc-lich-su,-khai-niem,-nguyen-tac-va-co-che-thuc-hien.aspx, nguồn Laurence Boulle

23Trích dẫn Giáo trình Luật so sánh , ĐH Luật Hà Nội Nguồn “the English Legal System”, MacDonal and Evans (1979)

24 Trích dẫn http://luatminhkhue.vn/hinh-su/an-le-o-uc-lich-su,-khai-niem,-nguyen-tac-va-co-che-thuc-hien.aspx, nguồn Laurence Boulle.

25Trích dẫn Giáo trình Luật so sánh , ĐH Luật Hà Nội Nguồn “the English Legal System”, MacDonal and Evans (1979).

26Trích dẫn http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/17/2143/, Richard Ward & Amanda Wragg, English Legal

System, 9th Ed, Oxford University Press, 2005, tr.82.

Trang 8

Cần phân biệt rằng, bản thân thẩm phán khi ra quyết định không xác định cái gì làchính yếu, còn cái gì là phụ Điều đó sẽ do thẩm phán khác làm khi xem xét quyếtđịnh đó có phải là án lệ cho vụ việc ông ta đang giải quyết hay không Do đó, thẩmphán phải phân tích kỹ lưỡng các quyết định toà án trước đó để phân biệt đâu là quy

tắc pháp lý trong quyết định đó (ratio decidendi) và đâu là phần luận cứ phụ (obiter dictum) trong lời giải thích (reason) của quan toà đưa ra biện luận cho quyết định của mình Như vậy, “ratio decidendi” có thể thay đổi trong quá trình thẩm phán áp dụng

sau này chúng có thể trở nên tổng quát hơn hoặc cụ thể hơn

Về mặt kỹ thuật, nói một cách chặt chẽ, khi xét xử, các thẩm phán phải tuân theo quy

tắc pháp lý trong phần luận cứ chính (ratio decidendi) được đưa ra trong bản án trước.

Những nhận định hoặc quyết định của tòa án trước đó đối với một vụ án không dựa

trên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên cơ sở bình luận của thẩm phán (obiter dictum)

sẽ không có giá trị bắt buộc tòa án cấp dưới phải tuân thủ

Phương pháp chung mà các thẩm phán thường sử dụng là đi tìm tiền lệ pháp để ápdụng, nếu không có tiền lệ pháp có liên quan, người thẩm phán sẽ vận dụng án lệ cóbản chất gần gũi nhất với vụ việc đang giải quyết Ngày nay, quyết định của toà vẫn bịgiới hạn nghiêm ngặt trong kết quả của phán quyết trong quá khứ (tiền lệ pháp) vì vậyphát triển chậm chạp và chỉ trong những giới hạn quy định

3 Hiệu lực của án lệ: bắt đầu có hiệu lực và kết thúc hiệu lực

3.1 Bắt đầu hiệu lực của án lệ:

Điểm đặc thù của hệ thống pháp luật Anh là bộ phận quan trọng của luật thực định củaAnh là do cơ quan tư pháp, tức là tòa án sáng tạo ra dựa trên cơ sở áp dụng và pháttriển án lệ hay tiền lệ pháp Những lĩnh vực như hợp đồng, bồi thường trách nhiệmdân sự ngoài hợp đồng, cũng như một số hành vi phạm tội nghiêm trọng như giếtngười và hành hung tập thể đều là sản phẩm của cơ quan tư pháp chứ không phải của

cơ quan lập pháp Đây là điểm khác biệt cơ bản của hệ thống pháp luật Anh với các hệthống pháp luật pháp điển hóa ở châu Âu lục địa và những hệ thống pháp luật khácchịu ảnh hưởng của các hệ thống pháp luật ở châu Âu lục địa

Trong hệ thống pháp luật Anh, một nguyên tắc ra đời từ khoảng thế kỷ XIII có tên

Latinh là “stare decisis” có nghĩa là tuân thủ các phán quyết trước đây và không phá

vỡ những quy phạm pháp luật đã được thiết lập trong án lệ Theo nguyên tắc này, cáctòa án cấp dưới chịu sự ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lý do các tòa án cấp trênsáng tạo ra được ghi nhận trong các bản án trong quá trình xét xử các vụ kiện trongquá khứ Tòa án cấp trên được hiểu là thượng nghị viện, Tòa phúc thẩm và tòa án cấpcao Tuy nhiên, không phải toàn bộ các phán quyết của tòa án này đều trở thành án lệ.Dù hội đủ các yếu tố về thẩm quyền cũng như nội dung quan điểm xét xử, một phánquyết vẫn không được xem là án lệ nếu nó không được xuất bản27

Những quyết định quan trọng của tòa án với tư cách án lệ bắt buộc được in trong cuốnLaw Report (báo cáo Luật), được xuất bản thành nhiều kỳ khác nhau bởi Ủy ban báncông thuộc Ủy ban báo cáo pháp luật được thành lập năm 1865 bao gồm đại diện củahai hiệp hội luật sư Báo cáo về án lệ do biên tập viên là các luật sư bào chữa hiệuđính Chỉ có một số các quyết định đã chọn lọc được xuất bản (khoảng 75% các quyếtđịnh của tòa án cấp cao) Vị thẩm phán đã ra quyết định này sẽ duyệt xét báo cáo28

27Giáo trình Luật So Sánh – ĐH Luật Hà Nội 2009, Tr 260.

28Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr 106.

Trang 9

Như vậy khi một vụ án được cơ quan có thẩm quyền ghi chép lại vào những văn bản(Law Report) một cách hợp pháp (hay nó đã được hệ thống hóa) thì nó đã trở thànhmột nguồn luật của các nước theo hệ thống thông luật, nói cách khác kể từ khi vụ ánđược ghi chép lại một cách hợp pháp thì "nó được coi là một viên gạch trong bứctường pháp luật29.

3.2 Kết thúc hiệu lực của án lệ

Trong Thông luật, về mặt lý thuyết, tính hợp lệ của án lệ tồn tại không phụ thuộc vàothời gian Trên thực tế, đảo ngược án lệ, bác bỏ án lệ, thay đổi về thời gian, hoàn cảnhcó thể dẫn đến sự vô hiệu của một án lệ

Việc đảo ngược án lệ xảy ra khi có tòa án cao hơn thường là Tòa án cấp phúc thẩmxem xét lại một trường hợp khiếu nại, đó là trong trường hợp đầu tiên của tòa án cấpdưới của mình quyết định (đó chính là án lệ trước đó được quyết định bởi tòa án cấpdưới), và tuyên bố án lệ đó không còn đúng nữa hay bãi bỏ quyết định đó của tòa áncấp dưới30

Do đó, các bên phải tuân thủ các quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm và tòa án cấpdưới phải bị ràng buộc bởi quyết định đó trong tương lai Một sự đảo ngược được coilà "một hành động phối hợp, không thuộc thẩm quyền cấp trên” có thể ảnh hưởng đếncả hai bên và tiền lệ tư pháp Sự đảo ngược của một tiền lệ làm cho nó không hợp lệvà hết giá trị hiệu lực tại thời điểm tòa án tuyên bố

Khác với trường hợp đảo ngược, “việc bác bỏ án lệ” đó là một nguyên tắc được đặt rabởi một tòa án cấp dưới và bị bác bỏ bởi một tòa án cao hơn trong một trường hợpkhác sau này” Bác bỏ thường xảy ra bất cứ khi nào, một tòa án trước đây đã tạo ra ánlệ được coi là đã thực hiện một quyết định sai lầm trong các trường hợp Nghĩa là ánlệ xét xử của tòa án trước đây có thể được đánh giá là “xuyên tạc” hoặc đã “hiểu sai”luật pháp Bác bỏ được coi là một hành vi dựa trên quyền tài phán cao hơn mà thườngphụ thuộc vào tuyên bố từ Tòa phúc thẩm hoặc Toà án tối cao trong một hệ thống tòaán Thẩm quyền của bác bỏ cũng được trao trong đạo luật, theo đó một sự thay đổitrong luật pháp có thể bác bỏ án lệ hiện có, và quy định của luật thành văn có hiệu lựcvào ngày ban hành Luật thành văn không chỉ bác bỏ án lệ trong quá khứ mà còn cóthể có hiệu lực hồi tố, tức là có khả năng làm vô hiệu một bản án đã được xét xử trongquá khứ31 Lý do án lệ bị bác bỏ có thể do liên quan đến cuộc sống hàng ngày nay bịlỗi thời hoặc cần thiết phải thay đổi để đáp ứng những thay đổi trong xã hội Như vậy,việc bác bỏ trực tiếp dẫn đến một án lệ kết thúc hiệu lực và sự xuất hiện của mộtnguyên tắc mới thay thế cái cũ Do đó, án lệ đã bị bác bỏ không được coi là nguồn luậtvà không thể áp dụng cho các trường hợp tương tự trong tương lại Tuy nhiên, cần lưuý rằng giá trị của một án lệ có thể được phục hồi khi một tòa án cao hơn kết luận rằng

"nó đã được quyết định một cách đúng đắn”32

Cuối cùng, sự thay đổi về thời gian, hoàn cảnh hay nói cách khác án lệ không còn phùhợp với thực tiễn đây cũng chính là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của án lệ Trong trườnghợp này, án lệ không được coi là một nguồn luật mà không cần bất kỳ thông báo nào

29http://vi.wikipedia.org/wiki- Morris Cools, Laying Down The Law, fourth Edition, Butter Worth, năm 1996, trang 49.

30Giáo trình Luật So Sánh – ĐH Luật Hà Nội 2009.

31Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer.

32Án lệ ở các nước http://www.baongoc.vn/news/pdf/an-le-o-cac-nuoc-bai-1-co-che-xet-xu-linh-hoat-2528.pdf.

Trang 10

Ví dụ, theo Allen, “án lệ cổ xưa sẽ không còn được áp dụng rộng rãi đối với xã hộihiện đại”

Nhìn chung, hiệu lực của án lệ có thể kết thúc bằng quyết định của tòa án cấp cao hơn

do án lệ không phù hợp với các quy định của luật pháp và đôi khi không có thông báonào do sự thay đổi về thời gian, hoàn cảnh33

4 Cách trích dẫn và đọc án lệ

Án lệ được công bố trong các tập báo cáo Luật (Law Reports) Trong hệ thống phápluật của nước Anh, những quyết định của tòa án với tư cách là án lệ bắt buộc được introng các Law reports được xuất bản thành nhiều kỳ khác nhau bởi ủy ban bán côngthuộc Ủy ban bán công báo cáo pháp luật (the semi-offical Incorporated Council oflaw Reporting) được thành lập năm 186534 Báo cáo về án lệ do các biên tập viên, cácluật sư hiệu đính được chọn lọc Vị thẩm phán đã ra quyết định sẽ duyệt báo cáo35.Các án lệ được công bố trong các Law Report được xuất bản thành các tập, khôngđánh số liên tục mà theo năm xuất bản, việc tra cứu các án lệ dựa vào số hiệu và sốtrang trong các Law Reports Một quyết định của tòa án được công bố thường dướitên của các bên (theo quy định sẽ viết nghiêng) Việc sử dụng phương pháp này khiếncác quyết định của tòa án Anh được sắp xếp theo thứ tự chữ cái mà không theo thứ tựthời gian36

4.1 Cách ghi chép án lệ

Một trong những nguyên tắc ghi chép án lệ là việc ghi chép phải đầy đủ, chi tiết, đồngthời phải giúp người tra cứu tìm được án lệ một cách nhanh chóng và chính xác(số lượng phán quyết ở Anh rất nhiều, vào những năm 1980 người ta ước tính cókhoảng trên 350.000 phán quyết được công bố)37

Vì vậy trước khi ghi chép tình tiết vụ án, những nhận định và phân xử của tòa án đốivới vụ án thì những nội dung chính sau đây phải được thể hiện ở phần đầu của án lệkhi ghi chép lại:

- Tên của vụ án: Tên vụ án là tên nguyên đơn và tên bị đơn của vụ án (thường viếtnghiêng) Trên nguyên tắc tên nguyên đơn (hoặc bên phúc thẩm) thường đặt trước,tên bị đơn viết sau Tên các bên có thể được ghi cụ thể hoặc viết tắt, đôi khi têncủa các bên được in đậm hoặc gạch chân Đối với các vụ án mà luật pháp khôngcho phép viết tên đầy đủ của các đương sự vì lý do bí mật (đặc biệt đối với các vụán liên quan đến trẻ em, người tàn tật) thì tên các bên sẽ được viết tắt Tên của bênđối kháng được ngăn cách bởi chữ "v" (là chữ viết tắt của chữ Versus, tiếng Latincó nghĩa là "kiện", "chống lại" nhưng trong vụ dân sự lại dùng chữ "và"38 Các vụ

33Trích từ Luận Văn Tiến Sĩ “Evaluation of the applicability of common law approaches to precedent in Vietnam” của

TS Đỗ Thị Mai Hạnh, ĐH Wollongong, Úc.

34Bài viết “ Nghiên cứu so sánh nguồn luật án lệ trong hệ thống pháp luật nước Anh” của Nguyễn Văn Nam, Đặc điểm

về nguồn luật án lệ, Tr.7.

35Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr.106.

36Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr.105.

37Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, David Rene, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí

Minh, năm 2003.

38Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr 106.

Trang 11

việc hình sự thường bắt đầu bằng chữ RI hoặc R (ký hiệu chỉ nhà vua, Rex hoặcRegina) và chữ "v" có nghĩa là kiện "chống lại"39.

- Năm tòa án ra phán quyết đối với vụ án: được ghi liền sau tên của vụ án khi tríchdẫn, năm ra phán quyết phải cho vào ngoặc đơn

- Số tập văn bản của văn bản ghi chép án lệ: Trong trường hợp số lượng tập có trên

1 tập được xuất bản trong một năm cụ thể

- Tên viết tắt của văn bản ghi chép: Trong cuốn tập san án lệ đều có ghi lại ký hiệucủa các báo cáo định kỳ của tòa Mỗi ban của tòa cấp cao đều có các báo cáo riêng,phân biệt bởi các chữ cái viết tắt Ví dụ: Q.B là của Tòa Nữ hoàng; CH là của TòaCông lý và F hoặc Fam là của Tòa Gia đình Các báo cáo định kỳ có ký hiệu làA.C (viết tắt của từ Appeal Case: án phúc thẩm) là các quyết định của tòa phúcthẩm hoặc C.A (Court of Apeal)

- Số thứ tự trang đầu tiên của văn bản ghi chép lại vụ án: Đôi khi người ta ghi số thứtự trang đầu tiên và số thứ tự của trang cuối cùng của văn bản ghi lại án lệ

Nhóm đưa ra một ví dụ về một án lệ: Sharif v Azad [1967] 1QB 605 (CA) Án lệ này

đuợc hiểu là vụ án mang tên Sharif kiện Azad, quyết định đưa ra và xuất bản vào năm

1967, tập 1 (CA) được trích dẫn ở cuối là bản án của tòa phúc thẩm (Court of appoal)sau khi xem xét kháng cáo đối với bản án được kháng cáo từ tòa cấp dưới – Tòa nữhoàng (QB) trực thuộc tòa cấp cao và vụ việc được bắt đầu từ trang 605 có chữ CA.Trường hợp [1967] thay bằng (1967) sẽ có nghĩa khác, trường hợp (1967) có nghĩa lànăm xảy ra vụ án

4.2 Thẩm quyền ghi án lệ:

Ở nước Anh, từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX Việc ghi chép các vụ án do cáccá nhân thực hiện mà không hề được cơ quan đã xét xử vụ án kiểm tra lại trước khicông bố Hơn nữa chất lượng của việc ghi chép này hoàn toàn phụ thuộc vào khả năngvà trình độ của từng người ghi chép Do vậy một số vụ án đã không được áp dụng vìthiếu tính khoa học của chúng40

Để giải quyết vấn đề này năm 1965, nước Anh đã thành lập hội đồng ghi chép án lệ cótên là Incorporated Council of Law Reporting (Ủy ban xuất bản báo cáo pháp luật) vớimục đích ghi lại một cách trung thực tình tiết của vụ án và quan điểm của thẩm pháncùng với quyết định của Tòa (đặc biệt là các quyết định của tòa án cấp cao)41

Về nguyên tắc, sau khi ghi chép những án lệ này phải được tòa án nơi ra phán quyếtkiểm tra lại trước khi xuất bản Trên thực tế hầu hết những vụ án quan trọng, điển hìnhđặc biệt là những vụ án do các tòa cấp cao xét xử sẽ được ghi lại một cách chi tiết Sauđó những người có thẩm quyền theo luật định sẽ quyết định những vụ án nào sẽ đượclưu lại để làm cơ sở cho việc xét xử sau này Và hiện nay tất cả các nước theohệ thống Thông luật đều lập ra một cơ quan chuyên trách ghi chép án lệ

Như vậy khi một vụ án được cơ quan có thẩm quyền ghi chép lại vào những văn bản(Law Report) một cách hợp pháp (hay nó đã được hệ thống hóa) thì nó đã trở thành

Trang 12

một nguồn luật của các nước theo hệ thống thông luật, nói cách khác kể từ khi vụ ánđược ghi chép lại một cách hợp pháp thì "nó được coi là một viên gạch trong bứctường pháp luật”42.

4.3 Công bố án lệ:

Các án lệ của các tòa được đăng tải trong các báo cáo riêng, có các ký hiệu quy định.Các án lệ được công bố trong các tập báo cáo luật được xuất bản thành các tập, khôngđánh số liên tục mà theo năm xuất bản, việc tra cứu các án lệ dựa vào số trang trongcác báo cáo luật Một quyết định của tòa án được công bố thường dưới tên của cácbên Việc sử dụng phương pháp này khiến các quyết định của tòa án Anh được sắpxếp theo chữ cái mà không theo thứ tự thời gian trong chính mỗi tập báo cáo luật43.Trong hệ thống pháp luật của các nước coi án lệ là nguồn luật có hiệu lực bắt buộctrong các nguồn thì việc hệ thống và xác định ký hiệu các án lệ cụ thể luôn phải tuântheo quy chuẩn chặt chẽ mang tính bắt buộc Công việc đó có ý nghĩa rất lớn vì:

- Thứ nhất, đây là một trong những nguyên tắc để xây dựng tiền lệ pháp

- Thứ hai, đây là điều kiện bắt buộc để một phán quyết trở thành án lệ Chỉ có 1/10các phán quyết của tòa cấp cao được xuất bản và vì vậy giá trị của các phán quyếtđược coi là án lệ Các bản án của Tòa Hoàng gia dù là tòa cấp cao tuy thế khôngđược xem là án lệ, bởi vì chúng không được xuất bản một cách có hệ thống44

- Thứ ba, việc công bố các án lệ cùng với sự loại trừ nhất định (theo tỷ lệ): công bố75% các quyết định của Thượng nghị viện, 25% quyết định của Tòa phúc thẩm vàchỉ 10% của Tòa tối thượng như vậy hoàn toàn có thể gạt ra những quyết địnhkhông được coi là án lệ, sẽ giảm bớt số lượng khổng lồ của những quyết định cóthể làm lạc hướng luật gia Anh và làm suy yếu uy tín của án lệ45

Ngoài ra, nhóm xin trích dẫn thêm một ví dụ về một án lệ tại Úc (một quốc gia thuộckhối thịnh vượng chung Anh Quốc- quốc gia thuộc hệ thống Common Law) để chúng

ta thấy rõ được sự gần như giống nhau về việc lưu giữ, công bố án lệ giữa Anh và Úc.Ở Úc (cũng như các nước thông luật khác), án lệ được đăng tải trong các tuyển tập tòaán (Law Reports) và lưu giữ đã hơn trăm năm Tuy nhiên, không phải mọi quyết địnhcủa tòa đều được đăng tải trong các tuyển tập này; những quyết định không được đăngvẫn có thể được áp dụng Những tuyển tập các quyết định tòa án ở Úc gồm cóCommonwealth Law Reports (CLR)

Australia Law Report (ALR) và Australian Law Journal Reports (ALJR) Các quyếtđịnh toà án ở Úc được trích dẫn đúng như sau: Babanlaris v Lutony Fashions Pty Ltd(1987) 61 ALJR 304 Trong đó, Babanlaris – nguyên đơn,Lutony Fashions Pty Ltd –bị đơn Chữ cái v ở giữa – viết tắt của “versus” – “chống lại, kiện” Những dữ liệutiếp theo cho thấy quyết định đó đăng tải trong tuyển tập “Australian Law JournalReports”, ở tập xuất bản năm 1987, từ trang 30446

42 http://vi.wikipedia.org/wiki- Morris Cools, Laying Down The Law, fourth Edition, Butter Worth, năm 1996, trang 49.

43Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr 106.

44Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr 106.

45Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, David Rene, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí

Minh, năm 2003

46 http://luatminhkhue.vn/hinh-su/an-le-o-uc-lich-su,-khai-niem,-nguyen-tac-va-co-che-thuc-hien.aspx

Ngày đăng: 24/06/2016, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w