- Nghiên cứu về Truyện Kiều và những tài liệu viết về tác phẩm này để từ đó khái quát được tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du được thể hiện như thếnào trong kiệt tác này của ông.. Ý nghĩa lý
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 11
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 12
7 Kết cấu 12
Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG THẨM MỸ CỦA NGUYỄN DU TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU 13
1.1 Một số vấn đề lý luận về tư tưởng thẩm mỹ 13
1.2 Những tiền đề tư tưởng ảnh hưởng tới tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du 21
1.2.1 Ảnh hưởng của Nho – Phật – Lão và tư tưởng thẩm mỹ Việt Nam trước thế kỷ XIX đến tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du 21
1.2.2 Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX 33
1.3 Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều 39
1.3.1 Tác giả Nguyễn Du 39
1.3.2 Đôi nét về tác phẩm “Truyện Kiều” 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 46
Chương 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG THẨM MỸ CỦA NGUYỄN DU ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU 48
2.1 Quan niệm của Nguyễn Du về cái Đẹp và cái Xấu 50
Trang 22.1.1 Quan niệm của Nguyễn Du về cái Đẹp 50
2.1.2 Quan niệm của Nguyễn Du về cái Xấu 69
2.2 Quan niệm của Nguyễn Du về cái Bi, cái Hài, cái Anh hùng 74
2.2.1 Quan niệm của Nguyễn Du về cái Bi 74
2.2.2 Quan niệm của Nguyễn Du về cái Hài 82
2.2.3 Quan niềm về cái Anh hùng của Nguyễn Du 90
2.3 Những giá trị và hạn chế trong tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du 94
2.3.1 Những giá trị và nguyên nhân 94
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 98
Kết luận chương II 107
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trăm năm trong cõi người ta, Chữ Tài, chữ Mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Khi con người đã trải qua những biến cố, những thăng trầm của cuộcsống, đọc lại những vần thơ ấy của Nguyễn Du, chắc ai cũng sẽ có những suy
tư sâu sắc hơn về cuộc đời, sẽ thấy mình trưởng thành hơn và rút ra đượcnhiều bài học cho bản thân Nguyễn Du không phải là một nhà triết họcnhưng những gì mà ông đã viết thì lại hết sức triết lý, điều đó nhắc cho chúng
ta nhớ tới câu nói “bẩm sinh mỗi người là một nhà triết học”
Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm vô cùng giá trị, trong
đó có Truyện Kiều Đây là kiệt tác văn học của Việt Nam, là tác phẩm hội tụ đầy đủ tinh hoa của ngôn ngữ Việt Từ nền văn chương dân tộc, Truyện Kiều
đã gia nhập vào thế giới văn chương siêu việt nhất của nhân loại Đại thi hàoNguyễn Du đã cùng với Khuất Nguyên (340 – 278 TCN), Đỗ Phủ (712 –770), Lý Bạch (701 – 762) của Trung Hoa; William Shakespeare (1564 –1616), Charles Dickens của Anh; Aleksandr Sergeyevich Pushkin (1799 –1837), Lev Nikolayevich Tolstoy (1828 – 1910), Fyodor Mikhailovich
Dostoevsky (1821 – 1881) của Nga; Dante Alighieri (1265-1321) của Ý;Miguel de Cervantes y Saavedra (1547 – 1616) của Tây Ban Nha; VictorHugo (1802 – 1885), Honoré de Balzac (1799 - 1850) của Pháp và JohannWolfgang von Goethe (1749 – 1832) của Đức,… đi vào cõi bất tử
Truyện Kiều đã sánh vai cùng các kiệt tác của thế giới từ cổ đại Ai Cập,
cổ đại Trung Hoa đến Âu Mỹ hiện đại trong bộ Từ điển Các tác phẩm của mọi thời đại và của mọi xứ sở xuất bản ở Paris năm 1953 Truyện Kiều cũng
Trang 4bước văo vũ đăi chính trị như lă tiíu biểu cho nền văn hóa Việt Nam vă cóảnh hưởng sđu sắc đến mọi mặt của đời sống văn hóa xê hội nước ta Đó lă disản văn hóa quý giâ của dđn tộc Kiệt tâc năy đê được nghiín cứu trín nhiềubình diện như văn học, ngôn ngữ học, văn hóa học,… Suốt hơn hai thế kỷ vớihăng nghìn chuyín khảo nhưng đến nay, kiệt tâc năy vẫn ẩn giấu nhiều bí ẩn
vă giâ trị mă câc thế hệ hôm nay vă cả mai sau đều mong muốn khâm phâ,tìm hiểu
Trín bình diện mỹ học, cho đến nay chưa có một công trình năo đi sđuvăo câc tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du một câch chuyín biệt Tố Nhưchưa khi năo nói thẳng văo câi Đẹp, câi Bi kịch cuộc đời nhưng những gì mẵng đê viết, đê cống hiến cho đời thì lại chất chứa những khía cạnh thẩm mỹ.Câc phạm trù mỹ học đều ẩn chứa trong thơ Nguyễn Du, mă cụ thể hơn lă
trong Truyện Kiều Ở Nguyễn Du, đđu đó đều tồn tại câi Đẹp, câi Bi, câi Anh
hùng,… Rất bình dị nhưng cũng rất cao quý ! Quả thực dưới góc độ thẩm mỹ
Truyện Kiều chưa được soi rọi sắc nĩt Đđy lă hướng tiếp cận mới vă cũng có
nhiều chiều khi đặt ra vấn đề
Việt Nam lă quốc gia thuộc hệ hình văn hóa phương Đông Muốn tìm
hiểu Truyện Kiều dưới góc độ thẩm mỹ ta không thể hoăn toăn vận dụng
những nguyín lý thẩm mỹ của phương Tđy (phương phâp mỹ học mâcxít) để
nghiín cứu mă chúng ta phải đặt Truyện Kiều trong hệ quy chiếu của văn hóa
thẩm mỹ phương Đông để lăm rõ vấn đề Mặt khâc, quan niệm thẩm mỹ củangười phương Đông cũng còn có nhiều đânh giâ khâc nhau Điều năy đặt ra
những khó khăn nhất định khi tìm hiểu tư tưởng thẩm mỹ trong Truyện Kiều.
Nhất lă khi lối tư duy của người phương Đông không trực tiếp đi thẳng văovấn đề mă thông qua văn hóa, nghệ thuật,… để bộc lộ tư tưởng Lối tư duy ấythđm trầm, kín đâo, sđu sắc nhưng cũng rất bản lĩnh vă mênh liệt
Trang 5Một khía cạnh khác mà chúng ta cũng cần lưu ý, đó là mỗi một dân tộcđều có những giá trị thẩm mỹ của riêng dân tộc đó Dù ở trong hệ quy chiếunào thì tư tưởng thẩm mỹ từng dân tộc cũng có những đặc trưng riêng Điều
ấy, càng nhấn mạnh rằng, dân tộc Việt Nam cũng có hệ thống tư tưởng thẩm
mỹ của riêng mình, nó được kết tinh trong lịch sử dân tộc ở những danh nhânvăn hóa như Nguyễn Du Vì vậy, tìm hiểu tư tưởng thẩm mỹ của những conngười ấy, những nền văn hóa ấy là điều hết sức cần thiết
Trong tình hình thực tiễn hiện nay, Đảng ta đã có những chủ trươngđúng đắn, phù hợp với tình hình cụ thể của dân tộc, đặc biệt là những chủtrương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Trong văn kiện Hội
nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa XI có khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” [5,48] “Tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên Phát huy vai trò của văn học – nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm của con người Bảo đảm quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của mỗi người dân và của cộng đồng” [5, 50] “Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân tộc, dân chủ, tiến bộ, phản ảnh chân thật, sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước Đẩy mạnh sáng tác, quảng bá tác phẩm, công trình về đề tài cách mạng, kháng chiến, lịch sử dân tộc, công cuộc đổi mới đất nước Từng bước xây dựng hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam” [5, 55] Văn kiện cũng khẳng định, cần phải định hướng
được tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh niên, thiếu niên
Do vậy, việc tìm hiểu tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du trong tác phẩm
Trang 6Truyện Kiều là điều hết sức cần thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng trong
việc phát triển văn hóa và con người Việt Nam toàn diện, có nhân cách, lốisống tốt đẹp Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay, trước mưu đồ độc chiếm BiểnĐông của Trung Quốc, chúng ta phải quyết tâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ bằng con đường hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế thì mặt trậnvăn hóa là mặt trận đi đầu và là nền tảng vững chắc nhất trong công tác đấutranh ngoại giao của chúng ta mà không có gì thuyết phục hơn là sự chứngminh của lịch sử, của quá khứ dân tộc
Như vậy, với những lý do trên tôi đã quyết định chọn Tư tưởng thẩm
mỹ của Nguyễn Du trong tác phẩm “Truyện Kiều” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử mỹ họctrong đó có phần lịch sử mỹ học Việt Nam Có thể kể đến một số tác giả tiêubiểu như Đỗ Văn Khang, Đỗ Huy, Vũ Khiêu, Vũ Minh Tâm, Lê Ngọc Trà,Như Thiết…
- Là một nhà nghiên cứu văn học, triết học, nghệ thuật học, mỹ học, tácgiả Đỗ Văn Khang đã cho xuất bản một số công trình mỹ học quan trọng
Trong cuốn Lịch sử mỹ học, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1983, ông đã trình bày và
phân tích quá trình hình thành và phát triển của mỹ học thế giới nói chungcũng như của mỹ học Việt Nam nói riêng
Ngoài ra, có thể kể đến các tác phẩm khác của tác giả Đỗ Văn Khang
như: Mỹ học Mác – Lênin (viết cùng Đỗ Huy), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1985; Mỹ học đại cương, Nxb Giáo dục, 1996, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản có bổ sung năm 2002 và 2008; Mỹ học Mác – Lênin cao cấp, Nxb Đại học Sư phạm, 2004 và gần đây nhất là Giáo trình Mỹ học
Trang 7Mác – Lênin, và chủ biên cuốn Giáo trình Lịch sử mỹ học, Nxb Giáo dục Việt
Nam ấn hành năm 2010
- Là nhà nghiên cứu mỹ học có thâm niên và uy tín của nước ta, ngoàiviệc chủ biên và đồng chủ biên một số công trình, tác giả Đỗ Huy đã có nhiềucống hiến cho ngành khoa học này bằng rất nhiều ấn phẩm có giá trị Đó là:
Mỹ học với tư cách là một khoa học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996;
Mỹ học khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; Đạo đức học, mỹ học và đời sống văn học nghệ thuật, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2002, v.v
Trong thời gian gần đây những công trình mỹ học thực sự mới ra đờikhông nhiều, chủ yếu là tái bản, bổ sung những ấn phẩm đã xuất bản trước đó
Giáo trình đại cương về những khuynh hướng cơ bản trong lịch sử mỹ học
của tác giả Đỗ Huy và Vũ Trọng Dung chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia ấnhành năm 2011 đã được giới nghiên cứu mỹ học nói riêng, bạn đọc nói chungquan tâm Đây là một trong những công trình nghiên cứu thể hiện tâm huyếtcủa đội ngũ các nhà khoa học Công trình này đã đi vào nghiên cứu những nộidung cơ bản trong suốt tiến trình của lịch sử mỹ học phương Tây từ thời cổđại thuộc các khuynh hướng, trường phái khác nhau, đồng thời đề cập đến mỹhọc mácxít ở Việt Nam đương đại với nhiều vấn đề cấp bách mà thực tiễnđang đặt ra cần giải quyết
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác về mỹ học Tất
cả các công trình đó đều đã trình bày khá rõ những vấn đề cơ bản của mỹ học
Nhưng chưa có một công trình nào nói về Tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du trong tác phẩm “Truyện Kiều”.
Về kiệt tác Truyện Kiều, có rất nhiều những bài, sách,… nghiên cứu về tác phẩm này nhưng Truyện Kiều chỉ mới được nghiên cứu riêng lẻ trên văn
bản học và trong văn học Các mặt tâm lý, triết học, âm nhạc, hội họa, khoa
Trang 8học tự nhiên và khoa học xã hội khác còn ít được quan tâm Những nhà
nghiên cứu Truyện Kiều lại thường đơn độc, riêng lẻ, ít có những tập thể,
càng không nói đến có những trung tâm, những viện, những hội chuyên ngành
về Kiều học để thường xuyên tổ chức giao lưu, trao đổi, tranh luận, đề xuấtvấn đề và hướng nghiên cứu
Việc tìm hiểu Truyện Kiều cũng đã vượt ra ngoài đất nước Việt Nam
với một đội ngũ các nhà Kiều học, nói hơn 20 thứ ngôn ngữ khác nhau của
hơn 20 nước trên thế giới Với vị thế quan trọng trong xã hội, Truyện Kiều
cần phải được nâng tầm nghiên cứu để phát lộ hết những giá trị của nó, đồngthời phát huy tác dụng với đời sống văn hóa xã hội của dân tộc Mục đíchcuối cùng là nhằm tôn vinh và bảo vệ di sản văn hóa quý giá vào bậc nhất củadân tộc Việt Nam
Dưới đây là một số những nghiên cứu tiêu biểu về Truyện Kiều:
Cuốn Từ điển Truyện Kiều của GS Đào Duy Anh là những lý giải cắt nghĩa thuật ngữ trong Truyện Kiều Tác phẩm được xuất bản năm 1974 và tái
bản năm 1986 (Phan Ngọc sửa chữa và bổ sung) đã giúp rất nhiều cho bạnđọc trong việc tìm hiểu và nghiên cứu tác phẩm Nay Nhà xuất bản Giáo dụclại tiếp tục cho tái bản lại cuốn sách này để nó đến được với nhiều độc giảhơn nữa Nguyễn Du đã sử dụng một cách tài tình những yếu tố dân gian củangôn ngữ Ông đã dân tộc hóa những đặc trưng văn học chữ Hán, cái màtrước kia chỉ được sử dụng một cách dè dặt, vụng về trong văn học chữ Nôm
Tố Như đã phát triển, hoàn chỉnh và thống nhất hai thành phần quan trọng củangôn ngữ văn học Việt Nam, yếu tố văn học dân gian và yếu tố văn học chữHán để tạo nên một ngôn ngữ văn học mới, dồi dào, uyển chuyển Quyển từđiển này cố gắng phản ánh sự kiện quan trọng ấy của lịch sử ngôn ngữ và lịch
sử văn học Việt Nam Tác giả đã thu thập tất cả những từ đơn, từ kép, nhữngthành ngữ và tổ từ, những hình tượng và điển tích văn học, thỉnh thoảng có
Trang 9thêm những nhận xét về ngôn ngữ học, về tu từ học và về văn học được
Nguyễn Du dùng trong Truyện Kiều Nó sẽ giúp chúng ta hiểu được phần nào
tình hình tiếng Việt thời điểm đầu thế kỷ XIX và cấu tạo của tiếng Việt hiệnđại, đồng thời giúp chúng ta hiểu được những yếu tố nào do Nguyễn Du sángtạo để làm giàu cho ngôn ngữ dân tộc Đây không phải là cuốn từ điển thôngthường mà chủ yếu là từ điển về một tác phẩm nhằm phục vụ sự nghiên cứungôn ngữ và văn chương của Nguyễn Du, cho nên nó không giải thích nhưcác từ điển khác Nó chỉ chú trọng nêu lên những nghĩa do Nguyễn Du dùngtrong tác phẩm, còn những nghĩa khác thì không nói đến
Trong cuốn Truyện Kiều – Những lời bình do tác giả Hoài Phương biên
soạn và tuyển chọn, tập trung rất nhiều bài viết, nhiều ý kiến đóng góp, phê
bình của rất nhiều học giả trong nước và nước ngoài về Nguyễn Du và Truyện Kiều Chẳng hạn như bài Cảm hứng chủ đạo và nội dung xã hội của Truyện Kiều do Nguyễn Ngọc viết; bài Quyền sống của con người trong Truyện Kiều
do Hoài Thanh viết Bên cạnh đó còn có rất nhiều bài viết liên quan đến các
khía cạnh nội dung trong Truyện Kiều nhưng tư tưởng thẩm mỹ trong tác
phẩm này thì chưa được rõ ràng, đầy đủ
Cũng là những bài bình luận, đánh giá về Truyện Kiều chúng ta không
thể không nhắc tới cuốn sách mới xuất bản năm 2008: Nghiên cứu Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XXI Trong cuốn sách này tập hợp rất nhiều
những bài viết bình luận về tác phẩm Truyện Kiều và những giá trị đặc sắccủa nó nhưng về giá trị thẩm mỹ trong Truyện Kiều thì chưa được phản ánhmột cách sâu sắc
Bên cạnh những tác phẩm ấy, tác giả Lê Đình Kỵ đã dành cả một cuốnsách 483 trang để phân tích, bình luận, đánh giá Truyện Kiều và khẳng định
những tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1970 Nhìn Truyện Kiều
Trang 10như một cấu trúc thẩm mỹ nằm trong toàn bộ thế giới nghệ thuật của Nguyễn
Du và là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội – lịch sử nhất định, Lê Đình Kỵ
đã trình bày và biện giải một cách thuyết phục cơ sở tư tưởng – thẩm mỹ cũngnhư quan niệm về con người và nghệ thuật của nhà thơ Tác giả cuốn sách đãchỉ ra đâu là huyền thoại và đâu là thực chất trong triết lý về Tài, Mệnh, Tâm
của Truyện Kiều Những trang hay nhất của cuốn sách được dành để viết về
thế giới nhân vật đa dạng và sống động của Nguyễn Du, từ Thúy Kiều, KimTrọng, Từ Hải cho đến Tú Bà, Hoạn Thư, Mã Giám Sinh,… Với giọng vănuyển chuyển, nhuần nhị, những trang sách này có thể xem là một dẫn chứng
điển hình về sự tiếp nhận Truyện Kiều từ chỗ đứng của một con người hiện
đại có tầm văn hóa cao Và từ niềm xác tín trên con đường nghiên cứu củamình, Lê Đình Kỵ đã bày tỏ một thái độ nồng nhiệt đối với cảm hứng nhânđạo chủ nghĩa của Nguyễn Du trong việc nhìn nhận thế giới và con người.Ông viết: “Sức mạnh của câu thơ Kiều không hẳn là ở chỗ khám phá ra nhữnghình tượng chưa ai hình dung được, những ý nghĩ chưa ai ngờ tới mà là ở cáitình người, tình đời thăm thẳm mà Nguyễn Du đưa vào cái nhìn, cái nghe, cáinghĩ của mình, vào một vầng trăng, một dòng suối, một ngàn dâu, một tiếngchim, một ngọn lá Đến đá dưới ngòi bút Nguyễn Du cũng mềm đi trướcnhững đau khổ của con người” [28, 170] Lê Đình Kỵ cũng đã khẳng định:
“Tôi cố gắng tìm hiểu những tư liệu lịch sử về thời đại và cuộc đời Nguyễn
Du; căn cứ vào chính văn bản và các hình tượng trong Truyện Kiều để thuyết phục người đọc rằng Truyện Kiều vĩ đại không chỉ vì phương pháp sáng tác
mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác Bởi vì thực ra những gì mà Nguyễn
Du thể hiện qua Truyện Kiều khiến chúng ta chỉ có thể hình dung đến một chủ
nghĩa hiện thực phôi thai, một chủ nghĩa hiện thực trong giai đoạn sơ kỳ của
nó mà thôi” [25, 11]
Trang 11Ngoài ra còn rất nhiều các bài nghiên cứu cũng như sách khác viết về
Truyện Kiều nhưng do điều kiện thời gian có hạn, tác giả chưa thể khai thác
được đầy đủ những tài liệu liên quan nên về lịch sử vấn đề còn hạn chế nhiều
Nhìn chung, khi xem xét quá trình nghiên cứu về Truyện Kiều, tôi nhận thấy
từ xưa đến nay các nhà nghiên cứu đã chú ý đến việc lý giải tính cách, phẩm
chất, hành động, cách ứng xử của các nhân vật Truyện Kiều, đến giá trị hiện
thực, nhân đạo của tác phẩm này,… nhưng hầu như chưa có ai xem xét
Truyện Kiều dưới góc độ thẩm mỹ, mỹ học Đây là một khó khăn và cũng là
sự thách thức lớn đối với tôi khi lựa chọn đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm hiểu các tư tưởng của Nguyễn Du về cáiĐẹp, cái Xấu, cái Bi, cái Hài, cái Anh hùng và những tình cảm thẩm mỹ trongthời đại của ông, qua đó đóng góp vào việc tôn vinh nhà văn hóa lớn của dântộc ta
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Trình bày lịch sử Việt Nam giai đoạn Nguyễn Du sống – đầu thế kỷXIX cũng như thân thế, sự nghiệp của ông
- Nghiên cứu về Truyện Kiều và những tài liệu viết về tác phẩm này để
từ đó khái quát được tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du được thể hiện như thếnào trong kiệt tác này của ông
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi: Tác phẩm Truyện Kiều.
- Đối tượng: Tư tưởng thẩm mỹ thể hiện trong tác phẩm Truyện Kiều
của Nguyễn Du
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lý mỹ học Marx –
Trang 12Lenin, quan điểm của Đảng và Nhà nước về văn hóa nghệ thuật Đồng thờicũng nhìn nhận tư tưởng thẩm mỹ tác phẩm từ đặc trưng của tư tưởng phươngĐông để làm rõ, làm sâu sắc hơn vấn đề.
- Phương pháp nghiên cứu: chủ yếu sử dụng phương pháp logic – lịch
sử và phân tích – tổng hợp Ngoài ra còn dựa vào các phương pháp khác nhưphương pháp so sánh, phương pháp đồng đại và lịch đại, phương pháp quynạp – diễn dịch,…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Luận văn góp phần khẳng định sự phong phú và mãnh liệtcủa tâm hồn Việt Nam từ quá khứ tới hiện tại thông qua những tư tưởng thẩm
mỹ của Nguyễn Du để từ đó nhận thức sâu sắc hơn về giá trị muôn đời của
kiệt tác Truyện Kiều
- Về thực tiễn: Có thể vận dụng vào việc làm đẹp tâm hồn con ngườiViệt Nam, giúp chúng ta thêm tự hào về những gì chúng ta đã có, để thế hệ trẻhôm nay ý thức hơn về bổn phận và trách nhiệm của mình đối với những giátrị lâu bền của dân tộc
7 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm có 02 chương và 06 tiết
Trang 13Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG THẨM MỸ CỦA
NGUYỄN DU TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU
1.1 Một số vấn đề lý luận về tư tưởng thẩm mỹ
Về khái niệm tư tưởng, theo Đại từ điển Tiếng Việt, tư tưởng dt được định nghĩa là 1 Sự suy nghĩ: tập trung tư tưởng làm việc 2 Quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội: có tư tưởng tiến
bộ, đấu tranh tư tưởng [40, 1757].
Theo Giáo trình Lý luận văn học, Phạm Đăng Dư – PTS Lê Lưu Oanh
có khẳng định: “Người ta thường hiểu tư tưởng là một phán đoán khái quát vềhiện thực Trong phán đoán đó bao giờ cũng chứa đựng một quan hệ có tínhquy luật giữa các hiện tượng, sự vật của đời sống Chẳng hạn, nếu nói “conngười” thì tuy khái niệm đó cũng khái quát, nhưng chưa bao hàm tư tưởng.Nhưng nếu nói “người với người là bạn”, “Người ta là hoa đất”, “Con người,hai tiếng tự hào”,… thì trước mắt ta đó là những tư tưởng Tư tưởng chẳngnhững bao giờ cũng nói lên một quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật, màcòn biểu thị một thái độ, một nhiệt tình khẳng định, phủ định một ý muốn.Lênin nói: “Tư tưởng – đó là nhận thức và khát vọng (mong muốn) của conngười” Tư tưởng đó dĩ nhiên gắn liền với một thế giới quan, một lập trườnggiai cấp nhất định”[4,97] Còn theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Hậu thì:
“Bản thân cuộc sống, bản thân hành động cũng mang tính triết học, cũng nóilên tư tưởng”[9, 7]
Vậy, tư tưởng chính là sự suy nghĩ, quan điểm của con người đối vớihiện thực khách quan và xã hội nói chung Những quan điểm, quan niệm, luậnđiểm ấy được xây dựng trên một nền tảng triết học (thế giới quan và phươngpháp luận nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, mộtdân tộc), được hình thành trên cơ sở thực tiễn, cải tạo hiện thực Tư tưởng
Trang 14chứa đựng các mục đích, suy tư giúp điều chỉnh mục tiêu, dự tính và hànhđộng của con người Một tư tưởng có thể hiểu như một tầm nhìn bao quát,như cách thức để xem xét sự vật, thường gặp trong một vài trường phái triếthọc xã hội Theo đó, hệ tư tưởng là toàn bộ những quan niệm, quan điểm đãđược hệ thống hóa thành lý luận, học thuyết về đạo đức, chính trị, phápquyền,… Nói cách khác đó là hệ thống những quan điểm, tư tưởng (chính trị,triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo,…) được hệ thống hóa, khái quát hóathành lý luận, thành các học thuyết chính trị - xã hội phản ánh và bảo vệ lợiích của một giai cấp nhất định Giai cấp nào thống trị xã hội thì hệ tư tưởngcủa nó cũng thống trị xã hội – hệ tư tưởng thống trị Hệ tư tưởng không hìnhthành một cách tự phát mà hình thành một cách tự giác do các nhà tư tưởngcủa những giai cấp nhất định xây dựng nên.
Tư tưởng thuộc phạm trù ý thức, là sản phẩm chủ quan của con người
Ý thức như thế nào phụ thuộc vào đối tượng phản ánh, môi trường xungquanh và trình độ nhận thức, tâm sinh lý của mỗi người Vốn dĩ nhận thức củacon người lại có lúc hợp lý, có lúc chưa hợp lý, vì vậy, tư tưởng cũng sẽ cónhững tư tưởng phù hợp với thực tế, cũng có những tư tưởng phản ánh sailệch thực tế Kéo theo đó, hệ tư tưởng cũng có hệ tư tưởng khoa học, tức làkhi hệ tư tưởng ấy là hệ tư tưởng của giai cấp cách mạng, có sứ mệnh lật đổ
xã hội cũ lỗi thời, xây dựng xã hội mới, tiến bộ hơn; đồng thời cũng có hệ tưtưởng không khoa học, khi hệ tư tưởng đó gắn liền với các giai cấp đã lỗithời, phản động đang cố duy trì quyền lợi ích kỷ của mình
Với tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng đóng vai trò là khuynh hướng chủđạo, là yếu tố quan trọng nhất Song nó không mang tính chất giáo điều, giáohuấn khô khan qua những lời thuyết giáo về đạo đức của các nhân vật, nócàng không phải là những công thức, khái niệm trừu tượng “Nghệ thuậtkhông dung nạp những tư tưởng triết lý trừu tượng và nhất là những tư tưởng
Trang 15duy lý Nó chỉ dung nạp những tư tưởng thơ ca, không phải là một quy tắc,
mà là nhiệt tình sinh động, là cảm hứng chủ đạo,… Trong cảm hứng chủ đạo,nhà thơ trở nên yêu tư tưởng như yêu cái đẹp,… Nhà thơ quan sát tư tưởngkhông phải bằng lý trí, không phải bằng lý tính, không phải bằng cảm giác vàkhông phải chỉ bằng một năng lực nào đó của tâm hồn mà bằng tất cả tồn tạitinh thần đầy đủ và hoàn chỉnh của mình”[3, 312]
Tư tưởng trong nghệ thuật bao giờ cũng được nghệ sĩ bộc lộ trong khitái hiện cuộc sống cụ thể Nó không sống độc lập bên cạnh hình tượng, khôngphải chỉ thể hiện dưới dạng những lời bình luận của tác giả, mà nó nằm ngaytrong cơ cấu hình tượng của tác phẩm và được toát ra từ chính cơ cấu này.Đây chính là tư tưởng của cả K Marx và F Engels khi đánh giá Arixtôphan
và Honoré de Balzac Tư tưởng tác phẩm bao giờ cũng phải tìm cho đượchình tượng của mình – có thể là nhân vật, cũng có thể là các hình tượng khác
Do đó, trong nghệ thuật không có giới hạn nào ngăn cách tư tưởng và hìnhthức Chúng đều là một thể toàn vẹn và thống nhất
Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội, mộthành động biểu hiện thế giới tinh thần của con người nên nó mang tính tưtưởng một cách tất yếu Tư tưởng tác phẩm chính là sự đánh giá và bộc lộ ýnghĩa của những gì đã được thể hiện, là cách giải quyết vấn đề đã đặt ra trongtác phẩm theo một khuynh hướng nhất định, vốn có ở lập trường, quan điểmcủa tác giả Nói cách khác, tư tưởng tác phẩm chính là sự bộc lộ, miêu tả tưtưởng tác giả bằng tác phẩm văn học “Tư tưởng là linh hồn của tác phẩm vănhọc” (Nhà văn V G Korolenco)
Trong Truyện Kiều, tư tưởng chủ đạo là sự đau xót cho số phận bạc
mệnh của con người và khẳng định chính xã hội phong kiến tàn bạo mới làthủ phạm chính vùi dập cuộc đời con người Nhưng xoay quanh tư tưởng chủđạo ấy có nhiều mạch tư tưởng, tương ứng với vấn đề ca ngợi vẻ đẹp của con
Trang 16người, nhất là người phụ nữ là vấn đề số phận con người, khóc thương cho bikịch khát vọng tình yêu và công lý; tương ứng với tư tưởng chủ quan củaNguyễn Du cho cuộc đời con người đau khổ là do số mệnh (Chữ tài chữ mệnhkhéo là ghét nhau!, Ngẫm thay muôn sự tại trời) là tư tưởng hình tượng củatác phẩm khẳng định rõ xã hội phong kiến tàn bạo mới là thủ phạm chính vùidập cuộc đời con người.
Theo cách nói của nhà bác học Xôviết Bakhtin, có thể nói rằng, cácnhân vật chính của Nguyễn Du, của Balzac, Lỗ Tấn,… đều là “những nhà tưtưởng” Tố Như đã khắc họa tư tưởng của nhân vật là sự ý thức về địa vị,hoàn cảnh và số phận của họ trong xã hội Mỗi lời nói, ý nghĩ của nhân vậtđều là những ý kiến đồng tình hay phản đối trước hiện trạng của cuộc đời conngười Con người trong văn học không giản đơn là người biết suy nghĩ, cảmxúc, mà là người có ý kiến trước vận mệnh và thời cuộc Mỗi nhân vật đều cómột lập trường, một quan điểm đánh giá, một khẩu hiệu sống giàu ý nghĩa
Xét ở từng góc độ khác nhau, thì tư tưởng có những hình thức khácnhau Ở phạm vi luận văn này, chúng ta đề cập tới tư tưởng của một tác giảthông qua một tác phẩm văn học, đó là tư tưởng của Nguyễn Du trong tác
phẩm Truyện Kiều mà cụ thể là tư tưởng thẩm mỹ Song, tư tưởng thẩm mỹ là
gì? Nó được biểu hiện như thế nào thì tiếp theo chúng ta cần tìm hiểu về kháiniệm thẩm mỹ để rút ra định nghĩa về tư tưởng thẩm mỹ
Cũng theo Đại từ điển Tiếng Việt, thẩm mỹ dt Khả năng cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp: khiếu thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ cho học sinh [40,
1540] Thẩm mỹ chính là quan niệm, sự đánh giá, cảm thụ của con người vềcái Đẹp, về những biểu hiện của các quan hệ thẩm mỹ trong cuộc sống: cáithẩm mỹ trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong sáng tạo nghệ thuật
Thẩm mỹ thuộc lĩnh vực tri giác cảm tính của con người đối với thếgiới xung quanh Nhưng điều đó không có nghĩa là nó khuyết đi khía cạnh tư
Trang 17duy, lý tính Con người tổng thể không chỉ gắn liền với chuyện cảm tính Bảnthân mỗi chúng ta không hoàn toàn là quà tặng từ bà mẫu thiên nhiên mà làsản phẩm lịch sử - văn hóa có năng lực tư duy logic, lập luận về thế giới Sựkém phát triển thẩm mỹ gắn liền hữu cơ với sự thiếu vắng sức sáng tạo, sứctưởng tượng hiệu quả Cá nhân kém phát triển về thẩm mỹ sẽ không có khảnăng tự thực hiện bước chuyển từ các tri thức chung được nó lĩnh hội mộtcách hình thức sang tính cụ thể sống động, sang tính đặc sắc của dữ kiện, sựkiện, tình huống
Từ những kiến giải trên đây, ta có thể hiểu tư tưởng thẩm mỹ là những suy nghĩ, quan niệm, quan điểm về những biểu hiện của cái Đẹp, cái thẩm mỹ trong tự nhiên, xã hội và nghệ thuật của cá nhân, nhóm, trào lưu nghệ thuật, tổng thể giai cấp, xã hội,… được bộc lộ qua các hoạt động thực tiễn cụ thể Tư tưởng thẩm mỹ là sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm, tức là
biểu hiện cả dưới dạng lý trí và xúc cảm Nó thuộc về tư duy hình tượng Tưtưởng thẩm mỹ mang tầm lý luận, khái quát, ở cấp độ lý tính sáng suốt Từnhận thức thẩm mỹ tới ý thức thẩm mỹ rồi khái quát thành tư tưởng thẩm mỹ
Và từ tư tưởng được đúc kết dưới hình thái phát ngôn tư tưởng, từ trí tuệ đượcđúc kết về lẽ sống, về nhân sinh, về tồn tại người dưới dạng câu nói ngắn gọn,súc tích, ta có được những triết lý
Nhờ lao động và hoạt động thực tiễn, con người được hình thành vàphát triển, trong đó có khả năng cảm thụ thẩm mỹ Trong quá trình tiếp xúcvới nhau và với tự nhiên, con người phản ánh và nhận thức hiện thực, biếnhiện thực thành khách thể thẩm mỹ, đối tượng thẩm mỹ Khi tư duy củachúng ta đã đạt tới trình độ lý luận, có định hướng nhất định thì khi đó nhậnthức thẩm mỹ sẽ được khái quát thành những tư tưởng thẩm mỹ Vậy, nguồngốc và cơ sở khách quan của tư tưởng thẩm mỹ chính là quá trình lao động
Trang 18Nếu như nhận thức thẩm mỹ chỉ là sự phản ánh thế giới thẩm mỹkhách quan, tư duy thẩm mỹ của con người; ý thức thẩm mỹ - hình thức đặcthù của ý thức xã hội – cũng là sự phản ánh thực tại khách quan trong đầu óccủa con người nhưng được nâng lên thành kết quả của sự khái quát những đặcđiểm bản chất của sự vật tạo thành các tri thức, các chủ kiến của con người vềcác mối liên hệ tất yếu, có tính quy luật về cái Đẹp, cái thẩm mỹ thì tư tưởngthẩm mỹ là cái cốt lõi, tinh túy, khái quát, chắt lọc nhất của những sự phảnánh ấy
Trình độ tư tưởng thẩm mỹ và trình độ tâm lý - xã hội đều được baohàm trong mọi hình thức của ý thức xã hội, trong đó có ý thức thẩm mỹ Nếunhư tâm lý xã hội mang lại tình cảm, tâm trạng, thể cảm cho con người thì hệ
tư tưởng mang lại một sự hệ thống hoá, sự hình thành về mặt lý thuyết của tưtưởng, quan điểm và các quan niệm Ý thức thẩm mỹ của trình độ tư tưởngthể hiện trong các dạng thức của các quan điểm thẩm mỹ, trong các họcthuyết, các quan niệm và trong các dạng lý tưởng thẩm mỹ
Tư tưởng, quan điểm và lý thuyết thẩm mỹ như là bộ phận hợp thànhthế giới quan của các nhóm xã hội này hay nhóm xã hội khác, giai cấp nàyhay giai cấp kia Đó thường thường là những thành tố của những hệ thống triếthọc khác nhau Sự thể hiện một cách có hệ thống các tư tưởng thẩm mỹ có thểtìm thấy trong các lý thuyết thẩm mỹ, trong mỹ học với tư cách là một khoahọc Tư tưởng thẩm mỹ phản ánh trong dạng thức lôgic - lý thuyết thẩm mỹcủa các nhu cầu xã hội, được khái quát trong thực tiễn hoạt động thẩm mỹ và
từ đó hình thành ra các khái niệm về bản chất của cái đẹp, về quan hệ thẩm
mỹ của con người đối với hiện thực và bản chất của tình cảm thẩm mỹ, về cácdạng thức cơ bản và các hình thức nhận thức thẩm mỹ cũng như cải tạo thếgiới hiện thực
Trang 19Trong lịch sử phát triển của mỹ học, cũng như của hàng loạt các hìnhthức khác của ý thức xã hội, tư tưởng thẩm mỹ luôn luôn mang tính chất thếgiới quan và tinh thần của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩaduy tâm, tư tưởng thẩm mỹ cũng phản ánh cuộc đấu tranh giữa những lựclượng thù địch của xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp Hệ thống tư tưởng thẩm
mỹ phát triển không chỉ qua các tác phẩm triết học, mà cả trong các tác phẩmchính trị, trong các luận văn về đạo đức học và tôn giáo, đặc biệt trong cáccông trình nghiên cứu lý luận và kho tàng nghệ thuật của các nhà nghệ sĩ, cácnhà văn, các nhạc sĩ, các nhà hoạt động kịch, phim ảnh…
Trong thời Xuân Thu – Chiến Quốc ở Trung Quốc, các khuynh hướng
tư tưởng lớn như Khổng giáo, Lão giáo, Mặc gia và Pháp gia… nảy sinh vàluôn tranh giành ảnh hưởng với nhau Các quan niệm về đạo đức, chính trị,thẩm mỹ… đua nhau phát triển và đã xuất hiện không ít tư tưởng thẩm mỹđộc đáo, rất đáng lưu tâm tìm hiểu Cái hay là chúng thường được trình bàydưới hình thức những câu chuyện có tính ngụ ngôn, khá sinh động và thấm
thía Chẳng hạn câu chuyện về công việc sáng tạo của họa sĩ trong Hàn Phi
Tử Người đại diện lớn nhất của phái Pháp gia này kể rằng, có một nghệ sỹ người nước Tề, nhân Tề Công hỏi vẽ vật gì khó nhất, ông đáp: ”Vẽ chó, ngựa
và những con thú khác”; còn đối với câu hỏi vẽ gì dễ hơn cả thì ông đáp: ”Vẽ
ma, quỷ và những tà lực khác” Liền sau đó, người họa sỹ giải thích như sau: ”Hàng ngày, mọi người đều thấy ngựa và biết rõ ngựa như thế nào Chỉ cần lầm lẫn chút ít trong bức họa là họ lập tức bàn tán Còn ma quỷ thì chẳng có một nhận thức rõ rệt nào về chúng cả, do vậy vẽ chúng là chuyện dễ” Hàn Phi Tử quan niệm giá trị của các tác phẩm nghệ thuật chỉ được xác
định trong tương quan với người tiếp nhận chúng, mà người cảm thụ thì baogiờ cũng dùng sự từng trải của chính mình để đánh giá tác phẩm Bởi vậy,nghệ thuật muốn có ý nghĩa phải gắn với hiện thực đời sống Mọi tưởng
Trang 20tượng tách rời thực tại đều quái đản và huyễn hoặc Sáng tạo nghệ thuật đượccoi là một hình thức lao động công phu là vì thế Ý nghĩa mỹ học của câuchuyện này đâu có nhỏ và đâu có giới hạn chỉ ở thời trước Tư tưởng thẩm mỹthuộc về cách nhìn của chủ thể nhưng nó lại xuất phát từ chính hiện thực.
Hy Lạp thời cổ đại cũng từng sản sinh ra nhiều nhà triết học, nhiều nhà
mỹ học lỗi lạc Một trong những tên tuổi lừng danh là Heraclite (540 - 480
TCN) Với ông, chân lý luôn là cụ thể Ông cho rằng: ”Lừa thích rơm hơn vàng” Ông còn nói: ”Nước biển sạch nhất đồng thời bẩn nhất Đối với cá nó dùng để uống và nó vô hại Còn đối với con người, nó không dùng để uống được và nó có hại” Từ đó Heraclite chủ trương tính tương đối của cái đẹp Ông nói: ”Con khỉ đẹp nhất cũng là xấu so với loài người; và con người hoàn thiện nhất khi so với thần thánh cũng chỉ như một con khỉ” Những quan điểm
mỹ học, những tư tưởng thẩm mỹ duy vật biện chứng mang tính chất tự pháttương tự có thể dễ dàng tìm trong các công trình lý luận của các nhà tư tưởngduy vật ở Hy Lạp thời cổ đại
Rõ ràng, các tư tưởng thẩm mỹ đã nảy sinh từ rất sớm trong lịch sử tư
tưởng của nhân loại Tuy nhiên, mỹ học với tư cách là một ngành khoa học độc lập lại phải chờ tới thời cận đại Một trong những yếu tố quan trọng giúp
mỹ học tách dần ra khỏi triết học là việc xác lập được đối tượng đặc thù của
Trang 21cạnh nghệ thuật – phương thức để thể hiện nội dung, thể hiện quan điểm tác
giả Như thế, muốn hiểu tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
thì điều căn bản nhất là thấu đạt nội dung tác phẩm để hướng tới cách nhìn,tầm suy ngẫm, tư tưởng về các khía cạnh thẩm mỹ của ông
Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo đã có một khoảng thời gian tồn tại hơn
2500 năm Trong quãng thời gian hơn hai thiên niên kỷ rưỡi tồn tại, các họcthuyết này đã có rất nhiều biến đổi Trong phạm vi luận văn này, người viếtchỉ xin nhấn mạnh những điểm quan trọng của các học thuyết này liên quantới vấn đề luận văn đang đề cập
Trước hết, có thể thấy rằng, tư tưởng thẩm mỹ của Việt Nam nóichung và của Nguyễn Du nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng mỹ
học cổ đại Trung Hoa Chính bản thân Truyện Kiều cũng được Nguyễn Du dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung
Quốc Mỹ học Trung Hoa là sự đan cài và đầy mâu thuẫn giữa các luận thuyết
mỹ học khác nhau Khuynh hướng tích cực nhất là xem cái “mỹ” có nguồngốc ở cái “chân” của tự nhiên Vì vậy, cái “mỹ” của nghệ thuật cần lĩnh hội cóchọn lọc cái “chân” đó thông qua sự thể hiện cái “tâm”, cái “tình” thuần khiếtcủa người sáng tạo Khuynh hướng mỹ học quý tộc thường đề cao “đạo”, “lýtưởng” phụ thuộc vào hệ tư tưởng thống trị và xem cái thẩm mỹ là phẩm chất
“người quân tử” (kẻ đại diện cho quyền lực tinh thần của giai cấp thống trị)
Từ góc nhìn “phương Đông” và “bản địa”, mỹ học cổ đại Trung Hoa đã xây
Trang 22dựng một hệ thống lý luận và các phạm trù cơ bản Nó đề cao sự hòa đồnggiữa chủ thể và khách thể, giữa con người với tự nhiên, xã hội Thấm đượmtriết lý nhân sinh, đạo đức và chính trị, mỹ học cổ đại Trung Hoa đòi hỏi sựthống nhất giữa mỹ và thiện; tình, ý và đạo lý; sáng tạo thẩm mỹ và tráchnhiệm xã hội Lịch trình phát triển của nền mỹ học này bao trùm cả hệ thốngquy ước của quần chúng và sự đòi hỏi của cá tính con người Mỹ học TrungHoa cổ đại đã phát triển trên cơ sở của sự xung đột đa dạng, quyết liệt giữa
“bách gia, chư tử” Nho gia với Khổng Tử, Mạnh Tử; Mặc gia với Mặc Tử;Đạo gia với Lão Tử, Trang Tử; Pháp gia với Hàn Phi; Âm Dương – NgũHành, Dịch truyện, Dịch kinh,… Khổng Tử, Lão Tử, Tuân Tử, KhuấtNguyên, Tư Mã Thiên, Lưu Hiệp, Viên Mai, Nguyễn Tịch, Hàn Dũ, Bạch Cư
Dị, Nguyên Chẩn, Đỗ Phủ,… là những chủ soái của mỹ học cổ đại TrungHoa Nền mỹ học ấy đã có một lịch sử lâu dài và có những thành tựu to lớn.Song, do nảy sinh và phát triển trên cơ sở của phương thức sản xuất châu Á
và chế độ nông nô, phong kiến, mỹ học Trung Quốc cổ đại đã không thể vượt
lên được và về sau thường rơi vào duy tâm, siêu hình
Trong các trường phái mỹ học Trung Hoa cổ đại thì Nguyễn Du chịuảnh hưởng khá rõ nét từ Nho giáo và Đạo giáo Nguồn gốc tư tưởng thẩm mỹ
của ông trước hết là tư tưởng thẩm mỹ Nho giáo Bởi lẽ, từ thế kỷ XV, cho
đến giữa thế kỷ XIX, thậm chí đến đầu thế kỷ XX, trong đời sống tinh thầncủa nước ta, Nho giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo, chi phối Nguyễn Du sống ởcuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX nên đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ những
tư tưởng của Nho giáo, trong đó có tư tưởng thẩm mỹ, nhất là khi ông xuấtthân trong một gia đình, một dòng họ nổi tiếng về tước vị và văn chương, đặcbiệt ông nội của Nguyễn Du là Nguyễn Quỳnh lại chuyên chú về Kinh Dịch
Nho giáo đã được du nhập vào Việt Nam từ khi nước ta bị xâm lược
và sáp nhập vào Trung Quốc – đời Hán (206 TCN đến 220 SCN) Sĩ Nhiếp
Trang 23(thế kỷ thứ II SCN) được coi là An Nam học tổ, người mở đầu cho Nho họcnước ta Trong thời kỳ tự chủ, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, Nho giáo cùng vớiPhật giáo và Đạo giáo có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhândân ta Cuối thế kỷ XIV, sau khi Lê Lợi chiến thắng quân Minh (1427) nhànước Lê sơ dành cho Nho giáo địa vị độc tôn – học thuyết chính thống củanhà nước – cuối thế kỷ đó, vào thời Lê Thánh Tông (làm vua từ 1460 đến1497), nó đạt đến mức toàn thịnh.
Khổng Tử được coi là người sáng lập ra học thuyết này Nhưng trướcông, nó đã tồn tại ở Trung Quốc dưới dạng các chất liệu tư tưởng Và chỉ đếnKhổng Tử, Nho giáo mới trở thành một học thuyết thực sự Học thuyết Nhogiáo hướng vào mục đích lớn nhất là “chống loạn cứu thế”, muốn xây dựngmột xã hội có trật tự, hài hòa, trong đó con người sống theo đúng phận vị –một xã hội “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (quân quân, thầnthần, phụ phụ, tử tử) Nho giáo từ trong mục đích của mình đã hướng về xãhội, mang tinh thần nhập thế tích cực Học thuyết này hướng về một bộ phậnnhững người được xem là tinh hoa của các thời đại: quý tộc các loại và cácnhà nho bằng con đường trước nhất là tu thân rồi mới thực hiện các lý tưởng
“tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Con đường xây dựng chính trị mà Nho giahướng theo chính là con đường Đức trị
Trong hệ thống tư tưởng của mình, Nho giáo cũng đề cập tới những
tư tưởng thẩm mỹ sâu sắc Đối với học thuyết này, thì mỹ chính là thiện, tậnthiện, tận mỹ tồn tại trong một sự vật hiện tượng, là tiêu chuẩn và yêu cầu caonhất của cái Đẹp Khổng Tử quan niệm: mỹ tức là thiện Thiện chủ yếu là sựbình giá có tính công lợi của sự vật Còn đối với mỹ thì ngoài tính công lợi ra
nó còn phải đáp ứng sự hài hòa giữa nội dung và hình thức Khi nói thiện tức
là mỹ, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh sự thống nhất thiện – nội dung, mỹ hình thức trong văn chương – nghệ thuật Là sự biểu hiện giữa đức và văn
Trang 24-Ông nói: “người có đức tất có lời, người có lời tức có đức” Y phục xứng kỳđức Cái đẹp của cách may mặc phải hài hòa với các giá trị đạo đức Cũng bàn
về vấn đề này, từ góc độ nhân tính, Mạnh Tử cho rằng, cái Đẹp luôn có trongmọi người Ông quan niệm: “làm cho đầy đặn gọi là đẹp” Vậy nên cái Đẹptheo ông là thống nhất với cái thiện, thêm tín vào nữa là sự thống nhất Chân –Thiện – Mỹ Còn với Tuân Tử, cái Đẹp của con người thể hiện ở sự tu dưỡngđạo đức, học tập không ngừng làm cho tính ác nhập vào quỹ đạo của thiện.Các ông đều thấy cái Đẹp gắn liền với cái thiện, hạt nhân của thiện là lễ vànhân Mục đích của lễ và nhân là làm sao để cho thiên hạ đi đến bình trị:thống nhất, hài hòa Từ đó, các ông có chung tư tưởng cái Đẹp trung hòa vớinghệ thuật
Theo Nho giáo, quan điểm thẩm mỹ về vẻ đẹp của con người cũng cónhững chuẩn mực rất cụ thể Chẳng hạn, một người phụ nữ đẹp phải có tứđức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh Trong tứ đức, có ba đức (công – ngôn – hạnh)nói về vẻ đẹp của tâm hồn, của đạo đức Nói gọn lại thì đó chính là sự laođộng phù hợp với khả năng của phụ nữ Ngay trong nội dung của khái niệm
“Dung” cũng không hẳn chỉ là hình thức bên ngoài mà còn bao hàm cả vẻ đẹpcủa tâm hồn Một người phụ nữ chỉ có dung (vẻ đẹp của dung nhan, hình thứcbên ngoài) mà không biết làm những việc của phụ nữ (nữ công như thêu thùa,
vá may gia chánh,…), không có lời ăn tiếng nói dịu dàng, không có lễ, khôngthùy mị nết na, không có những đức tính mà người phụ nữ cần có thì không ai
Trang 25Đẹp cũng vậy, Nho giáo cũng rất quan tâm đến tính quan dụng, ích lợi củachúng đối với con người
Đồng thời, Nho giáo cũng đưa ra quan niệm về cái Đẹp thực hữu,sống động Tư tưởng thẩm mỹ Nho giáo đề cao tính biểu tượng, được soi rọi
từ hiện thực của tâm, chí Mặc dù đề cao vai trò của cái chủ quan trong quátrình tiếp nhận ngoại cảnh, Nho giáo trong bản thân học thuyết của mình chưabao giờ phủ định tính hiện thực của sự tồn tại thế giới hiện tượng Cái Đẹp,cái thẩm mỹ trong quan điểm của Nho giáo vẫn là những gì gắn với mặt đất,con người đang tồn tại chứ không nằm trong một thế giới siêu việt Nó thườngvận động, biến đổi theo quy luật biến dịch chứ không hề tĩnh tại Có thể coicái động là một phạm trù thẩm mỹ tiêu biểu của văn chương nhà nho Từ cáiđộng, nho gia tiến tới xác lập các phạm trù thẩm mỹ khác như cái tự cường,cái cương kiện, sinh sinh hài hòa Nho gia từ trong tinh thần triết học nhân
sinh vốn đã theo đuổi quan niệm: “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” (Thiên vận hành rất khỏe, người quân tử cũng cần làm cho mình không
ngừng tự cường cùng với sự tự cường không nghỉ của trời đất) Những hìnhtượng thiên nhiên sống động, cương kiện như tùng, trúc, cúc, mai là sự tiếpdiễn một cách tự nhiên từ tinh thần triết học tới lĩnh vực thẩm mỹ Hay nóicách khác, thẩm mỹ cũng là một phương diện trong đời sống tinh thần lấy tudưỡng làm then chốt của nhà nho, thẩm mỹ cũng là một loại công cụ phục vụ
Trang 26không phải là một khách thể thẩm mỹ khách quan mà là chủ khách thể tươngthông hợp nhất Đứng trước thiên nhiên hùng vĩ, các nhà nho thường có mộttâm trạng phổ biến là cảm nhận được sự trường cửu của non sông, đồng thờicũng cảm nhận được cả cái phù vân, ngắn ngủi của cuộc đời con người, cáimột đi không trở lại của dòng thời gian Từ đó trong mỗi người đều sinh ramột lòng cảm khái đối với quá khứ, với lịch sử hào hùng Trong phạm vi đạoNho, chí có một nghĩa cụ thể: khao khát muốn làm cái gì đó cho đời và nhất
là sống đúng theo những chỉ dẫn của thánh hiền Đó chính là quan niệm thơ
để nói chí của mình (Thi ngôn chí)
Ngoài những quan niệm trên, mỹ học Nho giáo còn là một họcthuyết chính trị - xã hội nên thơ ca phải để quán đạo, minh đạo (Thi dĩ tải đạo,thi dĩ minh đạo, thi dĩ quán đạo) Tức thơ ca, nghệ thuật phải trở đạo, phảilàm sáng đạo Nếu như tách khỏi đạo thì văn thơ, nghệ thuật cũng không có ýnghĩa gì hết
Những đặc chất và tính khuynh hướng của Nho gia đã báo trước nhữngquan niệm thẩm mỹ của nhà Nho khó có thể nằm ngoài những mối quan tâmlớn và thường trực: xã hội, nhân tâm và cái đẹp của nhân cách Mỹ học Nhogiáo không tách rời với các vấn đề đạo đức của con người Họ coi việc thựchiện theo đúng chuẩn mực đạo đức sẽ đưa con người ta tới các khía cạnh củathẩm mỹ Như thế là mỹ học được đánh giá trên cơ sở của đạo đức Còn vớiriêng Nguyễn Du, ông luôn quan tâm tới cái “hùng tâm” Đỗ Phủ - một nhàthơ, nhà nho tiêu biểu đời Đường, được ông coi là bậc thầy văn chương ngànđời và đồng thời cũng là một người tri âm với mình Nguyễn Du học cái “đauđời”, tình yêu thương con người vô hạn của nhà thơ lỗi lạc này
Bên cạnh sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, Nguyễn Du cũng chịunhững tác động nhất định của Đạo giáo Lão Tử chính là người tiếp nhận tưtưởng của Dương Chu, của Âm dương Ngũ hành và phép biện chứng của
Trang 27Kinh Dịch để sáng lập nên Đạo gia Tư liệu tư tưởng là cuốn Đạo đức kinh.
Người đã phát triển học thuyết Lão Tử và xây dựng nó thành một hệ thống tưtưởng sâu sắc là ẩn sĩ Trang Tử (họ Trang tên Chu, khoảng 396 – 286 TCN)
Về phương diện tư tưởng thẩm mỹ, Đạo giáo tuyệt đối hóa tư tưởngtương đối để phủ nhận sự tồn tại của cái Đẹp bình thường Các đạo gia chủtrương “cái đại mỹ”, “toàn mỹ”, tức là cái “vô ngôn chi mỹ”, “vô thanh chimỹ” Theo họ, mỹ là thiện Còn nhân vi thế tục có thể chuyển thành cái xấu,cho nên nó không thể trở thành cái mỹ, cái thiện chân chính; chẳng có cái gì
để có thể gọi là cái mỹ và cái thiện chân chính cả - nó là cái hư vô
Theo các đạo gia, cái Đẹp chân chính là Đạo Đạo là “cái đại” tuyệtđối, “cái phác” tức là cái bản tính, là phép tắc tự nhiên của vạn vật Cái đại
nằm trong hình thái của sự vật, không nhìn thấy, không sờ thấy “Người theo phép đất, đất theo pháp trời, trời theo pháp đạo, đạo theo phép tự nhiên” (Lão Tử) Trang Tử chủ trương “Tồn nguyên cái Đẹp của trời đất mà đạt cái
lý của sự vật” đều là cái bản chất của tự nhiên hình thành của đất trời vạn vật,
cái hình ảnh bản nhiên, tự tính, tự nhiên của nó Cái gọi là cái vô hạn, vôhình, vô thanh, là cảnh giới tối cao của cái mỹ, cái không thể phân chia Hyvọng điều hòa những mâu thuẫn trong đời sống hiện thực để đi vào hư tĩnh,cái Đẹp của đạo chân chính là không đầy không vơi, không thành không mất,không có giới hạn giữa bộ phận và chỉnh thể Đạo giáo chủ trương cái Đẹp tựnhiên (đạo là đẹp tối cao), nó khác xa với quan điểm thẩm mỹ của Nho giáo.Theo Trang Tử, cái đẹp tối cao là cái đẹp tự do không phụ thuộc một nguyêntắc nào Khát vọng tự do là cội nguồn của cái đẹp khoáng đạt trong tư tưởngcủa Trang Tử
Ngoài sự tiếp xúc với Nho giáo, Đạo giáo, Nguyễn Du cũng có nhiềuđiều kiện nghiên cứu về Phật giáo Đây là trường phái triết học – tôn giáo cổ
Ấn Độ ra đời vào thế kỷ VI TCN, người sáng lập là (Tất Đạt Đa) Phật giáo là
Trang 28hình thức giáo đoàn được xây dựng trên một niềm tin từ đức Phật, tức từ biểnlớn trí tuệ và từ bi của Siddharta Theo Phật giáo thì cái thẩm mỹ, quan hệthẩm mỹ là sản phẩm của ý thức thuần túy, của “linh hồn vũ trụ” hay “linhhồn cá thể” Đời sống thẩm mỹ, hoạt động thẩm mỹ của con người rút cuộccũng nằm trong “luân hồi” và “nghiệp” Như thế, mọi sáng tạo văn hóa thẩm
mỹ của con người đều không thể thoát ra khỏi mục tiêu “Niết bàn”, “Không”.Phật giáo khác các tôn giáo khác ở chỗ, chúng sinh thuộc bất kỳ đẳng cấp nàocũng được giải thoát
Phật giáo coi cảnh giới Niết bàn siêu thực, cái “không”, cái “trung đạo”dứt bỏ mọi quan hệ nhân duyên, không còn giới hạn chủ thể khách thể là cảnhgiới tối cao của cái Đẹp Cái Đẹp là đỉnh cao trí tuệ mà hình ảnh tượng trưng
là Tòa sen Nó mở ra một miền đất hư ảo, siêu không gian – thời gian, trởthành nơi ký thác tinh thần của nhiều người khổ công đi tìm cảnh giới siêutrần thoát tục
Con người là đối tượng trung tâm của hệ thống giáo lý Phật giáo Triết
lý tìm về bản thân, hiểu về bản ngã là triết lý tối cao của Phật giáo Đức Phật
đã khuyến khích chúng sinh “Hãy tự mình thắp đuốc mà đi, hãy nương tựa vào chính mình, vì Như lai chỉ là người dẫn đường” (Kinh Niết bàn) Đức
Phật cũng dạy rất rõ là không thể tìm cảnh giới Niết bàn (cuộc sống đẹp) bênngoài con người và cõi người Như thế, Đẹp trong Phật học là sự giải thoátmọi ràng buộc, chấp thủ về ngã và ngã sở
Từ khuynh hướng tư tưởng của Phật giáo như vậy, chúng ta có thể thấythế giới của cái Đẹp, đối tượng cảm nhận về cái Đẹp của Phật giáo khôngphải ở đời thực, ở xã hội hay tự nhiên mà tất cả chúng chỉ là “phương tiện” đểsiêu xuất
Tư tưởng thẩm mỹ của Nho – Phật – Lão có một lịch sử lâu dài và cónhững thành tựu quý báu Tuy nhiên, do nảy sinh và phát triển trên cơ sở của
Trang 29phương thức sản xuất châu Á và chế độ nông nô, phong kiến nên mỹ học nóichung và tư tưởng thẩm mỹ thời kỳ này nói riêng đã không thể vượt lên được
và về sau thường rơi vào duy tâm, thần bí, siêu hình Với Nguyễn Du, Thiền,Phật, Lão Trang thể hiện cái nhìn hư ảo về cuộc đời, đề cao cái tự nhiên trongcon người, có tính cách phi chính thống của nhà nho tài tử, đồng thời cũng làphương tiện để chuyển tải những tư tưởng nhân văn chủ nghĩa Một thời giandài ông sống ở Tiên Điền trong hoàn cảnh khó khăn về vật chất, tinh thần mỏimệt nên có lúc ông đi tìm niềm an ủi trong tín ngưỡng Phật giáo và Đạo giáo.Vậy nên thời kỳ này ông có hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ (người đi săn ở núiHồng) và Nam Hải Điếu Đồ (người đi câu ở biển Nam) Sự thật thì các nhâncách văn hóa lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê QuýĐôn, Ngô Thì Nhậm hay Nguyễn Du đều tinh thông Kinh dịch và tam giáo
Bản nguyên mỗi tôn giáo đều bao hàm những yếu tố, những giá trịnhân văn cao cả và thể hiện ý nghĩa về cái Đẹp Các nhà tư tưởng dù theokhuynh hướng, trường phái nào thì cũng xây dựng quan điểm, tư tưởng, họcthuyết của mình trên nền tảng vững chắc của Chân – Thiện – Mỹ Vì vậy, khinhìn nhận một tôn giáo nào phải xem xét một cách toàn diện, sâu sắc tránh cáinhìn phiến diện Đúng như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói: “Mụcđích cao cả của Phật Thích Ca và chúa Giê – su đều giống nhau Thích Ca vàGiê – su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giớiđại đồng”
Chúng ta cũng cần lưu ý một khía cạnh nữa, đó là ở thời đại Nguyễn
Du sống đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân Ở Đàng Ngoài, hệ tưtưởng chính thống đang rơi vào khủng hoảng, đạo đức Nho giáo không cònảnh hưởng thiêng liêng như trước nữa Thời kỳ này Phật giáo cũng không cònchiếm địa vị độc tôn như thời Lý – Trần Khuynh hướng tiểu thị dân đanghình thành và chi phối đời sống xã hội: bắt đầu hình thành sự nhận thức về
Trang 30quyền con người và hạnh phúc cá nhân, về đồng tiền và giá trị của nó, Những luồng tư tưởng mới ấy không thể không ảnh hưởng tới một nhà thơnhạy cảm như Nguyễn Du Chính yếu tố này sẽ là một mắt xích quan trọnggiúp ta nhận thức sâu sắc hơn tư tưởng thẩm mỹ của ông.
1.2.1.2 Ảnh hưởng của tư tưởng thẩm mỹ Việt Nam trước thế kỷ XIX
tới Nguyễn Du
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, giữa hai nền văn hóa lớn làTrung Quốc và Ấn Độ, có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước.Hai dòng tư tưởng xuyên suốt trong lịch sử Việt Nam đó là tư tưởng yêu nước
và tư tưởng nhân văn, nhân đạo
Chúng ta đều biết rằng, lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữnước Đức tính cao cả và đáng tự hào nhất của người Việt Nam đó là quênmình vì nước, vì dân theo tinh thần của chủ nghĩa yêu nước mang tính nhânvăn Tư tưởng yêu nước thể hiện ở nhận thức về dân tộc và dân tộc độc lập,
nó gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết, đoàn kết dân tộc Bên cạnh
đó, nhân dân ta vốn có truyền thống giàu lòng nhân ái, đó là tình yêu thương,tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng gia đình, họ tộc, xóm làng và đấtnước theo tinh thần “thương người như thể thương thân”, “một con ngựa đau
cả tàu bỏ cỏ”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chungmột giàn” Truyền thống nhân ái của dân tộc đã được nâng lên thành chủnghĩa nhân văn cao cả Nhân nghĩa trước hết là một đường lối chính trị, chínhsách dựng nước và cứu nước, sau đó là nguồn gốc của sức mạnh, cứu nướctrước hết phải cứu dân
Tư tưởng triết học Việt Nam cũng gắn liền với những đặc điểm riêngbiệt ấy của dân tộc Nếu như triết học phương Tây thường gắn liền với nhữngthành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, triết học Ấn Độ gắnliền với tôn giáo, triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị - đạo đức thì tư
Trang 31tưởng triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đấtnước Khi phản ánh hiện thực đó, triết học Việt Nam hướng chủ yếu đến vấn
đề nhân sinh, đạo lý làm người mà tư tưởng trung tâm là yêu nước Nếu triếthọc phương Tây hơi nghiêng về duy vật, hướng ngoại thì triết học Việt Namlại hơi ngả về duy tâm, hướng nội Nếu triết học phương Tây nghiêng về lấyngoài để giải thích trong thì triết học Việt Nam lại ngả về lấy trong để giảithích ngoài theo kiểu của cụ Nguyễn Du: “Người buồn cảnh có vui đâu baogiờ” Nếu biện chứng trong triết học phương Tây nghiêng về đấu tranh thìbiện chứng trong triết học Việt Nam lại ngả về thống nhất Nếu vận động,phát triển trong triết học phương Tây đi lên theo con đường xoáy trôn ốc thìvận động, phát triển trong triết học Việt Nam lại đi theo con đường vòng tròn,tuần hoàn
Tư tưởng nhân văn và yêu nước là triết lý sống chủ đạo, đặc trưng củangười Việt Nam, chi phối cách cảm, cách nghĩ, cách ứng xử và hành động củangười Việt Nam Hơn nữa, người Việt đã sớm có cảm giác thẩm mỹ và xâydựng quan điểm thẩm mỹ cho riêng mình Từ thời cổ đại, người Việt đã biếtdùng đồ trang sức, vật trang trí để thể hiện cái Đẹp, đồng thời cũng để thểhiện của cải và quyền lực của mình Quan điểm về cái Đẹp của người Việtcũng biến đổi theo thời gian Mặc dù cái Đẹp được đánh giá bằng cảm giácchứ không phải bằng lý trí Trong lịch sử sáng tạo cái Đẹp, người Việt đãđược dẫn dắt bởi những tư tưởng tôn giáo trong sáng tạo, xuất phát từ nhữngtình cảm, thái độ tích cực như tôn kính, trân trọng được xã hội đồng thuận đểtạo ra những tác phẩm và công trình đạt độ thẩm mỹ cao Chính điều này,cũng chi phối tư tưởng thẩm mỹ trong mỹ học cổ điển Việt Nam
Đặc điểm nổi bật của tư tưởng mỹ học Việt Nam dưới chế độ phongkiến là sự gắn bó chặt chẽ giữa sáng tạo thẩm mỹ và đời sống nhiều mặt củadân tộc Chủ nghĩa nhân văn về con người và đất nước là cơ sở tinh thần trực
Trang 32tiếp của cảm hứng nghệ thuật Cái Đẹp, cái cao cả, cái anh hùng dường nhưđồng nhất với cái thẩm mỹ Còn cái tâm, cái hồn của con người hoàn toàn hòahợp với tự nhiên và số phận của dân tộc Về mặt triết học, đó là những quanniệm mỹ học có tính duy vật mộc mạc Tuy nhiên, ảnh hưởng của quan niệm
“văn dĩ tải đạo” và thuyết “định mệnh”, “thiên mệnh” đã phần nào che mờ cái
“chân”, cái “thiện” và cái “mỹ” Quan niệm mỹ học của Lý Đạo Tái, TrươngHán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Lê QuýĐôn,… đã hướng cái thẩm mỹ vào những giá trị vật chất và tinh thần của đấtnước, con người Đặc biệt, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Gia Thiều, NguyễnCông Trứ và Cao Bá Quát đã tiếp cận những giá trị tư tưởng mỹ học hiện thựcchủ nghĩa
Mỹ học Việt Nam thời Nguyễn Du sống vẫn là mỹ học thời đại phongkiến Điều đó đồng nghĩa với việc chúng phải chịu một “chế độ kiểm duyệtchâu Á” Nó lý giải vì sao những tư tưởng mỹ học trên đây vẫn chưa hoàntoàn thoát khỏi những quan niệm thần bí, siêu hình
Trong cuốn Giáo trình Lịch sử Mỹ học, NGƯT TSKH Đỗ Văn Khang
có viết: “Từ Lý Công Uẩn lập đô ở Thăng Long năm 1010 đến hết thời phong
kiến thế kỷ XIX, mỹ học cổ điển sở hữu năm phạm trù mỹ học cơ bản là Văn, Đạo, Tâm, Chí, Mỹ Năm phạm trù này tương ứng với năm phạm trù của mỹ học Mác – Lênin Đó là: cái Đẹp, cái Xấu, cái Bi kịch, cái Hài kịch, cái Trác tuyệt Rõ ràng, mỹ học Việt Nam trong hệ hình phương Đông có những đặc
trưng riêng của nó, càng cuối thời cổ điển càng tập trung vào hai định hướng
cơ bản là “văn dĩ tải đạo” và “thi dĩ ngôn chí” Ở đây, “văn dĩ tải đạo” dướiảnh hưởng của Nho giáo, Văn đã bị thu hẹp vào phạm vi là công cụ của Đạo.Văn chỉ để chở Đạo Đó là mối quan hệ giữa triết học và mỹ học Còn “thi dĩngôn chí” là quan điểm thẩm mỹ thuộc chủ thể sáng tạo Ở đây có yếu tố chủđộng của chủ thể (nhà thơ, nhà văn) Mỹ học cổ điển dành quyền cho chủ thể
Trang 33được phép bày tỏ cái Chí lớn của mình trong phạm vi của Nho giáo: “Tề gia,trị quốc, bình thiên hạ”[19, 285] Trong khi đó, mỹ học đòi hỏi một phạm trù
phải bao quát cả tình và cảnh giống như Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều : “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Đại thi hào Nguyễn Du mang trong mình dòng máu người Việt, vì vậytrong cách cảm của ông không thể không chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng và tưtưởng thẩm mỹ chung của cả dân tộc Điều đó tác giả sẽ đề cập thêm trongchương II của luận văn
1.2.2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX
Nguyễn Du sống vào khoảng thời gian cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷXIX Đây là thời kỳ khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến ViệtNam, đặc biệt là về hệ tư tưởng và vấn đề quyền lực
Trước hết, hệ tư tưởng phong kiến đang giãy giụa trong những giằng xé
vì sự hà khắc của nó khiến cho người dân không thể chấp nhận thêm đượcnữa Vua - con trời, trị vì đất nước không phải do sự thỏa thuận của dânchúng, mà do mệnh Trời Trật tự trên Trời cũng như dưới đất đều do đức, do
ơn huệ của vua ban cho Nhân danh nhà vua, một bộ máy quan liêu gồmnhững “cha mẹ dân” nắm quyền cai trị đất nước Chống lại vua là tội nặngnhất, vì như thế là chống lại ý muốn của Trời Trong ý thức hệ đó, con ngườiphải tuân thủ theo tam cương, ngũ thường Đặc biệt, người con gái chẳng cómột tí quyền nào trong tình duyên của mình: “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”.Khi chưa lấy chồng phải vâng lời cha, lấy chồng rồi phải tuân theo ý chồng,chồng chết phải theo lời chỉ bảo của người con trưởng của mình
Hệ tư tưởng ấy, với tất cả tính chất khắt khe của nó, được đạo Khổng
hệ thống hóa thành quy chế thống nhất, được đem giảng dạy qua bao nhiêuthế kỷ Nó là bộ sườn tinh thần của xã hội phong kiến, là cái khuôn mà mọi tưtưởng, mọi hành động phải rập vào Nhưng giờ đây, chế độ đó bị phá hoại tận
Trang 34gốc rễ: nông dân không ngớt nổi dậy và nhiều lần các cuộc khởi nghĩa đã gâynguy biến cho Kinh đô Bổn phận trung thành với vua, giờ đây chuyển sang
cho ai? Đâu là quyền chính thống? “Con Trời” – bọn chúa nhu nhược, dâm ô,
đi cầu cứu nước ngoài; hay là “quân phản nghịch” – những người anh hùng
xuất thân từ quần chúng nhân dân, hào hiệp, yêu nước, những người giải
phóng dân tộc và Tổ quốc? Trách sao bọn quan lại “cha mẹ dân” chỉ lo bóc lột “con cái” của mình, chỉ lo lạy lục, nịnh hót, tranh giành nhau những tước
lộc? Lại còn bao nhiêu chuyện hà khắc, bao nhiêu chuyện tàn nhẫn của bọnquan lại nhũng nhiễu thường dân? Thử hỏi phải làm sao?
Trong cái xã hội phong kiến thối nát đó, vài hạt nhân tư bản chủ nghĩa
đã nảy mầm, và nấp sau những mặt nạ lễ nghi ở chốn cung đình, ở nơi nhamôn, xã hội đó còn kéo theo cả một bầy lái buôn, mối manh, lừa đảo, dụ dỗ,tay sai sẵn sàng làm bất cứ việc đê tiện nào Người ta thấy xuất hiện thế lựcvạn năng của đồng tiền Bên cạnh viên quan lại áp bức, tên lái buôn đã bước
ra sân khấu Người đàn bà nô lệ cũng trở thành hàng hóa; bị chủ nghĩa phongkiến chà đạp, họ lại bị một xã hội mang những mầm mống tư bản, miệt thị,dìm xuống bùn đen
Trên phương diện quyền lực, xã hội Việt Nam thời Lê mạt, Nguyễn sơlúc đó tồn tại đầy rẫy những bất ngờ Những xung đột ngày càng sâu sắc, lớnlao Chế độ phong kiến tập quyền cứ lún sâu vào những căn bệnh trầm kha.Chiến tranh, cát cứ và phân quyền giữa các tập đoàn phong kiến trung ươngkhông khác nào một nạn dịch lớn Cuộc đối đầu giữa hai dòng họ: Trịnh ởĐàng Ngoài và Nguyễn ở Đàng Trong kéo dài hơn hai thế kỷ (từ 1570 đến1786) có lúc đã gây ra cái họa nồi da nấu thịt, cốt nhục tương tàn
Ở Đàng Ngoài, nhà Lê chỉ trị vì dưới hình thức bên ngoài, bị chúaTrịnh chiếm lấy mọi quyền hành Phủ chúa lấn át cả cung vua Họ hàng nhàvua, vây cánh nhà chúa, quan lại, đua nhau đắm đuối trong cảnh dâm ô trụy
Trang 35lạc, mua quan, bán tước, hối lộ hoành hành Kiêu binh, chưa một thời nào có,gây hoạ cho kỷ cương, xã tắc Nhiều người dân phải bỏ quê, bỏ nghề do chiếntranh, do thiên tai và áp bức nặng nề Nạn đói lan tràn, điển hình là nạn đói
năm 1741 mà trong sách Việt sử thông giám cương mục đã ghi nhận: “Dân
lưu vong bồng bế, dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường Giá gạo cao vọt, mộttrăm đồng tiền không đổi được một bữa ăn Dân phần nhiều sống nhờ rau cỏ,đến ăn cả chuột, rắn Người chết đói ngổn ngang, người sống không còn mộtphần mười Làng nào có tiếng là trù mật cũng chỉ còn độ năm, ba hộ mà thôi”
Còn ở Đàng Trong, chính quyền họ Nguyễn ngay trong tổ chức và cơcấu cồng kềnh của nó đã nuôi dưỡng và mở đường cho tệ nạn tham ô Việcchiếm đất khai hoang của bọn địa chủ được chính quyền dung túng Nó biếnngười nông dân tự do thành tá điền hay nông nô Mồ hôi nước mắt của ngườidân rốt cuộc nhằm cung đốn cho cuộc sống xa hoa của bộ máy chính quyềncác cấp Theo nhận xét của Lê Quý Đôn thì bọn chúng “coi vàng bạc như cát,thóc gạo như bùn” Cứ từng thời kỳ một, quân chúa Trịnh và quân chúaNguyễn xung đột nhau, gây bao nhiêu tai họa cho nhân dân
Có thể thấy rằng, trên cả hai vùng đất, giai cấp phong kiến đã tự đào hốchôn mình do kết quả của hai cách cai trị: cắt đất, tranh quyền và hà hiếp bóclột nhân dân Bão táp của phong trào khởi nghĩa nông dân được tích tụ, khơingòi trong hoàn cảnh ấy Nó giải thích vì sao các cuộc nổi dậy của nông dânlại liên tiếp xảy ra, ngày càng nhiều hơn, quy mô lớn hơn đến nỗi nhà nướcphải lập các đồn hoả hiệu trên núi cao để canh gác và đốt lửa cấp báo chonhau khi cần ứng cứu Đó là cuộc khởi binh của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ(Hải Dương), Hoàng Công Chất (Sơn Nam), Nguyễn Danh Phương – quậnHẻo (Sơn Tây),…
Vào giữa thế kỷ XVIII, Nguyễn Hữu Cầu, một trong các lãnh tụ khởinghĩa, chiếm lĩnh miền duyên hải Đông Bắc hàng mấy năm trời, trên mặt lá
Trang 36cờ ông ghi hai chữ “Bảo dân”, ông lấy của cải của nhà giàu phân phát cho dânnghèo Là một người đánh giặc dũng cảm, là một nhà Nho lỗi lạc, lại đượcnhân dân mến yêu, đi đến đâu, chỉ vài tháng ông chiêu mộ được rất nhiềunghĩa quân.
Đến cuối thế kỷ XVIII, một cuộc khởi nghĩa rộng lớn chưa từng thấy –cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, do một vị thiên tài là Nguyễn Huệ dẫn đầu, trongmột thời gian ngắn quét sạch chúa phương Bắc cũng như chúa phương Nam,thống nhất giang sơn lại Không chỉ nhằm vào sự thống trị thối nát của mộttập đoàn, một Trương Thúc Loan ở Đàng Trong, một chúa Trịnh ở ĐàngNgoài, phong trào khởi nghĩa Tây Sơn nhanh chóng trở thành biểu tượng củamột cuộc chiến tranh giữ nước Đồng thời với sự nghiệp thống nhất đất nước,
đó là một sự nghiệp đầy tính dân tộc và nhân văn Bọn phong kiến TrungQuốc được bọn phong kiến Việt Nam cầu cứu, tưởng có thể lợi dụng nhữngcuộc đảo lộn đó lập lại đô hộ ở Việt Nam Trong một trận lừng lẫy (1789),Nguyễn Huệ đánh tan tành quân đội của chúng Cùng với các cuộc khởi nghĩanông dân, cùng với việc thành lập triều đại Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của vịanh hùng tuyệt vời Nguyễn Huệ, nhiều hi vọng to lớn đã nảy nở Rồi đây xãhội phong kiến bị lung lay tận gốc, sẽ nhường chỗ cho một cuộc sống mới mẻchăng? Sau mấy chục năm loạn lạc kia, ý thức hệ phong kiến đã mất hết uytín rồi
Trong lịch sử trung đại nước nhà, sau thời đại hoàng kim, không có mộthiện tượng lớn lao nào tương tự Ấy là chưa kể đến sự phát triển của một xuthế đối lập với xã hội phong kiến về ý thức hệ Đó là những yếu tố tiền tư bản:
sự phát triển của các đô thị, uy lực của đồng tiền, ý thức cá nhân đòi quyềnsống,…
Những biến động trên đây là bằng chứng cho một cuộc khủng hoảng về
cơ cấu Nó mang tính toàn cục, dây chuyền, ở chiều sâu Thời đại Nguyễn Du
Trang 37sống như một tia nắng cuối chiều Do vậy mà những gắng gỏi dù rất kiệt xuấtnhư phong trào Tây Sơn cũng chỉ là một tia chớp chợt loé lên rồi hoàng hônvẫn cứ từ từ buông xuống Đó là một xu thế khách quan, mà đã là khách quanthì không gì đảo ngược nổi Trong tiến trình lịch sử dựng nước của dân tộc từthế kỷ X đến thế kỷ XIX, thời đại Nguyễn Du sống là một thời đại suy tàn.
Nó đang thăng trầm trên những bước đi cuối cùng để tiến đến cái giới hạncuối cùng “trăm năm trong cõi”
Trên bình diện văn hóa, thẩm mỹ, quan niệm truyền thống coi cái đẹp
là cái đẹp đạo đức, cái đẹp gắn liền với cái thiện là quan niệm chính thống vàphổ biến trong tư tưởng thẩm mỹ ở thế kỷ XIX Cái đẹp lý tưởng được đồngnhất với một thể chế chính trị lý tưởng là thời vua Nghiêu vua Thuấn, vuasáng tôi hiền Văn học, nghệ thuật là công cụ để tuyên dương quan niệm thẩm
mỹ này Có một thời người ta cho rằng, việc kế thừa và tuân thủ nghiêm ngặttruyền thống đó đã khiến các hình thức văn chương, nghệ thuật trong thế kỷXIX trở nên tương đối nghèo nàn, đơn điệu so với văn học nghệ thuật trongnửa cuối thế kỷ XVIII Quan niệm cho rằng, do sự cực đoan trong tư tưởngcủa các vua Nguyễn về vai trò và chức năng “văn dĩ tải đạo”, nên trong vănhọc Việt Nam thế kỷ XIX không có nhiều tác phẩm xuất sắc Thực ra, ThầnSiêu, Thánh Quát, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương và cả Tự Đức là nhữngnhà thơ, nhà văn nổi tiếng của dân tộc đều là sản phẩm của Triều Nguyễn.Nhìn vào nghệ thuật tạo hình và kiến trúc thời Nguyễn cũng có những nét đặctrưng riêng Phong cách nghệ thuật ở lĩnh vực này thể hiện rõ thị hiếu thẩm
mỹ của dân tộc là ưa chuộng cái hài hoà, sự gần gũi, hoà đồng với thiên nhiêncũng như đề cao cái đẹp thanh cao, tao nhã, bình thản của tâm hồn Mặc dùphương pháp ước lệ, tượng trưng, điển tích hoá vẫn phổ biến nhưng phươngpháp tả thực, tả chân đã được sử dụng và đạt được những kết quả nhất địnhtrong văn học, nghệ thuật thời kỳ này
Trang 38Bên cạnh xu hướng thẩm mỹ chủ đạo chịu ảnh hưởng của Nho giáo chỉchú trọng đạo đức, chính trị, cá nhân bị hoà tan trong các mối quan hệ xã hội,chủ thể thẩm mỹ bị mất cá tính thì xu hướng nhân văn trong nghệ thuật như làtiếng nói phản ứng lại những chuẩn mực xã hội khắc nghiệt ràng buộc conngười, từng xuất hiện cuối thế kỷ XVIII, vẫn được tiếp tục phái triển và đạtđỉnh cao trong các tác phẩm văn học của Nguyễn Du, của Hồ Xuân Hương.Với quan niệm coi trọng các giá trị người trong quan hệ thẩm mỹ, với việcđưa con người cá nhân tự quyết định vận mệnh của mình vào địa vị trung tâmcủa văn học, tư tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đã đưa mộtluồng sinh khí mới mẻ vào văn học Việt Nam đầu thế kỷ XIX Chủ nghĩanhân văn của dân tộc đã được phát triển đến đỉnh cao trong tư tưởng thẩm mỹcủa Nguyễn Du
Sự tồn tại xu hướng tư tưởng thẩm mỹ trong chỉnh thể tinh thần của xãhội Việt Nam thế kỷ XIX với tính quyết định, tính chi phối thuộc về các tưtưởng chính thống, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo là đặc điểm lớn nhất
và nổi bật của tư tưởng thẩm mỹ thời kỳ này Mặc dù vậy, chính các tư tưởngthẩm mỹ giàu chất dân tộc, đậm tính nhân văn lại làm nên giá trị đặc sắc vàtrường tồn trong kho tàng tư tưởng của dân tộc Điều đó cho thấy sự phức tạp,tính hai mặt của việc chuyển tải các giá trị tinh thần trong đời sống xã hội,cũng như sự vận động đặc thù của đời sống tinh thần giai đoạn này Việc tậptrung phân tích tư tưởng thẩm mỹ của các tác gia tiêu biểu trong thế kỷ XIX
sẽ cung cấp thêm tư liệu để chúng ta có một cái nhìn đầy đủ hơn về sự vậnđộng của tư tưởng thẩm mỹ thời kỳ này nói riêng và của Việt Nam nói chung
Tóm lại, tất cả những sự kiện trên đã tác động không nhỏ tới tình cảm,
tư tưởng và nhận thức xã hội, nhận thức con người của Nguyễn Du Chúngđược biểu hiện một cách tinh tế trong sáng tác của ông
Trang 391.3. Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều
1.3.1 Tác giả Nguyễn Du
Nguyễn Du (1765 - 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên Sinh
ra tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Cha là NguyễnNghiễm, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Tể tướng Mẹ là bà Trần Thị Tần quê
ở làng Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc (nay là thôn Kim Thiều,
xã Minh Đức, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh) Bà là vợ thứ ba của NguyễnNghiễm, kém chồng 32 tuổi, sinh được 5 con (bốn trai, một gái), mất năm 39tuổi sau hai cái tang liên tiếp của người con trai đầu 18 tuổi là Nguyễn Trụ(1775) và của chồng (1776)
Năm 1783, Nguyễn Du đỗ tam trường thi Hương Năm 1786, Tây Sơn
ra Bắc, đánh đổ chế độ phong kiến của vua Lê, chúa Trịnh Năm 1789, chiếnthắng Đống Đa Vì thế, từ 1786 – 1796, Nguyễn Du lưu lạc ở đất Bắc Từ
1796 – 1802, ông ở ẩn ở quê nhà, lấy biệt hiệu là Hồng Sơn liệp hộ (người đisăn ở núi Hồng) và Nam Hải điếu đồ (người đi câu ở biển Nam) Trong quãngthời gian dài bị lưu lạc chìm nổi này, Nguyễn Du có điều kiện chứng kiến vàthông cảm với những nỗi đau khổ của nhân dân Từ năm 1802 – 1820, ông ralàm quan với triều Nguyễn Năm 1820, ông mất tại Huế
Nguyễn Du được tiếp thu một nền học vấn hoàn hảo với những giá trị,chuẩn mực căn bản nhất của một xã hội phong kiến Tuy nhiên, thực tiễn xãhội với những cuộc thay họ đổi ngôi diễn ra nhanh chóng trong vài chục năm,
những mặt trái của xã hội, những nỗi thống khổ của con người đã đem lại
cho ông một phương thế đặc biệt trong suy ngẫm và kiểm nghiệm những giátrị tinh thần của thời đại ông, trong đó nổi bật là những giá trị thẩm mỹ
Trong 55 năm cuộc đời, Nguyễn Du đã chứng kiến những sự kiện lớn
về lịch sử - xã hội và gia đình đã tác động tới tính cách, tài năng, nhận thứchiện thực,… của ông:
Trang 40Năm 11 tuổi (theo tuổi âm lịch), thân phụ Nguyễn Nghiễm qua đời(1775), sau đấy 3 năm (1778), thân mẫu mất Tố Như mồ côi cha mẹ, thiếunơi nương tựa về tinh thần và tình cảm Phải chăng điều này đã tạo ra tínhcách trầm lặng ở Nguyễn Du? Đang sống yên ổn với người anh là NguyễnKhản thì ba sự kiện lớn về xã hội liên tiếp ập tới: Vụ án năm Canh Tí (1780),Khản bị hạ ngục; hai năm sau (1782 năm Canh Dần) chỗ dựa về quyền lực vàkinh tế của Nguyễn Khản không còn: chúa Trịnh Sâm chết; lại hai năm tiếp,
1784 kiêu binh bất bình, tìm giết Nguyễn Khản và phá sạch dinh cơ của ôngtại Kinh thành, Khản phải bỏ chạy đến nương nhờ Nguyễn Điều, người emruột khi đó đang làm trấn thủ Sơn Tây Cảnh sống lầu son gác tía của Nguyễn
Du dường như chấm dứt từ đây
Tiếp theo, một sự kiện long trời lở đất ập tới đối với họ Nguyễn TiênĐiền nói chung, đối với Nguyễn Du nói riêng: Tây Sơn do Nguyễn Huệ lãnhđạo dưới sự quân sư của Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân ra diệt chúa Trịnh, xếpđặt lại trật tự Bắc Hà năm Bính Ngọ 1786 Nguyễn Du chưa hết bàng hoàngthì cuối tháng 12 năm Mậu Thân 1788, Nguyễn Huệ chính thức lên ngôihoàng đế, dựng lên triều Quang Trung và ngay sau đấy, đầu mùa xuân năm
Kỷ Dậu 1789 đại phá quân Thanh, đuổi vua Lê Chiêu Thống khỏi Kinh thànhThăng Long Sông Rum tuy còn đấy, ngàn Hống vẫn xanh tươi, nhưng bứctường thành vua Lê – chúa Trịnh – chỗ dựa tưởng như không bao giờ laychuyển của họ Nguyễn Tiên Điền giờ đây đã hoàn toàn sụp đổ “Đòn” chímạng giáng xuống đầu Nguyễn Du Cũng như những kẻ bề tôi trung khác củanhà Lê, Nguyễn Du đau đớn, tìm cách rẫy rụa, hết nổi lên chống Tây Sơn ởThái Nguyên thất bại, lại toan vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh diệt NguyễnHuệ không thành Bế tắc càng thêm bế tắc!
Sự kiện cuối cùng là Quang Trung mất năm 1792, triều Nguyễn TâySơn dù oai hùng vẫn bị diệt vong năm 1802 và triều Nguyễn Gia Long được