1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số cơ CHẾ tâm lý xã hội được THỰC HIỆN TRONG GIÁO dục đạo đức ở GIA ĐÌNH VEN đô dưới ẢNH HƯỞNG của GIÁO lý PHẬT GIÁO

151 953 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 358,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 3.4: Thứ tự ưu tiên khi giáo dục đạo đức cho con cáiBảng 3.5: Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong giáo dục đạo đức trong gia đình hiện nay Bảng 3.6: Quan điểm của người dân về

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - ĐHQGHN

KHOA TÂM LÝ HỌC -

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

MỘT SỐ CƠ CHẾ TÂM LÝ XÃ HỘI ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở GIA ĐÌNH VEN

ĐÔ DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH TÂM LÝ HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2012-X

Hà Nội, tháng 05/2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - ĐHQGHN

KHOA TÂM LÝ HỌC -

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

MỘT SỐ CƠ CHẾ TÂM LÝ XÃ HỘI ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở GIA ĐÌNH VEN

ĐÔ DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Trần Thu Hương đã hết sức nhiệt tình

và trách nhiệm, dành cho em nhiều tình cảm, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đềtài khóa luận tốt nghiệp này

Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến lãnh đạo xã Tảo Dương Văn, huyện Ứng hòa,thành phố Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi khi về nghiên cứu tại địa bàn

Trân trọng cảm ơn thầy Nguyễn Hữu Công và các thầy cô giáo cùng toàn thểcác em học sinh trường Trung học phổ thông Ứng Hòa A đã hết sức nhiệt tình giúp đỡ

em hoàn thành khóa luận

Em xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thị Phượng, sinh viên lớp QH-2012X-TL, Khoa Tâm lý học,Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi xin cam đoan, đề tài “Một số cơ chế tâm lý xã hội được thực hiện tronggiáo dục đạo đức ở các gia đình ven đô” là đề tài do tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫncủa TS Trần Thu Hương Toàn bộ kết quả của đề tài khóa luận này cũng là một phầntrong đề tài “Ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đến giáo dục đạo đức ở gia đình ven đôhiện nay” do TS Trần Thu Hương chủ trì

Tất cả những kết quả đạt được trong báo cáo là hoàn toàn đúng sự thật Nếu cóbất kỳ điều gì không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Sinh viên

Nguyễn Thị Phượng

Trang 5

Bảng 3.4: Thứ tự ưu tiên khi giáo dục đạo đức cho con cái

Bảng 3.5: Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong giáo dục đạo đức

trong gia đình hiện nay

Bảng 3.6: Quan điểm của người dân về những nội dung cơ bản trong giáo lý đạo PhậtBảng 3.7: Mức độ phù hợp giữa những giá trị đạo đức với gia đình và những nội dung

cơ bản trong giáo lý Phật giáo

Bảng 3.8: Mức độ phù hợp giữa những giá trị đạo đức với bản thân và những nội dung

cơ bản trong giáo lý Phật giáo

Bảng 3.9: Mức độ phù hợp giữa những giá trị đạo đức với cộng đồng và những nộidung cơ bản trong giáo lý Phật giáo

Bảng 3.10: Mức độ thường xuyên áp dụng những nội dung căn bản trong giáo lý đạoPhật vào giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình

Bảng 3.11: Ý nghĩa của những nội dung căn bản trong giáo lý đạo Phật với vấn đềgiáo dục đạo đức trong gia đình

Bảng 3.12: Phong cách giáo dục được sử dụng trong giáo dục đạo đức cho con cáitrong gia đình

Bảng 3.13: Đánh giá mức độ làm theo các nội dung giáo lý đạo Phật

Biểu đồ 3.1: Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đìnhBiểu đồ 3.2: Mức độ lựa chọn các nhóm giá trị đạo đức

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ người dân biết đến các giáo lý Phật Giáo

Trang 6

Biểu đồ 3.4: Cách thức giáo dục đạo đức (1)

Biểu đồ 3.5: Cách thức giáo dục đạo đức (2)

Biểu đồ 3.6: Nguyên nhân và tấn suất chịu tác động của các nguyên nhân đó khi ápdụng những nội dung cơ bản trong giáo lý Phật giáo vào giáo dục đạo đức cho con cáitrong gia đình

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết nghiên cứu 3

6 Khách thể nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 6

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về giáo lý phật giáo và sự tương đồng giữa những nội dung giáo lý với giáo dục đạo đức 6

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước về giáo lý phật giáo và sự tương đồng giữa những nội dung giáo lý với giáo dục đạo đức 1112

1.3 Đạo Phật 17

1.4 Các cơ chế tâm lý xã hội 3233

1.5 Giáo dục đạo đức trong các gia đình ven đô hiện nay 3638

Chương 2: Kết quả nghiên cứu 4345

2.1 Một vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 4345

2.2 Nhận thức của người dân về vấn đề giáo dục đạo đức trong gia đình hiện nay 4751 2.3 Áp dụng những nội dung cơ bản trong giáo lý Phật giáo vào việc giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình hiện nay 5458

2.4 Các cơ chế tâm lý xã hội nảy sinh trong quá trình giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình dưới ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo 6367

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 7478

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 7579

PHỤ LỤC 7781

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1 Lý do chọn đề tài

Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam khoảng thế kỉ II sau công nguyên và đãnhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần củangười Việt (Theo điều tra của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, năm 2008, có 80% ngườiViệt có niềm tin Phật giáo ở các mức độ khác nhau) bên cạnh đạo Nho, đạo Lão, đạoThiên Chúa… Phật giáo cho rằng, dù ít hay nhiều, con người phải đối mặt với khókhăn, hiểm nguy, thất bại… Trong những lúc như thế, cuộc sống của con người rất dễ

bị tổn thương và trở nên vô nghĩa, niềm tin tôn giáo sẽ giúp cho họ ít khi bị đẩy vàotrạng thái bất an, tuyệt vọng hay đau khổ, u sầu Do vậy, họ tự tìm ra lối thoát chochính mình và cộng động trên cơ sở của niềm tin vào các triết lý của giáo lý Phật giáo

Quá trình Phật giáo truyền bá vào Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành,phát triển tư tưởng, đạo đức của con người Việt Nam Phật giáo luôn đề cao lòng từ,nhân ái, đây là nguyên nhân quan trọng giúp Phật giáo luôn gắn chặt và đồng hànhcùng dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo luôn quan niệm con

người cần có lòng từ, bi, hỉ, xả (tứ vô lượng tâm), đây là nhân tố chủ yếu giúp phát

triển tâm từ bi, hạnh cứu khổ, điều đó định hướng cho mọi hoạt động (tâm linh và thếtục) của Phật giáo cho con người và vì con người Những quan niệm này luôn được thểhiện trong giáo lý của Phật giáo và cũng chính là nền tảng xây dựng giá trị đạo đức củacon người Việt Nam, thể hiện trong quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan vàđịnh hướng cho hành vi ứng xử

Ngày nay, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có nhiều thành tựu nổi bậttrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Tuy vậy, bên cạnhnhững thành tựu nổi bật những mặt tích cực đã đạt được vẫn có nhiều vấn đề xã hộibức xúc nổi lên như: tình trạng nhập cư ồ ạt vào các đô thị lớn, môi trường bị tàn phá,nghèo đói, thất nghiệp ở nông thôn, bệnh dịch… Các vấn đề xã hội này đang trở thànhthách thức cho nước ta trong quá trình hướng đến sự phát triển ổn định, bền vững.Đặc biệt tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh như hiện nay đã biến những vùng nông thôntrở thành vùng ven đô Vùng ven đô và ngoại thành là khu vực trung gian giữa nông

Trang 9

thôn và thành thị Các giá trị văn hóa thành thị được chuyển vào khu vực ven đô nhanhhơn bất kỳ khu vực nào khác bởi tính chất giao lưu mạnh mẽ ở khu vực này Nếu yếu

tố vật chất trong sự chuyển đổi diễn ra nhanh chóng và có thể nhận thấy rất rõ ràng qua

sự thay đổi bộ mặt cảnh quan môi trường, hệ thống dịch vụ…thì yếu tố tinh thần của

sự biến đổi (từ phương diện văn hóa, tâm lý) lại diễn ra từ từ và rất khó khăn nhận biếtđược ngay lập tức.Sự biến đổi quá nhanh với tốc độ cao, diễn ra trên diện rộng của đôthị hóa, công nghiệp hóa, kinh tế thị trường đã khiến cho dân vùng ven đô không thểthích nghi ngay với môi trường đô thị, từ đó có rất nhiều vấn đề tâm lý xã hội mới xuấthiện và diễn ra phức tạp Mặt trái của đô thị hóa và kinh tế thị trường đã làm cho lốisống và các mối quan hệ xã hội bị biến dạng, các giá trị đạo đức bị lung lay, các mốiquan hệ trong gia đình và cộng đồng trở nên lỏng lẻo, mâu thuẫn, xung đột ngày càngnhiều Như vậy, trước tình hình đó Phật giáo đã, đang và sẽ góp phần hỗ trợ với Nhànước (bằng hệ thống giáo lý) thực hiện tốt an sinh và đảm bảo công bằng xã hội, xâydựng hệ thống giá trị đạo đức (bắt đầu từ trong gia đình và lan tỏa tới cộng đồng) phùhợp với thuần phong mỹ tục, đảm bảo tính kế thừa những nét đẹp truyền thống trongứng xử nhưng vẫn bắt nhịp với lối sống hiện đại.Vì những lí do nêu trên, chúng tôi đề

xuất đề tài nghiên cứu: “Một số cơ chế tâm lý xã hội được thực hiện trong giáo dục đạo đức ở gia đình ven đô dưới sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằmlàm rõ một số cơ chế tâm lý xã hội nảy sinh trong giáo dụcđạo đức ở các gia đình ven đô dưới ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo Trên cơ sở đó đềxuất kiến nghị nhằm phát huy hiệu quả của các cơ chế này trong quá trình vận dụngnhững giáo lý căn bản của Phật giáo vào thực tế giáo dục đạo đức tại các gia đình venđô

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, trong đó làm rõ những nội dung lý thuyếtchính của đề tài như: Phật giáo và những nội dung giáo lý của Phật giáo, các cơ chếtâm lý xã hội (bắt chước, ám thị, lây lan), giáo dục đạo đức trong các gia đình ven đô

Trang 10

- Nghiên cứu thực trạng: Phân tích quá trình hình thành các cơ chế tâm lý xã hộitrong giáo dục đạo đức tại các gia đình ven đô dưới sự ảnh hưởng của giáo lý Phậtgiáo.

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn đưa ra kết luận, kiến nghị

4 Đối tượng nghiên cứu

Một số cơ chế tâm lý xã hội được thực hiện trong giáo dục đạo đức ở gia đìnhven đô dưới sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo

5 Giả thuyết nghiên cứu

Đa số người dân ven đô đều sử dụng cả ba cơ chế: bắt chước, ám thị và lây lankhi ứng dụng những nội dung giáo lý căn bản của Phật giáo vào quá trình giáo dục đạođức cho con cái

6 Khách thể nghiên cứu

Tổng số khách thể nghiên cứu là 310 người, trong đó:

 200 khách thể là bố mẹ

 100 khách thể là con cái ở độ tuổi vị thành niên (16 – 18 tuổi)

 10 khách thể tham gia phỏng vấn sâu

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Để xây dựng cơ sở lý luận ban đầu cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi tiến hànhthu thập, tổng hợp, phân tích các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tàinhư: giáo dục đạo đức, các cơ chế tâm lý xã hội, giáo dục đạo đức trong các gia đình,gia đình ven đô…

Trang 11

Nguồn tài liệu được chúng tôi sử dụng là từ các luận văn, luận án, tạp chí, kỷyếu khoa học, sách báo…của các tác giả trong và ngoài nước về các lĩnh vực có liênquan đến đề tài.

Thông qua việc đọc, lựa chọn và xử lý các thông tin có liên qua, chúng tôi thamkhảo để xây dựng cở sở lý luận, bộ khái niệm công cụ của đề tài, từ đó xây dựng cácphương pháp nghiên cứu của đề tài

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính chúng tôi sử dụngtrong nghiên cứu để thu thập ý kiến của người dân và các bạn học sinh về vấn đề giáodục đạo đức trong gia đình dưới sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo và các cơ chế tâm

lý xã hội nảy sinh trong quá trình giáo dục đó

Với bảng hỏi dành cho các bậc cha mẹ, chúng tôi thiết kế bộ câu hỏi gồm 14câu hỏi Trong đó, có 5 câu hỏi ý kiến người dân về vấn đề giáo dục đạo đức cho concái trong gia đình hiện nay, 4 câu hỏi ý kiến người dân về việc áp dụng các nội dung

cơ bản trong giáo lý đạo Phật vào giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình, 3 câuhỏi để chỉ ra các cơ chế tâm lý xã hội nảy sinh trong quá trình giáo dục đạo đức chocon cái trong gia đình và 1 câu hỏi để tìm hiểu sự hiệu quả của việc giáo dục đạo đứccho con cái trong gia đình thông qua các cơ chế tâm lý xã hội đó Và 1 câu hỏi về cácthông tin cá nhân của khách thể

Với bảng hỏi dành cho các bạn học sinh, chúng tôi lấy chính là một số câu hỏi

đã được hỏi các bậc cha mẹ, để có thể đối chiếu, so sánh sự đánh giá từ hai nhómkhách thể

Các thang đo được thiết kế sử dụng gồm:

- Thang đo về tần suất, gồm 4 mức độ: Rất thường xuyên, Thường xuyên,Thỉnh thoảng, Hiếm khi

- Thang đo mức độ phù hợp, gồm 4 mức độ: Rất phù hợp, Phù hợp, Ít phùhợp, Không phù hợp

Trang 12

- Thang đo sự nhận thức, gồm 4 mức độ: Rất đúng, Đúng, Đúng một phần,Không đúng.

- Thang đo tầm quan trọng, gồm 4 mức độ: Rất quan trọng, Quan trọng,Bình thường, Không quan trọng

Số khách thể phỏng vấn sâu ngẫu nhiên là 10 người

Thời gian phỏng vấn mỗi người là từ 45 đến 60 phút

Thông qua trao đổi, trò chuyện, chúng tôi thu thập thêm được những thông tinchân thực hơn, cụ thể hơn của người dân về những vấn đề đã nêu trên

7.4 Phương pháp quan sát

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát để quansát quá trình thực hiện việc giáo dục đạo đức cho con cái tại gia đình của người dân,quá trình giao tiếp của các thành viên trong gia đình Từ đó tăng thêm độ tin cậy chonhững kết quả thu được qua phương pháp bảng hỏi và phương pháp phỏng vấn sâu

7.5 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học

Để xử lý thông tin thu được sau quá trình điều tra bằng bảng hỏi, tôi sử dụngphần mềm xử lý số liệu SPSS 21 Tôi tiến hành xử lý và phân tích số liệu, lập bảngthông kê trên các dữ liệu nghiên cứu để thuận lợi cho việc tổng hợp, nhận xét và là cơ

sở để đưa ra kết luận phục vụ cho mục đích nghiên cứu Trong đó sử dụng các phép

Trang 13

thống kê mô tả (điểm trung bình, tần suất, tỷ lệ phần trăm) và thống kê suy luận (kiểm

định T-test, phép so sánh tương quan)

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về giáo lý phật giáo và sự

tương đồng giữa những nội dung giáo lý với giáo dục đạo đức

1.1.1 Những nghiên cứu theo xu hướng “Luân lý học và nhân bản” – tìm kiếm sự

tương đồng trong quan niệm lý luận của tâm lý học về hành vi và xung đột với giáo lý Phật giáo.

Đa số các nhà Tâm lý học xã hội như N.Miller, E.Fromm, K.Lewin,J.P.Chaplin, M.Follet, A.Kauzer đặc biệt quan tâm đến nghiên cứu hành vi cá nhân,hành vi nhóm, mâu thuẫn, xung đột trong các quan hệ cá nhân, quan hệ liên nhóm.Theo các tác giả này, nếu các vấn đề của cá nhân, nhóm, cộng đồng được giải quyếttrên cơ sở tạo ra sự cân bằng (trên bình diện cá nhân và xã hội) thì mâu thuẫn và xungđột của xã hội sẽ giảm thiểu Những thuộc tính tâm lý cá nhân như tham lam, kiêu

ngạo, thù hận, ganh ghét, ích kỷ (trong Phật giáo là tham, sân, si)… của con người đều

là nguyên nhân tạo nên sự mất cân bằng tâm lý của cá nhân và nhóm xã hội và tạo racác “vấn nạn” cho cá nhân và cộng đồng [3,4,5]

Theo quan niệm của Phật giáo, sự hài hòa của thế giới nhân loại được đặt trênnền tảng sự cân bằng tâm lý cá nhân Vì vậy, hành vi xã hội của cá nhân hay nhóm,cộng đồng phải được dựa trên nguyên tắc đó Bồi dưỡng phẩm chất (đức tính) đã đượcnhìn nhận là có giá trị văn hóa xã hội như: tự tiết chế, tâm lý an bình thanh tịnh, tự rănbuộc, giúp đỡ đồng loại… đó chính là đạo đức xã hội, là cơ sở có thể làm giảm thiểumâu thuẫn, xung đột trong chính mỗi cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng xã hội, đồngthời bồi dưỡng, phát triển nhân cách lành mạnh, có thể kiến lập được một xã hội lươngthiện

Các nhà tâm lý học xã hội phương Tây đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề xungđột, xung đột giá trị trong bản thân cá nhân và trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân,giữa cá nhân với nhóm Và họ coi bất đồng, mâu thuẫn, xung đột khi nhu cầu, lợi íchkhông được thỏa mãn là nguyên nhân tạo ra những cảm xúc, hành vi tiêu cực, lệchchuẩn Trong khi đó, từ góc độ giáo lý Phật giáo, xung đột cũng luôn được đề cập đến

Trang 15

và lý giải theo quan điểm của Phật giáo Xung đột xuất hiện là do những nhu cầu, khátkhao, ham muốn, mục tiêu của con người không được thỏa mãn Giải quyết sự xungđột đương nhiên liên hệ đến nhân tố quyết định của nó và khoảng cách xa gần của mụctiêu, động cơ cá nhân, cường độ nhu cầu cá nhân, ý chí, thời gian, kỳ vọng cánhân… Sự trắc trở, thất bại luôn tồn tại trong quá trình giải quyết xung đột Sự trắc trở

có thể bởi hoàn cảnh như người nhà bị chết; có những trắc trở bởi yếu tố thể chất, nhưkhuyết tật; hoặc trắc trở có nhân tố xã hội như ly hôn, thất nghiệp… Phương thức đốiphó với sự trắc trở, thất bại gồm có công kích, gây hấn (gián tiếp hoặc trực tiếp côngkích, gây hấn), ảo tưởng và co rút (trở về với những hành vi trẻ con – như khóc lóc ồn

ào, lạnh lùng…), sợ hãi, dồn nén, kìm chế, phóng chiếu, né tránh, phủ định, cự tuyệt,

bù trừ, hợp lý hóa, di chuyển … Đó chính là các cơ chế phòng vệ trong tâm lý học.

Đức Phật dạy rằng trên cơ bản, sự xung đột và bình an, thanh tịnh có thể kiểm nghiệm

từ hai thứ tầng bậc: Thứ nhất, niết bàn là thanh tịnh, hài hòa một cách tuyệt đối; cònđau khổ thì đầy dẫy sự bất an và xung đột Thứ hai, giữa sự hài hòa (mục tiêu truy cầu

lý tưởng của người tại gia) và thanh tịnh tuyệt đối (là lý tưởng truy cầu của người xuấtgia) cũng có rất nhiều khác biệt Người tại gia chánh trực nếu tuân theo thủ đoạn hợppháp để làm giàu, không tham lam thì có công đức và hơn nữa có thể đạt được sự hàihòa; nếu người tại gia khởi lên tâm tham lam, khát cầu sự hưởng thụ quá độ thì chắcchắn là bị xung đột với người khác Người xuất gia vì xả bỏ tất cả, không những cókhả năng giải trừ đau khổ mà hơn nữa còn có thể truy tầm sự thanh tịnh cao nhất trongnội tâm của họ [19]

Phật giáo giải thích về những trắc trở, thất bại rằng, khoái lạc và hưởng thụ quatham, sân, si của con người, khi mà chúng ta truy tầm kết quả biến thành rỗng tuếch thìsinh ra trắc trở, thất bại nặng nề Loại trắc trở thất bại sâu nặng hơn không tức khắcxuất hiện mà nó xuất hiện khi qua trải nghiệm, day rứt, dày vò hoặc đố kỵ, ghen ghét,hận thù Ngoài sự trắc trở vì truy cầu thỏa mãn cảm quan đã gây nên, Phật giáo còn

đề ra sự xung đột tâm lý của tự ngã bảo tồn (quyền lực, địa vị, danh vọng), các nhàtâm lý học phân loại nó là “nội xung đột”, một người có nhu cầu quyền lực mạnh mẽthì sự xung đột tâm lý cũng to lớn và sự trắc trở, trở ngại mà họ gặp phải cũng rất nặng

nề Khi cảm giác trắc trở lên đến cao điểm là không thể tiếp nhận thì con người hiểnnhiên lập tức gặp một loại hiện tương hy hữu đó là dục vọng và khát vọng muốn hủy

Trang 16

diệt tự ngã Vì thế, xung đột mà Phật giáo đã đề cập như phân tích động cơ căn nguyênthỏa mãn nhu cầu, bảo tồn tự ngã, hủy diệt tự ngã và tham lam, ghét hận…cùng vớitâm lý học xã hội hiện đại có nhiều điểm tương đồng

1.1.2 Sự tương đồng trong quan niệm lý luận của tâm lý học về động cơ với giáo lý

Phật giáo

Tâm lý học cũng như giáo lý Phật giáo luôn hướng tới lý giải hành vi của conngười Theo các nhà Tâm lý học hoạt động như Leonchiev, Rubinstein, hành vi củacác nhân lệ thuộc vào nhận thức và động cơ của họ, nhận thức không thể tách rời động

cơ, động cơ thể hiện sự chín muồi của nhận thức, là động lực thúc đẩy hành vi của cánhân [4,19]

Phật giáo coi dục vọng của con người là động cơ của mọi thống khổ của nhân

sinh Phật giáo dạy rằng có hai loại phương pháp có thể đạt đến sự phát triển trên

phương diện tinh thần: Ninh Tịnh (sự tĩnh lặng an bình); Đổng Kiến (sự nhìn thấy xuyên suốt bên trong sự vật) và cũng có 5 loại nhân tố có thể nhiễu loạn sự phát triển của sự ninh tịnh là dục cầu, ý chí xấu, lười biếng và chậm lụt, và lo lắng, hoài nghi.

Đức Phật cũng đã chỉ dạy 7 loại nhân tố của Khai ngộ để có thể bồi dưỡng tri thức vàđổng kiến của chúng ta, đó là: chánh tư duy, truy cầu Phật Pháp, tinh thần, hỷ lạc, ninhtịnh, thiền định và trấn định (bình tĩnh)

Động cơ là cái mà vì nó con người hành động, nó có vai trò như một sự kíchthích, thúc đẩy nguồn năng lực có trong con người, nguồn năng lực này có thể sinh rahành động giúp cho con người đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống Động cơ cóthể chia thành hai phần đó là sinh lý và tâm lý Phật giáo quan niệm động cơ chủ yếudẫn đến sự bất an, căng thẳng, nóng nảy, lo lắng, bồn chồn và cảm thọ đau khổ… cả sự

xung đột trên mặt tâm lý và sự bất an của nội tại là do dục cầu của con người, từ đó đề

ra pháp môn bất nhị để hướng dẫn muôn loài đạt đến con đường hạnh phúc, ấm no, hướng tới chân, thiện, mĩ

Như vậy, rõ ràng có sự tương đồng giữa quan niệm lý luận của tâm lý học vềđộng cơ và giáo lý Phật giáo trong quá trình xây dựng hệ giá trị đạo đức lành mạnh,giúp tạo động lực trong hành vi đạo đức của con người

Trang 17

1.1.3 Sự tương đồng trong quan niệm lý luận về nhân cách của tâm lý học với giáo lý

Phật giáo.

Nhân cách là tổ hợp các phẩm chất tâm lý, nó tạo nên bộ mặt giá trị xã hội củacon người Sigmund Freud (đại diện cho lý thuyết phân tâm cổ điển) cho rằng có baloại tầng bậc tâm lý, đó là siêu ý thức, ý thức và vô thức Nội dung của ba tầng thức

này tạo thành ba loại hệ thống tâm lý, tức cái nó (id), cái tôi (ego) và cái siêu tôi

(superego) được biểu hiện trong nhân cách Theo S.Freud thì trong xã hội văn minh,thường do các loại áp lực của xã hội và thật khó để con người có thể được thỏa mãncác nhu cầu của mình một cách dễ dàng, bởi vậy mà nó biến thành nhân tố chủ yếulàm ảnh hưởng đến nhân cách Từ đó về sau, rất nhiều học thuyết, lý luận về nhân cách

mà phát nguồn từ học thuyết của Sigmund Freud và được tu chỉnh thêm, được gọi là

“lý thuyết phân tâm mới” ra đời Cuối năm 1930 đến đầu năm 1950, có rất nhiều họctrò của Sigmund Freud đã phát biểu về những kiến giải và lý luận về tâm lý phân tíchhọc, trong đó, Carl Jung chủ trương nhấn mạnh nhân cách là sự thăng bằng của ý thức

và vô thức [5,18,19]

Lý thuyết tâm lý học cá nhân của Alfred Adler đặc biệt nhấn mạnh đến kỳ vọngbẩm sinh (birth order) trong sự hình thành nhân cách, sự ảnh hưởng của việc bỏ bêhoặc nuông chiều trong sự phát triển của trẻ em, khái niệm một động lực về “cái ngãhoàn hảo” (self perfecting) trong sự tồn tại của con người, và ý tưởng cần nghiên cứu

và đối xử với bệnh nhân như là “con người toàn thể” Một nguyên lý quan trong kháctrong lý thuyết của Adler đó là khẳng định những mơ tưởng của con người trong tuổithơ có thể hướng dẫn cho sự nhận thức và các lựa chọn trong suốt cuộc đời họ, và khảnăng cùng làm việc với ngưới khác vì một lợi ích cộng đồng đóng vai trò trong quátrình hình thành và phát triển nhân cách

Nhà tâm lý học nhân văn A.Maslow đã đề xuất hệ thống thang bậc nhu cầu củacon người và cũng coi đó là nguyên nhân thúc đẩy của các hành vi của con ngườitrong đời sống xã hội Theo ông, một xã hội hoàn hảo đó là xã hội cần khuyến khíchcon người tiến tới các nhu cầu khẳng định bản thân, tạo điều kiện cho cá nhân có cơhội phát triển năng lực yêu thương đồng loại

Carl Rogers, một nhà tâm lý học nhân văn đã đề xuất liệu pháp ‘Thân chủ trọng

Trang 18

tâm” là thuật ngữ được chọn để gọi tên cho một nhóm những phương pháp tham vấn

tâm lý dựa trên quan điểm lý thuyết về bản chất con người và các tương tác xã hội giảthiết rằng mỗi người đều sở hữu những tiềm năng cho sự lớn lên, tiềm năng cho nhữnghành vi có hiệu quả và có khuynh hướng tự hiện thực hoá những tiềm năng của mình

Sở dĩ một cá nhân nào đó phát triển những hành vi kém thích nghi là do sự tập nhiễmnhững mẫu ứng xử sai lệch Bởi vì mỗi cá nhân đều có nhu cầu mạnh mẽ được ngườikhác chấp nhận, coi trọng nên anh ta hoặc cô ta có thể hành động một cách không tựnhiên, không thực tế và phát triển những cảm giác sai lệch về bản thân, về những điềumình mong muốn

Thuyết hành vi tạo tác của F Skinner lại coi học tập là quá trình và kết quả lĩnhhội kinh nghiệm cá nhân, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Học tập được xem như là biểu hiệncủa phương pháp hành vi nhất định trong các điều kiện tác động của các kích thích cụthể Nói cách khác, học tập là sự thay đổi một cách có hệ thống hành vi khi lặp lại tìnhhuống giống nhau Học tập thể hiện như là nguyên tắc phương pháp luận cơ bản vànhiệm vụ chính của tâm lý học hành vi đó là nhân tố quan trọng của tác động điều trịtrong các hệ thống tâm lý tri liệu, đặc biệt là trị liệu nhóm Tâm lý trị liệu hành vi thựcchất là sử dụng trong lâm sàng các lý thuyết học tập, được hình thành trong hành vi F.Skinner cho rằng hành vi củng cố là yếu tố điều chỉnh sự lệch chuẩn hành vi conngười Và ông cũng đề cao vai trò của giáo dục trong hình thành và phát triển nhâncách, đồng thời cũng là một liệu pháp tâm lý giúp cá nhân điều chỉnh hành vi phù hợpvới chuẩn mực đạo đức chung của xã hội

Lý thuyết của Alfred Adler, Carl Rogers và F.Skinner rất gần gũi và tươngđồng với quan điểm của Phật giáo (lấy chúng sinh là tâm điểm) luôn hướng chúng sinhtới sự giải thoát có giá trị thiết thực và nhân bản sâu sắc Phật giáo dạy con người phảisống với hiện tại, nhận ra sự khổ đau để đối mặt vượt qua, nhìn nhận thế giới tự nhiêncũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân - quả Theo Phật giáo nhân - quả là mộtchuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy

Phật giáo đối với sự giải thích về nhân cách đã có sự bao hàm của triết học, đạođức học và tâm lý học Phật giáo phủ định con người vốn có tự ngã thuần túy cố định(ego) vì nó chỉ là nhân duyên hòa hợp Do sự quan hệ của nhân duyên hòa hợp mà mỗi

Trang 19

con người đều có ý thức, ký ức và thuộc tính của nhân cách để có thể phân biệt Ta,Người (chủ thể, khách thể) Phật giáo tiếp nhận quan điểm cho rằng con người có mộtnhân cách, giả hợp biến động bất thường, nhân cách chỉ là một loại danh tự củaphương tiện được sử dụng để phân biệt giữa Người và Ta mà thôi, nhân cách chịutrách nhiệm về hành động của chính mình Phân tích một cách nghiêm chỉnh về tâm lýhọc hành vi cổ điển thì nhân cách cũng chỉ là một phương tiện giả danh, bởi nó biểuthị cho một loại chức năng thống nhất nào đó – như đi, đứng, tri giác, tư tưởng, quyếtđịnh… giống như chiếc xe ngựa, do sự kết hợp toàn thể của các bộ phận mới có thểgọi là xe ngựa được (sau này Lý thuyết TLH hành vi mới đã đưa yếu tố xã hội vàoquá trình tạo nên hành vi của cá nhân); Nhân cách cũng thế, do thân thể, cảm giác, ýthức và định hướng hướng, giá trị v v… là tổ hợp các thuộc tính tâm lý tạo nên giá trị

xã hội của cá nhân mà thành và như thế mới có thể gọi là nhân cách

Giáo lý Phật giáo thể hiện sự tiếp nhận ý nghĩa trọng yếu về mối quan hệ tương

hỗ giữa con người với hoàn cảnh xã hội Phật giáo cho rằng, luân lý xã hội có thể giúpcho con người kiến lập một quan hệ nhân tế lành mạnh và một lý tưởng xã hội hài hòa.Mục tiêu trị liệu (nhân tâm) của đức Phật đặt trên tâm lý, khí chất của cá nhân biến hóa,Phật giáo truy tìm tung tích về sự xung đột căn bản của cá nhân, xã hội và đã khẳng định

là nó được bắt nguồn từ tham lam, thù hận và vọng tưởng bất hợp lý về bản ngã Đóikhát là phản ứng nội tại của sinh lý, dục tánh thì có khuynh hướng sinh lý và xã hội, đólà: dục vọng nhục dục, dục vọng quyền lực, dục vọng danh vọng và địa vị… là kết quảcủa quá trình tương hỗ giữa cá nhân với các hoạt động xã hội và điều kiện xã hội của cánhân đó

Nói tóm lại, có thể thấy khẳng định, thông qua việc điểm luận các quan điểm của các nhà Tâm lý học xã hội, Tâm lý học hành vi, Tâm lý học nhân cách, chúng tôi thấy có mối liên hệ, thống nhất tương đối trong giáo lý Phật giáo đối với quan điểm của các nhà Tâm lý học Phương Tây về động cơ, hành vi và nhân cách và đây chính là những cơ sở khoa học mang tính định hướng để chúng tôi triển khai xây dựng khung

lý thuyết cho đề tài

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước về giáo lý phật giáo và sự

tương đồng giữa những nội dung giáo lý với giáo dục đạo đức

Trang 20

1.2.1 Phật giáo và giáo lý giáo dục luân lý, đạo đức của Phật giáo thu hút được sự

quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Phật học, Văn hóa học, Tôn giáo học và hình thành ba nhóm quan điểm khác nhau

Thứ nhất, nhóm quan điểm cho rằng, quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ởViệt Nam gắn liền với quá trình hình thành phát triển tư tưởng đạo đức của con người.Chính vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng đạo đức Việt Nam không thể không đềcập đến giáo lý Phật Giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng Các nhànghiên cứu đã rút ra kết luận như sau: Nghiên cứu Phật giáo, nhìn nhận và đánh giá nó

là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự pháttriển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai [1,12,16,17]

Thứ hai, những nghiên cứu lý luận chỉ ra: giáo lý Phật giáo có nhiều điểmtương đồng với giá trị đạo đức của người Việt như: Tính xã hội và nhân bản của đạođức Phật Giáo; Mười chuẩn mực đạo đức căn bản của Phật giáo; Quy luật nhân quả,kiếp luân hồi, bản ngã, chế ngự tham sân si… Các nhà nghiên cứu theo xu hướng nàykhẳng định: mặc dù Phật giáo du nhập vào Việt Nam sau một số tín ngưỡng dân giannhư Thờ Mẫu, thờ Thành Hoàng, Thờ cúng Tổ tiên… thế nhưng Phật giáo đã giải đápđược những băn khoăn mang tính triết lý nhân sinh mà tín ngưỡng dân gian chưa thểđáp ứng được Với những tư tưởng về “vô thường vô ngã”, “từ, bi, hỷ, xả”, “nghiệpchướng, luân hồi”, “nhân quả”…Phật giáo đã phần nào đáp ứng được nhu cầu tâm linhcủa người dân lúc bấy giờ Do đó, Phật giáo đã nhanh chóng tạo lập được cơ sở thựctiễn vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của mình trên đất nước Việt Nam Cùng vớiquá trình du nhập và phát triển đó, những chuẩn mực đạo đức Phật giáo cũng xâmnhập và tác động nhất đinh đến nền đạo đức của dân tộc Việt Nam Đạo đức Phật giáo

đã góp phần bổ khuyết những giá trị đạo đức mới phù hợp với tâm lý, giá trị của ngườiViệt [18,19]

Thứ ba là những công trình nghiên cứu lý luận về ảnh hưởng của Phật Giáo đếncác giá trị đạo đức xã hội của người Việt, đa số các tác giả khẳng định: Phật giáo đượcxem là một trong những nhân tố quan trọng góp phần định hình nên các quan niệm,chuẩn mực, hệ giá trị đạo đức trong xã hội Trong hệ thống giáo lý của Phật giáo chothấy những cơ sở lý luận xác thực cho vấn đề đạo đức xã hội hướng con người tới

Trang 21

Chân, Thiện, Mỹ Đạo đức Phật giáo đã thực sự ăn sâu vào đạo lý truyền thống dântộc, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán của người Việt.Người Việt tiếp nhận đạo Phật không phải chỉ là nội dung triết lý ẩn trong đó, mà quantrọng hơn là những hành vi đạo đức mang tính hướng thiện Họ tiếp thu Phật giáokhông phải với tư cách là một hệ tư tưởng với các giáo lý cao siêu mà là những điềurất gần gũi với tâm tư, tình cảm của mình [26,27,28,29]

Sau cùng là những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của tư tưởng Phật Giáođến đời sống của các tầng lớp dân cư, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến thanh thiếuniên, nhưng những nghiên cứu này mới chỉ dừng ở góc độ mô tả hiện tượng, chứkhông lý giải được nguyên nhân, bản chất của hiện tượng và đề xuất các biện phápnhằm phát huy mặt tích cực của tư tưởng Phật giáo

1.2.2 Phật giáo và các giáo lý giáo dục đạo đức con người cũng thu hút được sự

quan tâm nghiên cứu của khá nhiều các nhà công tác xã hội, tâm lý học và xã hội học trong nước

Các nhà Tâm lý học, trên bình diện lý luận chủ yếu quan tâm nghiên cứu mốidây liên hệ giữa Phật giáo Việt Nam và tâm lý học và các tác giả đã phát hiện ra mốitương đồng thể hiện ở những mục đích sau đây:

Thứ nhất, cả Phật giáo và tâm lý học đều cung cấp cho con người phương pháp

tự nhận thức chính mình

Thứ hai, giúp con người định hướng tư duy và hành động

Thứ ba, giúp con người thay đổi tình trạng đau khổ do rối loạn tâm lý, đi sâuvào đời sống nội tâm để giải phóng những ức chế tâm lý

Về mặt lý luận, các nhà Tâm lý học tôn giáo cũng khẳng định, Phật giáo quantâm đến con người như một cá nhân cụ thể Vì thế, Phật giáo khẳng định con người là

sự phối hợp của các loại vật chất, các giác quan, của tri giác, của những bộ phận cấuthành tâm trí và của ý thức Sự kết nối này không ổn định bởi mỗi một tập hợp lại tuânthủ theo một lôgic riêng trong nhịp tiến hóa của các thành tố từ khi sinh ra cho đến khichết đi

Trang 22

Các nhà Tâm lý học còn chỉ ra cơ sở tâm lý học của hoạt động thờ cúng tổ tiên vàcoi chúng như một hình thức biểu hiện, xâm nhập của Phật giáo trong các gia đình Việt

Nam Lương Cần Liêm (2004), trong cuốn Từ nền Tâm lý Châu Á: tính nhân văn, chính trị và đạo đức, đã khẳng định: Việc ghi nhớ người đã khuất sẽ làm dịu đi một cách từ từ nỗi đau mất người thân trong tâm trí của người sống và từ đó “chuyển ký ức cá nhân thành điều mà mọi người đều có thể chia sẻ được với nhau” Bàn thờ trong mỗi gia đình

gợi cho mỗi thành viên nhớ rằng linh hồn người đã mất vẫn còn tồn tại, họ không vôhình mà luôn hiện hữu trong tâm trí những người đang sống, chúng ta vẫn giữ mối liên

hệ mật thiết với người thân của mình cho dù họ đã nằm sâu dưới lòng đất và khi chúng

ta chết, chúng ta sẽ tái ngộ với họ Nhìn từ góc độ văn hóa truyền thống, thờ cúng tổ tiênđược xem như phương thức thể hiện đạo hiếu, là quy tắc hành xử đúng đắn trong xã hội

và mang đậm bản sắc dân tộc, là sự kết hợp giữa những giá trị đạo đức truyền thống vớigiáo lý răn dạy luân lý của Phật giáo [12,16,19]

Sâu hơn nữa, trong Tâm lý học trị liệu, một chuyên ngành ứng dụng của Tâm lýhọc, người ta áp dụng Thiền (Meditation) như một hình thức trị liệu bằng thư giãnmới Có khá nhiều các tài liệu về thực hành các phương pháp chăm chữa sức khỏe tinhthần khẳng định rằng: Việc nghe giảng các giáo lý, những quan điểm của đạo Phật tỏ

ra có tác dụng rõ rệt trong việc làm giảm triệu chứng và mang lại an dịu tinh thần chothân chủ mà không cần thiết phải dùng đến thuốc Tuy ở góc độ lý luận, mặc dù vẫncòn nhiều tranh cãi về tính khoa học của các phương pháp chăm chữa này nhưngnhững hiệu quả trong ứng dụng thực tế của chúng là không thể phủ nhận

Trong lĩnh vực công tác xã hội, các nhà công tác xã hội cũng có những nghiêncứu về lý luận nhằm phát hiện ra cơ chế tâm lý học tạo nên sự tương đồng giữa cáchoạt động xã hội của Phật giáo với công tác xã hội Nguyễn Hồi Loan (2012) đã khẳng

định: “Vấn đề cốt tủy của Phật giáo đó là căn nguyên khổ đau của nhân loại và con đường giải thoát, cũng vậy, vấn đề cốt tủy của công tác xã hội về cơ bản cũng là những vấn đề đặt ra của Phật giáo – nguyên nhân của vấn nạn con người gặp phải trong đời sống của họ và cách thức (con đường) giải thoát vấn nạn đó trên cơ sở trợ giúp, can thiệp, trị liệu (liên kết nguồn lực, dịch vụ) của nhân viên công tác xã hội nhằm nâng cao năng lực, tăng cường chức năng xã hội cho cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn nạn trên bình diện cá nhân và xã hội nhằm

Trang 23

đảm bảo an sinh xã hội Các phạm trù: động cơ (motivation), hoạt động (action) và cảm xúc (emotion); nhận thức (cognition), nhân cách (personality), hành vi (behaviour), can thiệp (prevention), trị liệu (therapy) đều là các phạm trù “sống còn”,

“thấm đẫm” và xuyên suốt không chỉ trong giáo lý và thực hành các lễ nghi của Phật giáo và trong nghiên cứu lý luận và ứng dụng của Tâm lý học mà còn thể hiện trong lý thuyết và thực hành, ứng dụng của công tác xã hội ở nước ta hiện nay” [19]

Tiếp cận tìm kiếm sự tương đồng giữa Phật giáo, tâm lý học và công tác xã hội

trên phương diện trị liệu, theo Nguyễn Hồi Loan (2012): “Các vấn nạn của con người” của tâm lý học, công tác xã hội và “Nhân sinh là đau khổ” của Phật giáo dù không có sự mưu tính nhưng vẫn đã gặp nhau Phật giáo đề ra phương pháp dùng quan niệm vô ngã để có thể trị liệu sự nóng nảy, lo lắng, khổ đau và phiền chán Phật giáo cũng cho rằng con người sở dĩ nóng nảy lo lắng bất an là bởi vì bám víu vào sự chấp trước nơi tự ngã Tâm lý học, Công tác xã hội đưa ra các cách trị liệu, can thiệp như nhận thức, hành vi, nhận thức - hành vi, nhân văn … để can thiệp, trị liệu có hiệu quả những vấn nạn con người Phật giáo thì đề ra tinh thần vô ngã để giải quyết vấn

đề một cách rốt ráo vấn nạn của con người”; Tác giả đi đến kết luận như sau: “Đối chiếu triết lý của Phật giáo với các mục tiêu của CTXH dưới góc độ TLH chúng ta thấy có sự trùng lặp đáng kể, các cơ sở lý luận khoa hoạc và thực tiễn hiện nay chúng

ta có thể xây dựng một cách tiếp cận mới trong công tác xã hội tại Việt Nam mang tính dân tộc, phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động này, đó là cách tiếp cận Phật giáo trong CTXH” [19]

Các nhà công tác xã hội cũng đã có những tổng kết về hoạt động thực tế củagiáo hội Phật giáo Việt Nam với vấn đề an sinh xã hội Họ coi, hoạt động từ thiện xãhội là một hoạt động cụ thể về chức năng xã hội của Phật giáo, những hoạt động từthiện đó đã nói lên ý nghĩa cao đẹp của đạo Phật và đạo lý dân tộc Việt Nam, thể hiệntính hiệu quả, thiết thực góp phần trợ giúp cho những người yếm thế vượt qua nhữngnan đề họ gặp phải trong cuộc sống Hoạt động từ thiện của Phật giáo Bình Dương vàPhật giáo Thành phố Hồ Chí Minh được coi là hoạt động mang tính điển hình và phổbiến trong giáo hội, là sự hiện thực hóa những giáo lý Phật giáo vào trợ giúp con ngườitrong đời sống thế tục Qua việc tìm hiểu vấn đề hoạt động từ thiện xã hội của Phậtgiáo Việt Nam của các nhà công tác xã hội, chúng ta phần nào hiểu thêm được tư

Trang 24

tưởng của Phật giáo Giáo lý Phật giáo mang tính độ sinh, giúp cho con người thứctỉnh, bỏ ác làm lành, vượt qua mọi khổ đau phiền muộn ngay ở trong hiện tại để cómột cuộc sống hạnh phúc, an lạc cho dù còn nhiều thiếu thốn về vật chất hay bất cứmột yếu tố khách quan nào đưa lại, qua đó cho chúng ta thấy rõ vấn đề có ý nghĩa quantrọng trong việc xây dựng hình thành tình yêu thương và trách nhiệm xã hội của mỗi

cá nhân trong cộng đồng

Những kết quả nghiên cứu, tổng kết trên đây khiến chúng ta không thể phủnhận những giá trị đạo đức – xã hội to lớn mà Phật giáo đã mang lại Hệ thống giáo lýđạo đức của Phật giáo giúp con người sống thân ái, yêu thương nhau, xã hội yên bình.Như vậy trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật giáo luôn luôn tồn tại và gắn liềnvới cuộc sống của con người Việt Nam Công tác từ thiện xã hội là một trong nhữngcông tác Phật sự trọng yếu của Giáo hội Công tác từ thiện được Giáo hội chỉ đạo cácthành viên thực hiện thường xuyên, liên tục, kịp thời và được xem như một nội dung tutập thực hành giáo lý từ bi của Đạo Phật Giáo hội luôn có mặt đúng lúc và kịp thờicứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt và tham gia tích cực ủng hộ phong trào xóa đóigiảm nghèo, chăm sóc các đối tượng người có công với đất nước Các hoạt động từthiện xã hội cũng như những giá trị nhân bản Phật giáo sẽ góp phần bảo vệ và xâydựng xã hội ngày càng ổn định, phát triển

Như vậy, có thể nói, đã có khá nhiều nghiên cứu (chủ yếu dưới góc độ lý luận)phân tích, mổ xẻ, tìm kiếm sự liên hệ giữa giáo lý Phật giáo với những giá trị đạo đức

mà người Việt Nam theo đuổi thực hành trong cuộc sống thực nhưng chưa hề cónghiên cứu nào chuyên sâu tìm ra sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đến vấn đề giáodục đạo đức trong các gia đình ven đô hiện nay

Trong quá trình tìm kiếm các tài liệu khác nhau để tổng quan về vấn đề nghiêncứu chính của đề tài, chúng tôi nhận thấy, vấn đề đô thị hóa, tốc độ đô thị hóa nhanh

và mạnh bên cạnh những mặt tích cực thì còn rất nhiều hệ lụy xã hội phải giải quyếtnhư: sự phát triển không bền vững, sự gia tăng của các tệ nạn xã hội, thất nghiệp, mấtđất canh tác, mất việc làm, sự lung lay, biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thốngtrong gia đình, tất cả những vấn đề này khiến cho gia đình ven đô đang phải đối diệnvới sự cố kết không bền chặt, mâu thuẫn, xung đột ngay trong chính bản thân nội tại

Trang 25

từng gia đình Những giá trị đạo đức trong gia đình lung lay tất yếu sẽ ảnh hưởng đến

sự cố kết, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng Chính vì thế, để giúp cho các gia đìnhven đô có thể thích nghi được với quá trình đô thị hóa thì việc xây dựng một hệ thốngnhững giá trị đạo đức phù hợp với bản sắc truyền thống, thích nghi được với lối sốnghiện đại và vận hành chúng để củng cố và duy trì các mối quan hệ gia đình bền chặt làviệc làm cần thiết

Như đã phân tích ở trên, những giá trị đạo đức được phổ biến trong đạo Phật córất nhiều điểm tương đồng với hệ thống đạo đức truyền thống của người Việt Nam nóichung, người dân ven đô nói riêng Chính vì vậy, việc tổng quan các công trình nghiêncứu về giáo lý Phật giáo, sự tương đồng giữa giáo lý Phật giáo với giá trị đạo đức củangười Việt, các vấn đề về gia đình ven đô trong quá trình đô thị hóa … đã bước đầugiúp cho chúng tôi xây dựng khung lý thuyết để tìm ra mức độ ảnh hưởng, phổ biếnthật sự của giáo lý Phật giáo trong giáo dục đời sống đạo đức gia đình ven đô

1.3 Đạo Phật

1.3.1 Sơ lược về sự ra đời của Đạo Phật

Đứng về mặt lịch sử loài người thì đạo Phật ra đời từ rất sớm Tín đồ Phật giáo

tin rằng có một con người thật được tôn xưng là đức Phật, hay Đấng Giác Ngộ Theo

tương truyền, người sáng lập đạo Phật làSiddhartha Gautama, sau khi thành Phật được

đệ tự tôn xưng là Thích Ca Mâu ni, con vua nước Capilavaxtu, ở chân núi Hymalaya.Năm 29 tuổi, hoàng tử Siddhartha Gautamaxuất gia đi tu dể tìm kiếm con đường cứuvớt nỗi khổ của con người Đến năm 35 tuổi, ông đã nghĩ ra được cách giải thích bảnchất của tồn tại, nguồn gốc của mọi nỗi khổ, do đó ông đã tìm thấy con đường cứu vớt

Về niên đại của Phật, hiện nay đang có ý kiến khác nhau Có một số người cho rằngPhật sinh năm 563, mất năm 483TCN; một số khác lại cho rằng sinh năm 624 và mấtnăm 544TCN Tín đồ Phật giáo lấy năm 544TCN làm năm mở đầu kỉ nguyên Phậtgiáo

Trong quá trình phát triển, đạo Phật đã hình thành nhiều bộ phái khác nhau Có

hai bộ phái lớn là Đại thừa và Tiểu thừa

Trang 26

Đại thừa và Tiểu thừa hình thành từ khi Phật giáo bị chia thành hai bộ phái Đạichúng bộ và Thượng tọa trưởng lão bộ Sự phân biệt rõ nét giữa Đại thừa và Tiểu thừavào khoảng 500 năm sau khi Phật nhập diệt.

Phật giáo Đại thừa (Mayhayana) còn có tên gọi là Phật giáo Bắc tông Phật giáoTiểu thừa (Nihayana) còn có tên gọi là Phật giáo Nam tông

Đạo Phật được truyền vào Việt Nam từ khoảng cuối thế kỉ I, đầu thế kỉ thứ II.Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thời kì này, Luy Lâu (Bắc Ninh) là một trung tâmPhật giáo không kém hai trung tâm ở Trung Quốc lúc đó là Bành Thành và LạcDương

Nếu Nho giáo vào Việt Nam đi liền với sự thống trị, cưỡng bức của phong kiếnphương Bắc, thì Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường hòa bình: đường thủy từ Ấn

Độ, Trung Á qua công việc buôn bán và đường bộ từ Trung Quốc qua việc giao lưuvăn hóa Nghi lễ thờ cũng của đạo Phật đơn giản Giáo lí đề cao tư tưởng bình đẳng,bác ái, từ bi, vị tha, cứu khổ… có phần gần gũi với tín ngưỡng dân gian, phù hợp vớitâm lí, tình cảm nên dễ được người Việt chấp nhận

Lịch sử tồn tại của Phật giáo Việt Nam cho đến nay đã gần 2000 năm, có thể chialàm nhiều giai đoạn, gắn với các giai đoạn phát triển của lịch sử Việt Nam

Từ cuối thế kỉ thứ I đến thế kỉ X:

Đây là giai đoạn Phật giáo du nhập vào Việt Nam Từ cuối thế kỉ thứ I đến thế kỉ

V, sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam được gắn liền với tên tuổi của một số nhà sư

Ấn Độ là: Ma ha kì vực, Khương tăng hội… Đến thế kỉ V, ở Việt Nam đã có nhữngnhà sư người Việt nổi tiếng như: Huệ thắng (440-479), Thích Đạo Thiền (457-483)được mời sang Trung Quốc để thuyết pháp Đến thế kỉ thứ VI, thời hậu Lý Nam Đế,nhà sư Ấn Độ là Tỳ-ni-đa-lưu-chi là học trò Tăng Cán đến tu tại chùa Pháp Vân và trởthành tổ thứ nhất của phái Thiền ở Việt Nam

Giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ thứ XIV:

Sang đến thế kỉ thứ X, nhà nước phong kiến Việt Nam được xây dựng, củng cố

và phát triển Các triều đại phong kiến từ Đinh, Tiền Lê đến Lý, Trần đều có nhữngchính sách nhằm nâng đỡ và khuyến khích đạo Phật

Trang 27

Đây là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng của xã hội Việt Nam từ thế kỉ X đếnthế kỉ XVI, được giai cấp phong kiến Việt Nam sử dụng trong quá trình xây dựng vàcủng cố địa vị thống trị của mình và đã có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đờisống xã hội như kinh tế, chính trị và văn hóa,…

Tuy nhiên, do giáo lí mang tính duy tâm chủ quan về mặt nhận thức, nên càng vềsau Phật giáo càng tỏ ra kém hiệu quả trong việc giải quyết những vấn đề của cuộcsống xã hội

Giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX:

Từ thế kỉ XV, giai cấp phong kiến Việt Nam suy tôn Nho giáo, lấy đó làm chỗdựa về tư tưởng, chính trị và đạo đức Phật giáo cung đình suy tàn dần Phật giáo dângian mang yếu tố thần bí Người Việt sáng tạo ra hình ảnh Phật Bà nghìn mắt, nghìntay thể hiện ước vọng được cứu vớt

Từ thế kỉ XX đến nay:

Từ những năm 30 của thế kỉ XX, phong trào “chấn hưng đạo Phật” do một sốnhà sư cùng với một số nhân sĩ tri thức có tinh thần dân tộc và mộ đạo khởi xướng đãlàm cho Phật giáo dần dần được khởi sắc

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tuyệt nhiên đại bộ phận tăng niPhật tử vẫngiữ nguyên tinh thần yêu nước

Từ năm 1954 đến 1975, Phật giáo ở hai miền tuy có những nét khác biệt, nhưngnhìn chung đều có những đóng góp quan trọng trong công cuộc đấu tranh giải phóngđất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Sau khi thống nhất đất nước, theo nguyệnvọng và yêu cầu của đa số tăng ni Phật tử, đặc biệt là các chức sắc của các hệ pháiPhật giáo, năm 1981, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” đã ra đời Đây là tổ chức Phậtgiáo thống nhất trong cả nước

1.3.2 Một số nội dung cơ bản giáo lý cơ bản của đạo Phật

Giáo lí của Đạo Phật được thể hiện trong Tam tạng kinh điển là Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng.Trong lịch sử Tam tạng, lúc đầu chỉ có hai tạng là Tạng Kinh và

Tạng luật Tạng luận là bộ kinh được viết về sau trong quá trình bình chú, lý giải giáopháp của Phật

Kinh tạng (Sutra Pitaka) là những sách ghi lời Phật Thích Ca giảng về giáo lí,

được đệ tử A - nan – đa kể (đọc) lại trong lần kết tập đầu tiên

Trang 28

Luật tạng (Vinafapitaka) là sách ghi những giới luật do Pháp chế định làm khuôn

phép sinh hoạt cho tăng đoàn và các đệ tử tại gia, do Ưu-bà-ly đọc lại trong lần kết tậpđầu tiên

Luận tạng (Abhidhammapikata) là hệ thống những luận giải của các Hộ Pháp về

kinh tạng và luật tạng

Mặc dù Phật giáo có nhiều tông phái, hơn nữa quá trình phát triển, giáo lý liêntục được bổ sung, hoàn thiện, nhưng các tông phái đều đề cập đến những vấn đề cănbản như: Pháp, Bản thể, Tâm, Vật, Vô thường, Vô ngã… Những nội dung đó đượcquy về quan niệm về cũ trụ, quan niệm về con người, quan niệm về khổ, con đườngcứu khổ và quan niệm về Niết Bàn

a Luật nhân quả

Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả Trong thế giới tương quan duyên sinh, mỗi

sự vật, hiện tượng đều có những nguyên nhân của nó Nguyên nhân của một sự thể

(pháp) gọi là nhânvà hiện hữu (pháp) của sự thể đang tồn tại là quả Trong mối tương

quan nhân quả này, mỗi hiện hữu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả như sự tuần hoàncủa mây, mưa, nước, hơi nước Nguyên nhân chính (trực tiếp) của một hiện hữu gọi

là nhân, nguyên nhân phụ (gián tiếp) có ảnh hưởng đến quả gọi là duyên (hay các điều

kiện phụ thuộc); do đó, nếu nói đủ là nhân - duyên - quả

Luật nhân quả hay sự tương quan giữa nguyên nhân và kết quả trong luật về

“Nghiệp” của Phật giáo Mọi hành động là nhân sẽ có kết quả hay hậu quả của nó.Giống như vậy, mọi hậu quả đều có nhân của nó Luật nhân quả là luật căn bản trongPhật giáo chi phối mọi hoàn cảnh Luật ấy dạy rằng người làm việc lành, dữ sẽ nhậnlấy hậu quả tương đương Người lành được phước, người dữ bị khổ

Nhân quả là một định luật tất nhiên nêu rõ sự tương quan, tương duyên giữa nhân

và quả, không phải có ai sinh, cũng không phải tự nhiên sinh

Nghiệp: Karma —Kamma

Trang 29

- Ý nghĩa của Nghiệp: Nghiệp là một trong các giáo lý căn bản của Phật giáo Mọiviệc khổ vui, ngọt bùi trong hiện tại của chúng ta đều do nghiệp của quá khứ và hiệntại chi phối Hễ nghiệp lành thì được vui, nghiệp ác thì chịu khổ Vậy nghiệp là gì?Nghiệp theo chữ Phạn là ‘karma’ có nghĩa là hành động và phản ứng, quá trình liên tụccủa nhân và quả Luân lý hay hành động tốt xấu (tuy nhiên, từ ‘nghiệp’ luôn được hiểutheo nghĩa tật xấu của tâm hay là kết quả của hành động sai lầm trong quá khứ) xảy ratrong lúc sống, gây nên những quả báo tương ứng trong tương lai Cuộc sống hiện tạicủa chúng ta là kết quả tạo nên bởi hành động và tư tưởng của chúng ta trong tiềnkiếp Đời sống và hoàn cảnh hiện tại của chúng ta là sản phẩm của ý nghĩ và hànhđộng của chúng ta trong quá khứ, và cũng thế các hành vi của chúng ta đời nay, sẽhình thành cách hiện hữu của chúng ta trong tương lai Nghiệp có thể được gây tạo bởithân, khẩu, hay ý; nghiệp có thể thiện, bất thiện, hay trung tính (không thiện khôngác)

- Nghiệp và Quả Báo: Như trên đã nói, nghiệp là sản phẩm của thân, khẩu, ý, nhưhạt giống được gieo trồng, còn quả báo là kết quả của nghiệp, như cây trái Khi thânlàm việc tốt, khẩu nói lời hay, ý nghĩ chuyện đẹp, thì nghiệp là hạt giống thiện Ngượclại thì nghiệp là hạt giống ác Chính vì vậy mà Đức Phật dạy: “Muốn sống một đời caođẹp, các con phải từng ngày từng giờ cố gắng kiểm soát những hoạt động nơi thânkhẩu ý chớ đừng để cho những hoạt động nầy làm hại cả ta lẫn người.” Nghiệp và quảbáo tương ứng không sai chạy Giống lành sanh cây tốt quả ngon, trong khi giống xấuthì cây xấu quả tệ là chuyện tất nhiên Như vậy, trừ khi nào chúng ta hiểu rõ ràng vàhành trì tinh chuyên theo luật nhân quả hay nghiệp báo, chúng ta không thể nào kiểmsoát hay kinh qua một cuộc sống như chúng ta ao ước đâu Theo Phật Pháp thì không

có thiên thần quỷ vật nào có thể áp đặt sức mạnh lên chúng ta, mà chúng ta có hoàntoàn tự do xây dựng cuộc sống theo cách mình muốn Nếu chúng ta tích tụ thiệnnghiệp, thì quả báo phải là hạnh phúc sướng vui, chứ không có ma quỷ nào có thể làmhại được chúng ta Ngược lại, nếu chúng ta gây tạo ác nghiệp, dù có lạy lục van xin thìhậu quả vẫn phải là đắng cay đau khổ, không có trời nào có thể cứu lấy chúng ta

- Phân loại Nghiệp: Nhị Nghiệp (Có hai loại nghiệp hoặc tốt hoặc xấu, hoặc cố ýhoặc không cố ý) Tam Nghiệp (Có nhiều loại nghiệp, nhưng đại để có ba loại: thânnghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp…) Tứ Nghiệp Lục Nghiệp Thập Nghiệp (Thập ác

và thập thiện - Thập Ác và Thập Thiện Nghiệp)

Trang 30

b Tứ diệu đế

Nội dung chủ yếu của học thuyết Phật giáo được tóm tắt trong câu nói sau đâycủa Phật Thích Ca: “Trước đây và ngày nay ta chỉ lí giải và nêu ra cái chân lí về nỗiđau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ” “Cũng như nước đại dương chỉ có một vị

là mặn, học thuyết của ta chỉ có một vị là cứu vớt”[24, tr91]

Cái chân lí về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ ấy được thể hiện

trong thuyết “ tứ thánh đế” hoặc còn gọi là “ tứ diệu đế”, “ tứ chân đế”

Tứ là bốn.Diệu là vi điệu, là nhiệm màu Đế là sự thật, là chân lý Đó là bài phápnhiệm màu nói lên bốn sự thật về khổ đau do Si, Tham, Sân dẫn đến Trong bài phápnày, Đức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta bốn sự thật sau đây: 1 Sự có mặt của khổ đau(Khổ Đế) 2 Sự có mặt của những nguyên nhân dẫn đến khổ đau ấy (Tập đế) 3 Sựchấm dứt khổ đau (Diệt đế) 4 Con đường để chấm dứt khổ đau ấy (Đạo đế)

Theo kinh “Khởi thế” của Đạo Phật sự có mặt của loài người trên trái đất là có lí

do, cũng như sự tồn tại của vạn vật trong vũ trụ đều có lí do Song con người sinh ra làbởi “ nhân duyên” kết hợp, nên “ cái tôi” là thực thể có mà không, chính vì khôngnhận thức được điều đó nên con người mới khổ Từ đó, đạo Phật xây dựng nên hệthống lý thuyết cơ bản thứ hai của nó là Tứ diệu đế Tứ diệu đế bào gồm:

- Khổ đế (Dukkha Satya): Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nước mắt bốn bề

không bằng nước mắt chúng sinh Nỗi khổ của con người biểu hiện qua 8 cái khổ gọi

là “Bát khổ” Bát khổ đế bao gồm: sinh khổ (sinh ra và sống đều là nỗi khổ), lão khổ(già nên khổ), bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt ly khổ (thân nhau mà phải xa nhau nên khổ),oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải gần nhau nên khổ), ngũ thủ uẩn khúc và sở cầubất đắc khổ (muốn mà không được nên khổ).[12]

Khổ đế là một chân lý, một sự thực về bản chất cái khổ Ðức Phật dạy: “Này các

Tỳ kheo, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là

khổ, mong cầu mà không được là khổ Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ”(Tương Ưng V) Như vậy, Khổ có thể chia làm 3 phương diện như sau:

+ Về phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc, đau đớn Khi ta

bị một gai nhọn đâm buốt bàn chân hay một hạt cát vào trong mắt khó chịu , đây là sự

Trang 31

bức bách đau đớn của thể xác Sự đau đớn của thể xác rất lớn, như Lão Tử nói: “Ngôhữu đại hoạn do ngô hữu thân” (Có thân nên có khổ) Con người sinh ra đã vất vảkhốn đốn; lớn lên già yếu, bệnh tật khốn khổ vô cùng; và cuối cùng, cái chết: sự tan rãcuối cùng của thể xác đem đến khổ thọ lớn lao[12].

+ Về phương diện tâm lý: Là sự khổ đau do không toại ý, không vừa lòng v.v Sự

không vừa ý sẽ tạo nên nỗi đau đớn về tâm lý Những mất mát, thua thiệt trong cuộcđời làm mình khổ Người mình thương muốn gần mà không được, người mình ghét mà

cứ gặp gỡ hoài, mình muốn tiền tài, danh vọng, địa vị nhưng nó cứ vụt qua ngoài tầmtay của mình Cuộc đời như muốn trêu ngươi, những ước mơ không toại ý, lòng mìnhluôn trống trải, bức bách Ðây là nỗi khổ thuộc về tâm lý

+ Khổ là sự chấp thủ năm uẩn (Upadana-skandhas): Cái khổ thứ ba này bao hàm

hai cái khổ trên, như trong kinh đã dạy: “Chấp thủ năm uẩn là khổ”

Năm uẩn là 5 yếu tố nương tựa vào nhau để tạo thành con người, gồm có: thânthể vật lý và cấu trúc tâm lý như: cảm giác, niệm tưởng, hành và thức (sắc, thọ, tưởng,hành, thức) Nói một cách tổng quát, khi ta bám víu vào 5 yếu tố trên, coi đó là ta, làcủa ta, là tự ngã của ta, thì sự khổ đau có mặt Ý niệm về “thân thể tôi”, “tình cảm tôi”,

“tư tưởng tôi”, “tâm tư tôi”, “nhận thức của tôi” hình thành một cái tôi ham muốn, vịkỷ; từ đó, mọi khổ đau phát sinh Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, điên cuồngđều gắn liền với ý niệm về “cái tôi” ấy[7]

Tóm lại, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn cảnh,

sự không toại nguyện của tâm lý Về mặt bản chất, khổ đau là do sự chấp thủ, ngã hóanăm uẩn

- Tập đế (Sammudaya Satya): Phật giáo coi nguyên nhân trực tiếp của nỗi khổ là

do Tham, Sân, Si Chúng sinh không biết được “cái tôi” là vô thường nên mới khổ,sinh ra nhân duyên luân hồi[12]

+ Si: Si là si mê Không biết đúng lẽ thật giả, không nhận ra phải trái, không thấyđược tà chánh, ngu tối mờ mịt là tướng trạng của Si Cái si mê căn bản nhất là nhậnlầm thân giả dối làm cái ta chân thật, tâm sanh diệt làm cái ta vĩnh cửu Nơi ta đã nhận

Trang 32

lầm thì đối tất cả đều lầm, phát sanh bao nhiêu thứ tội lỗi về sau đều gốc từ cái lầmnày mà ra.

Thân là tướng duyên hợp hư giả mà lầm chấp thân mình thật Đã thấy thân thậtrồi, sanh bao nhiêu thứ bảo vệ gìn giữ nuôi dưỡng tô điểm cho thân, giành giật đuổibắt tìm cầu cho được những nhu cầu mà thân đòi hỏi Nhưng không bao giờ có sự thoảmãn của bản thân, vì nó là một thứ ghẻ lở, càng được lại càng đòi hỏi Chính nó là cáigốc của lòng tham vô tận sau này Lầm chấp thân là thật thì mọi sự vật lệ thuộc về thâncũng thấy là thật Do đó chẳng những lo tìm cách bảo vệ thân, cũng lo tìm cách bảo vệnhững sự vật lệ thuộc Chúng ta cố gìn giữ thân mình, cố tìm kiếm những nhu cầu đểthỏa mãn thân mình, cố bảo vệ những sự vật lệ thuộc về mình, kẻ khác cũng thế Aicũng muốn thỏa mãn, muốn bảo vệ, song mình được thì kẻ khác phải mất, đó là chỗđụng nhau của con người Nhân loại tranh đấu nhau để được từng mảnh vụn vật chất,gốc từ chấp thân thật phát sanh Bởi cho thân là thật, một khi nó sắp hoại thì mọi sợ sệt

lo âu không sao kể hết

Về tâm, cho những thứ suy tư nghĩ tưởng cảm xúc phân biệt là tâm mình thật.Song những thứ ấy là tướng duyên theo bóng dáng trần cảnh, chợt có chợt không,bỗng sanh bỗng diệt, không có thực thể cũng không lâu dài Bám vào cái giả dối tạm

bợ ấy cho là tâm mình Khi đã chấp là tâm mình rồi, mình nghĩ cái gì cũng cho làđúng, mình tưởng cái gì cũng cho là hay, mình phân biệt điều gì cũng cho là phải Bảo

vệ ý kiến mình chống đối ý kiến kẻ khác Nếu sự chống đối của một cá nhân với một

cá nhân, là ý kiến bất đồng trong phạm vi cá nhân Nếu sự chống đối của quần chúngnày với quần chúng khác, là tranh đấu ý thức hệ Bất đồng ý kiến là mầm đau khổ triềnmiên từ trong gia đình đến ngoài xã hội

Nhưng ý kiến khó có thể giống nhau được, bởi mỗi người sống trong mỗi môitrường khác nhau, sự huân tập hấp thụ khác nhau, kể cả những chủng nghiệp của thờiquá khứ cũng khác nhau, đương nhiên vọng tưởng tâm thức phải khác nhau Bởinhững thứ ấy do huân tập mà có nên những bất đồng ấy không thể tránh khỏi Thế màchúng ta lại bảo thủ ý kiến mình là đúng, kẻ khác ắt cũng nhận ý kiến họ là đúng, haicái đúng sẽ là nguồn gốc của sự đấu tranh Nếu nói thẳng, ý kiến không có đúng, chỉ vìphù hợp với một số người nào với khoảng thời gian nào, đến những kẻ khác và thờigian khác là sai Vì thế, người cố chấp ý kiến mình đúng, quả là họ đã sai Càng cố

Trang 33

chấp càng bảo thủ ý kiến mình là nguyên nhân đau khổ trầm trọng của con người Chỉkhéo léo dung hòa buông xả để cùng vui vẻ với nhau, là người khôn ngoan nhất.

+ Tham: Do chấp thân là thật nên khởi tham lam mọi nhu cầu vật chất cho thân.

Lòng tham là cái hang không cùng, cái túi không đáy, cho nên không biết đến đâu là

đủ Không có, tham lam muốn có; đã có, tham lam muốn thật nhiều, càng được lạicàng tham Tham mà không toại nguyện liền nổi sân Quả thật tham là nhân đau khổ

vô hạn, con người đến khi sắp tắt thở vẫn chưa thỏa mãn lòng tham Tham có nhiềuloại:

Tham muốn thân này sống mãi không chết, người ta coi cái chết là một họa hạitối đại của con người Thế nên, thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau, người ta luôn mồmcầu khỏe mạnh, cầu sống lâu trăm tuổi Bởi có ám ảnh mình sống lâu, nên kinh doanh

sự nghiệp đuổi theo danh vọng, mê say sắc đẹp, thích uống ăn ngon lành cho thỏamãn thân này Vì sợ chết nên người ta luôn luôn tránh né tiếng chết, dù cho đến khibệnh ngặt sắp chết, đi mua hòm về vẫn nói nhắc cái "thọ" Sự thể tham sống đầy ngậpnơi con người, có những người mang thân sống một cách khổ đau đen tối, mà nghe nóichết cũng sợ sệt Song có sanh nhất định phải có tử, là một định án không thể di dịch,làm sao tránh được Chỉ có sợ chết mà không biết đường tránh, đây là nỗi khổ tuyệtvọng của con người

Vì tham sống lâu nên người ta muốn được nhiều tiền của để bảo đảm đời sống.Muốn được tiền của nhiều, người ta phải tranh đua giành giật với nhau Đã là giànhgiật thì có kẻ được người mất, kẻ được vui cười thì người mất tức tối Vì thế ngườiđược càng nhiều thì thù hận càng lắm Có khi trong lúc giành giật, chỉ nghĩ phần được

về mình, người ta đã càng lấn dẫm đạp trên sanh mạng kẻ khác Cho nên cái được của

ta cũng là mồ hôi nước mắt của người Người tham tiền của nhiều thì đau khổ cũngnhiều Bởi vì đâu phải muốn là được, phải lao tâm nhọc trí, phải tốn hao bao nhiêu sứclực mới được Đã được lại sợ người ta phá, tìm mọi cách gìn giữ bảo vệ, nhưng có khi

nó cũng ra đi Khổ công quá nhiều mới được, được rồi lại mất, thật là khổ đau vô kể.Danh vọng là những hạt nước lóng lánh trước ánh nắng mặt trời, người thíchnhững danh vọng cao sang, nhưng khi nắm vào tay nó liền tan biến Song người thếgian nào có biết chán, cứ một bề ngó lên, được một bậc lại muốn lên một bậc Chính vìtham lam mong muốn, người ta phải chạy chọt cầu cạnh bợ đỡ những người có khả

Trang 34

năng đưa mình lên Mong cầu mà được, người ta lại thêm mong cầu Mong cầu màkhông được, người ta phải khổ đau sầu thảm Danh vọng là miếng mồi ngon, nên tamong ước kẻ khác cũng mong ước Nếu ta nắm được nó trong tay thì kẻ khác cũng tìm

đủ cách để gỡ ra Vì thế, người xưa đã nói "càng cao danh vọng càng dày gian nan" Ít

có người ngồi trên chiếc ghế danh vọng được an ổn suốt đời Song vì tánh cách hàonhoáng của danh vọng hấp dẫn mọi người dán mắt vào đó không biết mỏi Đuổi bắtdanh vọng, như những đứa bé đuổi bắt bóng, cuối cùng chỉ chuốc lấy sự mệt nhừ Chỉ

ai khôn ngoan khéo biết dừng, người đó sẽ được an ổn

Sắc đẹp cũng là một thứ men say khiến nhiều người đắm mê đeo đuổi Bao nhiêudanh từ hạnh phúc yêu đương êm tai, ngọt dịu, thúc đẩy khách si tình chìm sâu trongbiển ái, rốt cuộc chỉ là những ảo tưởng đảo điên, do con người điên đảo bày bịa Hạnhphúc là chiếc mặt nạ của khổ đau, một khi lột chiếc mặt nạ ấy ra liền lộ nguyên hìnhđau khổ Nhưng con người là bệnh nhân của sắc dục, mặc dù biết nó là nhân đau khổ,

mà họ vẫn la cà bê bết, không chịu tránh xa Người ta đuổi theo sắc dục không khi nàobiết chán, như người khát uống nước muối càng uống càng khát Nó mang họa hại chobản thân chóng tàn cỗi, lại thêm nhiều sầu thảm khổ đau Đam mê sắc dục là người tựphá hoại sanh mạng của chính mình

Những thức ngon ăn uống chỉ có giá trị khi còn tại lưỡi, nuốt qua khỏi cổ nào có

ra gì Thế mà người đời vì miếng ăn giành giật nhau, giết hại nhau Tốn bao nhiêu mồhôi, bao nhiêu sức lực, chỉ vì một món ăn ngon Hôm nay thích ăn món này, ngày maiđòi ăn món nọ, sự thèm khát đòi hỏi thôi thúc người ta phải khốn khổ nhọc nhằn suốtđời Rốt cuộc một đời sống chỉ vì nô lệ cho cái lưỡi Dù có người bảo rằng ăn uống bồi

bổ sức khỏe con người, cần thiết cho sự sống, song chúng ta chỉ cần ăn những thức có

đủ sinh tố nuôi dưỡng cơ thể là tốt, đừng cầu kỳ món ngon vật lạ, đừng đòi hỏi chảphụng khô lân Biết chọn thức ăn đủ bồi dưỡng thân này khỏe mạnh là đúng, chớ để cảđời nô lệ cho cái lưỡi

Lại có lắm người cứ thích nhàn rỗi thảnh thơi, thong thả qua ngày, chẳng ưnglàm lụng việc gì Họ tự cho thân sung sướng là trên hết, không muốn làm động móngtay Quan niệm này lâu ngày trở thành lười biếng hèn nhát Họ là những khối thịtthường được vất lên chiếc giường, ném xuống chiếc võng Cả ngày họ chỉ biết thụhưởng, mà không ưng làm một công tác gì để có lợi cho mình và giúp ích xã hội Nếu

Trang 35

một đời sống mà tập như thế, kẻ đó tự chuốc bệnh hoạn vào thân và vô ích cho xã hội.Càng ở không càng thấy thân lừ nhừ nhọc mệt, vì thân này là một cái máy hoạt động,nếu không chịu hoạt động máu huyết không được lưu thông, gân cốt không dẻo dai, làcái cớ để bệnh hoạn Người cố ở không cho sung sướng, đâu ngờ họ tự chuốc bệnhhoạn khổ đau.

+ Sân: Sân là nóng giận Do tham lam mà không toại nguyện, hoặc bị ngăn trở liềnnổi sân Một khi nổi sân thì mọi tội ác nào cũng dám làm, mọi khổ đau nào cũng dámtạo Tất cả sự hung tợn dữ dằn ác độc đều do sân mà phát sanh Sân có loại bộc phát,

có loại thầm kín

Nghe một lời nói trái tai, thấy một hành động không vừa ý liền nổi nóng la ó ầm

ầm là sân bộc phát Loại sân này rất nguy hiểm, song đối phương dễ thấy dễ biết.Những điều gì mình muốn được bị kẻ khác ngăn trở, liền nổi giận mặt đỏ, miệng thốt

ra lời bất hảo, tay chân quơ múa, toàn thân cử động một cách mất điều hòa Nếu khinày, đối phương nhường nhịn đi thì khả dĩ dịu lại, bằng không thì cơn ẩu đả khó tránh.Một phen nổi sân là một trận bão bùng họa hại hiểm nguy không thể lường trước được.Mọi hiểm nguy họa hại trong đời sống của chúng ta đều do sân mang lại Người ôm ấplòng sân là kẻ chứa chấp rắn độc trong nhà, tai họa đến một cách dễ dàng chỉ tronggiây phút

Có người được sức mạnh dằn ép lửa sân bộc phát, nhung họ lại nuôi dưỡng nómột cách ngấm ngầm Khi nghe nói trái tai, họ nổi giận, mà ghìm ở trong lòng Lòngsân này thầm lặng mà ác độc vô kể, vì đối phương không biết được để ngừa đón.Những kẻ có lòng sân thầm kín là con người sâu độc nguy hiểm Đây là đống lửa than,khó thấy mà lâu tàn Người ôm lòng sân này như ngôi nhà đẹp mà chứa đầy hơi độc.Những kẻ thiếu tinh tế, nhận xét hời hợt, không sao tránh khỏi bị hơi độc làm ngạt thở.Song hại được người chính mình cũng không an ổn gì Thế nên sân là mối hiểm họacho mình cho người, mọi khổ đau trong đời này đến muôn kiếp đều do sân gây ra

Nguyên nhân nỗi khổ của con người còn được Phật giáo lý giải bằng thuyết nhân duyên Thuyết này giải thích nguyên nhân biến hóa vô thường của vạn vật Nó

có ba khái niệm chủ yếu là nhân (hetu), duyên (Pratitya) và quả (phala) Theo Đạo

Phật, vạn vật đều tồn tại và phát triển theo sự chi phối của luật nhân quả Nhân là cái

Trang 36

sinh ra vật, làm cho nó biến đổi, gây ra hậu quả; quả là cái do một hay nhiều nhân kếthợp lại; duyên là điều kiện làm cho nhân biến thành quả Lý thuyết “Thập nhị Nhân –Duyên” (mười hai mối liên hệ) được xây dựng như là hệ thống suy luận logic của đạoPhật, trở thành nền tảng của kinh sách Đạo Phật Bao gồm:

- Vô minh duyên: sự không rõ ràng, không sáng suốt, mê lầm làm cho giác ngộ

nhận về cái không có thật

- Hành duyên: hành động có khuynh hướng lệch lạc ản náu trong Nghiệp.

- Thức duyên: duyên về sự hiểu biết, để phân biệt sai lầm.

- Danh sắc duyên: ngũ uẩn, lục dại tạo nên Danh và Sắc của con người.

- Lục nhập duyên: sự truyền cảm giác từ bên ngoài vào bên trong gồm lục căn tiếp

xúc với lục cảnh để sinh “lục thừa” có công năng phân biệt và ghi nhớ

- Xúc duyên: sự phối hợp của căn + cảnh + thừa.

- Thụ duyên: cảm giác về sự sướng khổ gồm lạc thụ, khổ thụ, xá thụ.

- Ái duyên: duyên về sự yêu thích.

- Thủ duyên: duyênvề tham vọng, muốn chiếm lấy, giữ lấy.

- Hữu duyên: duyên về cái cần phải có, cần để tồn tại.

- Sinh duyên: duyên về sự sống.

- Lão tử duyên: duyên về sự già và cái chết.

Phật giáo sử dụng thuyết nhân duyên để quan sát nhân sinh, chia nhân sinh ra làm 12khâu, giữa khâu này với khâu kia có mối liên hệ nhân quả hoặc điều kiện tương hỗ, đó

là vô tri (vô minh) dẫn tới ý chí (hành), hành dẫn tới thức về thể thống nhất tinh thần,thức dẫn tói cái cấu thành tinh thần của thân thể (danh) và thể xác (sắc), danh và sắc có

6 loại giác là nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý (tâm) Các giác quan tiếp xúc với sự vật ngoạigiới, xúc dẫn tới cảm thụ (thụ), thụ dẫn tới tham ái (ái), ái dẫn tới truy cầu để lấy (thủ)

sự vật ngoại giới, thủ dẫn tới tham ái, ái dẫn tới hoàn cảnh tồn (có), có tạo ra sinh, sinhdẫn tới lão và tử Như vậy, nội dung trung tâm của thuyết nhân duyên là sự đau khổcủa con người là do vô tri sinh ra, chỉ tiêu diệt vô tri mới có thể dẫn tới giải thoát

- Diệt đế (Nirodha Satya): là lý luận về giải thoát và lý tưởng của Đạo Phật, là

phương pháp xóa tan tận gốc nỗi đau khổ, giải thoát con người khỏi nghiệp chướngluân hồi Theo đạo Phật, phải tận diệt mọi ái lực, tức ngọn lửa dục vọng trong mỗi conngười, dứt bỏ vô minh, đạt tới sự giác ngộ và đi lên Niết bàn

Trang 37

- Đạo đế (Marga Satya): con đường tiến tới tiêu diệt cái khổ, giải thoát khỏi kiếp

sinh tử luân hồi để lên cõi Niết bàn

Ðạo là con đường, là phương pháp thực hiện để đạt được an lạc, hạnh phúc trongđời sống hàng ngày hay hạnh phúc tuyệt đối Niết bàn Như vậy, toàn bộ giáo lý màÐức Phật đã dạy đều là Ðạo đế, tổng quát và căn bản gồm có 37 pháp, thường gọi là

37 phẩm trợ đạo Ðức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, đây là những pháp do ta chứng ngộ

và giảng dạy, các con phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập, truyền bá rộng rãi đểchánh pháp được trường tồn, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vìlòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người Ðó làBốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn thần túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Tám

thánh đạo phần” (kinh Ðại Bát Niết Bàn)

Trong 37 pháp thì Tám thánh đạo được coi là tiêu biểu và căn bản nhất của Ðạo

đế Tám thánh đạo, còn gọi là Tám chánh đạo - con đường chân chính - có 8 chi phần

Bát Chánh Đạo hoặc Bát Thánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo đế (trong Tứ Đế)

gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo Đây là những phương tiện hành trì phổ biến sâu rộngchung cho Ngũ thừa Phật giáo

Đó là con đường thánh gồm tám chi: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ,Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định

- Chánh kiến (Sammà Ditthi):Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận

biết Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không cònvướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp

- Chánh Tư Duy(Sammà Sankappa): Tư duy là suy nghĩ Chánh tư duy là suy nghĩ

chân chánh, là suy nghĩ không trái với lẽ phải, có lợi cho mình và cho người

- Chánh ngữ Ngữ: Chánh ngữ là lời nói chân thật không hư dối, có lợi ích chính

đáng, công bình, ngay thẳng và hợp lý Lời nói không làm tổn hại đến đời sống cùngdanh dự của người khác

Trang 38

- Chánh nghiệp: Nghiệp gốc từ chữ Phạn được Trung hoa dịch ra, có nghĩa là hành

động có tác ý Chánh nghiệp nghĩa là hành động tạo tác trong đời sống cần phải sángsuốt chân chánh

- Chánh mạng: Mạng là sự sống, đời sống Đời sống chân chánh nghĩa là sống một

cách chân chánh bằng nghề nghiệp lương thiện, chính đáng không bóc lột, xâm hại đếnlợi ích chung của người khác

- Chánh tinh tấn: Tinh tấn là siêng năng, chuyên cần Siêng năng chuyên cần chân

chánh thẳng tiến đến mục đích và lý tưởng mà Phật đã dạy Hăng say làm những việcchính đáng mang lợi ích cho mình và cho người

- Chánh niệm: Niệm là ghi nhớ, nhớ nghĩ Nhớ nghĩ chân chánh Chánh niệm có

Chánh ức niệm và chánh quán niệm Ức niệm là nhớ nghĩ đến quá khứ, những chuyện

đã qua Quán niệm là quán sát cảnh hiện tại và bắt đầu của tương lai

- Chánh định: Định trong Phật học hiểu là Thiền định Định nghĩa là tập trung tư

tưởng tu tập thiền định Chánh định là tập trung tư tưởng vào vấn đề chính đáng, đúngchân lý, lợi mình và người

Bát Chánh đạo chính là phương pháp tu phổ biến cho tại gia lẫn xuất gia, trongbất cứ hòan cảnh, môi trường cũng có thể thực hiện được

Tu tập Bát chánh đạo chính là tu tập Thân - Khẩu - Ý của chúng ta, khi thực hành Bátchánh đạo thì gặt hái nhiều kết quả tốt

Bát chánh đạo lại là nền tảng chánh giác, là căn bản của Giải thoát - Giác ngộ.Ngoài Bát chính đạo, Phật giáo còn đưa ra phép tu tổng quát cho mọi Phật tử

nhằm ngăn ngừa những việc làm ác Đó là ngũ giới(bất sát sinh, bất đạo đặc, bất dâm

tục, bất vọng ngữ, bất âm tửu)

- Bất sát sinh (Không sát sanh): Không sát sanh nghĩa là không được giết hại mạng

sống của con người Chúng ta tự quí sanh mạng của mình, vô lý lại sát hại sanh mạng

kẻ khác Trên lẽ công bằng nhân đạo không cho phép chúng ta làm việc ấy Nếu làm,chúng ta đã trái lẽ công bằng thiếu lòng nhân đạo, đâu còn xứng đáng là đệ tử Phật

Trang 39

Giết hại mạng sống người có ba: trực tiếp giết, xúi bảo người giết, tùy hỉ trong việcgiết hại Phật tử không tự tay mình giết mạng người, không dùng miệng xúi bảo đốcthúc kẻ khác giết, khi thấy họ giết hại nhau chỉ một bề thương xót không nên vui thích.

Đó là giữ giới không sát sanh Nhưng suy luận rộng ra, chúng ta quí trọng mạng sống,những con vật cũng quí trọng mạng sống, để lòng công bằng tràn đến các loài vật, nếukhông cần thiết, chúng ta cũng giảm bớt giết hại sanh mạng của chúng

- Bất đạo đặc (Không trộm cướp): Của cải tài sản của chúng ta, không muốn ai

xâm phạm đến, của cải tài sản của người, chúng ta cũng không được giựt lấy hay lénlấy Bởi cướp giựt hay lén lấy của người là hành động trái nhân đạo, phạm luật phápchánh quyền, phải bị trừng phạt Trộm cướp là do lòng tham lam ác độc, chỉ nghĩ lợimình, quên nỗi đau khổ của người, mất cả công bằng và nhân đạo, người Phật tử quyếtđịnh không được làm

- Bất dâm tục (Không tà dâm): Người Phật tử có vợ chồng đôi bạn như mọi người

thế gian khác Khi có đôi bạn rồi tuyệt đối không phạm đến sự trinh bạch của kẻ khác.Nếu phạm thì mắc tội tà dâm Bởi vì đây là hành động làm đau khổ cho gia đình mình

và gia đình người, tạo thành nguy cơ tán gia bại sản Do một chút tình cảm riêng tưcủa mình, khiến nhiều người khổ đau liên lụy, quả là thiếu lòng nhân Để bảo đảm sự

an ổn của gia đình mình và hạnh phúc của gia đình người, Phật tử nhất định khôngphạm tà dâm

- Bất vọng ngữ (Không nói dối): Nói lời trái với sự thật để mưu cầu lợi mình, hoặc

hại người là nói dối Do động cơ tham lam ác độc, sự kiện xảy ra thế này lại nói thếkhác, sửa trái làm mặt, đổi phải thành quấy, khiến ngườimắc họa Người nói như thếtrái với đạo đức, mất cả lòng nhân, không xứng đáng là một Phật tử Phật tử là ngườiđạo đức nên ăn nói có mẫu mực, thấy biết thế nào nói thẳng thế ấy, không điêu xảo dốitrá Trừ trường hợp vì lợi người lợi vật, không nỡ nói thật để người bị hại hoặc khổđau, do lòng nhân cứu người cứu vật nói sai sự thật mà không phạm Không nói dối làgiữ lòng tin đối với mọi người chung quanh

- Bất âm tửu (Không uống rượu): Đạo Phật chủ trương giác ngộ, muốn được giác

ngộ trước phải điềm đạm tỉnh sáng, uống rượu vào gan ruột nóng bức, tâm trí quaycuồng, mất hết bình tĩnh không còn sáng suốt, trái hẳn mục đích giác ngộ Chính vìnóng bức cuồng loạn, có những người khi say sưa tội lỗi họ cũng dám làm, xấu xa gì

Trang 40

họ cũng không sợ, mất hết lương tri Vì thế, người biết đạo đức phải tránh xa khônguống rượu Uống rượu chẳng những làm mất trí khôn, lại gây nên bệnh hoạn cho thânthể, còn di hại cho con cái sau này đần độn Quả là một họa hại cho cá nhân và xã hội.Người Phật tử vì sự nghiệp giác ngộ, vì lợi ích cho mình cho người quyết hẳn khônguống rượu Trừ trường hợp mắc bệnh y sĩ bảo phải dùng rượu hòa thuốc uống mớilành, Phật tử được uống thuốc rượu đến khi lành bệnh thì chấm dứt, cần phải trình chochư Tăng biết trước khi uống.

Theo luật nhân quả của đạo Phật, 4 chân lý: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo không phải làgiáo điều siêu hình, mà là một nguyên lý có thể kiểm nghiệm trong bất cứ trường hợpnào - hoặc cảnh ngộ riêng tư xảy ra trong thực tế đời thường của cuộc sống Chẳng hạnđói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo, niềm vui khi cuộc sống hạnh phúc, đủ đầy

và con đường đạt đến niềm vui ấy Trong lần thuyết giảng đầu tiên tại vườn Lộc Uyểnnhằm độ 5 vị Tỳ Kheo, Phật dạy: "Ðây là Khổ cần phải biết Ðây là Tập cần phảiđoạn Ðây là Diệt cần phải chứng Ðây là Ðạo cần phải tu" Lời dạy trên tất yếu phảiđược triển khai chi tiết, cụ thể , và điểm xuất phát của nó cũng được xây dựng trên cơ

sở Bát Chánh Ðạo, mà chánh tri kiến là 1 trong 8 nguyên tắc của hành động chânchính Thâm hiểu Tứ Ðế bằng tri thức, con người sẽ xác định cho mình một quan điểmsống Về mặt này con người không nên tự cho phép tâm mình dẫn dắt hành động trong

mơ hồ của thế giới lý luận suông, mà phải đặt tâm đối diện với sự thực để đoạn trừ cáinguyên nhân khổ đau bằng con đường tu tập (đạo), nhằm đạt đến mục đích tối hậu -Giải thoát

Muốn tới cõi Niết bàn, tới được trạng thái không còn bản thân, không còn dụcvọng, không còn sinh tử, chúng sinh phải tuân theo Bát chính đạo – tám con đườngđúng: nhận thức đúng, nói năng đúng, hành động đúng, sinh sống làm ăn chân thật, nỗlực đúng, tụng niệm đúng (chính niệm)…

Trên đây là tóm tắt những vấn đề quan trọng nhất giáo lý Phật giáo Trong quátrình truyền bà, thích nghi, các giáo lý này có thể được thay đổi đôi chút để phù hợpvới đối tượng và văn hóa bản địa

1.4 Các cơ chế tâm lý xã hội

1.4.1 Bắt chước

Ngày đăng: 24/06/2016, 12:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Mức độ thường xuyên lựa chọn những giá trị đạo đức với gia đình để - MỘT số cơ CHẾ tâm lý xã hội được THỰC HIỆN TRONG GIÁO dục đạo đức ở GIA ĐÌNH VEN đô dưới ẢNH HƯỞNG của GIÁO lý PHẬT GIÁO
Bảng 3.1 Mức độ thường xuyên lựa chọn những giá trị đạo đức với gia đình để (Trang 55)
Bảng 3.7: Mức độ phù hợp giữa những giá trị đạo đức với gia đình và những nội dung - MỘT số cơ CHẾ tâm lý xã hội được THỰC HIỆN TRONG GIÁO dục đạo đức ở GIA ĐÌNH VEN đô dưới ẢNH HƯỞNG của GIÁO lý PHẬT GIÁO
Bảng 3.7 Mức độ phù hợp giữa những giá trị đạo đức với gia đình và những nội dung (Trang 62)
Bảng 3.10 thể hiện mức độ thường xuyên áp dụng những nội dung cơ bản trong giáo lý đạo Phật vào giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình - MỘT số cơ CHẾ tâm lý xã hội được THỰC HIỆN TRONG GIÁO dục đạo đức ở GIA ĐÌNH VEN đô dưới ẢNH HƯỞNG của GIÁO lý PHẬT GIÁO
Bảng 3.10 thể hiện mức độ thường xuyên áp dụng những nội dung cơ bản trong giáo lý đạo Phật vào giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình (Trang 65)
Bảng 3.12 thể hiện tỷ lệ các khách thể lựa chọn phong cách giáo dục với cụ thể từng giá trị đạo đức. - MỘT số cơ CHẾ tâm lý xã hội được THỰC HIỆN TRONG GIÁO dục đạo đức ở GIA ĐÌNH VEN đô dưới ẢNH HƯỞNG của GIÁO lý PHẬT GIÁO
Bảng 3.12 thể hiện tỷ lệ các khách thể lựa chọn phong cách giáo dục với cụ thể từng giá trị đạo đức (Trang 71)
Bảng 3.13: Đánh giá mức độ làm theo các nội dung giáo lý đạo Phật - MỘT số cơ CHẾ tâm lý xã hội được THỰC HIỆN TRONG GIÁO dục đạo đức ở GIA ĐÌNH VEN đô dưới ẢNH HƯỞNG của GIÁO lý PHẬT GIÁO
Bảng 3.13 Đánh giá mức độ làm theo các nội dung giáo lý đạo Phật (Trang 73)
1. Bảng hỏi dành cho người dân là các bậc cha mẹ - MỘT số cơ CHẾ tâm lý xã hội được THỰC HIỆN TRONG GIÁO dục đạo đức ở GIA ĐÌNH VEN đô dưới ẢNH HƯỞNG của GIÁO lý PHẬT GIÁO
1. Bảng hỏi dành cho người dân là các bậc cha mẹ (Trang 80)
2. Bảng hỏi dành cho nhóm đối chứng là học sinh - MỘT số cơ CHẾ tâm lý xã hội được THỰC HIỆN TRONG GIÁO dục đạo đức ở GIA ĐÌNH VEN đô dưới ẢNH HƯỞNG của GIÁO lý PHẬT GIÁO
2. Bảng hỏi dành cho nhóm đối chứng là học sinh (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w