Lý do chọn đề tài Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo quá trình đầu ra của quá trình dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩmchất nhân cách, chú trọng n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo quá trình đầu
ra của quá trình dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩmchất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào tình huống thực tiễnnhằm chuẩn bị cho học sinh năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống
và nghề nghiệp trong tương lai.Vì vậy, dạy học theo quan điểm phát triểnnăng lực không chỉ chú ý tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS về trí tuệ
mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với các tình huống củacuộc sống
PISA là chương trình đánh giá giáo dục về năng lực phổ thông của HS
ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia(OECD khởi xướng và chỉ đạo thực hiện) Nội dung đánh giá của PISA hoàntoàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sốngtương lai Các bài toán của PISA đều là các câu hỏi dựa trên các tình huốngcủa đời sống thực, nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ để HS thựchiện các thao tác về tư duy, mà còn để HS ý thức về các vấn đề xã hội, vấn đềtoàn cầu
Mục tiêu của môn Địa lí lớp 10 – Chuyên là góp phần hoàn thiện họcvấn phổ thông cho HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con ngườiViệt Nam trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập và phát triểnđất nước Ngoài việc được trang bị những kiễn thức cơ bản về Trái Đất với ýnghĩa là môi trường sống của con người (các thành phần cấu tạo và tác độngqua lại của chúng, một số quy luật chủ yếu của lớp vỏ địa lí); dân cư cùng cáchoạt động của dân cư trên Trái Đất cũng như mối quan hệ giữa dân cư và hoạtđộng sản xuất với môi trường; củng cố và tiếp tục hoàn thiện các kĩ năng Địa
lí thì HS còn được tập trung rèn luyện và phát triển một số năng lực có tínhchuyên sâu dành cho đối tượng HS Giỏi như : năng lực tính toán, năng lực
Trang 2đọc hiểu, năng lực vận dụng khoa học, năng lực giải quyết vấn đề, Vì vậy,việc xây dựng và sử dụng các bài toán theo định hướng PISA để tổ chức quátrình học tập cho HS là một trong những giải pháp đổi mới phương pháp dạyhọc theo định hướng tiếp cận năng lực, nhất là phát triển năng lực tính toán,năng lực vân dụng khoa học, năng lực đọc hiểu cho HS.
Từ những lí do trên, để nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng mục tiêu
giáo dục sau 2015, chúng tôi đã chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng các bài toán nhận thức trong dạy học Địa lí 10 ở trường trung học phổ thông Chuyên Bắc Ninh theo định hướng PISA” để làm luận văn tốt nghiệp.
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng các bài toán nhận thức trong dạy học Địa lí 10 ởtrường trung học phổ thông Chuyên Bắc Ninh theo định hướng PISA nhằm đểnâng cao hiệu quả dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông theo định hướngphát triển năng lực
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng
các bài toán trong dạy học Địa lí 10 – Chuyên, theo định hướng PISA
- Đưa ra được các yêu cầu và nguyên tắc của việc xây dựng và sử dụng
các bài toán trong dạy học Địa lí 10 – Chuyên, theo định hướng PISA
- Đưa ra quy trình xây dựng và sử dụng các bài toán trong dạy học Địa
lí 10 – Chuyên, theo định hướng PISA
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài
- Đưa ra các đề xuất và kiến nghị
4 Giả thuyết khoa học
Nếu biết xây dựng và sử dụng các bài toán trong dạy học Địa lí 10 –Chuyên, theo định hướng PISA thì sẽ góp phần phát triển năng lực toán họcphổ thông (Mathematical literacy); năng lực đọc hiểu phổ thông (Readingliteracy); năng lực khoa học phổ thông (Science literacy) cho học sinh
Trang 35 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
PISA là chương trình đánh giá giáo dục về năng lực phổ thông của HS
ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia PISA
đã chú trong xem xét và đánh giá ở một số vấn đề như: Chính sách công
(public policy), hiểu biết phổ thông (literacy), học tập suốt đời (lifelong leaning) Đặc biệc PISA chú trọng trong việc xem xét đánh giá về các năng
lực của HS trong việc ứng dụng các kiến thức, kĩ năng phổ thông vào cáctình huống thực tiễn
Các bài toán của PISA đều là các câu hỏi dựa trên các tình huống củađời sống thực, nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ để HS thựchiện các thao tác về tư duy, mà còn để HS ý thức về các vấn đề xã hội, vấn đềtoàn cầu Dạng thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao gồm các câu hỏilựa chọn đáp án mà còn yêu cầu HS tự xây dựng nên đáp án của mình Các
tình huống, ngữ cảnh trong đề thi PISA bao gồm: Con người, Nghề nghiệp,
Xã hội, Khoa học, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Giao thông,Giải trí, truyền thông, Đặc biệt, câu hỏi PISA chú trọng đến nhữngdạng câu hỏi để HS bộc lộ tư duy và quan điểm cá nhân, năng lực của bảnthân trong các lĩnh vực như: đọc hiểu, tính toán, khoa học, giải quyết vấn đề
Ở nước ta hiện nay cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đến việcvận dụng bài toán hoạc định hướng PISA vào trong dạy học ở nhà trường phổthông và được coi như một giải pháp đổi mới dạy học ở nhà trường phổ thôngtheo định hướng phát triển năng lực Các công trình nghiên cứu đó phải kểđến như:
- “PISA và các dạng câu hỏi” - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
- “Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)” của Nguyễn Thị Phương
Hoa trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 25/2000
Trang 4- “Góp phần tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)” của
Nguyễn Ngọc Sơn trên Tập san Giáo dục - Đào tạo số 3/2010
- “Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA” của Đỗ Tiến Đạt trên Kỷ
yếu Hội thảo Quốc gia về giáo dục Toán học phổ thông năm 2011
- “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức theo định hướng PISA
trong dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông” của Ngô Thị Hải Yến, Kỉ yếu
Hội thảo Địa lý toàn quốc lần thứ 8, năm 2014
- Luận văn Thạc sĩ: “Tiếp cận đánh giá PISA bằng phương pháp giải quyết vấn đề qua dạy học các bài toán thực tiễn phần khối đa diện và khối tròn xoay
(hình học không gian lớp 12 - Ban cơ bản” của Tăng Hồng Dương - lớp Cao học
lý luận và phương pháp dạy học môn Toán K5 - Trường đại học Giáo dục, đại họcQuốc gia Hà Nội
- Luận văn thạc sĩ: “Dạy học phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông với các bài toán tiếp cận chương trình học sinh quốc tế (PISA)” của Nguyễn Quốc Trịnh - lớp Cao học lý luận và phương pháp dạy
học môn Toán K5 - Trường đại học Giáo dục, đại học Quốc gia Hà Nội
Từ những cở sở nghiên cứu trên, chúng tôi thấy việc nghiên cứu, thực
hiện đề tài “Xây dựng và sử dụng các bài toán nhận thức trong dạy học Địa lí
10 ở trường trung học phổ thông Chuyên Bắc Ninh theo định hướng PISA” là
điều cần thiết, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn ởtrường chuyên và đáp ứng ứng mục tiêu giáo dục phổ thông ở nước ta, saunăm 2015
Trang 5học ở trong các chủ đề về các quyển của lớp vỏ Địa lí trong chương trình Địa
lí 10 – Chuyên
7 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng một số quan điểm nghiên cứu như: quan điểm hệthống, quan điểm lấy HS làm trung tâm, quan điểm công nghệ dạy học, quanđiểm dạy học dạy học theo định hướng phát triển năng lực,
- Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương phápphân tích, tổng hợp, phương pháp toán tin, phương pháp khảo sát thực tế,phương pháp thực nghiệm sư phạm,
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÁC BÀI TOÁN NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
BẮC NINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PISA
1.1 Định hướng đổi mới giáo dục của nước ta sau 2015
Ngày 4/11/2013, tại Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ươngkhóa IX (Nghị quyết số 29-NQ/TW) đã ban hành Nghị quyết về đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nghị quyết ban hành nhằm đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Trong đó có nhiều vấn đề đề cậpliên quan đến đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông saunăm 2015
Nghị quyết đã đánh giá tình hình, nêu rõ nguyên nhân về những bất cập
và yếu kém trong giáo dục Đó là chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo cònthấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Hệ thốnggiáo dục, đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thứcgiáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kếtvới nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường laođộng; chưa chú trọng đúng mực việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ nănglàm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, việc kiểm tra, đánh giá kết quả cònlạc hậu, thiếu thực chất
Đồng thời, nghị quyết cũng đưa ra định hướng đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo Thứ nhất, giáo dục và đào tạo phải là quốc sáchhàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Phát triểngiáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trang 7Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triểntoàn diện năng lực và phẩm chất người học.
1.2 PISA – Vai trò của bài toán PISA trong dạy học theo định hướng pháttriển năng lực
1.2.1 PISA là gì? [Q1 a Đô] quyển bìa vàng thầy Đức
Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment) – PISA được xây dựng và điều phối bởi tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) vào cuối thập niên 90 và hiện vẫn diễn ra đều đặn Khảo sát PISA được thiết kế nhằm đưa ra đánh giá có chất lượng và đáng tin cậy về hiệu quả của hệ thống giáo dục (chủ yếu là đánh giá năng lực của HS trong các lĩnh vực Đọc hiểu, Toán học và khoa học) với đối tượng là HS ở độ tuổi 15, tuổi sắp kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc ở hầu hết các nước thành viên OECD.
Khảo sát PISA được tổ chức 3 năm một lần Mặc dù mỗi kì đều kiểm tra kiến thức thuộc ba lĩnh vực chính, nhưng lĩnh vực trọng tâm sẽ được lựa chon quay vòng, để từ đó các dữ kiện chi tiết được cập nhật liên tục theo chu kì đối với mỗi lĩnh vực, và được so sánh đánh giá chuyên sâu sau 9 năm một lần.
Bảng … Nội dung đánh giá của PISA qua các kì
Năm 2000 Năm 2003 Năm 2006 Năm
Khoa học
Đọc hiểu
Toán họcKhoa học
Đọc hiểu
Toán học
Khoa học
Đọc hiểuToán học
Khoa học
Ghi chú: Phần gạch chân, in đậm là nội dung trọng tâm của mỗi kì đánh giá.
PISA không kiểm tra kiến thức HS thu nhận được tại trường học màđưa ra cái nhìn tổng quan về khả năng phổ thông thực tế của HS Bài thi chútrọng khả năng HS vận dụng kiến thức và kĩ năng đọc để hiểu nhiều tài liệukhác nhau mà họ có khả năng sẽ gặp trong cuộc sống hàng ngày; khả năng
Trang 8vận dụng kiến thức Toán học vào các tình huống liên quan đến toán học; khảnăng vận dụng kiến thức khoa học để hiểu và giải quyết các tình huống khoahọc.
Cấu trúc bài thi PISA được thiết kế theo khung đánh giá của OECD,xác định rõ phạm vi kiến thức, các kĩ năng liên quan đến từng lĩnh vực và đưa
ra những câu hỏi mẫu để hướng dẫn các nước xây dựng câu hỏi đóng góp choOECD
Khảo sát PISA đánh giá HS ở độ tuổi 15 (từ 15 năm 3 tháng đến 16năm 2 tháng) Đây là cuộc khảo sát theo độ tuổi, không phải theo cấp học, bậchọc Mục đích của cuộc khảo sát là nhằm đánh giá xem HS đã được chuẩn bị
để đối mặt với những thách thức của cuộc sống xã hội hiện đại ở mức độ nàotrước khi bước vào cuộc sống
1.2.2 Mục đích của PISA
Mục tiêu tổng quát của chương trình PISA là nhằm kiểm tra xem, khiđến độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc (tương đương kết thúc lớp 9của Việt Nam), học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộcsống sau này ở mức độ nào Ngoài ra, chương trình đánh giá PISA còn hướngvào các mục đích cụ thể:
- Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọchiểu, Toán học và Khoa học của HS ở độ tuổi 15
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của HS
- Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy – học tập có ảnh hướngđến kết quả học tập của HS
1.2.3 Đặc điểm của PISA
- Quy mô của PISA là rất lớn và có tính toàn cầu Qua bốn cuộc khảosát và đánh giá, ngoài các nước thuộc khối OECD còn có nhiều quốc gia làđối tác của các nước thuộc khối OECD đăng kí tham gia
Trang 9- PISA được thực hiện đều đặn theo chu kì 3 năm 1 lần, tạo điều kiệncho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấnđấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản.
- Cho tới nay, PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất chỉ chuyên đánhgiá về năng lực phổ thông của HS ở độ tuổi 15 – độ tuổi kết thúc giáo dục bắtbuộc ở hầu hết các quốc gia
- PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:
+ Chính sách công (Public policy): “ Nhà trường của chúng ta đã chuẩn
bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sốngtrưởng thành chưa?”, “ Phải chăng một số loại hình học tập và giảng dạy củanhững nơi này hiệu quả hơn những nơi khác?” …
+ Hiểu biết phổ thông (Literacy): Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theocác chương trình giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụngcác kiến thức và kĩ năng trong các lĩnh vực chuyên môn và khả năng phântích, lý giải, truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giảiquyết các vấn đề
+ Học suốt đời (Lifelong learning): HS không thể học tất cả mọi thứcần biết trong nhà trường Để trở thành những người học suốt đời có hiệu quả,
HS không những phải có kiến thức và kĩ năng mà còn có cả ý thức về động cơhọc tập và cách học Do vậy PISA sẽ tiến hành đo cả năng lực thực hiện của
HS về cả lĩnh vực Đọc hiểu, làm Toán và Khoa học, đồng thời còn tìm hiểu cả
về động cơ, niềm tin vào bản thân cũng như các chiến lược học tập
1.2.4 Những năng lực được đánh giá trong PISA
PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính: Năng lực toán họcphổ thông (Mathematical literacy); năng lực đọc hiểu phổ thông (Readingliteracy); năng lực khoa học phổ thông (Science literacy) Đó là những kiếnthức và kĩ năng tối cần thiết cho một học sinh bước vào cuộc sống trưởng
Trang 10thành Và đó cũng là những kiến thức và kĩ năng nền tảng không thể thiếu choquá trình học tập suốt đời của mỗi người [15] Q1photo
1.2.4.1 Năng lực toán học phổ thông
Là năng lực nhận biết và hiểu về vai trò của toán học trong thế giới,biết dựa vào toán học để đưa ra những suy đoán có nền tảng vững chắc vừađáp ứng được các nhu cầu của đời sống cá nhân, vừa như một công dân biếtsuy luận, có mối quan tâm và có tính xây dựng Đó chính là năng lực phântích, lập luận và truyền đạt ý tưởng (trao đổi thông tin) một cách hiệu quảthông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tìnhhuống và hoàn cảnh khác nhau
1.2.4.2 Năng lực đọc hiểu phổ thông:
Là năng lực hiểu, sử dụng và phản ánh lại ý kiến của một cá nhân saukhi đọc một văn bản Khái niệm học và đặc biệt là học suốt đời đòi hỏi phải
mở rộng cách hiểu về việc biết đọc Biết đọc không chỉ còn là yêu cầu củasuốt thời kì tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, thay vào đó nó còn trở thànhmột nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng kiến thức cá nhân, kĩnăng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vàocác tình huống khác nhau cũng như trong mối quan hệ với người xung quanh
* Các câu hỏi được đánh giá ở 3 nhóm (cấp độ):
+ Thu thập thông tin
+ Phân tích, lí giải văn bản
+ Phản ánh và đánh giá
Trang 111.2.4.3 Năng lực khoa học phổ thông:
Là năng lực của một cá nhân biết sử dụng kiến thức khoa học để xácđịnh các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ để hiểu và đưa ra quyếtđịnh về thế giới tự nhiên thông qua hoạt động của con người thực hiện việcthay đổi thế giới tự nhiên Cụ thể là:
- Có kiến thức khoa học và sử dụng kiến thức để xác định các câu hỏi,chiếm lĩnh kiến thức mới, giải thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luậntrên cơ sở chứng cứ về các vấn đề liên quan đến khoa học
- Hiểu những đặc tính của khoa học như một dạng tri thức của loàingười và một hoạt động tìm tòi khám phá của con người
- Nhận thức được vai trò của khoa học và công nghệ đối với việc hìnhthành môi trường văn hóa, tinh thần, vật chất
- Sẵn sàng tham gia như một công dân tích cực, vận dụng hiểu biếtkhoa học vào giải quyết các vấn đề liên quan đến khoa học
* Các câu hỏi ở 3 nhóm (cấp độ):
+ Xác định các câu hỏi khoa học: HS nhận biết các vấn đề mà có thểđược khám phá một cách khoa học, nhận ra những nét đặc trưng chủ yếu củaviệc nghiên cứu khoa học
+ Giải thích hiện tượng một cách khoa học: HS có thể áp dụng kiếnthức về khoa học vào tình huống đã cho, mô tả, giải thích hiện tượng mộtcách khoa học và dự đoán sự thay đổi
+ Sử dụng các căn cứ khoa học, lí giải các căn cứ để rút ra kết luận
Kỹ năng giải quyết vấn đề: (Được đưa vào PISA từ năm 2003) được
thiết kế thành một đề riêng, các quốc gia có quyền lựa chọn đăng kí tham gia
Mỗi kì đánh giá sẽ có một lĩnh vực kiến thức được lựa chọn để đánh giásâu hơn Năm 2015, trọng tâm là đánh giá là năng lực Khoa học
Trang 121.2.5 PISA tại Việt Nam
1.2.5.1 Mục đích tham gia [16 Chinh]
- Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục
- Tham gia cùng các nước phát triển nhất, cơ hội để Việt Nam học tập
và trao đổi về giáo dục, về kinh nghiệm đánh giá quốc tế
- Xác định vị trí giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế
- Tham gia đánh giá ngoài quốc tế nhằm xem xét độ tin cậy của đánhgiá trong; góp phần điều chỉnh đánh giá trong
- Tăng cường năng lực đội ngũ đánh giá
- Điều kiện để đổi mới PPDH, KTĐG góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục
- Là bước chuẩn bị tích cực cho việc đổi mới chương trình – sách giáokhoa sau 2015
1.2.5.2 Khó khăn và thách thức [15 Chinh]
- Nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của đánh giá trong giáo dục cònkhác nhau và hạn chế; độ tin cậy khác nhau khá nhiều giữa các địa phương;giữa các cuộc đánh giá
- Hình thức, nội dung, phương thức đánh giá còn đơn điệu, không đadạng; chưa chú trọng đến phân tích tất cả các khâu của quá trình đánh giá, tìmhiểu sâu nguyên nhân, công bố công khai kết quả đánh giá
- Đối với HS, khó khăn lớn nhất là: Nội dung, hình thưc, cách thứcđánh giá PISA mới và lạ; thay đổi một thói quen, nếp nghĩ không đơn giản
- Đội ngũ chuyên gia đánh giá trong giáo dục còn rất mỏng và tínhchuyên nghiệp chưa cao
1.2.5.3 Khảo sát thử nghiệm [4], [33 Chinh]
* Mục đích của đợt khảo sát thử nghiệm:
Trang 13- Thử nghiệm toàn bộ quy trình khảo sát PISA.
- Thử nghiệm bộ công cụ khảo sát
* Đối tượng và mẫu:
- HS sinh năm 1995
- Gồm 9 tỉnh, thành phố: Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP Hồ ChíMinh, Gia Lai, Kon Tum, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định
- 40 trường, 35 HS/ trường; tổng cộng 1.080 HS
* Thời gian khảo sát thử nghiệm: Từ 17-19/5/2011
* Kết quả: Kết quả chung giữa mức 2 và 3 (450);
Đọc hiểu: 67%; Khoa học: 36%; Toán: 21%
1.2.5.4 Khảo sát chính thức
* Thời gian: 12-14/4/2012
* Công cụ khảo sát:
- 13 đề thi rất khác nhau
- 03 bộ phiếu hỏi HS và 01 bộ cho hiệu trưởng
* Đối tượng khảo sát chính thức: HS sinh năm 1996 (độ tuổi 15); 162trường thuộc 59 tỉnh; 35 HS/ trường Tổng cộng 5.100 HS
* Thành lập hội đồng khảo sát tỉnh, thành phố
1.2.3.5 Kết quả (04-12-2013) [33 Chinh]
Bảng….: Kết quả xếp hạng năm 2012 của PISA
Trang 14(Nguồn: vietnamnet.vn)Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế 2012 (PISA) công bố ngày03/12/2013, Việt Nam xếp hạng 17 trong số 65 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Theo kết quả từng môn, Việt Nam xếp thứ 8 về Khoa học (528 điểm),xếp thứ 17 về môn toán (511 điểm) và xếp thứ 19 về môn đọc hiểu (508điểm) (Năm 2012, trọng tâm là đánh giá tập trung vào môn Toán)
Trước kết quả này Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, cũng là người phụtrách dự án PISA của Việt Nam, bày tỏ: “ Lần đầu tiên Việt Nam tham gia
Trang 15chương trình đánh giá này vào năm 2012 Chúng ta là nước có thu nhập bìnhquân đầu người thấp nhất trong 65 nước nhưng chất lượng gây bất ngờ cho cảthế giới” Tuy nhiên đánh giá khác về điểm yếu của HS Việt Nam là khả nănglinh hoạt trong tư duy thấp và sự tham gia của bố, mẹ vào việc học của conđứng gần cuối bảng trong số 65 nước tham gia.
Ông cho biết Việt Nam sẽ tiếp tục nghiên cứu, vận dụng các kĩ thuật,phương pháp của PISA vào công tác đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông,nhất là đổi mới cách ra đề kiểm tra, đề thi và phương pháp đánh giá chấtlượng trên diện rộng của từng địa phương (không phải là đánh giá kết quả của
HS và phiếu hỏi dành cho nhà trường (Hiệu trưởng trả lời)
Chu kỳ PISA 2015 thực hiện từ năm 2013:
- Năm 2013: Chuẩn bị các bộ công cụ khảo sát, dịch thuật các tài liệu,xây dựng dữ liệu mẫu khảo sát thử nghiệm và khảo sát chính thức
- Năm 2014: Tổ chức khảo sát thử nghiệm quy trình đánh giá và các bộcông cụ khảo sát theo yêu cầu của OECD
Trong đợt khảo sát thử nghiệm diễn ra vào tháng 4/2014, các bộ công
cụ đánh giá Việt Nam đăng kí dự thi là:
Trang 16Công việc phân tích và xử lý dữ liệu và xây dựng báo cáo đánh giáquốc tế được hoàn thành và công bố vào tháng 12 năm sau, tuy nhiên, đó lànăm đầu tiên của chu kì mới nên mỗi vòng quay PISA chỉ tính 3 năm.
+ Trái Đất với ý nghĩa là môi trường sống của con người bao gồm cácthành phần cấu tạo và tác động qua lại của chúng, một số quy luật của lớp vỏđịa lí
+ Địa lí dân cư và một số khía cạnh văn hóa, xã hội của dân cư
+ Các hoạt động kinh tế của con người trên Trái Đất
+ Mối quan hệ giữa dân cư, các hoạt động sản xuất với môi trường và
sự phát triển bền vững
- Kĩ năng: Củng cố và tiếp tục phát triển các kĩ năng:
+ Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượngđịa lí cũng như kĩ năng đọc và sử dụng bản đồ, biểu đồ, số liệu thống kê
+ Thu thập và trình bày các thông tin địa lí
+ Vận dụng kiến thức để giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí và giảiquyết một số vấn đề của cuộc sống, sản xuất gần gũi với HS trên cơ sở tư duykinh tế, tư duy sinh thái, tư duy phê phán
- Thái độ, hành vi:
Trang 17+ Có tình yêu thiên nhiên, con người, ý thức và hành động thiết thựcbảo vệ môi trường xung quanh.
+ Có ý thức quan tâm đến một số vấn đề liên quan đến địa lí học trong
và ngoài nước (bùng nổ dân số, môi trường và phát triển bền vững, toàn cầuhóa và hội nhập quốc tế, …)
+ Thấy rõ trách nhiệm của bản thân trong công cuộc xây dựng kinh tế
-xã hội của địa phương và của đất nước
1.3.2 Nội dung chương trình
Nhìn chung, trong chương trình địa lí 10 THPT mới có ba loại bài học(Bài học hướng dẫn, bài học hình thành kiến thức, bài học hình thành kĩnăng) Loại bài (1) được thể hiện khá rõ nét trong những bài đầu tiên củachương trình Việc các tác giả SGK địa lí lớp 10 có dụng ý đặt các bài học cóđặc tính nổi trội về phương pháp dạy học ở phần đầu tiên của chương trình làrất có ỹ nghĩa, vì giúp HS ngay từ đầu đã có được cơ hội để làm quen vớiphương pháp học tập thích hợp với bộ môn địa lí đại cương
Nét đặc trưng của chương trình địa lí lớp 10 THPT là các kiến thức líthuyết chiếm một tỉ trọng rất lớn Các khái niệm chung được trình bày tronghầu hết các bài của SGK địa lí lớp 10 Khối lượng kiến thức về các mối quan
hệ nhân quả ít hơn so với khái niệm chung
Các kiến thức thực tế không được thể hiện trong một bài riêng rẽ, màđược trình bày xen kẽ, bổ trợ, minh họa cho các kiến thức lí thuyết nhằm cungcấp cho HS những biểu tượng, những cứ liệu thực tế để hiểu rõ nội dung củacác quan điểm, các qui luật, các mối liên hệ nhân quả Gắn liền với kiến thức
lí thuyết với kiến thức thực tế đó là một dụng ý có ý nghĩa về mặt phươngpháp của SGK [Phương pháp dạy học địa lí ở trường phổ thông - chủ biênNguyễn Trọng Phúc, người tham gia Nguyễn Thu Hằng, Trần Đức Tuấn ]
Trang 18Nội dung chương trình chuyên gồm có chương trình nâng cao vàchương trình chuyên sâu với số tiết là:
- Chương trình nâng cao: 70 tiết (gồm cả ôn tập và kiểm tra)
- Chương trình chuyên sâu: 35 tiết
* Nội dung của chương trình nâng cao:
Bảng 1: Cấu trúc nội dung chương trình Nâng cao Địa lí lớp 10
Các nội dung theo chương trình Số
trái đất và hệ quả của chúng
3 Cấu trúc của Trái Đất Thạch quyển
4 Khí quyển
5 Thủy quyển
6 Thổ nhưỡng quyển và sinh quyển
7 Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý
9 Cơ cấu nền kinh tế Một số tiêu chí
đánh giá sự phát triển kinh tế
10 Địa lí nông nghiệp
11 Địa lí công nghiệp
12 Địa lí dịch vụ
13 Môi trường và sự phát triển bền vững
Nguồn: SGK Địa lí lớp 10 nâng cao
Hệ thống tri thức địa lí trong nhà trường phổ thông được thiết kếtheo kiểu “đồng tâm – xoáy trôn ốc” Vì vậy, tiếp nối nội dung địa lí từ cấpTHCS, nội dung chương trình địa lý lớp 10 có ý nghia rất quan trọng trong hệthống tri thức địa lí THPT, vì nó là nền tảng cơ bản cho những kiến thức cụthể của chương trình Địa lí lớp 11 và lớp 12
Trang 19Nội dung chuyên sâu gồm 9 chuyên đề: [Hướng dẫn thực hiện chươngtrình dạy học chuyên sâu – môn địa lí xem lại quyển của Nga năm xuất bản]
- Chuyên đề 1: Trái Đất và bản đồ (5 tiết)
- Chuyên đề 2: Địa hình bề mặt Trái Đất (3 tiết)
- Chuyên đề 3: Khí quyển (5 tiết)
- Chuyên đề 4: Thủy quyển (3 tiết)
- Chuyên đề 5: Thổ nhưỡng và sinh quyển (4 tiết)
- Chuyên đề 6: Một số vấn đề của địa lí dân cư (4 tiết)
- Chuyên đề 7: Cơ cấu nền kinh tế (3 tiết)
- Chuyên đề 8: Địa lí các ngành kinh tế (5 tiết)
- Chuyên đề 9: Môi trường - tài nguyên và sự phát triển bền vững (3 tiết)
Bên cạnh những yêu cầu đặt ra với chương trình địa lí 10 THPT thìchương trình địa lí 10 THPT chuyên có những yêu cầu cao hơn:
Ví dụ như nội dung Địa lí tự nhiên ở lớp 10 THPT gồm 7 chương, nhưvậy có thể thấy sự tương đương giữa hai chương trình ở những vấn đề lớn.Tuy nhiên do đặc trưng của chương trình chuyên sâu là dành riêng cho HS ởtrường THPT chuyên nên có bổ sung một số kiến thức, kỹ năng nhằm giúpcho nhận thức của HS thêm hoàn chỉnh và sâu sắc Cụ thể:
* Chuyên đề 2: Địa hình bề mặt Trái Đất
Trang 20- Kiến thức: Chương trình chuyên sâu yêu cầu phân tích kỹ hơn về vaitrò của từng loại lực và nhất là về tác động đồng thời, tuy theo chiều hướngđối nghịch nhau nhưng lại thống nhất, xen kẽ, bổ sung cho nhau của nội lực
và ngoại lực trong quá trình tạo nên bề mặt Trái Đất như hiện nay
- Kỹ năng: HS phải nhận biết được các dạng địa hình qua tranh ảnh, vàtrên thực tế, trình bày được đặc điểm và đặc biệt là giải thích được nguyênnhân hình thành một số dạng địa hình trên lục địa
* Chuyên đề 4: Thủy quyển
HS giải thích được nguyên nhân hình thành của các hiện tượng địa lí(sông ngòi, thủy triều, dòng biển) thông qua việc phân tích các mối quan hệđịa lí
* Chuyên đề 5: Thổ nhưỡng và sinh quyển
- Kiến thức: HS trình bày và giải thích được sự hình thành và đặc điểmchính của một số loại đất chính trên thế giới cũng như đặc điểm và sự phân bốcủa một số hệ sinh thái trên cạn, dưới nước
- Kỹ năng: HS biết phân tích bản đồ, xác lập mối quan hệ giữa cácthành phần tự nhiên
Giữa chương trình THPT và chương trình THPT chuyên sâu có sự gắn
bó chặt chẽ, tạo nên sự thống nhất và tương đối hoàn chỉnh, nhằm giúp HShọc môn Địa lí lớp 10 ở trường chuyên có được nền tảng kiến thức khá hoànchỉnh và tương đối sâu, tạo điều kiện cho việc học tập ở các lớp trên và đápứng tốt hơn cho các kì thi giỏi quốc gia
Trang 21Mục tiêu, nội dung chương trình địa lí nói chung đều chú trọng đến bamặt, đó là kiến thức, kỹ năng và thái độ - hành vi Nếu như mặt kiến thức lànền tảng cần thiết, không thể thiếu đối với mỗi học sinh thì kỹ năng địa líchính là những hành trang giúp hoàn thiện hơn người lao động trong tươnglai Việc xây dựng và sử dụng các bài toán nhận thức trong dạy học địa lí 10 ởtrường THPT chuyên Bắc Ninh theo định hướng PISA sẽ góp phần cải thiệnviệc dạy và học địa lí theo hứng tích cực.
1.4 Hiện trạng của việc xây dựng và sử dụng các bài toán nhận thức trong dạy học Địa lí 10 ở trường trung học phổ thông Chuyên Bắc Ninh theo định hướng PISA.
Ch t19
Để có cái nhìn khách quan về thực trạng của việc xây dựng và sử dụngcác bài toán nhận thức trong dạy học Địa lí 10 ở trường trung học phổ thôngChuyên Bắc Ninh theo định hướng PISA chúng tôi đã tiến hành điều tra một
số GV và HS tại trường
1.4.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu và đánh giá đúng thực trạng việc sử dụng bài tập địa lí hiệnnay của trường THPT Chuyên Bắc Ninh và coi đó là căn cứ để xác địnhphương hướng trong nhiệm vụ phát triển tiếp theo của đề tài
Điều tra để có cơ sở phân tích hiệu quả của quá trình dạy và học của
GV và HS trường THPT Chuyên Bắc Ninh, từ đó đưa ra giải pháp giảng dạy
và học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy và học địa lí ở nhà trường
Lấy được ý kiến, quan niệm của GV và HS về việc sử dụng câu hỏi vàbài tập theo tiếp cận PISA trong giảng dạy và học tập môn địa lí ở trườngTHPT Chuyên Bắc Ninh
1.4.2 Nội dung điều tra
Trang 22- Điều tra về thực trạng xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập địa lí theotiếp cận PISA của GV ở trường THPT Chuyên Bắc Ninh.
- Đánh giá của GV và cán bộ quản lý về năng lực nhận thức của các em
HS khi sử dụng các bài toán địa lí tiếp cận PISA ở trường THPT Chuyên BắcNinh
1.4.3 Đối tượng điều tra
- Các GV trực tiếp giảng dạy môn chuyên Địa lí ở trường THPTchuyên Bắc Ninh
- Các HS tham gia học các lớp thực nghiệm của đề tài
- Một số cán bộ quản lý của các Trường, Sở GD & ĐT, các Ban, Ngành
có liên quan
1.4.4 Phương pháp điều tra
1.4.5 Kết quả điều tra
C Tr20, 21
K C t8
Các bài toán tính toán trong môn Địa lí nhìn chung còn chưa đa dạng,chủ yếu GV sử dụng các nguồn bài tập có sẵn trong SGK và sách tham khảochưa có bộ tài liệu đầy đủ nào để sử dụng Đặc biệt là các bài toán được sửdụng chưa có tính liên hệ thực tiễn cao, nội dung bài toán còn nghèo nàn,chưa tạo hứng thú học tập cho HS
Đối với GV: hầu hết trong quá trình giảng dạy và đánh giá vẫn còn chútrọng nhiều kiến thức lý thuyết coi nhẹ việc phát huy năng lực, tư duy khoahọc của HS, ít có sự liên hệ, gắn kết với thực tiễn trong các bài toán GV chưa
có các bước và quy trình cụ thể trong quá trình xây dựng các bài toán nhằmmục đích rèn luyện kĩ năng cho HS Trong quá trình kiểm tra, đánh giá sửdụng các bài toán gắn với thực tiễn nhằm kiểm tra HS còn ít
Trang 23Đối với HS: nhiều HS chưa thành thạo kĩ năng tính toán với các số liệutrong môn Địa lý Nguyên nhân là do chưa được rèn luyện nhiều, việc rènluyện không liên tục, nên HS không nhớ các bước hoàn thiện kĩ năng này.Nguyên nhân khác, là do các bài toán sử dụng nhìn chung chưa hấp dẫn, chưatạo được hứng thú đối với HS Các bài toán với những số liệu khô khan không
có sự liên hệ thực tế, chính vì thế khiến HS không có ấn tượng, HS khôngthấy được tính thực tế và ứng dụng trong mỗi bài toán
1.5 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10 – THPT
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 10 - THPT
Các ngành khoa học khác nhau đều hướng đến mục đích chung là phục
vụ lợi ích của con người, bất cứ một đề tài nào khi nghiên cứu đề có đốitượng nghiên cứu Việc tìm hiểu tâm lí HS lớp 10 sẽ giúp GV nắm bắt đượctâm lí cũng như mức độ năng lực chung của lứa tuổi này Từ đó GV sẽ cónhững PP giảng dạy phù hợp, phát triển tốt nhất năng lực cho HS
Học sinh lớp 10 chủ yếu trong độ tuổi từ 15 -16, đây là giai đoạn các
em bước vào giai đoạn đầu của tuổi thanh niên, được gọi là “thanh niên mớilớn” Lứa tuổi này các em có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về mặt tâm sinh lý,
đó là chuyển biến từ trẻ em sang người lớn
Về mặt sinh lí: Các em đang phát triển như người lớn về chiều cao, cân
nặng, cơ bắp, sức khỏe dồi dào, có thể học tập và làm việc với các cơ chế hoạtđộng của thần kinh cao cấp với cường độ cao, trong thời gian tương đối dài
Vì vậy, ở độ tuổi này các em rất hiếu động, tựa như lúc nào cũng muốn hoạtđộng không biết mệt mỏi
Về mặt trí tuệ: Độ tuổi này có trí nhớ khá tốt, nhận thức của các em
diễn ra theo hai giai đoạn đi từ nhận thức cảm tính đến lí tính, tư duy logic và
tư duy trừu tượng đều đang dần phát triển mạnh
Trang 24Về nhân cách: Hầu hết các em đã thể hiện cá tính rõ rệt, biết quan sát,
tự đánh giá, nhận xét và bản lĩnh, có khả năng lập luận để bảo vệ ý kiến hoặcphản bác ý kiến của người khác Các em có cảm nghĩ rằng mình đã lớn, do đó
tự ý thức các công việc, hoạt động của bản thân nên có thể nói các em đã cótính tự giác và trách nhiệm cao Tuy nhiên các em cũng có điểm yếu là dễ bịkích động, tính kiên nhẫn chưa cao
Từ những đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 10, gia đình và nhà trườngcần có phương pháp phù hợp để tổ chức công tác dạy học và giáo dục các em
có hiệu quả cao
1.5 2 Đặc điểm nhận thức
Nhận thức của học sinh lớp 10 - THPT có những đặc điểm chính sau:
- Tri giác có mục đích đã đạt đến trình độ rất cao Quan sát của các em
có mục đích, có hệ thống và hoàn thiện hơn Quá trình quan sát đã chịu sự tácđộng của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngônngữ Tuy nhiên quan sát của học sinh cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉđạo của giáo viên Do đó giáo viên cần quan tâm để hướng quan sát của các emvào nhiệm vụ nhất định, không vội vàng kết luận khi chưa tích lũy đầy đủ các
sự kiện
- Ghi nhớ: Học sinh lớp 10 - THPT ghi nhớ chủ định giữ vai trò chủđạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghinhớ ý nghĩa ngày càng tăng rõ rệt (các em biết sử dụng tốt hơn các phươngpháp ghi nhớ, tóm tắt ý chính, so sánh đối chiếu…) Đặc biệt các em đã tạođược tâm thế phân hóa trong ghi nhớ
- Tư duy của học sinh lớp 10 - THPT có thay đổi quan trọng Các em
có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo trongnhững đối tượng quen biết đã hoặc chưa được học ở trường Tư duy của các
em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư
Trang 25duy cũng phát triển Đặc điểm đó đã tạo điều kiện cho học sinh thực hiện cácthao tác tư duy toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của khái niệmtrừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội Đó là
cơ sở để hình thành thế giới khách quan
Tuy nhiên, theo các nhà tâm lý, ở lứa tuổi này, động cơ học tập của các
em chưa bền vững, nhiều khi còn thể hiện sự mâu thuẫn và có thái độ chưađúng đắn cần phải có sự uốn nắn từ phía nhà trường
Trong các môn học ở nhà trường nói chung môn Địa lí nói riêngcần có phương pháp phù hợp để tạo ra hứng thú, lôi kéo HS tích cực học tập.Khi đó HS sẽ có mục đích, phương pháp học tập đúng đắn:
- Nội dung dạy học phải súc tích khoa học và có tính thực tiễn cao
- Phải tạo ra các “tình huống có vấn đề” để lôi kéo và gợi cho HS nhu
Trang 26- Cần thiết đưa vào các bài toán mang tính thực tiễn theo định hướngPISA trong hoạt động nhận thức cho HS để các em phát huy năng lực, có nhucầu vận dụng kiến thức và kĩ năng khoa học Địa lí vào giải quyết vấn đề, đểchiếm lĩnh tri thức mới và các em có niềm tin vào tri thức được cung cấp.
Lớp 10, khối lớp đầu tiên của cấp học THPT, hoạt động học tập đượcxây dựng lại một cách cơ bản so với lứa tuổi HS THCS Ở lứa tuổi này các
em bắt đầu hình thành mức độ học tập cao nhất, để tích lũy và hoàn thiệnnhững kiến thức, kĩ năng đáp ứng nhu cầu của người lao động trong tương lai.Hơn nữa, với lớp 10 chuyên địa, các em được tiếp xúc nhiều hơn và dànhnhiều thời gian, đam mê với bộ môn này hơn Chính vì vậy, việc chú ý rènluyện kiến thức và kĩ năng thông qua các bài toán thực tế cho các HS trongcấp học này là hết sức quan trọng Và việc thiết kế các bài tập địa lí gắn vớithực tế cuộc sống là thực sự cần thiết, từ đó cũng góp phần tăng thêm hứngthú và động cơ học tập cho HS
Trang 27CHƯƠNG II: QUY TRÌNH XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÁC BÀI
TOÁN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 – CHUYÊN,
THEO ĐỊNH HƯỚNG PISA
2.1 Những yêu cầu và nguyên tắc của việc xây dựng và sử dụng các bài toán trong dạy học Địa lí 10 – Chuyên, theo định hướng PISA
2.1.1 Yêu cầu[Thái D.T]
- Bảo đảm tính hệ thống: Các bài tập phải có quan hệ chặt chẽ với nhau
và gắn chặt với mục đích, yêu cầu của giờ lên lớp, phục vụ nội dung mỗibước của quá trình dạy học
- Góp phần tăng cường tư duy tích cực, sáng tạo
- Góp phần tăng cường rèn luyện năng lực thực hành của HS
- Bảo đảm tính đa dạng để phục vụ các yêu cầu về nội dung và cácbước của quá trình dạy học
- Số lượng câu hỏi và bài tập trong mỗi giờ lên lớp không quá nhiều, cótrọng tâm và đưa ra hợp lí, phù hợp với logic của bài học, đảm bảo các em cóđiều kiện học tập tập trung, nhưng nhẹ nhàng, thư thái
2.1.2 Nguyên tắc…
- Bài toán địa lí phải đa dạng, có nội dung thiết thực, gắn với thực tiễntuy nhiên vẫn phải đáp ứng được các nội dung trong chương trình địa lí lớp 10– chuyên
- Nội dung bài toán phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tínhtoán mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhậnthức, tư duy địa lí và hành động cho HS
- Đặc biệt GV phải chú trọng các vấn đề trong thực tiễn đời sống của cánhân HS, của cộng đồng, của xã hội… liên quan đến nội dung học tập, có liên
hệ với thực tiễn như thế nào để tìm hiểu và xây dựng thành các bài toán địa lí
Trang 28- Bài toán tính toán trong môn địa lí được xây dựng trên quan điểmkhông phức tạp hóa bởi các thuật toán.
2.2 Quy trình xây dựng các bài toán trong dạy học Địa lí 10 – Chuyên, theo định hướng PISA.
Quy trình xây dựng hệ thống bài toán địa lí theo định hướng PISA đượcxác định theo 7 bước cơ bản:
- Bước 1: Lựa chọn đơn vị kiến thức
Việc xác định rõ đơn vị kiến thức để xây dựng là cơ sở để GV thiết kếcác bài tập phù hợp, tránh trùng lặp và nội dung xây dựng không đúng mụctiêu và chủ đề bài học
Với những định hướng đổi mới trong kiểm tra đánh giá môn Địa lí ởtrường THPT và phát huy những điểm tích cực của PISA, khi xây dựng hệthống bài tập Địa lí 10 theo định hướng PISA, cần lựa chọn những đơn vị kiếnthức không chỉ có ý nghĩa về mặt địa lí mà còn gắn liền với thực tiễn với đời
sống của cá nhân và cộng đồng (như: hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ, hiện tượng mùa, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật, ảnh hưởng của dân cư đến sự phát triển kinh tế - xã hội, …), phát huy được năng
lực khoa học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề … của HS nhưng khôngquá khó, quá trừu tượng, làm mất đi bản chất địa lí
- Bước 2: Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức
Mục tiêu của bài tập được thiết kế phải phù hợp với mục tiêu giáo dục(về kiến thức, kĩ năng, thái độ - tình cảm) của đơn vị kiến thức Điều này đảmbảo tính thống nhất giữa mục tiêu và nội dung cũng như phương pháp trongquá trình dạy học
- Bước 3: Sưu tầm, tìm hiểu các nội dung kiến thức thực tế của đơn vị kiến thức đó.
Trang 29Đây cũng là bước rất quan trọng, đòi hỏi người GV phải có lượng kiếnthức thực tế lớn cùng khả năng tìm tòi, sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu khácnhau như báo, sách, tạp chí, tranh ảnh thực tế, mạng internet … Từ nguồn tàiliệu này, GV lọc thông tin có thể sử dụng cho bài tập, từ đó là cơ sở để viếtlời dẫn, thiết kế các bài tập.
- Bước 4: Thiết kế hệ thống bài tập theo mục tiêu
Đây là bước quan trọng nhất trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập.Bước này gồm hai phần, tương ứng với hai phần trong bài thi PISA
+ Phần 1: GV viết lời dẫn, sử dụng từ nguồn tài liệu sưu tầm ở bước 3.+ Phần 2: GV thiết kế câu hỏi tương ứng với nội dung của phần lời dẫn.Các câu hỏi này xoay quanh của chủ đề lời dẫn đưa ra, ở các mức độnhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ mức đáp ứng nội dung kiến thức,nâng cao hơn là yêu cầu HS phải suy luận, tư duy, cao hơn nữa là phản biệnkhoa học
- Bước 5: Kiểm tra thử
Bước này GV tự làm, tự đánh giá hoặc cho một nhóm nhỏ HS làm thử,
từ đó rút ra được lỗi sai hay những thiếu sót
- Bước 6: Chỉnh sửa
Dựa trên cơ sở của việc kiểm tra thử ở bước 5, GV chỉnh sửa nội dungbài tập sao cho phù hợp về mặt nội dung, mục đích của câu hỏi
- Bước 7: Hoàn thiện hệ thống bài tập
2.3 Các dạng bài toán trong dạy học Địa lí 10 – chuyên, theo định hướng PISA
1 Bài tập phát triển năng lực giải quyết vấn đề
Bài 1: Cho bảng số liệu
Phân phối tổng lượng bức xạ mặt trời ở các vĩ độ
Trang 30(Đơn vị: cal/cm 2
/ngày)Ngày
Cho biết bảng số liệu thuộc bán cầu nào? Vì sao? Nhận xét và giải thích
sự phân phối tổng lượng bức xạ mặt trời
Hướng dẫn trả lời
- Bảng số liệu thuộc Bán cầu Bắc, vì:
+ Ngày 22/6, tổng lượng bức xạ mặt trời cao nhất ở vĩ độ 200 và các vĩ
độ về phía cực có lượng nhiệt tiếp thu lớn hơn về phía xích đạo
+ Tại vĩ độ 900, trong các ngày còn lại đều có tổng nhiệt bằng không; riêng ngày 22/12, từ 700 đến 900 (nghĩa là trong vòng cực) có tổng lượng nhiệt bằng 0
+ Các ngày 21/3 và 23/9, tổng lượng nhiệt giảm từ Xích đạo về cực
- Giải thích: Tổng lượng bức xạ phụ thuộc vào góc nhập xạ và thời gian chiếu sáng
+ Vào ngày 22/6, Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Bắc, từ chí tuyến Bắc về Xích đạo và về cực, góc nhập xạ giảm dần Tại cực, thời gian chiếu sáng (6 tháng ngày) dài hơn ở Xích đạo (3 tháng ngày)
+ Vào ngày 21/3 và 23/9, từ Xích đạo về cực có góc nhập xạ giảm dần
+ Vào ngày 22/12, từ Xích đạo về cực có góc nhập xạ giảm nhanh, khu vực vòng cực đến cực nằm khuất trong bóng tối
Bài 2
Cho hình vẽ:
Đường chuyển động biểu kiến của Mặt Trời trong một năm
Trang 31Dựa vào đường chuyển động biều kiến của Mặt Trời trong một năm
cho biết:
Nơi nào trên Trái Đất có Mặt Trời lên thiên đỉnh mỗi năm hai lần? Nơi nào chỉ một lần? Khu vực nào không có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh? Tại sao?
- Khu vực không có hiện tượng mặt trời lên thiên đỉnh: Từ ngoài chí tuyến về hai cực Vì trục Trái Đất nghiêng với mặt phẳng hoàng đạo (mặt phẳng chứa quỹ đạo Trái Đất) một góc bằng 66033’ Để tạo góc 900 thì góc
Trang 32phụ phải là 23027’, trong khi đó các địa điểm ngoại chí tuyến đều có vĩ độ lớnhơn 23027’.
Bài 3:
Cho hình vẽ:
Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và theo vĩ độ
(ví dụ các ngày 22/6 và 22/12)
Dựa vào hình trên và kiến thức đã học trả lời câu hỏi:
Câu hỏi 1: Ngày nào trong năm mọi địa điểm ở bán cầu Bắc có ngàydài nhất trong năm, đêm ngắn nhất trong năm? Ngày nào trong năm mọi địađiểm ở bán cầu Nam có ngày dài nhất trong năm, đêm ngắn nhất trong năm?Tại sao?
Câu hỏi 2: Tại sao số ngày có 24 giờ toàn ngày hoặc toàn đêm khácnhau giữa bán cầu Bắc và bán cầu Nam?
Câu hỏi 3: Thời gian có ngày, đêm dài bằng nhau ở tất cả các địa điểmtrên bề mặt trái Đất là:
A 21/3 và 22/6 B 23/9 và 22/12
C 21/3 và 23/9 D 22/6 và 22/12Câu hỏi 4: Tại sao càng xa Xích đạo, độ dài ngày và đêm càng chênhlệch nhiều?
Hướng dẫn trả lời:
Trang 33Câu hỏi 1 - Ngày hạ chí (22/6): Mọi địa điểm ở bán cầu Bắc có ngàydài nhất trong năm, đêm ngắn nhất trong năm (bán cầu Nam: ngược lại) Dotia sáng Mặt Trời vuông góc tại chí tuyến Bắc lúc 12 giờ trưa.
- Ngày hạ chí (22/12): Mọi địa điểm ở bán cầu Nam có ngày dài nhấttrong năm, đêm ngắn nhất trong năm (bán cầu Bắc: ngược lại) Do tia sángMặt Trời vuông góc tại chí tuyến Nam lúc 12 giờ trưa
Câu hỏi 2 - Từ ngày 21/3 đến 23/9, Trái Đất di chuyển trên quỹ đạoqua điểm viễn nhật, sức hút của Mặt Trời yếu làm cho vận tốc của nó giảm,thời kì nóng của nửa cầu Bắc dài tới 186 ngày Ở cực Bắc, số ngày có 24 giờtoàn ngày là 186
- Từ ngày 23/9 đến 21/3 (năm sau), Trái Đất di chuyển trên quỹ đạoqua điểm cận nhật, sức hút của Mặt Trời lớn làm cho vận tốc của nó tăng, thời
kì nóng của nửa cầu Nam chỉ dài có 179 ngày Ở cực Nam, số ngày có 24 giờtoàn ngày là 179
Câu hỏi 3 C
Câu hỏi 4 - Trong khi chuyển động quanh Mặt Trời trục Trái Đấtnghiêng và không đổi phương, đường phân chia sáng tối chia đôi Xích đạo rathành hai phần bằng nhau, một phần nằm trong ánh sáng, một phần nằm trongbong tối
- Càng về cực, đường phân chia sáng tối càng xa trục Trái Đất, độchênh lệch diện tích chiếu sáng và tối càng lớn, nên độ dài ngày đêm càngchênh lệch nhau nhiều
Trang 34Bài 4: Cho hình
Dựa vào hình vẽ, và kiến thức đã học hãy trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Vì sao có hiện tượng mùa trên Trái Đất?
Câu hỏi 2: Giải thích vì sao: Mùa xuân ấm áp, mùa hạ nóng bức, mùathu mát mẻ, mùa đông lạnh lẽo?
Câu hỏi 3: Mùa nóng ở Nam bán cầu nằm trong khoảng thời gian:
Trang 35bán cầu ngả nhiều hơn về phía Mặt Trời Điều đó làm cho thời gian chiếusáng và sự thu nhận bức xạ mặt trời ở mỗi bán cầu đều thay đổi trong năm.
Câu hỏi 2: - Mùa xuân: Mặt Trời bắt đầu chuyển động biểu kiến từXích đạo lên chí tuyến Bắc, lượng nhiệt tăng dần; tuy nhiên vì mới bắt đầunên nhiệt độ chưa cao, ấm áp
- Mùa hạ: Góc nhập xạ lớn, lượng nhiệt được tích lũy nhiều, nóng bức
- Mùa thu: Tuy góc nhập xạ có giảm, nhưng còn lượng nhiệt tích lũytrong mùa hè, mát mẻ
- Mùa đông: Góc nhập xạ nhỏ, mặt đất đã tiêu hao hết lượng nhiệt dựtrữ, lạnh
Câu hỏi 3: A
Câu hỏi 4: - Mùa hè ở Bắc bán cầu được tính từ ngày 21/3 cho đến 23/9dài 186 ngày Còn mùa hè ở Nam bán cầu từ ngày 23/9 đến ngày 21/3 (nămsau) dài 179 ngày Như vậy mùa hè ở Bắc bán cầu dài hơn mùa hè ở Nam báncầu là 7 ngày
- Nguyên nhân:
+ Mùa hè ở Bắc bán cầu, Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời trênquỹ đạo lớn có chứa điểm viễn nhật (khoảng ngày 05/7) nên vân tốc chuyểnđộng chậm và thời gian kéo dài ra
+ Còn mùa hè ở Nam bán cầu, Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trờitrên quỹ đạo nhỏ có chứa điểm cận nhật (khoảng ngày 03/1) nên vân tốcchuyển động nhanh và thời gian ngắn lại
Bài 6: Quan sát bản đồ các khu áp cao, áp thấp trong tháng 1 và tháng
7, hãy:
Trang 36Tháng 1 Tháng 7
Câu hỏi 1: Chỉ rõ các trung tâm khí áp hoạt động theo mùa trên Trái Đất.Câu hỏi 2: Phân tích mối quan hệ giữa dải hội tụ nhiệt đới, các khu áp thấpvới chế độ gió mùa mùa hạ
+ Dải áp cao chí tuyến có các trung tâm áp cao: 2 ở Thái Bình Dương,
1 ở Đại Tây Dương, 1 ở Địa Trung Hải Ở trung tâm lục địa Hoa Kì dải ápcao này đổi thành trung tâm áp thấp
+ Dải áp cao chí tuyến Nam bán cầu có các trung tâm: Nam Thái Bình Dương, Nam Đại Tây Dương, Nam Ấn Độ Dương, Nam Mĩ, Nam Phi và lục địa Ôxtrâylia
+ Dải hạ áp cận cực có 2 trung tâm hạ áp ở Bắc Thái Bình Dương và Bắc Đại Tây Dương Cực Bắc trở thành 2 trung tâm áp cao: một ở Bắc
Canada và Đông Bắc châu Á
Trang 37+ 2 trung tâm áp cao Bắc cực lấn xuống Hoa Kì và Trung Quốc.
Câu hỏi 2 Mối quan hệ giữa dải hội tụ nhiệt đới, các khu áp thấp với gió mùa mùa hạ
- Mùa hạ ở nửa cầu Bắc, dải hội tụ nhiệt đới dịch lên phía Bắc xích đạo
- Theo các khu áp thấp Bắc Phi, Ấn Độ, dải hội tụ nhiệt đới vượt xa về phía Bắc: ở châu Phi lên sát chí tuyến, vượt qua chí tuyến ở Ấn Độ, vượt trên
vĩ tuyến 300B ở Trung Quốc
- Gió Tín phong Đông Nam từ các khu áp cao cận chí tuyến ở nửa cầu Nam vượt qua Xích đạo chuyển hướng thành gió mùa mùa hè thổi theo hướngtây nam - đông bắc
Bài 7:
Quan sát các biểu đồ khí hậu dưới đây:
Câu hỏi 1: Hãy cho biết tên của từng kiểu chế độ nhiệt A-B-C-D
Câu hỏi 2: Phân tích những đặc điểm chính của từng kiểu chế độ nhiệt trên
Trang 38C: Chế độ nhiệt của kiểu khí hậu ôn đới hải dương (Valenxia – Ailen)
D: Chế độ nhiệt của kiểu khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải (Palecmô – Ý)
Câu hỏi 2:
A: Chế độ nhiệt của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa
- Nhiệt độ trung bình năm thường trên 200C
- Chế độ nhiệt phân mùa khá rõ: có 3 tháng nhiệt độ dưới 200C; mùa hạnóng, từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trên 250C
- Biên độ dao động nhiệt khá lớn, mùa rõ, mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10
B: Chế độ nhiệt của kiểu khí hậu ôn đới lục địa
- Biên độ dao động nhiệt lớn, thường trên 200C
- Các tháng mùa đông lạnh thường xuyên dưới 00C
C: Chế độ nhiệt của kiểu khí hậu ôn đới hải dương
Trang 39- Nhiệt độ tháng lạnh nhất ít khi xuống dưới 00C
- Tháng cao nhất không quá 200C
- Chênh lệch nhiệt độ năm không quá 150C
D: Chế độ nhiệt của kiểu khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải
- Nhiệt độ trung bình năm khoảng 15-190C
- Mùa đông ấm, có mưa; mùa hạ nóng khô
Bài 8: Cho bảng số liệu
Mật độ dân số các khu vực trên thế giới năm 2014
(Đơn vị: người/ km 2)
Khu vực Mật độ dân số Khu vực Mật độ dân số
(Nguồn niên giám thống kê)
Câu hỏi 1: Nhận xét tình hình phân bố dân cư hiện nay trên thế giới.Câu hỏi 2: Giải thích vì sao có sự phân bố như vây?
Hướng dẫn trả lời
Câu hỏi 1 Nhận xét: Dân số thế giới phân bố không đều
- Vùng đông dân: Tây Âu, Nam Âu, Trung Nam Á, Đông Nam Á,Đông Á, Caribê
- Vùng thưa dân: Châu Đại Dương, Nam Mĩ, Bắc Mĩ, Châu Phi
Câu hỏi 2 Giải thích
Sự phân bố dân cư không đều do chịu sự tác động của các nhân tố tựnhiên và kinh tế - xã hội:
Trang 40- Nhân tố tự nhiên: Khí hậu, nước, địa hình, khoáng sản, …
- Nhân tố kinh tế - xã hội: Trình độ phát triển lực lượng sản xuất, tínhchất nền kinh tế, lịch sử khai thác lãnh thổ, chuyển cư, …
Những khu vực đông dân, mật độ dân số cao có điều kiện tự nhiên,điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi cho cư trú và ngược lại
Bài 9: Cho bảng số liệu:
Cơ cấu sử dụng năng lượng toàn thế giới thời kì 1940-2020
Năng lượng mới (Mặt Trời, địa
Câu hỏi 1: Vẽ biểu đồ miền ?/??/????/ Vẽ biểu đồ
Yêu cầu: Chính xác, thẩm mĩ và đầy đủ các yêu cầu của một biểu đồ.
Câu hỏi 2: Nhận xét và giải thích:
- Cơ cấu sử dụng năng lượng ngày càng đa dạng
- Cơ cấu sử dụng năng lượng trên thế giới từ năm 1940 đến 2020 có sựthay đổi: