1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội

90 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘIPHẠM THỊ HỒNG NHUNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SẢN XUẤT GỐM TỚI MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ GỐM BÁT TRÀNG Ở XÃ BÁT TRÀNG HU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM THỊ HỒNG NHUNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SẢN XUẤT GỐM TỚI MỘT

SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ GỐM BÁT TRÀNG

Ở XÃ BÁT TRÀNG HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM THỊ HỒNG NHUNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SẢN XUẤT GỐM TỚI MỘT

SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ GỐM BÁT TRÀNG

Ở XÃ BÁT TRÀNG HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số : 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hoàng Trí

Trang 3

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập hai năm tại khoa Sinh học, bộ môn Thựcvật học và làm luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệttình của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng vàbiết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Các thầy cô trong khoa Sinh học, trường đại học Sư phạm Hà Nội, đặcbiệt là các thầy cô trong tổ Thực vật học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúptôi hoàn thành luận văn này

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo GS.TS NguyễnHoàng Trí đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo và tạo mọi điều kiện để tôi thực hiệnnghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình

Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Chi cục Bảo vệ môi trường,

Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội, những cán bộ Ban Địa chính

xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, cùng người dân xã BátTràng đã cung cấp những tư liệu quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đãluôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tàinghiên cứu của mình

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn này nhưngkhông thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quýbáu của thầy cô và các bạn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên Phạm Thị Hồng Nhung

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BOD (Biological Oxigen Demand) Nhu cầu oxi sinh học

COD (Chemical Oxigen Demand) Nhu cầu oxi hóa học

CSSX Cơ sở sản xuất

M1, M2, M3, M4 Mẫu 1, Mẫu 2, Mẫu 3, Mẫu 4OXH-K Oxi hóa – khử

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

TCCP Tiêu chuẩn cho phép

TDS (Total dissolved solids) Tổng chất rắn hòa tan trong

nước

TSS (Total Suspended Solids) Tổng chất rắn lơ lửng trong nước

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta có số lượng làng nghề rất lớn, hình thành và phát triển khắp cảnước nằm rải rác theo các triền đê, ven các dòng sông lớn, tập trung đông nhấttại vùng Đồng bằng Bắc bộ với trăm nghề và hàng nghìn làng nghề lâu đời vànổi tiếng Một trong những làng nghề truyền thống nổi tiếng ở vùng đồngbằng Bắc bộ nói chung và Hà Nội nói riêng là làng gốm Bát Tràng thuộc xãBát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Trên địa bàn làng gốm Bát Tràng hiện có khoảng hơn 1300 lò nung đanghoạt động Các lò nung không tập trung mà nằm rải rác theo từng xóm nhỏ

Từ năm 2000, Xí nghiệp X54 của Quân khu Thủ đô đã nghiên cứuthành công và đưa vào sử dụng lò nung gốm bằng gas ở Bát Tràng, vừa giảmđược 50-60% lượng khói bụi và khí CO2, vừa tiết kiệm được gần 30% chi phí

so với lò đốt bằng than Theo thống kê mới nhất của xã Bát Tràng thì cókhoảng 95% các hộ sản xuất đã chuyển từ lò nung bằng than sang lò nunggas Tuy nhiên, do chi phí xây dựng, lắp đặt lò gas khá cao (khoảng 100 - 150triệu đồng/lò), nên nhiều gia đình chưa đầu tư xây Vì vậy, môi trường ở BátTràng vẫn còn nhiều mối nguy hiểm đe dọa

Theo khảo sát mới đây của Sở Tài nguyên - Môi trường và Nhà đất

Hà Nội, lượng bụi ở đây vượt quá mức tiêu chuẩn môi trường 3 - 3,5 lần,nồng độ các khí CO2, SO2 trong không khí đều vượt quá tiêu chuẩn chophép từ 1,5 - 2 lần

Càng đi sâu vào trong làng, ô nhiễm càng nặng Khắp nơi bao phủ mộtlớp bụi đất nung, bụi gốm Con đường vào làng bụi mù mịt, nhất là khi có ôtôchạy qua

Không chỉ thải bụi, trung bình mỗi lò nung gốm bằng than ở Bát Tràngthải ra khoảng 2,5 tấn chất thải rắn cho mỗi mẻ nung Cùng với đó, phế phẩm,

Trang 8

phế liệu đất nung, gốm, sứ vỡ, hỏng chất thành những đống bên đường; mỗikhi mưa xuống, đường lầy lội.

Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất gốm sứ, những hóa chất dùng đểnâng cao chất lượng, bảo quản sản phẩm, để làm chất liệu men, sơn vẽ đãgây hại trực tiếp cho sức khỏe của người tham gia sản xuất và tác động lâu dàiđến cả những vùng xung quanh

Thực trạng nêu trên khiến nhiều người làm việc hoặc sống ở Bát Tràngđều bị mắc bệnh về đường hô hấp như viêm họng, viêm phổi, viêm xoang hayđau mắt Mặc dù mức độ ô nhiễm là đáng báo động, song người dân chỉ thựchiện các biện pháp đơn giản như phun nước để giảm bụi, đội mũ kín, đeokhẩu trang Nếu không sớm áp dụng những phương pháp sản xuất sạch,nhằm giảm ô nhiễm môi trường, sự phát triển bền vững của Bát Tràng sẽ bị

đe dọa

Nhằm hỗ trợ cho công tác quản lý môi trường làng nghề, góp phầngiảm thiểuảnh hưởng tiêu cực của việc sản xuất gốm tới sức khỏe của ngườidân, thúc đẩy sự phát triển bền vững làng nghề truyền thống, chúng tôi đã lựa

chọn tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác động của việc sản xuất gốm tới một số yếu tố môi trường tại làng nghề gốm Bát Tràng ở xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”.

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu làng nghề trên thế giới

Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số côngtrình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “nhà máy làng xã” củaBành Tử (1922); “mô hình sản xuất làng xã” và “ xã hội hóa làng thủ công”của N.H.Noace (1928) Năm 1964, tổ chức WCCI (World Crafts CouncilInternational - Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế giới) được thành lập,

Trang 9

hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ côngtruyền thống (Ngô Trà Mai, 2009).

Đối với đa phần các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghềtruyền thống là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế nông thôn Thực tếnhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triểnlàng nghề, điển hình như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan… TrungQuốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì xínghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20-30% đã giải quyết được 12triệu lao động dư thừa ở nông thôn (Trần Minh Yến, 2003) [20]

Gốm xuất hiện từ sau khi con người phát minh ra lửa và rời hang núihốc đá, cất nhà ở để định cư vài nghìn năm trước, ở những quốc gia có nềnvăn minh sớm phát triển như Ai Cập cổ đại, Ấn Độ cổ đại, Trung Quốc, HyLạp… Hiện nay, ngoài mô hình sản xuất gốm truyền thống, gốm được sảnxuất theo mô hình công nghiệp với những cơ sở sản xuất lớn nhỏ, các làngnghề gốm không phổ biến, chỉ phổ biến ở châu Á

2.2 Nghiên cứu làng nghề ở Việt Nam

Ở Việt Nam, làng nghề là mô hình kinh tế rất phát triển ở nông thônViệt Nam Vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với nhữngkhía cạnh và các mục đích khác nhau

- Trên khía cạnh kinh tế, văn hoá, xã hội có nhiều công trìnhnghiên cứu về làng nghề ở nhiều cấp, như: “Làng nghề thủ công truyền thốngViệt Nam” của Bùi Văn Vượng (1998), tác giả đã tập trung trình bày các loạihình làng nghề truyền thống như: đúc đồng, rèn, gốm, trạm khắc đá, giấy dó,tranh dân gian… Ở đây chủ yếu giới thiệu lịch sử, kinh tế, văn hóa, nghệthuật, tư tuởng, kỹ thuật, các bí quyết nghề, thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật củacác nghệ nhân và các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam [19] “Pháttriển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp

Trang 10

hoá, hiện đại hoá” của Trần Minh Yến (2003) Ngoài ra còn có các đề tài khoahọc về việc “ Hoàn thiện các giải pháp kinh tế tài chính nhằm khôi phục vàphát triển làng nghề ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng” của Học việntài chính (2004); “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụsản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc bộ thời kỳ đến năm 2010”của Bộ Thương mại (2003)… Đặc biệt phải kể đến là đề tài “Nghiên cứu vềquy hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nôngthôn ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn hợp tác cùng với tổ chức JICA (The Japan InternationalCooperation Agency)– cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật Bản (2002), đãđiều tra nghiên cứu tổng thể các vấn đề có liên quan đến làng nghề thủ côngnước ta.

Ở khía cạnh môi trường: Gần đây trong các nghiên cứu về làng nghề,vấn đề môi trường đang được nhiều tác giả quan tâm Cuốn sách “Làng nghềViệt Nam và môi trường” của Đặng Kim Chi và cộng sự (2005) Đây là mộtcông trình nghiên cứu tổng quát nhất về vấn đề làng nghề và thực trạng ônhiễm môi trường các làng nghề hiện nay Tác giả đã nêu rõ từ lịch sử pháttriển, phân loại, các đặc điểm cơ bản làng nghề, hiện trạng kinh tế xã hội củacác làng nghề Việt Nam hiện nay Cùng với đó là hiện trạng môi trường cáclàng nghề (có phân loại năm nhóm làng nghề chính), và cũng đã cảnh báo

“100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt TCCP.Môi trường không khí bị ô nhiễm một cách cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất,nhất là ô nhiễm bụi vượt TCCP và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than, củi

Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường làcác bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da Nhiềudòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng, nhiềuruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng

Trang 11

nghề” Qua đó cũng nêu rõ các tồn tại ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và bảo

vệ môi trường của làng nghề, nêu dự báo phát triển và mức độ ô nhiễm đếnnăm 2010, một số định hướng xây dựng chính sách đảm bảo phát triển làngnghề bền vững và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho từng loạihình làng nghề của Việt Nam [6]

Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác

về tình trạng môi trường và sức khỏe tại các làng nghề:

Nghiên cứu về “Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làngnghề Việt Nam”, các tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương,

Lê Văn Trình (2005) đã nêu một số nét về lịch sử phát triển làng nghề ViệtNam, môi trường và sức khỏe người lao động, an toàn sản xuất làng nghề, cácbiện pháp phòng ngừa [14]

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước tại một sốlàng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và đề xuất giải pháp giảm thiểu ônhiễm” (Nguyễn Thị Thắm, 2012) cho thấy môi trường và tình trạng sức khỏecủa người dân tại các làng nghề trong tỉnh Bắc Ninh đều trong tình trạng báođộng Tỷ lệ người lao động có phương tiện bảo hộ đạt tiêu chuẩn vệ sinh laođộng thấp, 100% các hộ sản xuất nước thải không qua xử lý, đổ thẳng ra cốngrãnh; nồng độ các chất khí gây ô nhiễm cho môi trường ( H2S, NH3…) cao; tỷ

lệ người mắc bệnh hô hấp, tiêu hóa, ngoài da chiếm tỷ lệ cao [12]

Lê Thị Việt Hà và cộng sự (2004) đã nghiên cứu về làng nghề sản xuấttinh bột sắn Dương Liễu (Hà Nội) đã đánh giá làng nghề bị ô nhiễm nặng vớithông số BOD5, COD, TSS của nước thải vượt quá TCCP hàng chục lần [8]

Nguyễn Quang Trung, Hoàng Thu Thủy (2004) đã chỉ ra một số đặctrưng về phát triển làng nghề nông thôn Việt Nam, nguyên nhân gây ô nhiễmtại các làng nghề Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là quá trình xử lýcông nghiệp như: chế biến lương thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, tẩy giấy và

Trang 12

nhuộm thường nước thải ra bị nhiễm màu nặng và làm đổi màu các dòngsông Ô nhiễm không khí do bụi, ồn và nóng do sử dụng than, dầu khí trongsản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gốm sứ Ô nhiễm chất thải rắn do táichế nguyên liệu: giấy, nhựa, kim loại Tác giả cũng đã phân tích ảnh hưởngcủa chất thải làng nghề tới môi trường nước, đất, không khí và sức khỏe cộngđồng [13].

Những đề tài này nhìn chung đã giải quyết đuợc vấn đề lý luận cơ bản

về các làng nghề, hiện trạng và xu hướng phát triển, vấn đề ô nhiễm môitruờng và một số giải pháp Nhưng các đề tài đi sâu vào một làng nghề nào đóthì hầu như chưa nghiên cứu một cách toàn diện nhất Mỗi khu vực làng nghề

có những điều kiện và thực tế khác nhau cho sự phát triển và bảo tồn Hơnnữa mỗi khu vực bị ô nhiễm cũng có những ngồn gây ô nhiễm không giốngnhau, vì vậy việc nghiên cứu cụ thể chi tiết để có thể đánh giá toàn diện vềtiềm năng, thực trạng cũng như xu hướng của các làng nghề có ý nghĩa quantrọng cả về khoa học và thực tiễn

Tóm lại thực tiễn làng nghề Việt Nam còn nhiều bất cập, tốc độ pháttriển các làng nghề như hiện nay chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệthiện trạng môi trường và trình độ công nghệ cũng như thực trạng quản lý môitrường hiện tại là một thách thức lớn đối với việc bảo tồn và phát triển bềnvững các làng nghề truyền thống của nước ta

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài chúng tôi nghiên cứu nhằm các mục đích sau:

- Đánh giá ảnh hưởng của việc sản xuất gốm tới môi trường làngnghề gốm Bát Tràng (môi trường nước và môi trường không khí)

- Đánh giá ảnh hưởng của việc sản xuất gốm tới con người (doanhthu lao động và sức khoẻ cộng đồng)

Trang 13

- Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu nguồn gây ônhiễm môi trường, giảm tỷ lệ mắc các bệnh thường gặp của người dân Từ đó,phát triển bền vững làng nghề gốm truyền thống.

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các cơ sở, các hộ tham gia sản xuất gốm tạilàng nghề gốm Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội:

Quy trình sản xuất → chất thải → môi trường → con người

Địa điểm nghiên cứu: làng nghề gốm Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyệnGia Lâm, thành phố Hà Nội

5 Ý nghĩa và những đóng góp mới của luận văn

5.1 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đánh giá mức độ ô nhiễm môitrường làng nghề gốm Bát Tràng, đồng thời cũng là nguồn tài liệu phục vụcho các nghiên cứu sau này

Tìm hiểu và đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sảnxuất gốm có ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân

Từ những nghiên cứu đề ra những giải pháp khắc phục

5.2 Những đóng góp mới của luận văn

Công trình nghiên cứu tại làng nghề Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thànhphố Hà Nội dựa trên cơ sở tiếp cận sinh thái nhân văn và tiếp cận hệ thống.Nội dung luận văn đã nghiên cứu một cách tổng quát các đặc điểm của môitrường tự nhiên và xã hội, đánh giá được ảnh hưởng của hoạt động sản xuấtgốm tới môi trường và người dân địa phương, để từ đó đưa ra những giảipháp tốt nhất để phát triển bền vững làng nghề Bát Tràng

Trang 14

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Phương pháp điều tra ngoài thực địa:

+ Quan sát, mô tả hệ tự nhiên, hệ xã hội và mối quan hệ giữa các thành

phần trong mỗi hệ cũng như giữa hai hệ với nhau, dựa trên phương pháp điều

tra đánh giá nhanh nông thôn (RRA- Rural Rapid Appraisal) và phương pháp

đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA- Participatory

Rural Appraisal)

+ Khảo sát số liệu về dân số, điều kiện kinh tế xã hội, đặc biệt là số

lượng các cơ sở sản xuất, hộ gia đình, số người làm nghề gốm…

+ Phỏng vấn các chủ cơ sở sản xuất gốm trong xã về quy trình sản xuất,

bảo hộ lao động, các vấn đề mắc phải hoặc khó khăn trong quá trình sản xuất,

… thông qua phiếu điều tra (phiếu 1)

+ Phỏng vấn một số hộ dân trực tiếp sản xuất và các hộ dân không trực

tiếp sản xuất về tình trạng sức khỏe của họ thông qua phiếu điều tra sức khỏe

(phiếu 2)

Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

+ Thời gian lấy mẫu: lấy mẫu ở bốn thời điểm trong năm: Quý

III/2014, Quý IV/2014, Quý I/2015 và Quý II/2015

+ Dụng cụ: sử dụng bình nhựa 500ml để thu mẫu nước

+ Tiến hành lấy mẫu:

- Nước thải: ở đây, nước thải chủ yếu chảy ra sông, hồ, lấy mẫu

như sau: tính từ điểm nước thải chảy ra sông, hồ, lấy trên điểm thải

500-1000m, độ sâu tốt nhất là 20-30cm dưới mặt nước, không lấy mẫu ở những

nơi có rong, rêu

10cm

Trang 15

Lò nung

+ Sau khi lấy mẫu thì bảo quản lạnh 0-5oC, và nhanh chóng mang vềphòng thí nghiệm để phân tích

Hình 1 Lấy mẫu ngoài thực địa

Phương pháp phân tích mẫu ngoài thực địa (phân tích không khí ngoài thực địa):

+ Dụng cụ: hệ thống phân tích chất lượng không khí xung quanh Phântích thành phần khí ngoài thực địa gồm có CO, O2, NO, NO2, SO2, CO2

+ Tiến hành phân tích mẫu: phân tích tại 3 điểm, khoảng cách từ địa điểm lấy mẫu đến nguồn phát thải lần lượt là r1= 5m, r2=10m, r3=100m; chiều cao điểm

đo tối thiểu là 1,5m

Trang 16

6.2 Phương pháp phân tích mẫu và xử lý số liệu

- Phân tích mẫu nước: Thiết bị đo đa chỉ tiêu nước TOA WQC-24 và

máy đo BOD Velp - Italia Các thông số máy có thể đo được gồm có: pH,

DO, độ đục, độ mặn, độ sâu nước, ORP, Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan

(TSS), nhiệt độ, BOD, COD, và thành phần một số kim loại nặng

Hình 3 Phân tích mẫu nước tại phòng thí nghiệm

- Xử lý số liệu: Các số liệu sẽ được xử lí thông qua việc sử dụng phần

mềm Microsoft Office Excel 2007

6.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các tài liệu về lịch sử phát triển làng

nghề, quy trình sản xuất gốm, các tài liệu có liên quan tới môi trường do ảnh

hưởng của việc sản xuất gốm tại làng gốm Bát Tràng trên: sách, báo, tạp chí,

internet

6.4 Phương pháp phân tích các mối quan hệ tương tác và tổng hợp

Các tài liệu, số liệu sau khi thu thập sẽ được tổng hợp, phân tích và so

sánh để:

- Đánh giá ảnh hưởng của việc sản xuất gốm đến môi trường làng

nghề gốm Bát Tràng và người dân địa phương

6 Tổng quan về làng nghề Việt Nam

Trang 17

6.1 Lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Nhiềusản phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩmtrao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng nhữnglao động dưthừa lúc nông nhàn Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàngngàn năm, song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nôngnghiệp của đất nước Ví dụ như làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn

900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồntại, nghề chạm bạc ở Đồng Xuân (Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệNon Nước (Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây hơn 400 năm, … (Bộ TàiNguyên và Môi Trường, 2009) Nếu đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc của cácsản phẩm từ các làng nghề đó, có thể thấy rằng hầu hết các sản phẩm này banđầu đều được sản xuất để phục vụ sinh hoạt hằng ngày hoặc là công cụ sảnxuất nông nghiệp, chủ yếu được làm trong lúc nông nhàn Kỹ thuật, côngnghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm này được truyền từthế hệ này sang thế hệ khác [4]

Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủcông mà còn là điểm văn hóa của khu vực, của vùng Làng nghề là nơi hội tụnhững thợ thủ công có tay nghề cao mà tên tuổi đã gắn liền với sản phẩmtrong làng Ngoài ra, làng nghề cũng chính là điểm tập kết nguyên vật liệu, lànơi tập trung những tinh hoa trong sản xuất sản phẩm của làng Các mặt hàngsản xuất ra không chỉ phục vụ sinh hoạt hàng ngày mà còn bao gồm các sảnphẩm mỹ nghệ, đồ thờ cúng, dụng cụ sản xuất … Nhằm đáp ứng các nhu cầuthực tế của thị trường khu vực lân cận (Nguyễn Thị Thắm, 2012) [12]

Trong vài năm gần đây, làng nghề đã thay đổi nhanh chóng theo nềnkinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp phục vụ tiêudùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển Quá trình công

Trang 18

nghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triểnngành nghề nông thôn, thúc đẩy sản xuất tại các làng nghề đã tăng mức thunhập bình quân của người dân nông thôn.Các công nghệ mới đang ngày càngđược áp dụng phổ biến Các làng nghề mới và các cụm làng nghề khôngngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng, tạo công

ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn

Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lí, đặc điểm tựnhiên, mật độ phân bố dân cư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sựphân bố và phát triển làng nghề giữa các vùng của nước ta là không đồng đều,thường tập trung vào những khu vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đất sảnxuất nông nghiệp, nhiều lao động dư thừa lúc nông nhàn Trên cả nước, làngnghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng60%); còn lại ở miền Trung (chiếm khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%)(Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2009) [4]

Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thịtrường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghềnước ta thành 6 nhóm ngành nghề chính (bảng 1 và hình 1), mỗi ngành chính

có nhiều ngành nhỏ Mỗi nhóm ngành nghề có đặc điểm khác nhau về hoạtđộng sản xuất sẽ ảnh hưởng khác nhau tới môi trường [3]

Trang 19

Bảng 1: Phân bố các loại hình làng nghề ở Việt Nam theo ngành

nghề sản xuất

Ươm

tơ, dệtnhộm,

đồ da

Chếbiến,nôngsản, thựcphẩm

Tái chếphế liệu

Thủcông mĩnghệ

Vật liệuxâydựng,gốm sứ

Nghềkhác

(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia,2008)

Từ bảng trên, ta lập được biểu đồ thể hiện tỷ lệ các loại hình làngnghề ở Việt Nam như sau:

Tái chế phế liệu Thủ công mỹ nghệ Vật liệu xây dựng, gốm sứ

Nghề khác

Biểu đồ 1:Các loại hình làng nghề ở Việt Nam theo ngành nghề sản xuất

Qua biểu đồ ta thấy: trong các nghành nghề sản xuất của làng nghề ViệtNam, thủ công mỹ nghệ là ngành chiếm tỷ lệ nhiều nhất (43%), vật liệu xâydựng và gốm sứ chiếm tỷ lệ ít nhất (2%)

Trang 20

- Làng nghề ươm tơ, dệt nhuộm, thuộc da: xuất phát từ nhu cầu may

mặc cơ bản, ban đầu chỉ là sản xuất để tự phục vụ, các làng nghề dệt nhuộmdần dần hình thành theo thời gian và với truyền thống cha truyền con nối, đãtồn tại và phát triển cho tới ngày nay Nhiều sản phẩm như lụa tơ tằm, thổcẩm, dệt may… không chỉ là những sản phẩm có giá trị mà còn là những tácphẩm nghệ thuật được đánh giá cao Cả nước hiện nay có 173 làng nghề ươm

tơ, dệt nhuộm, thuộc da chiếm 11,93% tổng số làng nghề và tập trung chủ yếu

ở miền Bắc, lao động nghề thường là lao động chính

- Làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm: các làng nghề chế biến nông

sản, thực phẩm là một trong những loại hình làng nghề cổ xưa nhất, các làngnghề truyền thống này thường sản xuất theo quy mô hộ gia đình, phân tán vàsản xuất nhiều loại hình sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hằng ngàycủa cư dân trong vùng Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có 197 làngnghề chế biến nông sản, thực phẩm, chiếm 13,59% tổng số làng nghề Phầnlớn các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm là làng nghề truyền thống nổitiếng như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậuxanh… với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn và gắn với hoạt độngchăn nuôi ở quy mô gia đình

- Làng nghề tái chế phế liệu: các làng nghề thuộc nhóm này chủ yếu là

mới hình thành nhưng lại rất phát triển Đây là nhóm làng nghề tận dụng phếliệu làm nguyên liệu cho sản xuất Nhờ đó mà giảm chi phí đầu tư, giảmlượng chất thải gây ô nhiễm môi trường Các làng nghề tái chế chiếm 6,21%tổng số làng nghề ở nước ta, và được chia thành ba loại cơ bản: tái chế giấy,tái chế kim loại và tái chế nhựa, tập trung chủ yếu ở miền Bắc

- Làng nghề thủ công mỹ nghệ: đây là nhóm làng nghề chiếm số lượng

lớn nhất trong tổng số làng nghề của cả nước (618 làng nghề thủ công mỹnghệ, chiếm 42.62%) Sản xuất thủ công mỹ nghệ là ngành sản xuất gắn liền

Trang 21

với truyền thống lâu đời, nhiều sản phẩm có giá trị văn hoá cao, mang đậmbản sắc văn hoá dân tộc Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ yêu cầu chấtlượng cao cả về giá trị thẩm mỹ nghệ thuật nên các lao động trong cơ sở sảnxuất phải có tay nghề cao Tại một số làng nghề, quá trình sản xuất đượcchuyên môn hoá chặt chẽ, lao động chuyên môn được lựa chọn kỹ càng Tuynhiên, công nghệ sản xuất hầu như mang tính thủ công.

- Làng nghề vật liệu xây dựng, gốm sứ: ngành sản xuất vật liệu xây

dựng và gốm sứ đã tồn tại từ hàng trăm năm nay, tập trung ở những vùng cókhả năng cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất Mặc dù số lượng làngnghề không nhiều (chỉ chiếm 2,14%) nhưng sản phẩm của các làng nghề này

đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng ngày càng tăng ở nước ta, đặc biệt là ởvùng nông thôn Các loại hình sản xuất chủ yếu bao gồm khai thác đá, nungvôi, đóng gạch và sản xuất gốm sứ Quy mô và loại hình sản xuất rất tuỳthuộc vào nhu cầu thị trường địa phương và các vùng lân cận xung quanhlàng nghề

- Các nhóm nghề khác: bao gồm các làng nghề chế tạo công cụ thô sơ

như cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, đan lưới, đanvó… những làng nghề này xuất hiện từ lâu, sản phẩm phục vụ trực tiếp chonhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương Lao động phần lớn là thủ côngvới số lượng và chất lượng ổn định, chiếm một vị trí nhất định trong tổng sốlàng nghề (chiếm 23.51%)

6.2 Tác động của sản xuất làng nghề tới môi trường tự nhiên và

xã hội

Tác động của sản xuất làng nghề tới môi trường tự nhiên

Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm làmsuy thoái môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến sức khỏe người dân

và ngày càng trở thành vấn đề bức xúc Qua khảo sát 52 làng nghề điển hình

Trang 22

hiện naytrong cả nước thì thấy có 46% làng nghề trong số này bị ô nhiễmnặng, 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ Đáng báo động là mức độ ônhiễm ở các làng nghề không nhưng không giảm mà cón có xu hướng giatăng Ô nhiễm môi trường làng nghề có một số đặc điểm chính sau đây(Nguyễn Thị Thắm, 2012) [12].

 Ô nhiễm môi trường làng nghề là dạng ô nghiễm phân tán trong phạm

vi một khu vực (thôn, làng, xã) Ô nhiễm chỉ xảy ra trong khu vực sản xuất nghề

Do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu vực sinh họat nên đây là loạihình ô nhiễm khó quy hoạch và khó khiểm soát

 Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạtđộng sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản xuất, thể hiện qua bảng sau

Bảng 2: Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề

Loại hình sản

xuất

Các dạng chất thảiKhí thải Nước thải Chất thải rắn Các dạng ô

nhiễm khácChế biến lương

Xỉ than, chấtthải rắn từnguyên liệu

Ô nhiễmnhiệt

BOD5, COD, tổng N,

độ màu, hoá chất, thuốc tẩy, Cr 6+

Xỉ than, tơ sợi,vải vụn, cặn vàbao bì hóa chất

Ô nhiễmnhiệt, tiếngồnThủ công mỹ

nghệ

Bụi, CO, SO2, SiO2, HF, hơi xăng, dung môi, oxit Fe,

Zn, Cr, Pb

BOD5, COD, TSS, độ màu, dầu mỡ công nghiệp

Xỉ than, phếphẩm, cặn hoáchất

Ô nhiễmnhiệt

Tái chế phế

liệu

Bụi, SO2, H2S, hơi kiềm, hơi axit, hơi kim

BOD5, COD, TSS, tổng N, tổng P, độ màu, độ pH, dầu

Bụi giấy, tạpchất từ giấy

Ô nhiễmnhiệt

Trang 23

loại Pb, Zn, HF, HCl

mỡ, CN - , kim loại phế liệu, xỉ

than, rỉ sắt, vụnkim loại nặngVật liệu xây

ồn, độ rung (Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp, 2008)Theo nhận định của Tổng cục môi trường (bộ Tài Nguyên và MôiTrường), ô nhiễm môi trường làng nghề chủ yếu tại các làng nghề hiện nay là

ô nhiễm không khí, đất và nguồn nước (nước mặt, nước ngầm) Mức độ ônhiễm tại các làng nghề ngày một gia tăng, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước

Tác động của làng nghề tới xã hội

 Tác động của sản xuất làng nghề tới kinh tế - xã hội

+ Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nôngthôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa

Trong quá trình phát triển các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phầntăng tỉ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động

từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp

có thu nhập cao hơn Khi nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tếnông thôn không chỉ có kinh tế nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là cácngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ tồn tại và phát triển

Xét trên góc độ phân công lao động thì các làng nghề đã có tác độngtích cực tới sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất chokhu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộngành nông nghiệp

Mặt khác, kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sảnlượng cao hơn so với sản xuất nông nghiệp; do từng bước tiếp cận với kinh tế thị

Trang 24

trường, năng lực kinh doanh được nâng lên, người lao động nhanh chóng chuyểnsang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành màsản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và thế giới

Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn

mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động,thu hút nhiều lao động, khác với sảnxuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòihỏi một sự thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản xuất mạnh

mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho ngườilao động

Sự phát triển của làng nghề có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiệnđại hoá Sự phát triển lan tỏa của làng nghề đã mở rộng quy mô địa bàn sảnxuất, thu hút nhiều lao động Đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60– 80 % cho nông nghiệp và dịch vụ, 20 – 40 % cho nông nghiệp (Sở TàiNguyên và Môi Trường tỉnh Quảng Ngãi, 2011) [18]

+ Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao độngNhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địaphương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác

Hơn nữa, sự phát triển của các làng nghề đã phát triển và hình thànhnhiều nghề khác; nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm nhiềuviệc làm mới, thu hút nhiều lao động Mặt khác, việc phát triển các ngànhnghề tại các làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắcphục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp lílực lượng lao động nông thôn Vai trò tạo việc làm của các làng nghề còn thểhiện rất rõ ở sự phát triển lan toả sang các làng khác, vùng khác, đã giải quyếtviệc làm cho nhiều lao động, tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội

ở vùng đó

Trang 25

Đặc biệt, việc mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm truyền thốngmang ý nghĩa rất quan trọng Trên phương diện kinh tế, xuất khẩu hàng thủcông mỹ nghệ truyền thống đã đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệuUSD mỗi năm Trên phương diện xã hội, xuất khẩu hàng thủ công truyềnthống là nhân tố quan trọng để kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhậpcho hàng triệu lao động thủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi Qua tổng kếtthực tiễn, đã tính toán được rằng cứ xuất khẩu được 1 triệu USD hàng thủcông mỹ nghệ thì tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 3000-4000 lao động(Sở Tài nguyên va môi trường tỉnh Quảng Ngãi, 2011)[18].

Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng, được coi là động lực trựctiếp giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thunhập cho người lao động Ở đâu có làng nghề phát triển thì ở đó có thu nhập

và mức sống cao hơn so với vùng thuần nông

+ Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạnchế di dân tự do

Khác với một số ngành nghề công nghiệp, đa số các nghề thủ côngkhông đòi hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công,thô sơ do thợ thủ công tự sản xuất được Đặc điểm của sản xuất trong các làngnghề là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên phù hợp với khả năng huyđộng vốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình, đó là lợi thế để các làngnghề có thể huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vào sản xuất kinhdoanh Mặt khác, do đặc điểm sản xuất lao động thủ công là chủ yếu, nơi sảnxuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khả năng tậndụng và thu hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao độngtrên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động, trẻ em vừa học vừa tham gia sản xuấtdưới hình thức học nghề hay giúp việc, lực lượng này chiếm một tỷ lệ đáng kểtrong tổng số lao động làng nghề

Trang 26

Sự phát triển của làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế didân tự do ở nông thôn Quá trình di dân tự do hình thành một cách tự phát do

sự tác động của quy luật cung cầu lao động; diễn ra theo hướng di chuyển từnơi thừa lao động và giá nhân công rẻ đến nơi thiếu lao động với giá nhâncông cao, từ nơi có đời sống thấp đến nơi có đời sống cao Quá trình này xếptrên bình diện chung của nền kinh tế đã có những tác động tích cực làm giảmsức ép việc làm ở khu vực nông thôn, đáp ứng nhu cầu lao động giản đơn ởthành phố; đồng thời làm tăng thu nhập nâng cao đời sống xã hội giảm bớt đóinghèo cho người dân nông thôn Tuy nhiên, nó lại có những tác động tiêu cựctới đời sống kinh tế - xã hội, gây áp lực đối với dịch vụ, cơ sở hạ tầng xã hội ởthành thị và là một khó khăn lớn trong vấn đề quản lí đô thị

Việc phát triển các làng nghề được thúc đẩy ở khu vực nông thôn,ngoại thị là chuyển biến quan trọng tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập và cảithiện đời sống của nông dân Phát triển làng nghề theo phương châm “Lynông, bất ly hương” không chỉ có khả năng giải quyết việc làm, nâng cao thunhập cho người lao động mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng

di dân tự do ra đô thị

+ Đa dạng hóa kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

Đa dạng hóa kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quan trọngcủa công nghiệp hóa nông thôn Đa dạng hóa kinh tế nông thôn là biện phápthúc đẩy kinh tế hàng hóa ở nông thôn phát triển, tạo ra sự chuyển biến mới

về chất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn Vì vậy, pháttriển làng nhề là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện quá trình

Trang 27

thời cùng với sự sản xuất nông nghiệp, làng nghề đã đem lại hiệu quả caotrong việc sử dụng hợp lí các nguồn lực ở nông thôn như đất đai, vốn , laođộng, nguyên vật liệu, công nghệ, thị trường Vì vậy, một nền kinh tế hànghoá với sự đa dạng của các loại sản phẩm được hình thành và phát triển trongmối quan hệ với các ngành nghề khác, làng nghề đóng vai trò là động lực chocác ngành nghề khác phát triển.

Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trungtâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hóa.Nhưng trung tâm nàyngày càng được mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nôngthôn Hơn nữa, nguồn tích lũy của người dân trong làng nghề cao hơn, có điềukiện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, nhà ở, và mua sắm cáctiện nghi sinh hoạt Dần dần ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đôthị ngày một rõ nét, nông thôn đổi thay và từng bước được đô thị hóa qua việchình thành các thị trấn, thị tứ.Vì vậy, dễ nhận thấy rằng một làng nghề pháttriển thì ở đó hình thành một phố chợ sầm uất của các nhà buôn bán, dịch vụ

Xu hướng đô thị hóa nông thôn là xu hướng tất yếu, nó còn thể hiện sự pháttriển về kinh tế - xã hội ở nông thôn, là yêu cầu khách quan trong phát triểnlàng nghề

+ Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc

Lịch sử phát triển của làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử pháttriển văn hóa của dân tộc, nó là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hóa ấy;đồng thời là sự biểu hiện tập trung nhất của bản sắc dân tộc Các làng nghềphát triển sẽ bảo tồn, duy trì phát triển nhiều ngành nghề và các giá trị vănhóa của dân tộc

Sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh củalao động vật chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và

óc sáng tạo của người thợ thủ công Các sản phẩm của các làng nghề chứa

Trang 28

đựng các phong tục, tập quán, tín ngưỡng … mang sắc thái riêngcủa dân tộcViệt Nam, nhiều sản phẩm làng nghề có giá trị, có tính nghệ thuật cao, trong

đó hàm chứa những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, những sắc thái riêng, đặctính riêng của mỗi làng nghề và được coi là biểu tượng truyền thống của dântộc đồng thời có giá trị minh chứng sự thịnh vượng của quốc gia, cũng nhưthể hiện những thành tựu, phát minh mà con người đạt được

Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sảnvăn hóa quý báu mà các thế hệ cha ông đã sáng lập ra và truyền lại cho cácthế hệ sau Cho đến nay, nhiều sản phẩm làng nghề là hàng thủ công mỹ nghệtinh sảo, độc đáo, đạt trình độ bậc cao về mỹ thuật còn được lưu giữ, trình bàytại nhiều viện bảo tàng trong nước và nước ngoài

Tác động của sản xuất làng nghề tới sức khỏe cộng đồng

Tại các làng nghề ở Việt Nam nơi sản xuất đan xen với khu vực nhà ở,hầu hết dân cư của các làng nghề tham gia vào quá trình sản xuất nên nguy cơảnh hưởng của điều kiện lao động và chất thải sản xuất đến sức khỏe ngườidân là rất lớn Do môi trường không khí, nước ngầm, nước mặt và đất tại cáclàng nghề thường bị ô nhiễm nên số người dân tại các làng nghề bị mắc cácbệnh đường hô hấp, đau mắt, bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa là rất cao.Ngoài ra còn một số bệnh mang tính nghề nghiệp như: bệnh bụi phổi, ungthư, thần kinh, đau lưng, đau cột sống,…

Theo báo cáo môi trường quốc gia 2008 của Bộ Tài nguyên và môitrường cho thấy sức khỏe dân cư tại các làng nghề tái chế phế liệu là ảnhhưởng nghiêm trọng nhất tới sức khỏe của cộng đồng Kết quả kiểm tra ở cáclàng nghề tái chế kim loại Vân Chàng (Nam Định) cho thấy: phần lớn dân cưtrong làng mắc bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da và bệnh phụ khoa Cótới 4.7 % số người làng bị mắc bệnh lao phổi, 8.3 % mắc bệnh viêm phế quản,

Trang 29

trên 50% người lao động mắc bệnh liên quan tới thần kinh, đặc biệt ngườichết vì ung thư ngày càng tăng.

Làng nghề chế biến thực phẩm: các làng nghề chế biến thực phẩmthường là những làng nghề truyền thống nổi tiếng như nấu rượu, làm bánh đanem, đậu phụ, miến dong, bánh cuốn, bánh đậu xanh,… với nhưng nguyênliệu chính là lúa, ngô, khoai, sắn… Nguồn gây ô nhiêm môi trường nghiêmtrọng nhất tại các làng nghề này là nước thải từ các công đoạn sản xuất vàchăn nuôi Nguồn nước mặt tại các làng nghề này thường bị ô nhiễm nghiêmtrọng do hàm lượng BOD, cặn lơ lửng và amino cao Môi trường không khítại các làng nghề này cũng bị ô nhiễm nặng bởi khói và các khí CO, SO2, NOx

từ các lò thủ công với nguyên liệu chính là than, củi, rơm rạ và mùi khó chịubởi các khí H2S, NH3 từ các phân gia súc, gia cầm, từ bã sản phẩm để chấtđống (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2009) [4]

Thống kê tình hình bệnh tật tại một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm tính trên tổng số người đền khám chữa bệnh tại địa phương:

- Làng nghề chế biến lương thực xã Dương Liễu, Hà Tây trước đây.Bệnh hay gặp nhất là bệnh loét chân tay, chiếm 19.7% Ngoài ra có các bệnh

về tiêu hóa 1.62%, hô hấp 9.43%, mắt 0.86% Bệnh mãn tính thường gặp làbệnh tiêu hóa chiếm tỉ lệ cao nhất 4.28% (chủ yếu là lóet da dày, tá tràng)

- Làng nghề chế biến thực phẩm Tân Hòa Hà Tây trước đây: tỉ lệngười dân mắc bệnh ngoài da chiếm 30%

- Làng nghề chế biến rượu Vân Hà, Bắc Giang: Mộ số bệnh thườnggặp gồm bệnh ngoài da 68.5%; bệnh đường ruột 58.8%; bệnh đường hô hấp44.4%

- Làng bún Phú Đô, Hà Nội: khoảng 50%mắc các chứng bệnh do nghềnghiệp và chủ yếu là do bỏng nước Bên cạnh đó còn có bệnh về mắt (12%),

Trang 30

hô hấp (15%), tai mũi họng (45%), phụ khoa (20%), thần kinh (5%),tiêu hóa(8%).

- Làng nghề giết mổ Phúc Lâm, Bắc Giang: Vào khoảng tháng 2 – 3hàng năm sau lũ lụt, thường xuất hiện những đợt sốt xuất huyết cũng như cácbệnh như đau mắt hột, mắt đỏ, viêm đường ruột, phụ khoa Đặc biệt viêmđường hô hấp ở trẻ em xảy ra thường xuyên Từ năm 2003 đến 2005 cả thôn

có 19 ca tử vong, trong đó có tới 13 trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo chủyếu là ung thư phổi, bệnh về máu (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2009) [4]

6.3 Tình hình phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội

Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội làng nghề

Tính đến nay trên địa bàn Thành phố Hà Nội có 1.350 làng có nghề(chiếm gần 59% tổng số làng trên địa bàn), 272 làng nghề được Uỷ ban nhândân Thành phố cấp bằng công nhận làng nghề, trong đó có 198 làng nghềtruyền thống được công nhận, với 116 “Nghệ nhân Hà Nội” và hàng ngàn thợgiỏi; có tới 47 nghề trên tổng số 52 làng nghề của toàn quốc với hàng chụcnhóm ngành nghề đang phát triển mạnh như: gốm sứ, dệt may, da giày, điêukhắc, khảm trai, sơn mài, mây tre, dát vàng bạc quỳ, đúc đồng, chế biến nôngsản, cơ khí,…

Ngày 4/12/2013, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã thông qua

Dự thảo Nghị quyết về việc ban hành Danh mục phố cổ, làng cổ, làng nghềtruyền thống tiêu biểu, biệt thự cũ, công trình kiến trúc khác xây dựng trướcnăm 1954 và di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thủ đô, theo quy định tạikhoản 3b, Điều 11, Luật Thủ đô Theo Nghị quyết, danh mục làng nghềtruyền thống tiêu biểu trên địa bàn Hà Nội là 7 làng nghề: Làng nghề Sơnkhảm thôn Ngọ (huyện Phú Xuyên); Làng nghề Sơn mài Hạ Thái (huyệnThường Tín); Làng nghề Mây tre đan thôn Phú Vinh (Chương Mỹ); Làngnghề Điêu khắc mỹ nghệ Sơn Đồng (huyện Hoài Đức); Làng nghề Dệt lụa

Trang 31

Vạn Phúc (quận Hà Đông); Làng nghề Gốm sứ Bát Tràng (huyện Gia Lâm);Làng nghề Gỗ mỹ nghệ Thiết Úng (huyện Đông Anh).

Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các làng có nghề là hơn600.000 người với 168.676 hộ sản xuất, 2.063 công ty cổ phần, 4.562 công tyTNHH, 1.466 doanh nghiệp tư nhân, 164 hợp tác xã và 50 hội, hiệp hội; Sốlao động trong các làng nghề được công nhận là hơn 300.000 người, thu nhậpbình quân của một lao động làm nghề công nghiệp – tiểu thủ công nghiệptrong các làng nghề ước đạt 1,4 triệu đồng/người/tháng

Cả năm 2010, giá trị sản xuất của các làng nghề trên địa bàn ước đạt8.663 tỷ đồng, chiếm 8,3% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn.Trong đó, giá trị sản xuất của 272 làng nghề được công nhận ước đạt 7.128 tỷđồng Kim ngạch xuất khẩu cả năm 2010 sản phẩm của các làng nghề ước đạt804,5 triệu USD, chiếm khoảng 10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn[5]

Việc làng nghề phát triển, sản xuất kinh doanh được mở rộng thì lượngcác chất thải gây ô nhiễm phát sinh càng nhiều, trong khi việc quản lý môitrường làng nghề còn nhiều bất cập, chồng chéo và đầu tư xử lý chất thải làngnghề chưa được chú trọng giải quyết nên tình trạng ô nhiễm môi trường đangngày càng gia tăng

 Hiện trạng quy hoạch và phát triển các cụm công nghiệp làng nghề

Để giảm thiểu ô nhiễm tại các làng nghề, nhằm di chuyển việc sản xuất

ra khỏi khu vực làng nghề, tập trung nguồn thải để đảm bảo thuận lợi trongviệc đầu tư hệ thống xử lý môi trường tại khu vực làng nghề Sở Công thương

đã được Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội giao chủ trì, xây dựng quy hoạchtổng thể phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp thành phố làm cơ sở choviệc di chuyển các cơ sở gây ô nhiễm trong làng nghề ra các cụm công nghiệptập trung, trong đó dự kiến diện tích đất dành cho phát triểm cụm công nghiệp

Trang 32

là 2.580ha/55 cụm, đất dành cho phát triểm cụm công nghiệp làng nghề là1.424ha/49 cụm.

Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn thành phố Hà Nội đã và đangtriển khai xây dựng 47 cụm công nghiệp với tổng diện tích 2.648,9 ha (bằng102,5% diện tích dự kiến quy hoạch; 56 cụm công nghiệp làng nghề, với diệntích 517,7 ha (bằng 36,4% diện tích dự kiến quy hoạch); thu hút tổng số 2.361

dự án đầu tư[5]

 Thực trạng môi trường của các làng nghề Hà Nội

Tình trạng ô nhiễm ở các làng nghề đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến

sự phát triển bền vững của làng nghề Nguyên nhân là do các cơ sở sản xuấtmới có quy mô nhỏ hộ gia đình, đặt tại nhà và nằm trong khu dân cư nên khóphát triển vì mặt bằng chật hẹp, xen kẽ với khu vực dân cư sinh hoạt, khó xâydựng hệ thống xử lý môi trường Đại đa số các làng nghề chưa đầu tư bất kỳgiải pháp nào để giảm thiểu ô nhiễm không khí, tiếng ồn, nước thải, bụi, chấtthải rắn, nước thải sản xuất được thải chung với nước thải sinh hoạt của làngvào hệ thống thoát nước mặt Cho đến lúc này, hầu hết các làng nghề đềuchưa có quy hoạch môi trường đối với các cơ sở sản xuất, chưa có chươngtrình quản lý giáo dục môi trường, tuyên truyền nâng cao nhận thức, hiểu biết

về tác động của ô nhiễm môi trường cũng như các biện pháp phòng tránh.Chính quyền địa phương chưa có ý thức về tuyên truyền và chỉ đạo nhân dânthực hiện về bảo vệ môi trường Chưa có cán bộ chuyên môn về môi trườngtại cơ sở nên việc quản lý bảo vệ môi trường hạn chế Không những thế, hiệnnay vẫn còn thiếu các chính sách đồng bộ từ các văn bản của Nhà nước vềphát triển bền vững làng nghề

Những đặc điểm trên đã làm cho môi trường tại một số làng nghề ônhiễm như: ô nhiễm về nguồn nước ở các làng nghề chế biến nông sản thựcphẩm, cơ kim khí, chế biến lâm sản; Ô nhiễm không khí tại các làng nghề sắt

Trang 33

thép và gốm sứ, ô nhiễm tiếng ồn tại các làng nghề cơ khí, dệt may Các chấtthải rắn chưa được quản lý, thu gom để xử lý vừa gây ô nhiễm môi trường,vừa làm xấu cảnh quan làng nghề.

Qua một số kết quả khảo sát sơ bộ cho thấy, chất lượng nước thải cáclàng nghề trên địa bàn Hà Nội những năm qua, mức độ ô nhiễm không giảm

mà có xu hướng tăng lên Ở các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, nướcmặt nhiều nơi có hàm lượng COD, BOD5, NH4+, Coliform vượt hàng chục lầnđến hàng trăm lần QCVN, nước mặt ở các làng nghề dệt nhuộm cũng bị ônhiễm nặng hàm lượng COD cao hơn QCVN 2-3 lần, BOD5 cao hơn 1,5 - 2,5lần Theo các số liệu quan trắc của Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị vàKhu công nghiệp gần đây, hầu hết các làng nghề đều có hàm lượng bụi vượttiêu chuẩn cho phép Nồng độ khí SO2 tại các làng nghề mây tre giang và chếbiến nông sản thực phẩm cao hơn tiêu chuẩn cho phép [5]

Vần đề nổi cộm của ô nhiễm môi trường làng nghề là các chất khí thải,nước thải, chất thải rắn chưa được xử lý đã thải thẳng vào môi trường, gây ônhiễm nghiêm trọng không khí và các nguồn nước mặt, nước dưới đất tại địaphương

6.4 Sơ lược về sự phát triển của làng nghề gốm Bát Tràng

Bát Tràng là một làng gốm lâu đời và nổi tiếng trong lịch sử nước ta.Làng gốm Bát Tràng nằm ở tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Gia Lâm, thànhphố Hà Nội Theo các thư tịch cổ, nghề gốm Bát Tràng xuất hiện từ thế kỷ

XV dưới thời Trần Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên ghi: BátTràng có tên là Xã Bát, làng Bát từ đời nhà Trần Như vậy suốt hơn 500 nămnay, làng nghề này vẫn giữ tên là Bát Tràng Trong lịch sử, những loại gốmquý và độc đáo của nước ta, nổi tiếng cả trong và ngoài nước như gốm menngọc (thời Lý, Trần), gốm hoa nâu hay gốm men nâu (cuối thời Trần – đầuthời Lê), gốm men rạn (thời Lê – Trịnh) và gốm hoa lam (cuối thời Lê – thời

Trang 34

Nguyễn) đều đã được sản xuất ở Bát Tràng Từ cuối thời Trần đến thời Lê vàđầu thời Nguyễn, một khối lượng lớn đồ gốm các loại của Bát Tràng đã đượcxuất khẩu sang các nước trong khu vực như Nhật Bản, Malaixia, Thái Lan vàmột số nước châu Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp…Nhìn chung, đồ gốm Bát Tràng là một trong những mặt hàng được ưa chuộng

cả trong và ngoài nước

Bước vào thời ký đổi mới (1986 đến nay), trong cơ chế thị trường, nghềgốm của Bát Tràng không chỉ tạo công ăn việc làm trong xã, mà còn thu húthàng ngàn lao động làm thuê từ các tỉnh khác đến, như Hải Dương, HưngYên, Bắc Ninh… Những năm gần đây, xuất khẩu của làng gốm Bát Tràng đạtkhoảng 20 triệu USD hằng năm Hiện nay, Bát Tràng có hơn 200 công ty, xínghiệp sản xuất kinh doanh dịnh cụ gốm [22]

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA XÃ BÁT TRÀNG, HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Bát Tràng là xã nằm phía Tây Nam huyện Gia Lâm, cách trung tâm

huyện 7km, nằm ở bờ phía đông (tả ngạn) của sông Hồng Địa giới hành

chính xã Bát Tràng như sau:

 Phía đông giáp xã Đa Tốn (huyện Gia Lâm)

 Phía bắc giáp xã Đông Dư (huyện Gia Lâm)

 Phía tây giáp Sông Hồng

 Phía nam giáp xã Kim Lan (huyện Gia Lâm) và xã Xuân Quan(huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên)

Trang 35

Xã Bát Tràng gồm hai làng (thôn) là làng Bát Tràng và làng Giang Cao.

Làng Bát Tràng gồm 5 xóm, làng Giang Cao gồm 6 xóm Cả hai làng đều là

Cụm làng nghề tập trung Cơ sở sản xuất gốm riêng lẻ

Vị trí lấy mẫu không khí Vị trí lấy mẫu nước

1.1.2 Khí hậu

Khí hậu xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội mang đặc

điểm chung của khí hậu, thời tiết vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng [2]:

Trang 36

- Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm kéo dài từ tháng 4 đếntháng 10, mùa khô hanh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Giữa 2 mùanóng ẩm và mùa khô hanh có các thời kỳ chuyển tiếp khí hậu tạo ra một dạngkhí hậu 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

- Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,5oC Mùa nóng ẩm nhiệt độtrung bình tháng đạt 27,4oC, nhiệt độ cao nhất là 40,5oC Mùa khô hanh nhiệt

- Đất phù sa được bồi đắp hằng năm: đất này được hình thành phần lớn

do lượng phù sa trong mùa lũ của sông Hồng, hầu hết loại đất này đều nằm ởphần địa hình thấp ven sông Đất có thành phần cơ giới cát pha đất thịt nhẹ,giàu mùn, độ chua pH= 4,5-5,5; kali: 8-10%; lân: 0,03-0,04%

- Đất phù sa không được bồi đắp hằng năm: đất này có thành phần cơ

giới trung bình đến thịt nhẹ, tỷ lệ sét cao, thường chặt và bí, pH=4-4,5; thànhphần C=1,5-2%, đất nghèo nàn

- Đất phù sa úng nước: đất này được phân bố trên các địa hình trũng,

thành phần cơ giới từ thịt nặng đến đất sét, hàm lượng mùn cao, thành phầnC=2-3,5%; độ pH=3,5-4%; kali tổng số=0,7-1,2%; lân tổng số=0,01-0,03%

- Đất phù sa glây chua: đất phân bố trên địa bàn vàn, vàn thấp và trũng.

Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng, đất có phản ứng kháchua pH=4-4,5; thành phần C=1,5-2%; kali dễ tiêu cao, lân dễ tiêu thấp

Trang 37

Tổng diện tích đất tự nhiên là 164,03 ha Hiện trạng sử dụng đất của xãđược thể hiện trong bảng:

Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất của xã Bát Tràng

1 Đất quy hoạch điểm dân

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.2.1 Đặc điểm dân cư-lao động

Tổng số hộ dân trong xã là 1845 hộ, tổng nhân khẩu là 8396 người (Uỷban nhân dân xã Bát Tràng, năm 2014) Trong đó 70% số hộ trực tiếp sảnxuất gốm, 30% làm thương mại, dịch vụ, du lịch [1]

Hằng năm, trên địa bàn đã giải quyết thêm việc làm cho trên 300 laođộng thường xuyên, số lao động được đào tạo chiếm 20%, tuy nhiên do đặcđiểm là xã có nghề thủ công nghiệp phát triển, không có lao động thất nghiệp,thu nhập của người lao động ổn định

Các nghệ nhân của làng: Làng gốm Bát Tràng hiện nay có khoảng 14

-15 người được nhà nước phong danh hiệu nghệ nhân như nghệ nhân LêQuang Chiến, Lê Văn Cam, Lê Minh Châu, Lê Minh Ngọc, Trần Độ, LêXuân Phổ Mỗi nghệ nhân sẽ giỏi về một mặt nào đó, có người chú trọng vềmen, nói cách khác là giỏi độc đáo về men; có nghệ nhân chuyên sâu về tạodáng; có nghệ nhân tài về vẽ Đội ngũ thợ lành nghề của làng tương đốiđông đảo Ngoài những lao động trong làng thì Bát Tràng còn có một lực

Trang 38

lượng lao động từ các địa phương khác tới làm việc khoảng 3000 - 5000người Nhưng hiện nay có một thực trạng đáng báo động đối với làng gốmBát Tràng là đội ngũ thợ thủ công lành nghề là người dân làng ngày càng ít đi

và thay vào đó là những người từ nơi khác đến học việc và trở thành thợ tạilàng [22]

1.2.2 Hoạt động kinh tế

Bát Tràng là xã không còn sản xuất nông nghiệp, toàn bộ các hộ dântrong xã tập trung nghề sản xuất gốm sứ truyền thống Về tỷ trọng giá trị sảnxuất các ngành nghề trên địa bàn xã: giá trị ngành công nghiệp, thủ côngnghiệp, xây dựng chiếm 58,2%, giá trị ngành thương mại, dịch vụ, du lịchchiếm 41,7%, giá trị ngành Nông nghiệp chỉ chiếm 0,1% [1] Các giá trị đượcthể hiện qua biểu đồ sau:

58.20%

41.70%

0.10%

Ngành CN, TCN, XD

Ngành TM, DV, DL Ngành Nông nghiệp

Biểu đồ 1.1 Cơ cấu giá trị các ngành trên địa bàn xã Bát Tràng

(năm 2014)

Qua biểu đồ có thể thấy ngành sản xuất gốm sứ Bát Tràng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương, không chỉ chiếm tỷ trọng lớn, ngành

Trang 39

này còn tạo ra giá trị cao hằng năm, doanh thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm Năm 2014, ước tính thu nhập bình quân đầu người trong xã đạt 28,5 triệu đồng Số hộ nghèo trên địa bàn xã giảm, chỉ còn 14 hộ, chiếm 0,7% tổng số

hộ trong toàn xã Không có hộ chính sách nằm trong diện hộ nghèo

1.2.3 Hoạt động sản xuất gốm

Làng gốm truyền thống Bát Tràng phát triển theo sự phát triển của đấtnước Do chính sách mở cửa trong những năm qua nên nền kinh tế đa thànhphần của Bát Tràng có nhiều thay đổi Ngành sản xuất gốm sứ cũng nhờ đó

mà phát triển Tất cả các thành phần kinh tế quốc doanh, công ty TNHH, các

tổ hợp sản xuất và các hộ gia đình đều phát huy hết khả năng phát triển gốm

sứ Sản xuất gốm sứ trong xã Bát Tràng hiện tại được chia thành hai khối:khối doanh nghiệp sản xuất và khối các hộ sản xuất

Dưới sự chỉ đạo của Hội gốm sứ, kết hợp với sự giúp đỡ của Sở vănhoá – thể thao – du lịch Hà Nội, Hiệp hội làng nghề thành phố, Phòng kinh tếhuyện, đã tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn về an toàn lao động, quy trìnhquản lý sản xuất mô hình hộ kinh doanh làng nghề, phát triển sản xuất kết hợpgiới thiệu, trưng bày, phục vụ khách du lịch Mở một lớp đào tạo công tácphòng cháy chữa cháy cho các hộ kinh doanh dùng khí hoả lỏng…

1.2.4 Quy trình sản xuất gốm sứ ở Bát Tràng

Sản xuất gốm sứ ở Bát Tràng phải tuân thủ công nghệ sản xuất gốm sứchung Tuy nhiên, do bề dày kinh nghiệm hơn 500 năm nên Bát Tràng cónhững nét đặc trưng riêng, đó là sắc thái gốm Bát Tràng với sản phẩm đadạng, tinh tế, men màu đặc sắc và giá cả phù hợp với nhiều đối tượng tiêudùng

Quy trình sản xuất gốm ở Bát Tràng trải qua 3 khâu chính: tạo cốt gốm,trang trí và tráng men, nung gốm [11] Trong từng khâu lại có rất nhiều côngđoạn nhỏ khác nhau Cụ thể:

Trang 40

Quá trình tạo cốt gốm

+ Chọn đất

Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sétlàm gốm Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sởkhai thác nguồn đất tại chỗ Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ dân làng BồBát chọn khu vực làng Bát Tràng hiện nay làm đất định cư phát triển nghềgốm vì trước hết họ đã phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở đây Đến thế kỷ thứXVIII, nguồn đất sét trắng tại chỗ đã cạn kiệt nên người dân Bát Tràng buộcphải đi tìm nguồn đất mới Không giống như tổ tiên, dân Bát Tràng vẫn định

cư lại ở các vị trí giao thông thuận lợi và thông qua dòng sông bến cảng, dùngthuyền toả ra các nơi khai thác các nguồn đất mới Từ Bát Tràng ngược sôngHồng lên vùng Sơn Tây, Phúc Yên, rẽ qua sông Đuống, xuôi dòng Kinh Thầyđến Đông Triều, khai thác đất sét trắng ở Hồ Lao, Trúc Thôn (Chí Linh, HảiDương)

Đất sét Trúc Thôn có độ dẻo cao, khó tan trong nước, hạt mịn, màutrắng xám, độ chịu lửa ở khoảng 1650°C Thành phần hoá học (tính trungbình theo % trọng lượng) của đất sét Trúc Thôn như sau: Al2O3: 27,07; SiO2:55,87; Fe2O3 1,2; Na2O 0,7; CaO 2,57; MgO 0,78; K2O: 2,01; TiO2: 0,81 Tuy

là loại đất tốt được người thợ gốm Bát Tràng ưa dùng nhưng sét Trúc Thôncũng có một số hạn chế như chứa hàm lượng ôxít sắt khá cao, độ ngót khi sấykhô lớn và bản thân nó không được trắng [11]

+ Xử lí, pha chế đất

Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầucủa từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất khác nhau

để tạo ra sản phẩm phù hợp Ở Bát Tràng, phương pháp xử lí đất truyền thống

là xử lí thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khácnhau

Ngày đăng: 24/06/2016, 12:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới xã Bát Tràng, báo cáo “Đánh giá kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới xã Bát Tràng giai đoạn 2011-2014” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới xã Bát Tràng giai đoạn 2011-2014
4. Bộ Tài nguyên và môi trường (2009), báo cáo “Môi trường quốc gia 2008, môi trường làng nghề Việt Nam, Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường quốc gia 2008, môi trường làng nghề Việt Nam, Hà Nội
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2009
5. Chi cục Bảo vệ môi trường, sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội, báo cáo “Hiện trạng công nghệ và môi trường làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội 2014” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng công nghệ và môi trường làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội 2014
2. Ban địa chính xã Bát Tràng, báo cáo thuyết minh tổng hợp “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 – kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Khác
3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006), thông tư số 116/2006/TT- BNN- Hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn. Kỷ yếu hội thảo bảo tồn và phát triển làng nghề, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Lấy mẫu ngoài thực địa - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 1. Lấy mẫu ngoài thực địa (Trang 15)
Hình 2. Sơ đồ vị trí đo mẫu không khí ngoài thực địa 6.2. Phương pháp phân tích mẫu và xử lý số liệu - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 2. Sơ đồ vị trí đo mẫu không khí ngoài thực địa 6.2. Phương pháp phân tích mẫu và xử lý số liệu (Trang 15)
Hình 3. Phân tích mẫu nước tại phòng thí nghiệm - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 3. Phân tích mẫu nước tại phòng thí nghiệm (Trang 16)
Bảng 1: Phân bố các loại hình làng nghề ở Việt Nam theo ngành - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 1 Phân bố các loại hình làng nghề ở Việt Nam theo ngành (Trang 19)
Bảng 1.1. Hiện trạng sử dụng đất của xã Bát Tràng - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 1.1. Hiện trạng sử dụng đất của xã Bát Tràng (Trang 35)
Hình 1.3. Tạo dáng cho sản phẩm - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 1.3. Tạo dáng cho sản phẩm (Trang 41)
Hình thức trang trí khác, có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy  màu, vẽ men màu... - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Hình th ức trang trí khác, có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu (Trang 43)
Hình 2.1. Sơ đồ sản xuất gốm và sản phẩm thải - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 2.1. Sơ đồ sản xuất gốm và sản phẩm thải (Trang 47)
Bảng 2.1. Giá trị trung bình lượng than và xỉ tạo thành trong sản - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 2.1. Giá trị trung bình lượng than và xỉ tạo thành trong sản (Trang 49)
Bảng 2.2. Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí thời - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 2.2. Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí thời (Trang 51)
Bảng 2.4.Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại xã Bát Tràng - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 2.4. Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại xã Bát Tràng (Trang 54)
Bảng 3.2. Tỷ lệ người mắc một số bệnh thường gặp ở Bát Tràng - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 3.2. Tỷ lệ người mắc một số bệnh thường gặp ở Bát Tràng (Trang 64)
Hình 4.1. Sơ đồ công nghệ xử lý bụi - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 4.1. Sơ đồ công nghệ xử lý bụi (Trang 72)
Hình 4.2. Sơ đồ công nghệ xử lý khí thải - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 4.2. Sơ đồ công nghệ xử lý khí thải (Trang 74)
Hình 4.3. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải gốm sứ - ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội
Hình 4.3. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải gốm sứ (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w